Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tiềm năng phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

a). Vị trí địa lý

Khu vực Hồ Núi Cốc bao gồm 12 xã: Hùng Sơn, Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ, Bình Thuận, Ký Phú, Văn Yên, Cát Nê (thuộc huyện Đại Từ), Phúc Tân (Phổ Yên), Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc xuân (thuộc thành phố Thái Nguyên). Cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 15km về phía Tây, với tổng diện tích hơn 22500 ha. Trong đó, Hồ Núi Cốc có diện tích mặt nước khoảng 2500 ha. Đây là một hồ nước nhân tạo được hình thành từ việc đắp đập ngăn dòng chảy của sông Công.

Khu vực Hồ Núi Cốc có tọa độ địa lý trong khoảng:

Từ 1050 33’ đến 1050 45’ kinh Đông và từ 210 29’ đến 210 40’ vĩ độ Bắc. Phía Bắc và Tây Bắc giáp với các xã còn lại của huyện Đại Từ, phía Đông là thành phố Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Phổ Yên và thị xã sông Công, phía Tây ngăn cách với tỉnh Vĩnh Phúc bởi dãy Tam Đảo.

b). Đặc điểm địa chất, địa hình Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Khu vực Hồ Núi Cốc có địa hình khá đơn giản, phía Tây là sườn Đông của dãy Tam Đảo được phân định từ độ cao 1500 m trở xuống. Phía Đông Bắc là dãy núi Pháo, kéo dài khoảng 15km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, rộng trung bình 2 – 3km với đỉnh cao nhất khoảng 500m. Vùng trung tâm là những dải đồi núi thấp, độ cao trung bình từ dưới 250m. Độ dốc từ 15 – 250, xem với các dạng địa hình thung lũng – nơi đã được con người khai thác sử dụng từ lâu đời. Ở chính giữa là thung lũng sông Công chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và Hồ Núi Cốc. Nằm song song với bờ phía Tây Nam của Hồ Núi Cốc là dãy núi Thằn Lằn, với đỉnh cao nhất khoảng 497m. Có thể khái quát, địa hình khu vực Hồ Núi Cốc mang tính chuyển tiếp giữa vùng gò đồi bậc thềm phù sa cổ phía Đông Nam và vùng đồi núi cao ở phía Tây Bắc Bộ.

Về đặc điểm địa chất. Khu vực Hồ Núi Cốc có nền trầm tích phiến thạch, sỏi sạn kết và phiến thạch sét, khó phong hóa, nghèo dinh dưỡng. Khoáng vật sau phong hóa dễ hòa tan, chứa nhiều cấp hạt thô, vụn.

c). Đặc điểm khí hậu, thủy văn

Mặc dù mang đặc điểm chung của khí hậu tỉnh Thía Nguyên cũng như toàn vùng Đông Bắc của Việt Nam với nền tảng nhiệt đới gió mùa ẩm có một mùa đông lạnh. Trong đó có một mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều, lượng mưa tập trung từ tháng 6 – tháng 10. Mùa đông rét kéo dài từ tháng 11- tháng 3. Tuy nhiên với đặc điểm địa hình mở rộng và thấp dần về phía Đông Nam, có độ cao trên 1500m tạo nên bức chắn địa hình đối với gió mùa Đông Bắc, xuất hiện kiểu thời tiết mang tính địa phương rõ nét. Do vậy, trong khu vực nghiên cứu, xuất hiện những cơn mưa có lượng khá lớn thường xảy ra vào đầu vào cuối mùa đông, ngay trong thời gian giữa mùa đông cũng thường xuyên xuất hiện những trận mưa nhỏ. Điều này làm cho tính chất khô của mùa đông bớt khắc nghiệt hơn, có lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhưng lại có tác động tiêu cực đến hoạt động du lịch.

Đặc điểm thủy văn. Với lượng mưa hàng năm khá lớn (lớn nhất tỉnh), đã tạo điều kiện cho mạng lưới sông suối trong khu vực khá phát triển. Dòng chảy chính trong khu vực là sông Công, với chiều dài là 96 km, tổng diện tích lưu vực rộng 951 km2 (chiều rộng lưu vực 13 km, chiều dài lưu vực 73km), độ dốc dòng chảy là 1,89%. Bên cạnh đó là phụ lưu của nó (chủ yếu tập trung bên hữu ngạn), sông Nước Giáp, suối Ngòi Tía, suối Kẻn, suối Tôn, suối Ký Phú, suối Hai Huyện, suối Nguồn, suối Cầu Tây…Lưu lượng nước của sông Công khá dồi dào, nhưng có sự chênh lệch lớn giữa mùa lũ và nùa cạn, trung bình đạt 17,2m3/s

Ở trung lưu của sông Công, người ta đã xây dựng Hồ Núi Cốc (từ thượng nguồn tới hồ là 47 km). Sự ra đời của Hồ Núi Cốc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống và sản xuất của cư dân trong khu vực. Đây là công trình thủy nông lớn nhất tỉnh Thái Nguyên, được khởi công từ năm 1972 đến năm 1978 thì hoàn thành và đưa vào sử dụng. Hồ bao gồm một đập chính dài 480m, cao 49m nằm trên địa phận xã Phúc Trìu (Tp Thái Nguyên) và 6 đập phụ có độ cao từ 5- 13m, chiều dài từ vài chục đến vài trăm mét. Hồ nhận nước từ sông Công và các sông suối khác trong khu vực trên diện tích lưu vực rộng 535 km2, hồ có dung tích thiết kế trung bình là 175,5 triệu m3, mực nước trung bình là 46,2m. Cùng với hồ là hệ thống kênh lấy nước, phục vụ sinh hoạt, sản xuất, gồm 4 kênh: kênh Chính dài 18 km, kênh tây dài 18 km, kênh giữa dài 20 km, kênh Đông dài 9 km.

Điều chúng ta cần lưu ý khi phân tích đặc điểm khí hậu trong khu vực là vai trò điều hòa của Hồ Núi Cốc, có diện tích mặt nước trung bình 2500 ha, chiếm 11% diện tích tự nhiên của khu vực, vì vậy về mùa hè hồ có khả năng làm cho không khí trở nên mát mẻ trong lành hơn. Đây cũng chính là một điều kiện lý tưởng để thu hút khách du lịch và xây dựng các tuyến du lịch phát triển DLST trong vùng.

d). Đặc điểm thực vật Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Do nền nhiệt ẩm như vậy, khu vực Hồ Núi Cốc phát triển kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đai núi thấp. Đây là hệ sinh thái rừng nhiệt đới đai núi thấp, đa dạng, phong phú và có giá trị cao về lâm sản và phòng hộ. Thành phần thực vật chủ yếu gồm các loại họ Đậu, Re, Dẻ,…Tuy vậy, thảm thực vật tự nhiên kể trên chỉ còn tồn tại trên các đỉnh thuộc dãy núi Pháo, Thằn Lằn (với diện tích nhỏ), dãy Tam Đảo và đang trong quá trình phục hồi. Phần lớn thảm rừng tự nhiên đã bị khai thác chuyển thành đất nông nghiệp, thay thế vào đó là các dạng rừng trồng với nhiều giống cây nhập nội như Bạch Đàn (trắng, lá liễu); Keo (lá tràm, tai tượng)…Mặc dù các loại cây trên phát triển khá mạnh trong điều kiện địa phương nhưng nó đang tiềm ẩn những nguy cơ đáng lo ngại và sức hấp dẫn du lịch của các dạng rừng trồng là rất thấp. Vì vậy, cần phải có kế hoạch thay thế dần các giống nhập nội kể trên bằng những loài bản địa phù hợp, nhằm tăng cường khả năng phòng hộ, phát triển bền vững nhiều nguồn gen thực vật quý hiếm và tạo điều kiện phát triển DLST.

e). Đặc điểm thổ nhưỡng

Nhìn chung, đất đai trong khu vực có độ pH từ 3,5 – 4,6. Đất chua, nghèo mùn. Đất có thể chia thành 3 loại chính: Đất feralit vàng đỏ tầng trung bình đến dày, thành phần cơ giới trung bình, hình thành trên nền đá mịn (phiến thạch sét, Acgilit, phấn sa), được phân bố rộng, đất giữ nước tốt thích hợp trồng chè, cây ăn quả và rừng; Đất feralit vành đỏ tầng trung bình đến mỏng. Loại đất này phân bố rải rác, giữ nước kém thích hợp cho việc trồng cây ăn quả, trồng rừng; Đất feralit vàng đỏ tầng trung bình đến dày, thành phần cơ giới trung bình, hình thành trên nền đá mịn và thô bán ngập. Loại đất này phân bố theo dải, giữ nước tốt, thích hợp với trồng cây ăn quả. Ngoài ra còn có đất được hình thành ở các thung lũng, qua quá trình canh tác lúa nước và hoa màu lâu đời. Loại đất này có đặc điểm giữ nước tốt, chua, nhưng do được chăm sóc thường xuyên nên vẫn có khả năng cho năng suất cao.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2. Các hệ sinh thái

Không phải tất cả các giá trị tự nhiên và nhân văn có mặt trên một lãnh thổ đều được coi là tài nguyên DLST mà những giá trị này phải gắn với một hệ sinh thái cụ thể. Trong bài khóa luận, các dạng tài nguyên DLST tự nhiên được nghiên cứu thông qua những hệ sinh thái cụ thể tồn tại trên những dạng cảnh quan khác nhau.

Nhìn chung, sinh thái, cảnh quan khu vực Hồ Núi Cốc tương đối đồng nhất. Tuy nhiên, xét về địa hình, địa chất, thủy văn thì cũng xuất hiện những sự khác biệt về khí hậu địa phương, về đặc điểm của các loại đất, đặc biệt sự khác biệt này lại quy định sự xuất hiện của những hệ sinh thái, những sinh vật khác nhau. Sự xuất hiện của con người cùng với quá trình khai thác các điều kiện tự nhiên của lãnh thổ đã tạo nên tập quán và cơ cấu sản xuất của cư dân địa phương, từ đó nó tạo nên những sắc thái văn hóa cụ thể cho từng khu vực. Cụ thể chúng ta có thể chia khu vực Hồ Núi Cốc ra thành ba dạng cảnh quan khác nhau: Dạng cảnh quan núi thấp và trung bình có độ cao từ 250 – 700 m (gồm dãy núi Pháo, dãy Thằn Lằn, sườn Đông dãy Tam Đảo); Dạng cảnh quan gò, đồi, thung lũng ở độ cao dưới 250 m (là vùng có diện tích rộng nhất, bao quanh phía Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc của hồ); Cảnh quan vùng lòng hồ (mặt nước và các đảo nổi). Trên mỗi dạng cảnh quan đều tồn tại những hệ sinh thái đặc trưng điển hình. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

  • Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đai núi thấp

Đây là hệ sinh thái rừng nhiệt đới tự nhiên khá phong phú, đa dạng và có giá trị cao về lâm sản, phòng hộ và DLST. Hệ sinh thái rừng này thường có 5 tầng: tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi thấp, tầng thảm tươi. Ngoài ra còn có cây thân thảo, cây thân gỗ và dây leo, cây phụ sinh, cây ký sinh.

