Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái, Tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

PHẦN MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nhu cầu đi du lịch của người dân ngày càng cao.Ngành Du lịch ngày càng trở thành ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Đảng và nhà nước đã khẳng định – Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và coi phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tuy vậy, việc phát triển du lịch một cách ồ ạt, thiếu cơ sở lí luận, chạy theo lợi nhuận, không tính đến những tác động tiêu cực đối với môi trường tự nhiên và văn hóa đã gây nguy cơ phát triển thiếu bền vững cho ngành. Do vậy, một xu hướng phát triển du lịch mới, có khả năng khắc phục những tồn tại này đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều người, đặc biệt là đối với những nhà quản lý và các nhà khoa học – Đó là Du lịch sinh thái. DLST đã thực sự hình thành và phát triển trên thế giới từ những năm 70 của thế kỉ XX. Ở Việt Nam, DLST mới chỉ xuất hiện vào đầu những năm 1990, với bản chất là một quan điểm du lịch trách nhiệm, hỗ trợ mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng, đồng thời đem lại những nguồn kinh tế to lớn phù hợp với quan điểm phát triển bền vững hiện nay.

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc, với nền kinh tế chưa mấy phát triển, khả năng kêu gọi đầu tư vào các ngành kinh tế còn gặp nhiều khó khăn. Việc phát triển du lịch giúp chúng ta khai thác tối đa những lợi thế về mặt tự nhiên và kinh tế – xã hội của vùng, nhằm thực hiện nâng cao đời sống nhân dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội. Mặc dù Thái Nguyên là tỉnh có tài nguyên du lịch không thực sự phong phú, nhưng ngành du lịch cũng đã được ưu tiên phát triển từ khá lâu, ngành đã thu được những kết quả đáng kể. Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Khu vực Hồ Núi Cốc gồm 12 xã: Hùng Sơn, Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ, Bình Thuận, Ký Phú, Văn Yên (thuộc huyện Đại Từ), Phúc Tân (Phổ Yên), Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc Xuân (thuộc thành phố Thái Nguyên), cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15 km về phía Tây, với tổng diện tích hơn 22500 ha. Trong đó Hồ Núi Cốc có diện tích mặt nước khoảng 2500ha, đây là một hồ nước nhân tạo được hình thành từ việc đắp đập ngăn dòng chảy của sông Công. Mục đích ban đầu của việc xây dựng hồ là phục vụ sản xuất nông nghiệp. Nhưng với vẻ đẹp thiên nhiên có sẵn, cùng với những giá trị văn hóa bản địa đặc sắc của khu vực, Hồ Núi Cốc đã được đưa vào khai thác với mục đích du lịch từ những năm 90 của thế kỷ XX. Trong những năm qua, việc phát triển du lịch của Hồ Núi Cốc đã làm giảm chức năng của nhiều hệ sinh thái quý hiếm dưới nước và trên cạn, nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị mất dần, nhiều di tích lịch sử đã được xếp hạng bị xuống cấp. Thực tế này đang làm suy giảm sức hấp dẫn đối với du khách, làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển du lịch của khu vực trong tương lai. Vì vậy, chúng ta phải nhìn nhận lại cách thức phát triển du lịch hiện tại, để có những đánh giá chính xác cũng như đề ra những xu hướng phát triển du lịch mới nhằm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch bền vững của tỉnh. Vì vậy, việc “Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái, Tỉnh Thái Nguyên” nhằm hỗ trợ cộng đồng địa phương, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức về bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường là vô cùng cấp thiết.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

Mục tiêu.

Trên cơ sở đánh giá tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch của khu vực Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên, đề tài nhằm tìm ra những giải pháp khai thác hợp lý tiềm năng, phát triển Du lịch sinh thái của khu vực.

Nhiệm vụ.

  • Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về Du lịch sinh thái.
  • Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng DLST của khu vực Hồ Núi Cốc.
  • Đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại khu vực Hồ Núi Cốc.
  • Định hướng và đề xuất những giải pháp khai thác hợp lý tiềm năng của khu vực Hồ Núi Cốc phục vụ phát triển du lịch sinh thái trong khu vực. Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Về phạm vi không gian nghiên cứu, khu vực Hồ Núi Cốc được đề cập trong đề tài gồm toàn bộ diện tích mặt nước, các đảo thuộc địa giới hành chính của 12 xã với diện tích 22500 ha.

Nội dung nghiên cứu, giới hạn ở việc nghiên cứu các tiềm năng và việc sử dụng các nguồn tài nguyên phục vụ phát triển DLST trong khu vực.

4. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN

  • Ý nghĩa trước tiên của khóa luận là đưa ra một cái nhìn đúng đắn về Du lịch sinh thái trên cơ sở tổng hợp các định nghĩa, nguyên tắc của nhiều tác giả và tổ chức trên thế giới.
  • Khóa luận là một nguồn tài liệu tham khảo tin cậy cho việc quy hoạch phát triển DLST của khu vực Hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên. DLST phát triển sẽ hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn, phát triển bền vững tại khu vực.

5. CẤU TRÚC CỦA KHÓA LUẬN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của khóa luận được trình bày trong 4 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận, quan điểm và phương pháp nghiên cứu
  • Chương 2: Tiềm năng phát triển DLST tại khu vực Hồ Núi Cốc.
  • Chương 3: Hiện trạng hoạt động Du lịch tại khu vực Hồ Núi Cốc.
  • Chương 4: Định hướng và một số giải pháp phát triển Du lịch sinh thái khu vực Hồ Núi Cốc.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1.1. Khái niệm Du lịch

Trong lịch sử nhân loại, từ xa xưa du lịch được coi là một hoạt động nghỉ ngơi tích cực, một sở thích của con người. Những hành vi du lịch đầu tiên xuất hiện như: cuộc hành trình của các nhà hiền triết quanh khu vực Địa Trung Hải để xác định ra bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, hay các cuộc vi hành nhằm tìm hiểu nhân tình thế thái và thưởng ngoạn những thắng cảnh của các vị Hoàng đế Trung Hoa cổ đại… Cho đến nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa – xã hội của các nước, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của mỗi vùng, mỗi quốc gia.

Trải qua quá trình phát triển, du lịch được mang nhiều định nghĩa khác nhau, do thời gian, khu vực khác nhau, góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu du lịch khác nhau. Đầu tiên xuất phát từ thuật ngữ “tour” – bắt nguồn từ tiếng Pháp, có nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi và “touriste” là người đi dạo chơi. Đến khi “Hiệp hội các tổ chức du lịch quốc tế” được thành lập năm 1925 tại Hà Lan thì du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời gian ngắn đến những vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí hay chữa bệnh [13]. Nhìn chung những định nghĩa truyền thống chỉ xem du lịch như một kỳ nghỉ hoặc một chuyến đi để giải trí, làm phong phú thêm nhận thức của con người. Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Cùng với thời gian và sự phát triển của xã hội, người ta nhận thấy yếu tố kinh tế không thể thiếu trong khái niệm du lịch. Khái niệm du lịch đã có những thay đổi phù hợp hơn, bao hàm các nội dung liên quan đến sự chuyển cư, những hoạt động tại nơi đến cũng như các vấn đề kinh tế xã hội liên quan. Gắn kết cả hai cách nhìn nhận về du lịch từ hai phía là người đi du lịch và người kinh doanh du lịch.

Định nghĩa Tổ chức Du lịch thế giới WTO (World Travel Organization) đã xác định rõ “Du lịch là hành động rời khỏi nơi thường trú để đi đến một nơi khác, một môi trường khác trong một thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng”.

Một định nghĩa về du lịch được các nhà khoa học Việt Nam sử dụng nhiều đó là định nghĩa của I.I Piroogiơnic: “Du lịch là hoạt động của dân cư trong thời gian rảnh rỗi liên quan tới việc di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi thường trú nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ [8].

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam 1995:

Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật,…[12].

Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ…[12]

Theo Luật du lịch Việt Nam, năm 2005, khái niệm du lịch được xác định chính thức như sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [7].

Như vậy, du lịch là một khái niệm bao gồm nhiều nội dung. Một mặt, du lịch mang ý nghĩa là việc nghỉ ngơi, giải trí, liên quan mật thiết với sự di chuyển chỗ của khách du lịch. Mặt khác, du lịch được nhìn nhận như là hoạt động ngắn chặt với các hoạt động kinh tế – sản xuất, tiêu thụ những giá trị của lãnh thổ du lịch. Điều này cho ta cách nhìn nhận tổng hợp, toàn diện hơn về hoạt động du lịch. Du lịch không chỉ được xem xét trên khía cạnh lợi ích của khách du lịch mà quan trọng hơn là tác động của hoạt động du lịch đến lãnh thổ du lịch trên cả hai phương diện kinh tế và xã hội. Những vấn đề này nếu được giải quyết hợp lý sẽ đảm bảo được một nền du lịch bền vững và mang lại lợi ích tối đa cho cộng đồng.

1.1.2. Khái niệm Du lịch sinh thái Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

“Bước rón rén, chỉ chụp ảnh, và chỉ để lại dấu chân”. Đây chính là câu khẩu hiệu quen thuộc của Du lịch sinh thái.