Tầng cây gỗ rất phong phú về loài, thường gặp những loài cây thân gỗ lớn và nhỡ, thuộc những loại chủ yếu sau: họ Đậu, họ Re, họ Dẻ, họ Xoan, họ Dâu tằm, họ Vang, họ Trinh Nữ, họ Mộc Lan, họ Trám, họ Bồ Hòn, họ Máu chó, họ Bứa, họ Sim, họ Trôm, họ Thầu dầu, họ Na, họ Du, họ Cà phê, họ Điều…

Tầng cây bụi có rất nhiều loài thuộc một số loại chủ yếu như: họ Cam Quýt, họ Trúc Đào, họ Mua, họ Hoa Tán, họ Thầu dầu, họ Cau Dừa, họ phụ Tre Trúc…

Tầng thảm tươi có các loài phổ biến ở họ cỏ, họ Cói, họ Gai, họ Ráy, họ Gừng, họ Hành Tỏi, và các loài Dương Xỉ

Tầng phụ sinh, ký sinh có nhiều loại của họ Phong Lan, họ Đàn hương, họ Tầm gửi và nhiều loài quyết thực vật sống phụ sinh.

Tầng dây leo, có nhiều loại dây leo thân gỗ có giá trị như các loài dây leo thuộc họ Na, họ Đậu, họ Sổ, họ Huyết Đằng, họ Tiết dê, họ Cậm Cang, họ Củ nâu, họ Nho, họ Vang, họ Trinh Nữ…

Về động vật, do những điểm tương đồng về mặt tự nhiên, đồng thời tiếp giáp với VQG Tam Đảo. Khu vực này gồm có: 64 loài thú, 239 loài chim, 76 loài bò sát, 28 loài lưỡng cư và 437 loài côn trùng. Trong đó, có nhiều loài đặc hữu, quý hiếm có giá trị và sức hút mạnh đối với du khách.

Hệ sinh thái này hiện nay chỉ còn tồn tại trên các đỉnh thuộc dãy núi Pháo, dãy Thằn Lằn và phần thuộc VQG Tam Đảo. Đây là một dạng tài nguyên DLST có giá trị cao. Với ưu thế là sự phong phú các thành phần loài thực vật, động vật, lại tồn tại trên các dạng địa hình cao, chia cắt mạnh tạo nên sức hấp dẫn đối với du khách. Do vậy, hệ sinh thái này rất phù hợp với loại hình DLST khám phá thiên nhiên, nghiên cứu, tìm hiểu các hệ sinh thái tự nhiên, kết hợp leo núi, ngắm cảnh…

  • Hệ sinh thái rừng phục hồi tự nhiên

Đây là kiểu rừng non tái sinh mới khép tán sau khai thác (Dẻo gai, Kháo, Lim, Trám, Ngát, Dền, Bứa, Máu chó). Diện tích khoảng 400 ha, phân bố chủ yếu trên dạng cảnh quan núi thấp ở độ cao 250 – 450 m. Phía Tây Hồ Núi Cốc thuộc địa phận các xã Phúc Tân (huyện Phổ Yên), Vạn Thọ, Lục Ba (huyện Đại Từ), một dải dọc theo vùng đệm của VQG Tam Đảo và trên các đảo nổi. Loại rừng non thứ sinh này mang nhiều nét đặc trưng của rừng thường gặp ở vùng đồi núi thấp tỉnh Bắc Thái cũ và vùng phụ cận. Rừng được hình thành trên những khu đồi bán trọc (có cây bụi mọc rải rác), sau khi có quy hoạch rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc những diện tích này được khoanh nuôi bảo vệ nghiêm ngặt, và phát triển trong điều kiện tự nhiên (khoảng 15 – 20 năm trở lại đây). Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Thực vật được chia làm hai loại rõ rệt. Tầng trên là một quần thể cây cao khoảng 7 – 10 m, tán giao nhau tạo thành một vòm liên tục. Sự phân hóa chiều cao trong quần thể không rõ rệt, đường kính trung bình của tầng cây gỗ đạt 8,36 cm, mật độ cây đạt từ 3500 – 4000 cây/ha. Thành phần loài tương đối phong phú, đã thống kê được trên 60 loài cây gỗ, trong đó nhiều nhất là các loài thuộc họ Re (có 12 loài), họ Dâu tằm (7 loài), họ Dẻ (5 loài). Ở đây còn gặp cả những loài ưa sáng, tạm cư như Màng Tang, Ba Soi, Ba Bét, Bùng Bục, và những loài định cư có kích thước lớn, đời sống dài và nhiều loài gỗ quý như: Lim xanh, Giổi, Chai, Sến mật, Đinh thối, Kè đuôi giông, Xoan nhừ, Chò nâu, Sâng xoan, Chặc khế, Thôi chanh, Thôi ba và một số loài Re: Re gừng, Re lá nhỏ, một số loài Dẻ: Dẻ gai, Dẻ, Dẻ Ấn Độ. Bên cạnh đó, còn có Vàng Anh, Cổng mạ, Kháo lá lớn, Kháo nước, Rè vàng, Kháo vàng, Sấu, Sơn rừng, Vải thiều rừng, Dâu da xoan, Cà muối, Thanh thất và một số loài khác.

Tầng dưới không phát triển lắm, mọc thành từng đám hoặc rải rác dưới tán rừng. Các loài thường gặp là Lấu (có 2 loài), Đơn nem (3 loài), Dây trứng quốc (2 loài), Bọt ếch, Phèn đen, Bồ cu vẽ, Thao kén,…Tổng khoảng 20 – 25 loài.

Nhóm dây leo và ký sinh phụ tương đối nghèo nàn, chỉ gặp một số ít loài dây leo như: Móng bò leo, Dây mật, Bạc thau (3 loài ), Ngấy (2 loài), Cậm cang…Các cây ký phụ sinh quan sát thấy gồm: một số loài Dương xỉ và họ Tầm gửi.

Tầng cây tái sinh (chủ yếu là tái sinh chồi) đã có số lượng tương đối khá, một số loài thường gặp là các loài Re, Rẻ, Sung rừng, Mít rừng, Dền, Ngát, Cọc rào, Sơn rừng, Bứa, Máu chó, Dẻ gai Ấn Độ, Vàng Anh, Cổng mạ, Kháo lớn, Kháo nước, Rè vàng, Kháo vàng, Sấu, Vải thiều rừng, Cà muối, lác đác có Chò nâu, Xoan đào, Sồi hồng, Dẻ đỏ, Dẻ cau…và một số loài khác. Số lượng cây trung bình đạt 1000- 2000 cây/ha, chúng có sức sinh trưởng tương đố cao.

Về động vật, nhìn chung thành phần loài cũng như số lượng cá thể thấp hơn so với hệ sinh thái rừng kín thường xanh, trong rừng thường chỉ gặp số ít những loài chim như: Chào mào (có 2 loại), Chích chòe, Xẻ quạt, Bạc má, Bồ cu, Cú mèo,…Một số loài bò sát: nhiều nhất là rắn (rắn ráo, rắn cạp nong, rắn cạp nia, rắn hổ mang, rắn xanh…), Thằn lằn, Kỳ đà, Tắc kè…,các loài gặm nhấm, bướm, côn trùng. Những loài thú lớn không còn, chỉ thấy một số loài Cầy, Mèo rừng, Sóc…Tuy vậy, tần số bắt gặp cũng rất thấp, chỉ có chim là có khả năng quan sát thường xuyên, đặc biệt là vào buổi sáng.

Sức hấp dẫn của hệ sinh thái này so với hệ sinh thái rừng thường xanh tự nhiên nêu trên tuy không cao, nhưng do tồn tại những dạng địa hình thấp, khả năng tiếp cận dễ dàng hơn nên phù hợp với nhiều đối tượng du khách. Hệ sinh thái này nhìn chung phù hợp với các loại hình DLST như: ngắm cảnh, dã ngoại, chữa bệnh…nó đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà khoa học trong việc nghiên cứu sinh thái của các thảm thực vật tự nhiên. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

  • Hệ sinh thái rừng nhân sinh

Rừng Keo lá tràm và Keo tai tượng

Vì hai loại này khá giống nhau về kết cấu, chỉ có tầng cây to khác loài còn các đặc điểm khác khá giống nhau, đặc biệt là giá trị đối với DLST, nên chúng ta có thể coi chúng như một hệ sinh thái duy nhất.

Rừng keo phát triển khá mạnh trong khu vực, với tổng diện tích khoảng 300 ha, tập trung chủ yếu ở dạng cảnh quan đồi, gò, thung lũng ở độ cao 250m trở xuống và trên các đảo nổi. Tất cả rừng keo trong khu vực đều có từ 5- 10 tuổi, chiều cao cây trung bình từ 10- 15m, đường kính ngang ngực đạt 10- 23cm, rừng đã khép tán, mật độ trung bình từ 800- 1000 cây/ha.

Thảm thực vật tự nhiên dưới tán rừng Keo lá tràm và keo tai tượng trong khu vực tương đối giống nhau. Cây gỗ tự nhiên tái sinh tuy nhiều loài ( có tới trên 40 loài) nhưng số lượng cá thể không lớn, trên dưới 2000 cây/ha, phân bố không đều, có chiều cao trung bình từ 3- 4m, tạo thành tán cây gỗ thứ hai dưới tán cây trồng chính là Keo. Trong số những cây gỗ mọc tự nhiên, nhiều nhất phải kể đến: Màng Tang, Dẻ các loại (có 4- 5 loài), Re các loại (4 loài), Sơn rừng, Ba soi, Ba Bét, Thanh Thất, Côm (có 2 loại), Máu chó, Dền, Thẩu Tấu,…ở đây cũng có Lim xanh, Hoàng Linh, Giổi, Trám, Dẻ gai, Ngát, Bứa, Vàng Anh, Xoan đào, Chẹo…tái sinh, song số lượng không nhiều.

Tầng thảm tươi và cỏ quyết phát triển khá mạnh che phủ hầu như diện tích mặt đất. Nhiều nhất là Guột (Tế), Sim, Mua, cỏ Lào, và các loại cỏ khác thuộc Poaceae…Có các loài cây bụi nằm rải rác như: Trứng ếch, Bồ cu vẽ, Găng, Táo dại, Mẫu đơn, Cledendron (3 loài), Phèn đen,…Dây leo tương đối nhiều, đặc biệt ở những chỗ dại nắng: dây Chạc chìu, Mơ lông , Bướn bạc, Hà thủ ô trắng, Dây hoa dẻ, Tiết dê, Nho rừng, Bạc thau (có 3 loài), dây mật, củ nâu, củ mài…

Động vật trong hệ sinh thái rừng trồng thường không phong phú, không có những loài thú lớn, những loài có thể quan sát được chủ yếu là chim, bướm và các loại côn trùng, có một số loài bò sát, gặm nhấm, tuy vậy nhưng khả năng quan sát thấp. Do tồn tại trên dạng địa hình thấp, khả năng tiếp cận dễ dàng, mật độ cũng như thành phần loài thấp nên rất thích hợp với những loại hình dã ngoại, cắm trại, học tập, nghiên cứu ngoài trời. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Vấn đề lớn nhất cần quan tâm đến kiểu rừng này hiện nay là: gần như toàn bộ diện tích Keo trong khu vực đã đến tuổi thu hoạch, và đang trong giai đoạn thu hoạch rộ, nhưng công tác phục hồi chưa được quan tâm đúng mức. Do đó lớp phủ rừng đang có nguy cơ suy giảm, cảnh quan tự nhiên đang bị xáo trộn.

Rừng Keo trong khu vực chia thành 2 loại: Rừng thuộc quyền quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc (còn gọi là rừng phòng hộ) và rừng được giao cho các hộ nông dân, chăm sóc quản lý và sử dụng (còn gọi là rừng sản xuất).

  • Rừng Bạch đàn trắng

Kiểu rừng hiện có diện tích khoảng trên 1000 ha, đây là loài cây nhập nội, được trồng theo dự án PAM (1989- 1993), phân bố chủ yếu ở dải đồi phía Đông Bắc, Đông và Tây Nam khu vực Hồ Núi Cốc.