Lịch sử ngành lữ hành nói riêng và ngành du lịch nói chung được đánh dấu bằng sự kiện nhà du lịch và kinh tế người Anh Thomas Cook đã tổ chức chuyến tham quan đặc biệt bằng tàu hỏa từ Leicester đến Lafburoy với chặng đường dài dặm cho 570 khách đi dự hội nghị năm 1841 thì quan niệm về du lịch sinh thái xuất hiện muộn sau này.

Đặc biệt từ sau những năm 1980, trước những ảnh hưởng tiêu cực của các loại hình du lịch thông thường đối với môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn của các lãnh thổ du lịch. Một xu hướng du lịch mới đã nổi lên, thu hút được sự quan tâm của đông đảo giới khoa học cũng như các nhà quản lý du lịch, đó chính là Du lịch sinh thái. Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau.

Đối với một số người, “Du lịch sinh thái” = “Du lịch” + “sinh thái”, đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “du lịch” và “sinh thái”

Nhìn ở góc độ rộng hơn, tổng quát hơn thì nhiều người quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên. Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch liên quan đến thiên nhiên như du lịch biển, du lịch núi, du lịch nông thôn…đều được hiểu là Du lịch sinh thái. Nhiều ý kiến cho rằng, DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái nơi diễn ra các hoạt động du lịch.

Phải đến năm 1987, một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh đầu tiên đã được Ceballos – Lascurain đưa ra: “DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tha quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”. Định nghĩa này bao gồm du lịch văn hóa lẫn du lịch thiên nhiên.

Các nhà nghiên cứu khác đã đưa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về Du lịch sinh thái. Nhưng hầu hết đều phản ánh được những đặc điểm cơ bản của DLST là hoạt động du lịch được tiến hành hài hòa với thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái, tập trung vào những lợi ích cho người bản địa.Ví dụ như: Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Theo Hội Du lịch Sinh thái quốc tế. “Du lịch sinh thái là một cuộc du lịch có trách nhiệm đến những vùng thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và duy trì bền vững phúc lợi của nhân dân địa phương”.

Theo định nghĩa của Wood (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích tài chính cho người dân địa phương”.

Định nghĩa của Allen (1993): “Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng vói ý thức giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường. Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”.

Theo Hội đồng Tư vấn Môi trường Canada: “Du lịch sinh thái là một trải nghiệm du lịch thiên nhiên mang lại thông tin bổ ích và góp phần vào việc bảo tồn hệ thống sinh thái, trong khi đó tôn trọng tình trạng nguyên vẹn của các cộng đồng chủ nhà”.

Định nghĩa của Vụ Du lịch Autralia: “Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào tự nhiên trong đó bao gồm nhân tố giáo dục môi trường và được quản lý cho sự phát triển bền vững”. Trong định nghĩa này đã nhấn mạnh yếu tố quản lý bền vững vào giáo dục môi trường.

Có rất nhiều định nghĩa khác về Du lịch sinh thái, trong đó Buckley đã tổng quát như sau: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường mới được xem là DLST”.

Tại Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Do trình độ nhận thức khác nhau, cách nhìn nhận vấn đề khác nhau nên khái niệm về DLST cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất. Nhiều cuộc hội thảo chuyên đề được tổ với sự tham gia của các nhà nghiên cứu trong và ngoài ngành đã đưa ra những khái niệm khác nhau về DLST.

Trong cuộc hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái” tại Việt Nam năm 1999, khái niệm DLST mới có sự thống nhất bước đầu: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Định nghĩa này bao hàm đầy đủ nội dung của DLST, thống nhất về cơ bản với các quan niệm của các nhà khoa học trên thế giới.

Từ định nghĩa được đưa ra từ năm 1987, nội dung của định nghĩa về DLST đã có sự thay đổi. Từ chỗ đơn thuần coi hoạt động DLST là loại hình du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn- DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tính giáo dục, diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

DLST mới đầu được biết đến chỉ là một loại hình du lịch, nhưng đã dần được nâng lên thành một quan điểm du lịch trong nỗ lực của toàn nhân loại nhằm cứu vãn, phục hồi những hệ sinh thái tự nhiên, nhân văn có giá trị cao của các lãnh thổ du lịch. Từ đó Luật Du Lịch Việt Nam có định nghĩa: “DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” (khoản 19, điều 4) [7].

1.1.3. Mối quan hệ giữa Du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác

Hiện nay, có hai quan niệm còn nhiều tranh cãi. Nếu nhìn nhận DLST như một loại hình du lịch thì DLST cũng như các loại hình du lịch khác, nó tồn tại độc lập và là một bộ phận cấu thành hệ thống các loại hình du lịch. DLST là loại hình du lịch dựa vào tự nhiên, đưa du khách về với thiên nhiên, đến với màu xanh của tự nhiên, mặc dù trong hoạt động của loại hình du lịch này bao gồm cả tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa bản địa của cộng đồng địa phương.