Rừng Bạch đàn có độ khép tán thấp, tầng cây cao (cao từ 15- 20m), mật độ cây không đồng đều, từ 600- 800 cây/ha. Đường kính tầng cây lớn biến đổi mạnh,chủ yếu là những loài cây có đường kính nhỏ. Nhìn chung, rừng Bạch đàn trắng trong khu vực kém phát triển.

Tầng cây tái sinh dưới tán Bạch đàn trắng chủ yếu là Bạch đàn tái sinh chồi sau khi khai thác và một số loài lá rộng còn có gốc cây mẹ sót lại như : Cà lồ, Sồi hồng, Dẻ cau, Re gừng, Vải thiều rừng, Trám,…nhưng số lượng rất ít.

Tầng cây bụi rất phát triển với sự đa dạng về loài cũng như số lượng cá thể cây, trong đó phổ biến nhất là Thẩu Tấu, Dung tía, Chè đuôi lươn, Sim, Sầm xì, Bọt ếch, Quanh châu, cỏ Lào, cỏ roi ngựa, Bồ cu vẽ, Ba soi, Phèn đen,…

Tầng thảm tươi có nhiều loại cỏ ưa sáng, nhiều nhất là Guột (Tế), cỏ Lào, cỏ Hoa, cỏ Tranh, Đơn buốt, cỏ lá Sả, cỏ Chè vè, cỏ Chít, Trinh nữ (xấu hổ). Độ che phủ tới 50- 100%.

Về động vật, tương tự như hệ sinh thái rừng Keo, thành phần loài và số lượng cá thể đều thấp, ít có khả năng quan sát.

Xét về giá trị của các hệ sinh thái rừng trồng đối với DLST, do sự đơn điệu về thành phần loài, cũng như sự thiếu vắng của những loài thực vật bản địa có giá trị cao, nên sức hấp dẫn của hệ sinh thái này đối với du khách là thấp. Tuy vậy, sự tồn tại của các hệ sinh thái này bên cạnh tác dụng làm phong phú thêm các hệ sinh thái cho khu vực thì bản thân chúng cũng có thế mạnh riêng. Do thành phần các loài cũng thấp, nên không gian hệ sinh thái rừng này thoáng đãng hơn, ít những loài động vật nguy hiểm, đồng thời lại tồn tại trên các dạng địa hình thấp, dễ tiếp cận, nên nó đặc biệt thích hợp cho du khách đi picnic, cắm trại…

  • Hệ sinh thái đồng ruộng Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Hệ sinh thái đồng ruộng là một hệ sinh một hệ thống quần thể hoặc các quần thể cây trồng làm trung tâm tương tác chặt chẽ với môi trường xung quanh bao gồm: ánh sáng, không khí, nước, địa hình, đất đai, cỏ dại, côn trùng, vi sinh vật…Điểm khác nhau chủ yếu của các thành phần hợp thành hệ sinh thái đồng ruộng so với hệ sinh thái khác là quần thể cây trồng chủ đạo do con người điều khiển một cách đầy đủ, bản thân con người, gia súc cũng là thành phần hợp thành của hệ sinh thái. Ngoài ra còn có một số biện pháp điều khiển của con người có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hợp thành của hệ sinh thái như biện pháp làm đất, bón phân, phòng chống sâu bệnh, cỏ dại, phủ đất, tưới nước và điều khiển di truyền.

Hệ sinh thái đồng ruộng ở đây, mang đặc điểm chung của hệ sinh thái nông nghiệp Việt Nam là phong phú, đa dạng về thành phần các quần thể cây trồng, vật nuôi. Khu vực Hồ Núi Cốc là một vùng có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp xen với thung lũng, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nên hoạt động nông nghiệp chính của cư dân trong vùng là canh tác lúa nước, trồng màu ở thung lũng kết hợp trồng cây lương thực (như: ngô, khoai, sắn…), cây công nghiệp ngắn ngày (vừng, đậu tương…), cây công nghiệp dài ngày (Chè, cây ăn quả trên sườn đồi). Hoạt động nông nghiệp này đã tạo nên một hệ sinh thái khá phổ biến trong toàn khu vực.

Tuy vậy, nếu nhìn từ góc độ thế mạnh, thì chỉ có hệ sinh thái đồng ruộng phát triển trên dạng cảnh quan đồi núi thấp phía Đông và Đông Nam Hồ Núi Cốc (thuộc địa phận xã Tân Cương, một phần Phúc Trìu và Phúc Xuân) là đáng chú ý nhất. Với quần thể lúa nước ở thung lũng, chè và cây ăn quả trên sườn đồi, đây là hệ sinh thái đặc trưng nhất, tạo nên sắc thái riêng cho vùng đất này.

Nếu như thế mạnh của các hệ sinh thái tự nhiên là sự phong phú, đa dạng về thành phần loài có trong hệ sinh thái đó, thì trái lại điều tạo nên sự lôi cuốn đối với du khách từ hệ sinh thái đồng ruộng lại là sự đồng nhất về thành phần loài trên một diện tích rộng lớn. Đến với dạng cảnh quan phía Đông và Đông Nam Hồ Núi Cốc, trên một diện tích rộng lớn chúng ta sẽ bắt gặp một màu xanh duy nhất của lúa, chè, xen với đó là cây ăn quả nối tiếp nhau từ thung lũng lên đỉnh đồi.

  • Hệ sinh thái hồ nước ngọt

Trong hệ sinh thái hồ nước ngọt, đáng chú ý nhất là hệ sinh thái Hồ Núi Cốc. Đây là một hồ nước nhân tạo, hình thành do việc đắp đập ngăn dòng chảy của sông Công, hồ có diện tích mặt nước trung bình là 2500 ha (mùa mưa là 2700 ha, mùa cạn là 1900 ha). Theo nghiên cứu của sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Thái Nguyên năm 1993 [13], Hồ Núi Cốc có đặc điểm như sau: Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Nhiệt độ: Nhiệt độ nước hồ có sự chênh lệch khá lớn giữa mùa hạ và mùa đông. Mùa đông, nhiệt độ nước giao động trong khoảng từ 18- 200 c, mùa hè là khoảng 33- 340 c, sự khác biệt về nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy là không đáng kể, trung bình khoảng 10 c về mùa hè, mùa đông không có sự khác biệt.

Độ trong: Phụ thuộc vào từng địa điểm, nhưng giao động trong khoảng từ 0,7- 0,9m ở khu vực giữa hồ (có khả năng nhìn sâu), tới 1,2m ở khu vực đập chính và eo Phú Khánh. Độ trong của hồ cũng có sự biến đổi theo mùa, mùa khô nước trong hơn (0,9- 1,9m), còn mùa mưa con số này là 0,3 – 1,4m.

Độ pH: Độ pH của hồ có sự biến đổi theo mùa và theo độ sâu của hồ. Trong mùa khô, nước hồ có tính kiềm nhẹ, độ pH trung bình là 7,0 – 7,2. Trong mùa mưa, tính kiềm tăng lên, độ pH đạt 7,7 – 7,8. Nước ở tầng đáy có độ pH thấp hơn tầng mặt, thông thường là 6,6- 6,9 so với 7,0- 7,8. xy hòa tan: Tầng nước mặt có hàm lượng ô xy hòa tan cao nhất và đạt tới 7,68 mg/l, chỉ số này giảm dần theo độ cao của tầng nước. Hàm lượng ô xy hòa tan thấp nhất được ghi nhận ở tầng đáy có độ sâu 17 – 18m là 2,6 – 2,96 mg/l.

Lượng ô xy hòa tan trong mùa hè thấp hơn một chút (6,8 – 7,0 mg/l) so với mùa đông (7,7 – 7,9 mg/l) ở vùng trung tâm hồ chứa. Hàm lượng ô xy hòa tan còn phụ thuộc vào từng khu vực cụ thể, thông thường vùng hạ lưu cung như đập chính thường cao hơn.

Nitrat và Phosphat: Cả năm hàm lượng Nitrat và Phosphat trong hồ đều rất thấp, thậm chí còn không phát hiện ở nhiều khu vực trong hồ. Thông thường khu vực thượng lưu và tầng đáy có hàm lượng Phosphat và Nitrat cao hơn ở các khu vực và tầng đáy còn lại.

Với những đặc điểm như vậy của Hồ Núi Cốc đã tạo nên cho hồ có những điều kiện về thành phần động – thực vật thủy sinh rất phong phú, đa dạng. Theo kết quả điều tra sinh thái học vào thời kỳ đầu ngập nước (1977 – 1978) ở hồ chứa Núi Cốc của Phan Hữu tường, năm 1993 cho thấy:

Thực vật nổi: Có khoảng 73 giống loài, thuộc 7 ngành tảo khác nhau, nhiều nhất là Tảo lục 32 giống, tảo khuê 17 giống, tảo lam 13 giống, tảo giáp 4 giống, tảo trần 3 giống, tảo vàng 3 giống và tảo vàng ánh 1 giống. Mật độ tảo có sự biến động theo nhịp điệu mùa và đặc điểm sinh thái của từng loại tảo, nhưng nhìn chung số lượng lớn nhất xuất hiện vào mùa xuân.

Động vật nổi: có khoảng 40 giống loài, thuộc 4 nhóm khác nhau mang tính chất khu hệ miền núi. Bao gồm: nhóm ấu trùng, nhóm chân mèo, nhóm râu ngành, nhóm luân trùng. Sự phân bố về mật độ động vật nổi có những đặc tính giống như hồ chứa nước Thác Bà: vùng nước giao lưu có số lượng lớn nhất, sau đó đến vùng chân đập và đến eo ngách, thấp nhất ở vùng thượng nguồn. Bên cạnh đó, số lượng các loài động vật nổi cũng có sự biến đổi theo mùa, cao nhất tập trung vào mùa đông – xuân, thấp hơn vào mùa hè thu. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Động vật đáy: đã thống kê được 27 giống loài, trong đó côn trùng chiếm ưu thế nhất với 14 giống loài, chiếm 52%. Số lượng cá thể các loài động vật đáy có sự biến đổi theo mùa, cao nhất vào thời điểm cuối mùa xuân, đầu mùa hạ. Nhìn chung thành phần loài cũng như số lượng cá thể động vật đáy ở Hồ Núi Cốc tương đối nghèo, đây cũng là đặc điểm chung của các hồ chứa ở miền núi.

Khu hệ cá: Thành phần các loài cá tự nhiên được biết tới ở Hồ Núi Cốc thuộc 63 loài thuộc 44 giống nằm trong 13 họ, 6 bộ. Trong đó cá Chép có số lượng nhiều nhất với 48 loài, chiếm 76,2%, cá Vược có 9 loài chiếm 14,2%, cá Chuối có 2 loài, chiếm 3,2%, cá Chạch sông có 2 loài chiếm 3,2%. Bên cạnh đó Hồ Núi Cốc còn có các loại cá nuôi thả, gồm: cá Roohu, cá Mrigan, cá Mè trắng Việt Nam, cá Rô Phi.

Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy Hồ Núi Cốc là một hồ nước ngọt miền núi có tính đa dạng sinh học tương đối cao, có môi trường tự nhiên khá thân thiện với con người. Bên cạnh đó, với diện tích mặt nước rộng, nhiều đảo nổi: có gần 90 hòn đảo lớn nhỏ (đảo Cò, đảo Dê, đảo Khỉ, đảo Bạch Đàn, đảo Trám…), phong cảnh tự nhiên hấp dẫn, nơi đây được đánh giá là có điều kiện để phát triển tổng hợp các loại hình du lịch.