Các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên như nghỉ dưỡng, tham quan, mạo hiểm…chủ yếu mới chỉ đưa con người về với thiên nhiên, còn việc giáo dục, nâng cao nhận thức cho du khách về thiên nhiên và môi trường văn hóa cộng đồng địa phương là rất hiếm và hầu như không có. Tuy nhiên, nếu xem xét DLST như một quan điểm du lịch thì trong hoạt động du lịch này có gắn liền với việc thực hiện các nguyên tắc của DLST, bao gồm: giáo dục môi trường, bảo tồn và phát triển bền vững, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương thì bản thân chúng đã chuyển hóa thành một dạng của DLST. Chúng ta nên xem xét DLST như một quan điểm du lịch nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên. Có như vậy chúng ta mới phát huy được vai trò trong việc bảo vệ, phục hồi môi trường tự nhiên và các giá trị nhân văn đặc sắc, đồng thời nâng cao đời sống vật chất cho người dân tại các lãnh thổ du lịch của hoạt động du lịch. Chính vì vậy người ta gọi DLST là Du lịch trách nhiệm, Du lịch xanh.

1.1.4. Đặc trưng cơ bản của Du lịch sinh thái

Hoạt động khai thác du lịch nói chung và DLST nói riêng là quá trình sử dụng những giá trị đặc trưng của các loại tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kết hợp với các điều kiện về cơ sở hạ tầng, dịch vụ của lãnh thổ, nhằm tạo ra những sảm phẩm du lịch hấp dẫn mang lại lợi ích cho xã hội.

DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung: Tính đa ngành, Tính đa thành phần, Tính đa mục tiêu, Tính liên vùng, Tính mùa vụ, Tính chi phí, Tính xã hội hóa.

Bên cạnh những đặc trưng của ngành du lịch nói chung, Du lịch sinh thái cũng hàm chứa những đặc thù riêng. Bao gồm:

DLST phát triển trên địa bàn phong phú về tự nhiên và nền văn hóa bản địa. Đó là những khu vực tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động. Với đặc trưng này, các vườn quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên rất phù hợp để phát triển DLST.

Tính giáo dục cao về môi trường: DLST hướng du khách tiếp cận gần hơn nữa với các hoạt động bảo vệ môi trường thông qua giáo dục, thuyết minh môi trường. Bằng các tài liệu, các nguồn thông tin, hướng dẫn viên, các phương tiện trên điểm, tuyến tham quan…nhằm nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn cho du khách. Giáo dục môi trường trong DLST có tác dụng trong việc làm thay đổi thái độ của du khách, cộng đồng và chính ngành du lịch đối với giá trị bảo tồn và sẽ góp phần tạo nên sự bền vững lâu dài của các dạng tài nguyên du lịch. Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Đảm bảo tính bền vững về sinh thái so với các loại hình du lịch khác, vì nó được phát triển trong những môi trường có sức hấp dẫn ưu thế về tự nhiên, văn hóa bản địa đặc sắc. Vì vậy, trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng các dạng tài nguyên phục vụ du lịch phải được duy trì, quản lý cho bền vững. Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng các phương tiện, dịch vụ, tiện nghi của du khách thấp. Các hoạt động của DLST thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường.

Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch. DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đồng địa phương trên cơ sở cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia vào việc quản lý, vận hành, kinh doanh dịch vụ DLST. Đó cũng là để người dân có thể trở thành những người bảo tồn tích cực. Lợi ích về DLST phải lớn hơn sự trả giá về môi trường, văn hóa, xã hội có thể nảy sinh trên lãnh thổ du lịch.

1.1.5. Nguyên tắc hoạt động của Du lịch sinh thái

DLST được phát triển trên cơ sở những nguyên tắc hướng tới phát triển bền vững. Nguyên tắc này đòi hỏi đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tiếp theo. Đây là những nguyên tắc không chỉ cho các nhà quy hoạch, quản lý, điều hành mà còn cho cả hướng dẫn viên. Cụ thể:

  • Thận trọng trong việc sử dụng nguồn tài nguyên môi trường, hỗ trợ bảo tồn và giảm thiểu ô nhiễm.
  • Phát triển du lịch không làm tổn hại đến nền văn hóa và xã hội địa phương. Các giá trị văn hóa bản địa là một yếu tố không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái.
  • Tạo lợi ích lâu dài cho cộng đồng địa phương qua cơ hội việc làm mà họ nhận được với vai trò là người làm chủ trong sự phát triển và hoạch định.
  • Khách du lịch cần được cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khu vực đến thăm, đảm bảo tính giáo dục cao.