Cùng với Hồ Núi Cốc, trong khu vực nghiên cứu còn có hồ Vai Miếu, đây cũng là một hồ nước nhân tạo, được hình thành do việc đắp đập ngăn dòng chảy của suối Nguồn (là một con suối bắt nguồn từ dãy Tam Đảo). Hồ có diện tích trung bình khoảng 250 ha, thuộc địa phận xã Ký Phú (Đại Từ), nằm trong ranh giới của Vườn Quốc Gia Tam Đảo. Tuy đây là một hồ nước nhỏ nhưng do vị trí nằm ngay dưới chân dãy Tam Đảo, nên hồ có phong cảnh thiên nhiên rất hấp dẫn, đầy cuốn hút và thách thức. Đặc điểm sinh thái hồ Vai Miếu có nhiều nét tương đồng với hệ sinh thái Hồ Núi Cốc, nhưng do diện tích nhỏ nên số lượng cũng như thành phần loài xuất hiện trong hồ thấp, đáng chú ý chỉ có các loài cá tự nhiên (họ Chép).

2.2. ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ, SẢN XUẤT VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN

2.2.1. Đặc điểm dân cư, sản xuất

Trước những năm 1930, đây là khu vực cư trú của người Dao (Mán), Sán Dìu với hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp tự nhiên. Nhưng từ những năm 1930 trở lại đây đặc biệt trong giai đoạn 1950- 1960, một số lượng người kinh rất lớn từ khu vực Đồng bằng sông Hồng đã di cư lên, người Tày, Nùng ở khu vực Cao Bằng, Lạng Sơn xuống, làm cho địa bàn cư trú của người dân tộc bản địa thu hẹp lại và lùi sâu vào những vùng núi cao phía Tây.

Tính đến năm 2010, dân số trong khu vực là 1.149,1 nghìn người, với diện tích 3.534,4 km2, mật độ dân số trung bình 325người/km2, trong đó xã có mật độ lớn nhất là Tân Thái (huyện Đại từ) 662 người/km2 và thấp nhất là Phúc Tân (Phổ Yên) 90 người/km2. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Là khu vực có dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào chiếm 51,4% dân số. Bên cạnh đó, do đặc điểm là vùng nông thôn nên xuất hiện thêm lực lượng lao động phụ cũng rất đáng kể (trẻ em gần đến tuổi lao động và người già mới qua tuổi lao động), chiếm khoảng 14% dân số. Tuy nhiên, chất lượng nguồn lao động trong khu vực này chưa cao, chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua đào tạo.

Về thành phần dân tộc, đa số dân cư trong vùng là người Kinh, chiếm 92% dân số, tiếp đến là người Tày chiếm 3,1%, người Nùng chiếm 1,7%, người Dao và Mường chiếm 1,3%, Sán Dìu chiếm 1,2%. Cộng đồng dân cư trong khu vực sống hòa đồng, không xuất hiện mâu thuẫn dân tộc, tình hình an ninh chính trị ổn định. Đây là điều kiện thuận lợi đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội nói chung và du lịch của khu vực nói riêng trong đó có DLST.

Hoạt động kinh tế chủ yếu của dân cư trong vùng là nông nghiệp, với mô hình canh tác phổ biến là: trồng lúa và màu ở thung lũng, trồng chè và cây ăn quả trên đồi thấp và trồng rừng trên những khu đồi cao, độ dốc lớn. Ngành chăn nuôi vẫn mang tính tự cấp tự túc, quy mô hộ gia đình, giá trị hàng hóa nhỏ bé. Tuy trong một vài năm gần đây đã xuất hiện một số trang trại gà, lợn nhưng quy mô không lớn, chưa mang lại những thay đổi đáng kể cho khu vực. Các ngành kinh tế khác như: công nghiệp, dịch vụ còn rất yếu kém.

Nền kinh tế của khu vực nhìn chung còn kém phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của người dân còn gặp nhiều khó khăn.

2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

a). Văn hóa bản địa

Gắn với các hệ sinh thái tự nhiên là cộng đồng các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mường, Sán Dìu sống quần tụ (ngoại trừ người Dao sống tương đối độc lập). Với tập quán sản xuất, sinh hoạt rất riêng, đặc trưng cho quá trình khai thác tổng hợp các điều kiện tự nhiên của lãnh thổ. Chúng ta biết rằng, cộng đồng dân cư tại khu vực, chủ yếu là những cư dân vùng Đồng bằng sông Hồng và khu vực biên giới phía Bắc di cư đến vào khoảng những năm đầu thế kỷ 20. Đặc điểm hoạt động kinh tế chủ yếu của người dân trước và sau di cư đều là sản xuất nông nghiệp. Các cộng đồng di cư mang theo những tập quán sinh hoạt, sản xuất, nền văn hóa riêng của dân tộc mình đến những vùng đất mới, trên cơ sở khai thác tổ hợp các điều kiện tự nhiên mới, trong một không gian, sinh hoạt, sản xuất mới. Qua quá trình sinh sống, sản xuất lâu dài các cộng đồng này không biệt lập với nhau mà có sự gắn kết, hòa nhập với nhau. Kết quả là khu vực có một bản sắc

văn hóa mang tính tổng hòa từ những nền văn hóa tưởng như khác biệt, nó thể hiện rõ nét trong đời sống sản xuất, sinh hoạt, tinh thần của người dân. Mỗi dân tộc có bản sắc riêng. Người Nùng có kho tàng văn hoá dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như hát sli, hát then. Người Tày có hát lượn, hát đám cưới, ru con… Nơi đây còn là kho tàng lưu giữ nhiều loại nhạc cụ truyền thống của các dân tộc. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Tiêu biểu những truyền thuyết, những câu chuyện mang tính thần thoại, phản ánh tập quán sản xuất, sinh hoạt, những ước vọng trong cuộc sống của người dân bản địa xa xưa, được sáng tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử đấu tranh, khai thác tự nhiên để hình thành nên những đặc trưng riêng cho miền đất này. Trong đó phải kể đến sự tích “Núi Cốc, Sông Công”. Chuyện kể rằng, vào thời xưa lắm, có một chàng trai mồ côi nghèo sống bằng nghề kiếm củi ven chân núi (núi Tam Đảo), tên là chàng Cốc. Một năm hạn hán mất mùa, chàng chàng đến xin ở làm thuê cho nhà quan lang giàu có. Chàng hiền lành, thật thà nên được giao cho chăn đàn trâu trong rừng. Lúc buồn, chàng chỉ có cây sáo làm bạn. Tiếng sáo khiến cho con gái quan lang – nàng Công xúc động tìm đến với chàng. Biết chuyện, quan lang rất tức giận. Hắn lập mưu giết chàng Cốc, hắn sai chàng đến Lũng Phia lấy lễ vật làm đám cưới (đây vốn là khu rừng rậm có rất nhiều thú dữ). Được các loài thú giúp đỡ, chàng đã hoàn thành các điều kiện của quan lang và còn được Tiên ông ban cho chiếc lược thần. Chàng Cốc trở về chòi canh trâu nhờ tiếng sáo nhắn gửi đến nàng Công lời hò hẹn. Nàng Công lấy cắp ngựa hồng của cha vào rừng tìm người yêu. Quan lang sai người đuổi bắt. Nàng Công và chàng Cốc cùng ngồi trên ngựa hồng phóng vun vút như tên bay, mỗi khi quân của quan lang tới gần, chàng Cốc lại bẻ một răng lược ném về phía sau. Chiếc răng lược bỗng hiện thành một dãy núi ngăn bước tiến của chúng. Khi răng lược đã hết, quân của quan lang đuổi tới cùng, nàng Công than khóc và bảo chàng Cốc hãy một mình phi ngựa trốn về quê chờ ngày gặp lại. Hai người đớn đau dã biệt, từ đó họ sống trong thương nhớ, chờ đợi nhau mà không có cách nào tìm gặp nhau được. Chàng Cốc đợi chờ trong tuyệt vọng. Trời đất cảm thương hóa chàng thành một quả núi sừng sững giữa trời. Nàng Công thương nhớ nước mắt chảy thành sông, dòng nước yêu thương, thủy chung tìm về núi Cốc. Đi thuyền trên mênh mông mặt hồ, du khách sẽ được đắm chìm trong câu chuyện tình lãng mạn của Hồ Núi Cốc:

  • “Nàng Công nước mắt tuôn rơi,
  • Biến thành dòng nước rạng ngời thuỷ chung.
  • Chàng Cốc đau đớn tột cùng,
  • Hoá thành núi đá,ngày trông đêm chờ.
  • Mối tình đẹp tựa bài thơ,
  • Khiến cho du khách lòng ngơ ngẩn lòng”.
  • (Hoài Phương-Nguyễn xuân Giang)

Câu chuyện huyền thoại này đã đi vào lời một ca khúc rất hay của nhạc sĩ Phó Đức Phương

“Huyền Thoại Hồ Núi Cốc”. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Bên cạnh đó còn có sự tích “Chuyện tình ba cây thông” . Đây là câu chuyện mang bóng dáng sự tích “Trầu Cau” của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, đây là biểu hiện rõ nét nhất quá trình hình thành tâm lý cộng đồng dân di cư. Họ mang theo những câu chuyện của quê hương mình đến vùng đất mới, trên cơ sở khai thác những điều kiện mới của lãnh thổ, họ đã sáng tạo ra những câu chuyện cổ tích mới phù hợp với những điều kiện mới làm phong phú thêm đời sống tinh thần của mình. Chuyện kể về một đôi vợ chồng tuổi đã cao nhưng vẫn chưa sinh được người con nào. Ngày đêm ông bà đi cầu trời khấn phật và được ông trời thương tình cho sinh đôi hai người con trai khôi ngô, khỏe mạnh. Lớn lên hai người con rất hiếu thảo, quý trọng cha mẹ và thương yêu nhau. Ngày ngày, hai anh em thay nhau vào rừng kiếm củi, hái măng, săn bắn mang xuống bản đổi lấy gạo ngô và các vật dụng cần thiết. Trong những lần thay phiên nhau xuống bản, hai chàng trai đã cùng thầm yêu một cô gái xinh đẹp nhất vùng. Tình cảm giữa họ mỗi ngày càng thêm sâu nặng. Cô gái ấy đâu có ngờ mình đã tương tư hình bóng của hai chàng trai sinh đôi. Vì rụt rè với tình cảm nảy nở ban đầu nên họ chưa có đủ can đảm thổ lộ tình cảm. Tới một ngày, người anh không nén nổi lòng mình đã tìm cô gái và hò hẹn ngày trăng tròn sẽ gặp nhau nơi hẹn ước. Hôm sau, người em cũng xuống núi và giao ước cùng cô gái. Vì quá mừng rỡ, ngỡ chàng trai nhắc lại lời hẹn ước hôm qua, cô gái lại lại nở nụ cười ưng thuận. Ngày hẹn ước đã đến, họ bồn chồn mong ngóng, cuối cùng cả ba người cùng đứng sững, ngỡ ngàng nhìn nhau. Cô gái chợt hiểu và òa lên khóc nức nở trước sự sững sờ của hai anh em sinh đôi. Động lòng thương cảm trước tiếng khóc thổn thức của cô gái, Ngọc Hoàng đã gia ân cho họ hóa thành ba cây thông để mãi mãi được ở bên nhau.

Ngày nay, những truyền thuyết này đã được cụ thể hóa bằng những công trình dịch vụ trong khu vực Hồ Núi Cốc như: Huyền thoại cung, động ba cây Thông. Những công trình này sẽ giúp du khách dễ dàng hơn trong việc tìm hiểu các giá trị văn hóa bản địa, bằng việc tạo dựng những hình ảnh trong một không gian cổ tích huyền ảo, tạo nên sức hấp dẫn với đối du khách.

Một vấn đề cần quan tâm trong văn hóa bản địa của khu vực đó là các phiên chợ quê. Một hình thức chợ tương đối phổ biến ở các tỉnh miền núi Việt Nam. Chợ được họp theo phiên (thường từ 5- 10 phiên một tháng) vào những ngày cố định theo âm lịch. Mỗi phiên chợ thực sự là một ngày hội đối với người dân địa phương, hàng hóa chủ yếu trong những phiên chợ này là các loại nông sản, các sản phẩm của nền kinh tế địa phương như các sản phẩm: mây tre đan, nông cụ hay các loại lâm sản: mật ong rừng, thảo dược,…nhưng đặc biệt là sản phẩm Chè các loại. Khách đến chợ phần lớn là người dân địa phương, bên cạnh đó còn có đội ngũ thương lái đến từ khắp nơi trong vùng, tạo nên không khí nhộn nhịp tấp nập. Có thể thấy rằng, đây là một dạng tài nguyên DLST nhiều tiềm năng, không chỉ trên khía cạnh sức hấp dẫn đối với du khách mà còn vì mục tiêu tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương.

Bên cạnh những phiên chợ quê dân dã, thì những lễ hội đầu xuân của cư dân trong vùng cũng có sức hút lớn đối với du khách. Đây là những lễ hội mang dáng dấp của hội làng của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, đồng thời ở đây lại có sự giao thoa với những phong tục của đồng bào dân tộc thiểu số. Điều này được hiểu rõ nhất trong các hoạt động tế, lễ hay các trò chơi dân gian… Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Giá trị văn hóa bản địa có ý nghĩa đối với du lịch còn bao gồm: phong tục, tập quán, canh tác, chế biến Chè truyền thống của cộng đồng dân cư phía Đông, Đông Nam hồ thuộc địa phận xã Tân Cương, Phúc Trìu, Phúc xuân (Tp. Thái Nguyên). Đây là khu vực có lợi thế để phát triển loại hình DLST làng nghề. Thái Nguyên nói chung và khu vực Hồ Núi Cốc nói riêng còn nổi tiếng với đặc sản chè Tân Cương. Bên cạnh đó, một bộ phận dân cư (chủ yếu là đồng bào người Dao, Sán Dìu) sống phân tán tại các vùng hẻo lánh của xã Phúc Tân, Văn Yên, Ký Phú, họ sống hòa đồng với thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên. Hoạt động kinh tế chủ yếu của họ là nương rẫy kết hợp khai thác và bảo vệ rừng. Do điều kiện đường xá, đi lại còn hết sức khó khăn nên việc giao lưu với đồng bào người Kinh của các dân tộc này còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, sự cách biệt đó đã tạo nên những nét độc đáo của cộng đồng dân cư nơi đây, đó là tập quán sản xuất, sinh hoạt như: lối canh tác theo kiểu “chọc lỗ bỏ hạt” vẫn còn được duy trì, khai thác những sản phẩm từ rừng vẫn là nguồn thu nhập chủ yếu của họ (mật ong rừng, than củi…), cùng với đó là tập tục về cư trú: họ xây dựng nhà trên những sườn núi, đồi cao, vật liệu chủ yếu là gỗ rừng, mái lợp lá cọ…

Một giá trị đặc biệt của cộng đồng bản địa là những phương thức chữa bệnh, những bài thuốc cổ truyền với nguồn dược liệu tự nhiên được lấy từ chính những cánh rừng địa phương vẫn còn được lưu truyền. Đây được coi là thế mạnh trọng tâm đối với việc phát triển DLST dựa trên hệ sinh thái này.

b). Các di tích lịch sử

Thái Nguyên nói chung và khu vực Hồ Núi Cốc nói riêng, là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, một vùng “địa linh nhân kiệt”. Trong khu vực có nhiều di tích lịch sử quan trọng, có di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, trong đó phải kể tới:

  • Khu di tích Núi Văn, Núi Võ

Quần thể di tích lịch sử Núi Văn, Núi Võ, nằm dưới chân núi Tam Đảo thuộc hai xã Văn Yên, Ký Phú (huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên), cách thành phố Thái Nguyên 30km về phía Tây. Một di tích gắn liền với tên tuổi và quê hương của danh tướng Lưu Nhân Chú với những đóng góp kiệt xuất cho công cuộc kháng chiến chống giặc Minh thế kỉ 15 và triều đại nhà Lê.

Khu di tích Núi Văn, Núi Võ được nhà nước xếp hạng di tích cấp quốc gia.

Núi Văn là ngọn núi đá vôi nằm trên đất Ký Phú và Văn Yên. Từ phía Đông nhìn lại, nó trông tựa hình chiếc Mũ cánh buồm của quan văn ngày xưa. Lưng chừng núi có hang rộng và sâu. Tương truyền, hang núi Văn là nơi những ngày đầu từ núi rừng Lam Sơn trở về, Lưu Nhân Chú thường hội họp, luận bàn việc nước. Để tưởng nhớ công ơn Lưu Nhân Chú và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ hôm nay, huyện Đại Từ đã cho xây dựng đền thờ danh tướng Lưu Nhân Chú ngay phía Nam núi và ngày nay, cứ đầu xuân năm mới, nhân dân Đại từ lại mở hội Núi Văn- Núi Võ để tưởng nhớ người anh hùng của quê hương.

Cách núi văn chừng 1km về phía Đông là núi Võ. Đây là khối núi đá vôi từ xa nhìn tới rất giống hình mũ trụ của quan võ thuở xưa. Núi Võ nằm trên đất xã Văn Yên, có những vách đá cao dựng đứng. Phía Đông có hang đá nhỏ, nhân dân nơi đây cho biết, từ xưa ở đây đã có đền thờ Lưu Nhân Chú. Một ngôi đền nhỏ trong vách đá thờ người anh hùng ngay tại nơi đã sinh thành ra ông, phong cảnh thấm đượm nét thiêng liêng. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Ngoài ra về phía Đông Núi Võ chừng 200m là di tích núi Quần Ngựa, là nơi Lưu Nhân Chú và đội kị binh của ông thường luyện tập ngựa, tập đánh trận bằng kị binh. Cách chừng một cây số về phía Tây, một quả núi đất- núi xem, Lưu Nhân Chú và những chỉ huy thân tín thường ngồi xem kị binh tập trận trên cánh đồng, thi chạy, thi cưỡi ngựa để cắm cờ, giành cờ từ đỉnh núi Cắm Cờ. Ở Bắc xã Văn Yên, giáp với xã Mỹ Yên còn có một ngọn núi rất gần gũi, thiêng liêng đối với dòng tộc họ Lưu đó là núi Miễu. Đây là nơi đặt miếu thờ ông tổ của dòng họ Lưu: Lưu Công Thụy Huyền Nghi.

Dấu tích cùng với truyền thuyết đẹp gắn với danh tướng Lưu Nhân Chú và đội nghĩa binh của ông sống mãi trong tâm thức của người dân Thuận Thượng xưa (Văn Yên, Ký Phú ngày nay cũng còn đó). Tất cả đã tạo dựng nên một khu di tích lịch sử Núi Văn, Núi Võ…trên quê hương Lưu Nhân Chú để đời đời con cháu chiêm ngưỡng, phụng thờ.

  • Khu di tích lịch sử 27-7 (Địa điểm công bố ngày thương binh liệt sĩ toàn quốc 27/07/1947)

Nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 30 km về phía Tây Bắc, tại xã Hùng Sơn (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên), đó là khu di tích đã được nhà nước tôn tạo và xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 17/07/1977, với diện tích 3000m2 gồm: Nhà lưu niệm, hồ Sen, Bia đá- là tảng đá vân mây hình trụ, chóp nhọn, cao hơn 3m, rộng gần 3m, nặng gần 7 tấn. “Nơi đây ngày 27/07/1947, 300 cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố thư Bác Hồ, ghi nhận sự ra đời ngày thương binh liệt sĩ của nước ta”. Hàng năm cứ đến ngày 27/07 là một dịp cho đồng bào ta bày tỏ lòng biết ơn những người đã ngã xuống, đã hi sinh một phần xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và Chủ Nghĩa Xã Hội.

  • Điểm di tích Gò Pháo

Đây là điểm di tích gắn liền với cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên (năm 1917), do Dương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn (Đội Cấn) lãnh đạo. Thuộc địa phận xóm Đội Cấn, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố 15km về phía Tây, theo tỉnh lộ 253 (đương Tân Cương). Tương truyền sau khi bị giặc Pháp đẩy lui khỏi khu vực tỉnh lị Thái Nguyên, nghĩa quân “Nam binh phục quốc” dưới sự chỉ huy của Đội Cấn đã lùi về phía Tây, đắp gò, xây lũy, kháng cự địch trong hơn 3tháng trước khi bị thất bại hoàn toàn.

Hiện nay, do tác động của thời gian, cùng sự thiếu quan tâm, hiểu biết của các cấp cấp chính quyền địa phương nên điểm di tích này gần như không còn tồn tại. Bên cạnh đó, việc thiếu những cứ liệu lịch sử chính thống, đã gây khó khăn cho việc xác định vị trí, quy mô và ý nghĩa lịch sử của cứ điểm di tích này.

Tuy vậy, vệc khôi phục và tôn tạo điểm di tích này là cần thiết. Nó sẽ góp phần khơi dậy niềm tự hào dân tộc, giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ Tân Cương nói riêng và Thái Nguyên nói chung. Đồng thời nó còn góp phần làm phong phú thêm hệ thống tài nguyên du lịch trong vùng. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

c). Các công trình kiến trúc tâm linh

Dân cư trong khu vực hầu như không theo tôn giáo, nhưng cũng giống như đại bộ phận người dân Việt Nam, đời sống sống tâm linh của họ chịu ảnh hưởng sâu sắc của tín ngưỡng truyền thống (tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng đa thần…) và phật giáo. Bên cạnh đó, còn một bộ phận đồng bào theo công giáo, sống thành từng làng riêng biệt (Hồng Thái, Nhà Thờ – Tân Cương, Lai Thành, Phúc Trìu…). Chính sự phong phú trong đời sống của cộng đồng địa phương là cơ sở để hình thành nên các công trình kiến trúc tâm linh, điều này cũng có ý nghĩa lớn đối với du lịch.

Đáng chú ý nhất là chùa Yna, là một ngôi chùa làng, thuộc địa phận xóm Yna, xã Tân Cương, ngôi chùa có lịch sử gần 100 năm, chùa mới được trùng tu, tôn tạo năm 2000. Hội chùa Yna được tổ chức vào ngày mùng 10, và ngày 11 tháng giêng hàng năm với nhiều hoạt đọng tế lễ độc đáo.

Cách chùa Yna khoảng 2,5 km về phía Bắc là nhà thờ Gò Pháo (nhà thờ Phúc Trìu), đây là một công trình kiến trúc tương đối đồ sộ. Năm 1938, bà con giáo dân tổ chức xây dựng lên được ngôi nhà nguyện bằng tranh nứa gọi là nhà thờ Gò Pháo để sớm tối bà con đến cầu nguyện, mới được xây dựng lại. Toàn bộ khuôn viên nhà thờ có diện tích trên 1ha, được kết hợp hài hòa với phong cảnh thiên nhiên xung quanh.

Bên cạnh đó, trong khu vực còn có nhiều đền, miếu vố quy mô khác nhau, phản ánh rõ nét tín ngưỡng đa thần của người Việt Nam. Trong đó, ngôi miếu cổ nằm ngay dưới chân đập hồ Vai Miếu là một công trình kiến trúc có ý nghĩa lớn đối với du lịch. Ngôi miếu cổ này mới được người dân địa phương trùng tu và tôn tạo năm 1993, tuy có quy mô nhỏ, nhưng do vị trí khá đặc biệt cùng với đó là những huyền thoại về ngôi miếu này vẫn còn được lưu truyền, làm cho nó có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách.