1.1.6. Tài nguyên Du lịch sinh thái

a). Khái niệm tài nguyên Du lịch sinh thái Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Tài nguyên du lịch nói chung của mỗi lãnh thổ bao gồm các yếu tố liên quan điều kiện tự nhiên, điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội vốn có trong tự nhiên hoặc do con người tạo ra trên lãnh thổ đó được sử dụng vào mục đích du lịch. Hay cụ thể hơn, “tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử, văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố căn bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch,…” [7].

DLST được phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa. Do đó, tài nguyên DLST là một bộ phận quan trọng của tài nguyên du lịch, “nó bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó” [6].

Như vậy, không phải tất cả giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên DLST mà chỉ có các thành phần, các thể tổng hợp tự nhiên,các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ mục đích phát triển DLST mới được xem là tài nguyên DLST. Điều này có nghĩa là khi nghiên cứu, đánh giá, tổng hợp tài nguyên DLST của một lãnh thổ cho mục đích phát triển DLST thì những hệ sinh thái (tự nhiên, nhân sinh) phản ánh đầy đủ các điều kiện tự nhiên của lãnh thổ đó, chỉ có những giá trị văn hóa bản địa (vật thể và phi vật thể) là sản phẩm của quá trình sinh sống lâu dài trên cơ sở khai thác các điều kiện tự nhiên trên lãnh thổ và phản ánh được các đặc trưng mang tính quy luật giữa tự nhiên và con người của lãnh thổ mới được coi là tài nguyên DLST.

Tài nguyên DLST rất phong phú, đa dạng. Một số loại tài nguyên DLST chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách gồm:

  • Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt là nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loại sinh vật đăc hữu, quý hiếm (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, sân chim…).
  • Các hệ sinh thái nông nghiệp phản ánh tổng hợp các điều kiện sản xuất của lãnh thổ (vườn cây ăn trái – miệt vườn ở Đồng Bằng sông Cửu Long, trang trại, làng hoa cây cảnh – Đà Lạt, Hà Nội…).
  • Các giá trị văn hóa bản địa hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết của cộng đồng.

b). Các đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái

  • Tài nguyên Du lịch sinh thái thường rất nhạy cảm với các tác động

So với các dạng tài nguyên phục vụ loại hình du lịch khác, tài nguyên DLST thường rất nhạy cảm với những tác động của con người. Bởi những yếu tố tự nhiên, hay văn hóa bản địa được coi là tài nguyên DLST là thành phần không thể tách rời trong cấu trúc sinh thái cảnh quan của mỗi lãnh thổ du lịch. Những thành phần này tồn tại, phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với nhau một cách hết sức chặt chẽ. Do đó, sự thay đổi tính chất của một số thành phần tự nhiên hoặc sự suy giảm hay mất đi của một số loài sinh vật cấu thành nên hệ sinh thái nào đó dưới tác động của con người sẽ là nguyên nhân để thay đổi, thậm chí mất đi hệ sinh thái đó và tác động tiếp theo là phá vỡ những tập quán, phương thức canh tác của cư dân địa phương, nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng lãnh thổ đó và kết quả là tài nguyên DLST sẽ bị ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau. Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

  • Tài nguyên DLST chịu sự chi phối mạnh mẽ của quy luật nhịp điệu (đặc biệt là nhịp điệu mùa)

Tài nguyên du lịch nói chung và DLST nói riêng đều chịu tác động của quy luật nhịp điệu. Nhưng DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa nên những tài nguyên DLST chịu sự chi phối mạnh mẽ hơn cả và đây là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của loại tài nguyên này. Sự lệ thuộc này chủ yếu dựa theo quy luật diễn biến của khí hậu, đây là nhân tố có vai trò động lực tạo nên sự biến đổi mang tính nhịp điệu của tất cả các thành phần tự nhiên, nhân văn ,và nó sẽ quyết định tính nhịp điệu trong hoạt động khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ DLST. Vì vậy, vấn đề đặt ra là các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách phát triển DLST, trong quá trình hoạch định các loại hình du lịch, các tuyến điểm du lịch, là tạo nên khả năng khai thác hoạt động du lịch một cách liên tục.

  • Tài nguyên DLST thường được khai thác tại chỗ để tạo ra các sản phẩm du lịch

Không giống như các dạng tài nguyên khác, sau khi được khai thác có thể vận chuyển đi nơi khác. Tài nguyên Du lịch nói chung và tài nguyên DLST nói riêng thường được khai thác tại chỗ để tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách. Vì vậy, để khai thác tốt tài nguyên DLST thái cần thiết phải có những cơ sở hạ tầng thuận lợi cho việc tiếp cận các khu vực tiềm năng. Trên thực tế chúng ta cũng thấy những nơi nào có vị trí địa lý thuận lợi, giao thông đi lại thuận tiện thì hoạt động du lịch nói chung và DLST nói riêng sẽ phát triển hơn. Ngược lại những nơi có tiềm năng rất lớn về DLST nhưng giao thông khó khăn, khả năng tiếp cận còn hạn chế thì mức độ khai thác còn thấp, chủ yếu còn dạng tiềm năng (ví dụ như hồ Ba Bể, núi Phan xi păng…).