2.3. CƠ SỞ HẠ TẦNG CỦA KHU VỰC

2.3.1. Giao thông

Hiện nay, khu vực Hồ Núi Cốc và những vùng phụ cận có hệ thống giao thông như sau: Từ trung tâm thành phố Thái Nguyên đến Hồ Núi Cốc bằng tỉnh lộ 253, đến ngã ba Đán, tuyến vào hồ được chia thành hai đường:

  • Tuyến từ ngã ba Đán (TL260) vào phía Đông Bắc Hồ Núi Cốc (khu du lịch Hồ Núi Cốc), đây là tuyến ngắn nhất, đã được nâng cấp, chất lượng đường tốt (kết cấu bê tông nhựa), lòng đường rộng 14m
  • Từ ngã ba Đán vào phía Nam Hồ Núi Cốc (Khu nhà nghỉ Nam Phương – đập chính) theo tỉnh lộ 253, dài 14 km, đường mới được nâng cấp, mặt đường trải nhựa, lòng đường rộng 7,5m. Tuyến này cắt qua hệ sinh thái đồng ruộng (lúa+ chè) thuộc địa phận xã Tân Cương (một điểm có giá trị sinh thái cao).

Tuyến tỉnh lộ 261, từ ngã tư Phổ Yên (trên quốc lộ 3), chạy dọc theo rìa phía Tây của khu vực Hồ Núi Cốc nối với thị trấn Đại Từ trên quốc lộ 37. Đây là tuyến hành lang huyết mạch của các xã phía Tây hồ, tuyến đường này cắt qua nhiều hệ sinh thái có giá trị DLST: hệ sinh thái hồ Gò Vai Miếu với quần thể di tích Núi Văn, Núi Võ (địa phận xã Ký Phú), hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm đai núi thấp (thuộc VQG Tam Đảo). Bên cạnh đó tuyến đường này cũng nối với hệ sinh thái Hồ Núi Cốc bằng các đường liên xã cắt ngang địa phận các xã Phúc Tân, Vạn Thọ, tuy nhiên, chất lượng các tuyến đường này rấ thấp.

Tuyến từ cầu Huy Ngạc (thị trấn Đại Từ) đến khu du lịch Hồ Núi Cốc, dài 10 km, đoạn đường mới được nâng cấp, tuy vậy nhưng lòng đường còn tương đối hẹp (7,5 m), chất lượng mặt đường không cao.

Tuyến đường ven hồ, từ đoàn 16 đến khu nghỉ dưỡng Nam Phương dài 6km mới được hoàn thành. Đây là con đường có ý nghĩa rất lớn đối với việc khai thác tiềm năng của Hồ Núi Cốc cho mục đích du lịch. Đường được thiết kế chạy sát mép nước hồ, cắt ngang qua nhiều hệ sinh thái điển hình trong khu vực (các hệ sinh thái rừng nhân sinh, đồng ruộng, Hồ Núi Cốc,…), tạo điều kiện khai thác tổng hợp các hệ sinh thái trong một không gian hẹp. Lòng đường rộng 6m, hè rộng 1,5m, mặt đường được trải nhựa. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Ngoài ra còn có hệ thống các đường liên xã, liên thôn, phần lớn đã được bê tông hóa, đặc biệt khu vực phía Bắc, Đông và Nam hồ. Riêng khu vực phía Tây hồ thuộc địa phận xã Phúc Tân, điều kiện giao thông còn hết sức khó khăn, khả năng tiếp cận thấp, điều đó cũng gây trở ngại đối với hoạt động du lịch.

2.3.2. Hệ thống điện, thông tin liên lạc

Hệ thống điện của khu vực Hồ Núi Cốc được lấy từ hai nguồn chính là trạm 35/10 KV Đại Từ, công suất trạm 1 x 1.800 KVA và trạm 35/6 KV Thịnh Đán, công suất trạm 2 x 7.500 KVA. Đường dây trong khu vực có các tuyến: 110KV-Cao Ngạn- Thác Bà, với chiều dài 56 km, tiết diện AC- 185. Tuyến 10 KV từ Đại Từ- Núi Cốc, tiết diện AC 70. Tuyến 6 KV được lấy từ trạm trung gian Đán cấp điện cho khu vực phía Nam hồ. Các trạm biến áp 10/0,4 KV; 6/0,4 KV gồm có: Đoàn 16 (180 KVA), Công đoàn (250 KVA), Thủy sản (180 KVA), khu du lịch phía Nam (320 KV), trạm bơm (50 KVA). Lưới hạ thế trong vùng chủ yếu là loại dây tiết diện AC 70- AC 35, đi nổi trên các cột bê tông K và H.

Nhìn chung lưới điện của khu vực Hồ Núi Cốc tương đối hoàn thiện, tạo điều kiện cho việc phát triển mạnh các loại hình dịch vụ, du lịch. Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây, do tình trạng thiếu điện chung của cả nước. Nguồn điện trong khu vực thường xuyên bị quá tải, đặc biệt trong mùa hè – mùa du lịch, dẫn đến tình trạng cắt điện luân phiên. Điều này gây cản trở không nhỏ đến hoạt động sản xuất, sinh hoạt nói chung và du lịch nói riêng.

Mạng lưới thông tin liên lạc tại khu vực trong những năm gần đây đã được cải thiện đáng kể. Tại tất cả các xã đều có bưu điện văn hóa, mạng lưới điện thoại cố định (có dây và không dây), di động được phủ khắp. dịch vụ internet cũng được triển khai đến các xã. Tất cả các xã đều được phủ sóng truyền thanh, truyền hình. Đây là cơ sở thuận lợi đối với ngành du lịch nói chung và DLST nói riêng.

2.3.3. Hệ thống cấp, thoát nước

Nguồn nước: nước sử dụng tại các khu dân cư trong khu vực chủ yếu là nước hồ, nước giếng khơi, giếng khoan. Nhìn chung, nguồn nước trong khu vực rất dồi dào, đáp ứng tốt cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của cư dân trong vùng và các hoạt động du lịch. Tuy nhiên, các nguồn nước này đều được sử dụng một cách trực tiếp, không qua xử lý nên chưa đảm bảo vệ sinh. Do vậy, cần phải có kế hoạch xây dựng các nhà máy cấp nước sạch cho sinh hoạt và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch trong khu vực.

Hiện tại, hệ thống thoát nước chưa được chú trọng, khu du lịch chưa có hệ thống xử lý chất thải tập trung. Nước thải từ các khu dịch vụ, đặc biệt các nhà hàng xả trực tiếp xuống hồ, hoặc ngấm thẳng xuống đất. Đây là một nguồn gây ô nhiễm rất lớn do vậy cần có kế hoạch thu gom xử lý rác thải trước khi xả ra môi trường.

2.4. CÁC ĐIỂM DU LỊCH TIỀM NĂNG TRONG KHU VỰC Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

2.4.1. Điểm Du lịch sinh thái Núi Pháo

Đây là dãy núi nằm ở phía Bắc và Đông Bắc Hồ Núi Cốc, dài trên 7 km, rộng trung bình 3,5 km, gồm nhiều đỉnh núi nối liền nhau có độ cao trung bình 300-500m (Núi Pháo, Núi Chéo Vành,…), nằm chủ yếu trong địa phận xã Tân Thái. Dãy núi Pháo có lợi thế là sự tồn tại của nhiều hệ sinh thái, trong đó đáng chú ý nhất là hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm thường xanh đai núi thấp (trên các đỉnh), hệ sinh thái rừng tái sinh tự nhiên, hệ sinh thái rừng trồng, thêm vào đó là dạng địa hình đồi núi với mức chia cắt lớn, tạo nên sự đa dạng về cảnh quan.

Với lợi thế như vậy, điểm du lịch Núi Pháo có thể phát triển các loại hình Du lịch sinh thái như: leo núi, ngắm cảnh, học tập, nghiên cứu các hệ sinh thái rừng tự nhiên, nhân sinh.

Đối với loại hình du lịch leo núi: Đây là loại hình du lịch còn khá mới mẻ ở Việt Nam, phù hợp với những du khách ưa mạo hiểm, thích phiêu lưu, khám phá tự nhiên. Đối tượng chủ yếu là những người ở lứa tuổi thanh niên đến trùn niên, có yêu cầu cao về thể lực. Do vậy khách du lịch đến với loại hình du lịch này còn ít, hiện mới chỉ có một số ít khách du lịch nước ngoài quan tâm. Trong tương lai gần, khi điều kiện sống của người Việt Nam được nâng cao thì đây sẽ là loại hình du lịch nhiều tiềm năng.

Loại hình du lịch kết hợp học tập, nghiên cứu: Đối tượng du khách chủ yếu là học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, các cán bộ khoa học. Có vị trí cách không xa trung tâm thành phố Thái Nguyên (15 km)- trung tâm văn hóa giáo dục, khoa học của cả vùng Đông Bắc. Do vậy, nơi đây là nguồn khách rất tiềm năng đối với loại hình du lịch này.

Khả năng tiếp cận với dạng cảnh quan này cũng khá dễ dàng, hầu hết đều có đường mòn đến sát chân núi. Từ khu du lịch Hồ Núi Cốc có thể men theo suối Cái khoảng 5 km, hoặc xuất phát tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thái ( cách khu du lịch 1km) đi theo đường dân sinh (phần lớn đã được bê tông hóa) khoảng 3km, du khách sẽ tiếp cận được sườn phía Nam của dãy Núi Pháo ở độ cao khoảng 100m. Trên tuyến đường này du khách sẽ bắt gặp cảnh sinh hoạt, sản xuất của cộng đồng các dân tộc địa phương ( người Kinh, Tày, Nùng,…) với những nương chè, nương ngô xanh mướt, trải rộng từ sườn đồi này sang sườn đồi khác, bên dưới thung lũng là những cánh đồng lúa, lẩn khuất rong tán cây rừng là những nóc nhà, đâu đó trên sườn đồi dưới thung lũng là những chú mục đồng đang chơi đùa hồn nhiên. Những điều đó đã tạo nên khung cảnh thanh bình yên của miền sơn cước…Từ đây du khách sẽ bước vào cuộc hành trình leo núi thực sự để trinh phục những đỉnh núi cao 400- 500m, với nhiều thách thức không dễ vượt qua. Để đến đỉnh núi, du khách sẽ phải theo các con “đường mòn” của những người thợ rừng, luồn lách dưới những tán cây của hệ sinh thái rừng trồng đã bước vào thời kỳ trưởng thành với quần thể thực vật ưu thế Bạch đàn và Keo. Tại đây du khách sẽ có cơ hội để tìm hiểu, nghiên cứu quá trình tái sinh của thảm thực vật tự nhiên dưới tán rừng trồng. Trong tầng thảm tươi, tầng cây bụi đã xuất hiện những loài bản địa có giá trị (Lim xanh, Lát hoa, Kháo vàng…), cùng các họ giây leo – một đặc trưng của hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm. Các động vật chủ yếu có thể quan sát được chủ yếu là chim và côn trùng…Đi dần lên cao, du khách sẽ bỏ lại những cánh rừng trồng để tiếp cận hệ sinh thái rừng tái sinh tự nhiên, và hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm thường xanh với nhiều loài động, thực vật bản địa có sức lôi cuốn đối với du khách. Khi lên đến đỉnh núi Pháo (450m) du khách sẽ được đền đáp một cách xứng đáng. Phóng tầm mắt ra xa về phía Nam, Hồ Núi Cốc hiện ra như một dải lụa mềm mại, vắt ngang trên nền xanh của núi rừng Thái Nguyên.

Thời điểm đón khách tốt nhất tại điểm du lịch này là mùa hè, mùa thu. Đây là giai đoạn lớp phủ thực vật trong khu vực sinh trưởng mạnh mẽ nhất, toàn vùng được khoác lên mình một màu xanh quyến rũ của núi rừng, đồng ruộng. Tuy vậy, do ảnh hưởng tiêu cực của lượng mưa, nhiệt độ có thể gây nên tình trạng gián đoạn đối với hoạt động du lịch.

2.4.2. Điểm du lịch sinh thái làng nghề phía Đông Hồ Núi Cốc Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Xưa nay, nói đến trà Việt, người ta nghĩ ngay đến trà Thái Nguyên. Dù diện tích trồng chè chỉ đứng thứ 2 cả nước (sau Lâm Đồng), nhưng Thái Nguyên nằm trong vùng chè lâu đời của Việt Nam, với sản phẩm chè có hương vị đặc trưng mà không nơi nào khác có được. Chè Thái Nguyên luôn được tôn vinh là “đệ nhất danh trà” của đất nước.

Làng nghề phía đông Hồ Núi Cốc là khu vực thuộc địa phận xã Tân Cương, một phần xã Phúc Trìu và Phúc Xuân (gọi chung là Tân Cương). Dạng địa hình chủ yếu là đồi núi thấp (dưới 100m) xen chung với thung lũng. Dân cư trong vùng đa phần là người Kinh, số còn lại thuộc các dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, cộng đồng dân cư nơi đây có lịch sử trên 100 năm. Có hai tôn giáo đáng chú ý là Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo với khoảng 7% đồng bào theo đạo, phần đông người dân không theo tôn giáo nào, nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tín ngưỡng dân tộc, với tục thờ cúng tổ tiên, các hoạt động lễ tết…Hoạt động kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, với hai loại cây chính là chè và lúa nước. Chính những đặc điểm trên đã tạo cho khu vực này về một loại hình du lịch sinh thái đặc biệt, đó là du lịch làng nghề (làng nghề chè truyền thống).

“Không hẹn trước thế mà bất chợt

Chè Tân Cương khao khát vô chừng

Đến với làng nghề chè truyền thống Tân Cương, du khách sẽ rất thích thú khi được vào tận đồi chè, ngắm nhìn những vạt chè xanh non mơn mởn, trải dài, đồi này nối tiếp đồi kia. Đồng thời du khách còn có thể trực tiếp cùng người dân hái chè, sao chè và tìm hiểu từ khâu chăm sóc đến khâu chế biến thành phẩm. Có thêm kiến thức về thẩm nhận chất lượng các loại chè. Từ những búp chè xanh non được người dân hái về, trải qua bao công đoạn sao, vò mới trở thành những cánh chè nổi tiếng khắp trong và ngoài nước – đặc sản chè Tân Cương (Thái Nguyên). Chất lượng của chè không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện chăm sóc, mà thời tiết khi thu hoạch cũng ảnh hưởng không nhỏ đến điều kiện thời tiêt búp chè. Nếu chè được thu hoạch trong những ngày mưa, thì màu sắc, hương vị của cánh chè sẽ không đảm bảo. Nhưng nếu chè được chăm sóc tốt, lại được thu hoạch trong những ngày nắng đẹp sẽ tạo nên một sản phẩm chè tuyệt hạng. Chè ngon là loại có cánh nhỏ, màu xanh đen, mùi hương cốm, nước chè màu xanh, chát ở đầu lưỡi nhưng lại ngọt ở cổ họng…

Chè Tân Cương có hương thơm tự nhiên, đậm đà bởi vị ngọt chát mà chỉ có đất Tân Cương mới tạo nên được. Chưa rõ chính xác từ khi nào cây chè xuất hiện ở Thái Nguyên, nhưng theo người dân ở vùng chè Tân Cương kể lại thì nghề chè đã tồn tại trong đời sống của cha ông họ từ hàng trăm năm về trước. Theo sách “Đại Nam nhất thống chí, 1882” có ghi về các loại sản vật mà Thái Nguyên cống cho triều đình, trong đó có đoạn viết: “Chè Nam: Sản ở các huyện Phú Lương, Đồng Hỷ, Đại từ, Phổ Yên, vị ngon hơn chè ở các nơi khác” [5]. Từ đầu thế Kỷ XX, đã thấy ở Thái Nguyên, Hà thành và nhiều tỉnh thành trong cả nước những sản phẩm mang hiệu chè Tân Cương – Chè Thái, với hương cốm thơm, vị ngọt thanh tao chỉ có một đã trở thành nỗi nhớ của các bậc trưởng lão, đã thành món quà thơm thảo cho tình bạn bè khi gặp gỡ nhau.

“Chè Thái Nguyên ngọt giọng Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Ấm lòng khách tri âm”

Du lịch làng nghề chè Tân Cương, du khách không chỉ được tìm hiểu cách thức, chăm sóc, chế biến và thưởng thức vị ngon của chè mà còn được biết thêm nhiều về những nét văn hóa độc đáo của miền đất này. Đáng chú ý nhất là những công trình kiến trúc, các lễ hội phản ánh đời sống, tín ngưỡng của cộng đồng địa phương.

Đến với Tân Cương, du khách có thể kết hợp giữa loại hình du lịch làng nghề với du lịch tâm linh. Nếu là tín đồ của Đạo Phật, du khách sẽ được thắp nhang để tỏ lòng thành kính của mình với Đức Phật tại ngôi chùa làng có tên Yna. Đây là ngôi chùa mới được trùng tu, mở rộng, chùa tọa lạc trên một ngọn đồi nằm giữa cánh đồng, thuộc địa phận xóm Yna- xã Tân Cương, cách tỉnh lộ khoảng 1km về phía Bắc. Hội chùa Yna thường được tổ chức vào ngày mùng 10- 12 tháng Giêng hàng năm. Vào dịp này, nhân dân địa phương, phật tử thập phương nô nức tụ hội về đây với nhiều hoạt động tế lễ, tạo nên không khí rất náo nhiệt. Còn nếu du khách là người Công giáo, nhà thờ Gò Pháo là một địa điểm hành lễ rất lý tưởng. Nhà thờ là một công trình kiến trúc rất đồ sộ, mới được xây dựng lại trên một khuôn viên rộng 1ha, với tòa đại sảnh có thể chứa tới người. Bên cạnh đó, vào những ngày đầu xuân, các làng trong khu vực thường tổ chức hội làng, tiêu biểu như lễ hội làng Giuộc, xóm Chợ cũng là những hoạt động sinh hoạt cộng đồng ẩn chứa nhiều yếu tố tâm linh thể hiện rõ nét đời sống tinh thần của cư dân bản địa.

Ngoài ra du khách còn có thể mua cho gia đình, bạn bè và người thân những món quà lưu niệm, những sản vật núi rừng tại những phiên chợ quê, được họp theo hình thức “chợ phiên” trong khu vực: chợ Tân Cương, Hom Giỏ, Phúc Trìu…

Theo kế hoạch, sắp tới lần đầu tiên sẽ tổ chức Festival trà Quốc tế tại Thái Nguyên(T11/2011). Festival Trà Quốc tế lần này sẽ được tổ chức tại Tp Thái Nguyên và Khu du lịch Hồ Núi Cốc. Festival trà Quốc tế lần này cũng là dịp để bạn bè quốc tế hiểu hơn về văn hóa và con người Việt Nam, thu hút các nhà đầu tư trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là phát triển cây chè và sản phẩm trà, đồng thời góp phần làm cho hoạt động du lịch phát triển.

2.4.3. Điểm du lịch phía Bắc Hồ Núi Cốc Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Nằm ở vị trí phía Bắc Hồ Núi Cốc, thuộc địa phận xã Tân Thái (huyện Đại Từ) – Khu du lịch Hồ Núi Cốc, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 16km theo tỉnh lộ 260. Khu vực này có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, với hai hệ sinh thái đặc trưng: Hệ sinh thái Hồ Núi Cốc và Hệ sinh thái rừng nhân sinh được bảo vệ và phát triển khá mạnh với quần thể thực vật ưu thế là Keo và Bạch Đàn. Khu du lịch Hồ Núi Cốc là một quần thể hài hòa giữa đất trời, mây nước, những bản làng quê kiểng…Những ngôi nhà nghỉ, những khách sạn, nhà hàng, các khu vui chơi giải trí…nằm rải rác, thoắt ẩn, thoắt hiện bên sườn đồi, men theo những khúc đường quanh co uốn lượn ven hồ. Bên những cây đại thụ bắt rễ dưới chân núi là những luống hoa, cây cảnh, dẫn lối du khách men theo sườn núi. Theo những lối mòn ấy, du khách sẽ bắt gặp những ngôi nhà nho nhỏ, lọt giữa khuôn viên xinh xắn của cư dân vùng hồ. Một lợi thế rất lớn mà điểm du lịch này có được chính là sự quan tâm, đầu tư lớn của tỉnh, của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Vì vậy, tại đây đã hình thành nên một hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ du lịch tương đối hoàn thiện: Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, các nhà hàng phục vụ ăn uống, các công trình dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí…Đây là điểm du lịch có khả năng phát triển tổng hợp và đa dạng các loại hình du lịch như: nghỉ dưỡng, thể thao, ngắm cảnh, dã ngoại, hội nghị, hội thảo…Vấn đề đặt ra cho điểm du lịch này là hướng hoạt động du lịch hiện tại theo các nguyên tắc của DLST, nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và phát triển cộng đồng.

2.4.4. Điểm du lịch phía Nam Hồ Núi Cốc

Nằm ở phía Nam Hồ Núi Cốc, thuộc địa phận xã Phúc Trìu (Thành phố Thái Nguyên), cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 17km theo tỉnh lộ 253 (đường Tân Cương). Xét về điều kiện tự nhiên, khu Nam phương cũng giống như khu du lịch Hồ Núi Cốc, tuy nhiên mức độ đầu tư cho điểm du lịch này còn hạn chế nên phong cảnh thiên nhiên nơi đây còn tương đối hoang sơ. Chỉ có trên chục nhà nghỉ mini và vài ba nhà hàng đặc sản nằm ven theo mép hồ, ẩn hiện dưới tán rừng Keo, Bạch Đàn. Điểm du lịch này rất thích hợp với loại hình du lịch nghỉ cuối tuần cho gia đình hoặc nhóm gia đình với số lượng người không lớn, và du lịch cắm trại, dã ngoại, khám phá tìm hiểu các hệ sinh thái tự nhiên (rừng, hồ…).

Đến với khu Nam phương, du khách sẽ được tận hưởng bầu không khí trong lành, thoáng mát, yên tĩnh, được thả hồn mình trong cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp với trời mây non nước hữu tình, được đắm mình trong làn nước hồ trong xanh, mát lạnh. Đây thực sự là điểm lý tưởng để du khách chút bỏ những lo toan mệt nhọc của cuộc sống nơi phố phường bận rộn, trở về với thiên nhiên cỏ cây,để tạn hưởng cảm giác thanh bình, với những thú vui bình dị như câu cá, ngắm cảnh, thả bộ trên những sườn đồi, dưới tán rừng Keo, rừng Bạch Đàn, ngắm nhìn mặt hồ trong xanh phẳng lặng, được thưởng thức những món đặc sản nơi thôn dã được chế biến từ những sản vật địa phương: gà đồi, cá mè hồ, cơm gạo Bao thai, ngô nếp…thêm vào đó là một vài chén rượu được trưng cất từ chất men lá – một phương thức truyền thống của đồng bào dân tộc ít người.