  • Tài nguyên Du lịch sinh thái có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài

Phần lớn các loại tài nguyên du lịch, trong đó có tài nguyên DLST được xếp vào loại tài nguyên có khả năng phục hồi, tái tạo của tự nhiên. Tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều loại tài nguyên DLST đặc sắc như các sinh vật đặc hữu, quý hiếm… hoàn toàn có thể biến mất do những tai biến thiên nhiên hoặc do tác động thiếu hiểu biết của con người. Vấn đề đặt ra là cần nắm bắt được quy luật của tự nhiên, lường trước được những tác động của con người đối với tự nhiên nói chung, tài nguyên DLST nói riêng để có những định hướng, giải pháp cụ thể khai thác hợp lý, có hiệu quả, không ngừng bảo vệ tôn tạo và phát triển các nguồn tài nguyên vô giá này nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch. Chỉ có phát triển bền vững mới đảm bảo cho nguồn tài nguyên du lịch, trong đó có tài nguyên DLST ít bị tổn hại, mỗi điểm du lịch, mỗi khu du lịch ngày càng trở nên hấp dẫn hơn, không chỉ thỏa mãn nhu cầu phát triển du lịch hiện tại, mà còn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu du lịch nói chung và DLST nói riêng trong tương lai.

c). Các loại tài nguyên Du lịch sinh thái ở Việt Nam Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

  • Hệ sinh thái rừng nhiệt đới

Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm vì vậy đây là hệ sinh thái mang tính phổ biến. Nhưng do sự khác nhau về điều kiện nhiệt ẩm giữa các mùa, các vùng nên hệ sinh thái này có thể chia ra: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới thường xanh; Hệ sinh thái trên núi đá vôi; Hệ sinh thái rừng khô hạn.

Các hệ sinh thái này có thế mạnh đối với phát triển DLST là sự phong phú về thành phần loài động thực vật, với nhiều loài có giá trị, lại tồn tại trên các dạng địa hình có độ chia cắt lớn. Do vậy có thể phát triển các loại hình DLST có sức hút lớn đối với du khách như: đi bộ xuyên rừng, tìm hiểu khám phá tự nhên, leo núi…

  • Nhóm hệ sinh thái núi cao

Việt Nam có ¾ diện tích lãnh thổ là đồi núi, nhưng núi có độ cao trên 1000m chỉ chiếm 10% diện tích, chủ yếu là đồi núi thấp. Tuy vậy, các hệ sinh thái núi cao lại có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển DLST.

Do nằm trên những khu vực có độ cao lớn nên có khí hậu mát mẻ trong lành, phù hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng, leo núi…Đây còn là nơi lưu giữ nhiều nguồn gen quý hiếm, nhiều loại động thực vật đặc hữu.

  • Nhóm hệ sinh thái đất ngập nước

Các hệ sinh thái đất ngập nước có những đặc thù sinh thái riêng mà nhiều nhà sinh thái vẫn mô tả chung là các hệ sinh thái thủy vực. Đất ngập nước ở Việt Nam rất lớn và phong phú, bao gồm dải đất ven biển, vùng nước xung quanh các đảo có độ sâu không quá 6m khi thủy chiều xuống thấp, những cửa sông rộng lớn với những đầm lầy, các bãi triều, rừng ngập mặn, các đầm phá ven biển, những cách đồng muối, những vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn ngập nước theo mùa được khai thác chủ yếu để trồng lúa, những rừng tràm bát ngát, những ao, đầm nuôi trồng thủy sản, những hồ nước ngọt tự nhiên, nhân tạo…

Những hệ sinh thái ngập nước điển hình có thể kể tới: Hệ sinh thái ngập mặn ven biển, hệ sinh thái đầm lầy nội địa, hệ sinh thái đầm phá, hệ sinh thái hồ, hệ sinh thái san hô.Đây có thể coi là một dạng tài nguyên DLST nhiều tiềm năng nhất.

  • Nhóm hệ sinh thái biển – đảo

Trên dọc chiều dài 3260km đường bờ biển và vùng biển rộng trên 1triệu km2, Việt Nam có khoảng 2779 hòn đảo lớn nhỏ. Căn cứ vào đặc điểm phân bố các đảo có thể chia thành 3 hệ sinh thái đặc trưng: Hệ sinh thái quần đảo với nhiều vũng, vịnh nhỏ và tùng, áng xen kẽ tạo nên cảnh quan và môi trường sinh thái rất đặc biệt và đa dạng; Hệ sinh thái ở một hoặc hai đảo độc lập hoặc cách nhau tương đối xa; Hệ sinh thái vùng quần đảo nhỏ, bao gồm một đảo lớn và một số đảo nhỏ xung quanh.

  • Nhóm hệ sinh thái vùng cát ven biển Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Hệ sinh thái vùng cát ven biển là một trong những hệ sinh thái đặc trưng ở Việt Nam, thu hút được sự quan tâm của du khách, thực vật phát triển hạn chế trong các hệ sinh thái cát, chủ yếu là cỏ dại như cỏ Lông Chông, cỏ Gà, cỏ gừng, muống biển…xen cây bụi như Xương Rồng, Dứa dại,…độ che phủ thấp. Động vật ở hệ sinh thái vùng cát chủ yếu là Nhông cát, Thằn Lằn, Rắn cát,Cò bợ. Cò lửa…

Các nhóm hệ sinh thái cát hình thành trên một số loại đất cát khác nhau như: đất cồn cát trắng vàng, đất cát biển, đất cát đỏ.

  • Nhóm hệ sinh thái nông nghiệp

Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân sinh, có tác động của con người và được con người duy trì để phục vụ cho đời sống của mình. Tuy nhiên, cây trồng và vật nuôi của nhóm hệ sinh thái này phát triển theo những quy luật tự nhiên, phù hợp với môi trường và trong sự cân bằng sinh thái với các sinh vật hoang dã mà chủ yếu ở đây là cỏ dại và côn trùng.

Nhóm hệ sinh thái nông nghiệp bao gồm: hệ đồng ruộng ( hệ trồng trọt), hệ vườn làng (hệ quần cư nông thôn), hệ sông hồ, ao đầm (thủy vực).

  • Các cảnh quan đặc biệt

Các di tích tự nhiên: Trên bề mặt địa hình có rất nhiều vật thể với dáng hình tự nhiên song lại rất gần gũi với đời thường, có giá trị thẩm mỹ, gợi cảm, mang những sự tích và truyền thuyết. Đó là những di tích tự nhiên và cũng là nơi được khách du lịch ưa thích, ngưỡng mộ.

Các cảnh quan du lịch tự nhiên: Cảnh quan du lịch tự nhiên là nơi có sự phối hợp của những thành phần tự nhiên, đặc biệt là địa hình, thực vật và hệ thống sông suối để tạo thành dạng tài nguyên du lịch đặc biệt, có khả năng thu hút khách du lịch nhưng phạm vi không lớn lắm.

  • Tài nguyên du lịch nhân văn (văn hóa bản địa)

Nguồn tài nguyên du lịch nhân văn trong các khu sinh thái tự nhiên hay là văn hóa bản địa được hiểu bao gồm cộng đồng dân cư với vốn văn hóa truyền thống của họ (tập tục, lối sống, sinh hoạt lễ hội, văn hóa dân gian, các sản phẩm thủ công truyền thống, các di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, các đặc sản ẩm thực…)

1.2. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.2.1. Quan điểm nghiên cứu

a). Quan điểm Du lịch sinh thái Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Du lịch sinh thái đúng hơn là một quan điểm du lịch, một triết lý, là những hoạt động và nguyên tắc mà nếu không được hiểu đúng , nó sẽ làm thay đổi phương thức đi du lịch. Vận dụng quan điểm này vào đề tài, chúng ta không nên nhìn nhận DLST như một loại hình du lịch thông thường mà là một định hướng trong hoạt động du lịch. Sẽ không tồn tại một tuyến DLST hay một khu DLST cụ thể, vì DLST hay phi DLST hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động thực tiễn của con người. Nếu hoạt động đó là bảo vệ môi trường, đóng góp cho công tác bảo tồn thì nó sẽ được coi là đang đi theo hướng DLST. Một khách du lịch tham gia vào một “tour DLST” không có nghĩa người đó đương nhiên là một khách DLST.

b). Quan điểm hệ thống

Đối với việc nghiên cứu phát triển DLST khu vực Hồ Núi Cốc, cần phải xác định DLST là một bộ phận không thể tách rời của ngành du lịch nói chung và của du lịch tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Bản thân những yếu tố tự nhiên, văn hóa cấu thành hệ thống tài nguyên DLST cho khu vực là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, văn hóa chung của khu vực. Sự biến đổi của một yếu tố tự nhiên, văn hóa nào đó trong quá trình khai thác du lịch có thể làm thay đổi toàn bộ cảnh quan trong khu vực. Do vậy, vận dụng yếu tố này trong quy hoạch phát triển cần phải dựa trên những cơ sở khoa học rõ ràng, tôn trọng quy luật khách quan, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững.

c). Quan điểm tổng hợp

Tất cả mọi hoạt động không thể tách rời một lãnh thổ cụ thể. Các điều kiện và nhân tố du lịch tồn tại trong sự thống nhất với các yếu tố: tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử. Theo quan điểm này, lãnh thổ du lịch được tổ chức là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch trên cơ sở các nguồn tài nguyên, các dịch vụ du lịch. Quan điểm này được áp dụng trong việc phân tích các tiềm năng cho hoạt động phát triển du lịch của khu du lịch Hồ Núi Cốc trong mối quan hệ tổng hợp các yếu tố. Quan điểm này cũng luôn được chú trọng khi đánh giá các hoạt động du lịch và vấn đề bảo tồn môi trường tự nhiên.

d). Quan điểm kinh tế, sinh thái bền vững

Một trong những vấn đề quan trọng của DLST là bảo vệ tài nguyên du lịch tự nhiên và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Vì vậy, việc phát triển du lịch nhằm mục tiêu hiệu quả kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường du lịch. Đây là hai mặt không thể tách rời của chính sách kinh tế toàn vẹn. Vận dụng quan điểm này, tính toàn vẹn lãnh thổ của hệ sinh thái phải được coi trọng, trong đó các tác động của hoạt động du lịch đến khả năng chịu đựng của hệ sinh thái cần được tính đến, đảm bảo sự phát triển của DLST trên cơ sở hiệu quả về kinh tế và bảo tồn môi trường tự nhiên một cách bền vững.

e). Quan điểm lich sử

Nghiên cứu quá khứ để được những đánh giá đúng đắn cho hiện tại, phân tích nguồn gốc phát sinh, phát triển là cơ sở để đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển. Quan điểm này được vận dụng trong quá trình phân tích các giai đoạn chủ yếu của quá trình hình thành, phát triển hệ thống du lịch, xu hướng phát triển của hệ thống lãnh thổ.

1.2.2. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

a). Phương pháp khảo sát thực địa và thu thập tài liệu

Phương pháp này giúp quan sát cảnh quan tự nhiên, cơ sở hạ tầng (nhà cửa, công trình, giao thông…) và tìm hiểu văn hóa bản địa, tiếp xúc với ban quản lý, điều hành, người địa phương để thu thập những nguồn tư liệu cần thiết và cập nhật.

b). Phương pháp thống kê và phân tích tài liệu

Phương pháp thống kê không chỉ áp dụng trong nghiên cứu sơ bộ, thu thập các tài liệu, các bài báo, các báo cáo đã có về khu vực…, mà còn sử dụng trong quá trình phân tích, chọn lọc, xử lý các số liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

Những tài liệu thông tin luôn được bổ xung cập nhật, đảm bảo cơ sở cho việc xử lý, phân tích, đánh giá các vấn đề cho nội dung nghiên cứu.

c). Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp này được áp dụng thông qua việc tổ hợp các nguồn tài liệu, các kết quả điều tra xã hội học cùng các khảo sát thực tế, phân tích để thấy được tiền năng, thực lực phát triển du lịch và thấy được mức độ phức tạp của lãnh thổ.

d). Phương pháp điều tra xã hội học

Phỏng vấn bảng hỏi các đối tượng: người dân địa phương, khách du lịch nước ngoài, khách du lịch trong nước.

Khảo sát, xác định các đối tượng và nội dung cần điều tra, đề tài thực hiện điều tra hai đối tượng chính là khách du lịch và người dân địa phương. Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Lựa chọn phương pháp điều tra với ba cách tiếp cận cơ bản: phỏng vấn thông qua trao đổi, trò chuyện; phỏng vấn trên cơ sở phác thảo các ý tưởng cơ bản.

Kết luận chương 1

DLST được chấp nhận trên phạm vi quốc tế với những ý tưởng phát triển bền vững. Tuy nhiên, DLST không phải là “liều thuốc chữa bách bệnh” cho tất cả những vấn đề đang tồn tại của ngành du lịch. DLST hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Để đạt được mục tiêu này, DLST phải đảm bảo cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, môi trường, xã hội với các giá trị tài nguyên và giá trị đạo đức. Khóa luận: Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái ở Thái Nguyên.

Phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội cụ thể của từng điểm, từng khu du lịch thì tiềm năng DLST của chúng không giống nhau. Chính vì vậy, để phát triển DLST tại khu vực này, khóa luận tập trung vào tiềm năng và hiện trạng hoạt động du lịch, từ đó đánh giá dưới góc độ DLST trong chương 2, 3 và 4 của khóa luận.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x