Mặt khác, điểm du lịch Nam phương còn nằm liền kề với điểm du lịch làng nghề chè tuyền thống Tân Cương, đây là điều kiện thuận lợi cho khu Nam phương đa dạng hóa các loại hình du lịch, dịch vụ, tăng sức hấp dẫn đối với du khách.

Khả năng tiếp cận với điểm du lịch này là rất thuận lợi, từ trung tâm thành phố Thái Nguyên, đi theo tỉnh lộ 253 hướng Tân Cương khoảng 17 km, hoặc theo tỉnh lộ 260 (ngã ba Đán, rẽ đường Hồn Núi Cốc), du khách đều có thể đến được khu Nam phương. Các tuyến đường đều đã được trải nhựa, mặt đường rộng, mật độ giao thông thấp.

2.4.5. Điểm du lịch trên các đảo lòng hồ Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Trong khu vực Hồ Núi Cốc, có tới 89 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có một số đảo có diện tích lớn, có khả năng phát triển du lịch sinh thái, đó là các đảo: Đảo Núi Cái, Đảo Dê, Đảo Cò, Đảo Long hội, Đảo Kim Bảng. Trên các đảo này, đang tồn tại hệ sinh thái rừng trồng, tuy nhiên các loài thực vật tự nhiên phát triển rất mạnh, và đang có quá trình chuyển tiếp giữa hệ sinh thái rừng trồng và hệ sinh thái rừng tái sinh tự nhiên với các quần thể câu ưu thế: Tre, nứa và các loại cây bụi (sim, mua), các loại dây leo…Đặc biệt trên Đảo Cò, có một số lượng rất lớn các loài chim, nhiều nhất là Cò trắng, Cò lửa. Tuy chưa có số lượng tính toán chính thức, nhưng theo ước tính, số lượng cá thể Cò có thể lên tới hàng nghìn con.

Thực tế hiện nay, trên Đảo Núi Cái – hòn đảo lớn nhất, có diện tích trên 308 ha đã được đầu tư xây dựng một khu trưng bày các sản phẩm thủ công mĩ nghệ từ 90 làng nghề truyền thống trên cả nước. Dừng chân lên đảo, du khách phải leo 108 bậc lên tới Nhà Cổ, nơi đây trưng bày hơn 1000 hiện vật, điều đặc biệt là tất cả những hiện vật ở đây đều là các sản phẩm làng nghề được đưa đến từ hơn làng nghề truyền thống trên khắp đất nước.

Cách Núi Cái không xa, du khách có thể nhìn thấy rất rõ một con đập kéo dài đây là đập chính của hồ, dài 500m. Đây cũng là công trình thủy lợi lớn nhất Thái Nguyên.

2.4.6. Điểm du lịch núi Thằn Lằn

Đây là dãy núi nằm ôm sát bờ Tây của Hồ Núi Cốc, kéo dài khoảng 12 km theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, rộng trung bình từ 2- 2,5km, gồm nhiều đỉnh núi cao trung bình 300- 500m nối tiếp nhau. Về đặc điểm sinh thái, dãy Thằn Lằn có nhiều điểm giống với dãy Núi Pháo ở phía Bắc. Nhưng do điều kiện giao thông khó khăn, địa hình hiểm trở, cư dân thưa thớt, nên cảnh quan tự nhiên nơi đây có phần hoang vắng hơn. Chỉ có một số ít hộ gí đình người dân tộc thiểu số sống ven những co đường mòn vào sâu trong núi đến sát bờ hồ. Họ sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh cá, trồng và khai thác rừng.

Với điều kiện như vậy, khu vực này có lợi thế về các loại hình du lịch thể dục, thể thao: leo núi, bơi thuyền, dã ngoại, cắm trại, khám phá tự nhiên, du lịch chữa bệnh và loại hình du lịch làng bản dân tộc…Tuy nhiên, điểm du lịch này chỉ thích hợp với những du khách thích phiêu lưu, có thể lực tốt và khả năng hoạt động độc lập cao. Bởi để tiếp cận với điểm du lịch này du khách sẽ phải trải qua những đoạn đường khá hiểm trở, hơn nữa điều kiện cơ sở vật chất phục vụ du lịch hiện tại chưa có.

Đến với điểm du lịch này, du khách sẽ được thử thách sự bền bỉ của ý chí, sự dẻo dai của thể lực trước những trở ngại của thiên nhiên. Từ khu Nam phương du khách sẽ phải hành trình theo những con đường mòn hiểm trở ven bờ hồ mà hầu như không có phương tiện giao thông hiện đại nào có thể tiếp cận được. Sau 10- 20km (tùy theo mùa mưa, mùa khô), du khách sẽ đến được khu vực Cầu đất – vùng đất bán ngập nước danh giới giữa đảo Núi Cái và dãy núi Thằn Lằn. Du khách cũng có thể lựa chọn cách đơn giản hơn là ngồi xuồng máy hoặc tàu du lịch. Từ đây du khách sẽ bước vào chinh phục những đỉnh núi cao nhất của dãy núi Thằn Lằn ở độ cao 450- 480m. trong suốt hành trình, du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng phong cảnh thiên nhiên vô cùng hấp dẫn, một bên là núi rừng trùng điệp, một bên là mặt hồ phẳng lặng trong xanh với những cơn gió dịu mát, như xua hết những mệt nhọc âu lo. Lên tới đỉnh núi, phóng tầm mắt ra xa về phía Đông, toàn bộ Hồ Núi Cốc hiện ra như một chiếc gương khổng lồ đặt trên thảm xanh của núi rừng Thái Nguyên. Xa hơn nữa về phía Tây, là dãy núi Tam Đảo hùng vĩ, như một bức tường thành chạy dài từ Bắc xuống Nam, được phủ lên mình màu xanh huyền bí của núi rừng. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

2.4.7. Điểm du lịch sinh thái hồ Vai Miếu và sườn Đông dãy Tam Đảo

Từ dãy núi Thằn Lằn, về phía Tây khoảng 3km theo đường chim bay, hoặc từ ngã tư Phổ Yên theo tỉnh lộ 261 hướng Đại Từ và ngược lại khoảng 17 km, du khách sẽ bắt gặp một đập nước dài vắt ngang lưng trừng núi, ngay sát chân dãy Tam Đảo. Đó chính là con đập chính của hồ Vai Miếu- một hồ nước nhân tạo. Tuy là một hồ nước nhỏ, diện tích trung bình khoảng 250 ha, nhưng hồ lại có tiềm năng du lịch sinh thái lớn. Nhờ lợi thế về điều kiện tự nhiên: hồ có chất lượng nước tốt, hâu như chưa chịu tác động gì đáng kể từ các hoạt động kinh tế của con người, hồ có nhiều vũng ăn sâu vào núi với nhiều thác nước tự nhiên. Đặc biệt hơn là hồ lại tựa lưng vào dãy Tam Đảo – một dãy núi cao (nhiều đỉnh cao trên 1000m), với một hệ sinh thái phong phú đa dạng về thành loài động vật, thực vật quý hiếm, trong đó có nhiều loài đặc hữu.

Đến với điểm du lịch này, du khách sẽ được lên những chiếc thuyền nan (2- 3 khách/1 thuyền), với hai mái chèo tay của ngư dân trong vùng, họ cũng là những chuyên gia thực sự về miền đất quê hương mình. Lướt nhẹ trên mặt hồ trong xanh, tĩnh lặng, ngắm nhìn phong cảnh hùng vĩ của dãy Tam Đảo, thuyền sẽ đưa du khách vào sâu trong núi theo những ngóc ngách của hồ, hai bên là những sườn núi dựng đứng được phủ lên mình bởi những thảm thực vật tự nhiên đang hồi sinh, đâu đó trên sườn núi vẫn còn những nương ngô, nương lúa của đồng bào người Dao sinh sống trong vùng đệm của VQG Tam Đảo. Đi sâu tiếp vào núi, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp kỳ vĩ của tự nhiên, từ trên cao một dòng nước tung bọt trắng xóa lao nhanh xuống mặt hồ phá tan không khí trầm lặng âm u của núi rừng- một thác nước hùng vĩ hiện ra trước mặt du khách. Hòa lẫn trong âm thanh của ngọn thác là tiếng hót véo von của những đôi chim chích chòe đang vào mùa làm tổ, tiếng hót gọi đàn của bầy Chào Mào vừa rời tổ, hay tiếng kêu của một chú nai con lạc mẹ…Tất cả tạo nên một khung cảnh sống động rộn ràng của núi rừng.

Nếu du khách là người thích phiêu lưu và có nhiều thời gian, sẽ có một loại hình du lịch làm cho du khách thích thú- đó là chinh phục những ngọn núi của dãy núi Tam Đảo và khám phá hệ sinh thái rừng tự nhiên nơi đây.

Khi trở về, du khách sẽ được thưởng thức các món ăn dân dã tại những quán lá do người dân địa phương mở ra, món ăn được chế biến từ chính những sản vật địa phương, mang hương vị của ruộng đồng, sông núi, đặc biệt là món cá Chép hồ.

2.4.8. Điểm di tích lịch sử quần thể Núi Văn, Núi Võ

Cách hồ Vai Miếu 3km về phía Bắc theo tỉnh lộ 261 là quần thể di tích lịch sử cấp quốc gia Núi Văn, Núi Võ. Đến đây, du khách sẽ có cơ hội hiểu biết thêm về những sự kiện quan trọng trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh của nhân dân ta, biết thêm về một vị anh hùng có công với sự nghiệp của triều Lê sơ-danh tướng Lưu Nhân Chú. Ông là người con sinh ra trên đất Đại Từ- Thái Nguyên, ông từng tham gia hội thề Lũng Nhai năm 1416, kết nghĩa anh em với Lê Lợi. Những năm 1425 – 1427, Lưu Nhân Chú đã chỉ huy nhiều cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh, tiêu biểu là chiến tích năm 1427 tại ải Chi Lăng chém tướng giặc Liễu Thăng, đánh tan 10 vạn quân viện binh. Ông cùng với hoàng tử Tử Tế (con trai của Lê Lợi) xây thành Đông Quan và cũng chính ông cũng là xứ giả đàm phán, buộc Vương Thông rút quân về nước để Đại Việt được thái bình. Năm 1485, ông được vua Lê Thánh Tông truy phong tước “Thái phó vinh Quốc công”. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

Du lịch văn hóa lịch sử hiện nay đang là một nhu cầu bức thiết, đặc biệt đối với thế hệ trẻ, nhằm giáo dục cho họ về lịch sử dân tộc, về những truyền thống tốt đẹp của ông cha ta, tạo nên một thế hệ con người Việt Nam mới phát triển toàn diện. Không những vậy, du lịch văn hóa lịch sử còn là một cách để quảng bá hình ảnh của đất nước Việt Nam giàu truyền thống với bạn bè quốc tế.

Bên cạnh di tích núi Văn, núi Võ đã được nhà nước xếp hạng, vẫn còn các di tích khác ghi dấu các giai đoạn trong con đường binh nghiệp của vị danh tướng triều Lê: Núi quần Ngựa, núi Xem, núi Cắm Cờ…

Đến với quần thể di tích núi Văn, Núi Võ du khách sẽ được thăm hang động núi Văn- một dạng địa hình Kart phổ biến ở miền núi phía Bắc, nhưng lại là duy nhất trong khu vực Hồ Núi Cốc, được thắp hương tưởng nhớ người anh hùng dân tộc tại đền thờ được xây dựng ngay dưới chân hai ngọn núi nổi tiếng. Đặc biệt vào các ngày mùng 4, mùng 5, tháng 2 hàng năm, nhân dân địa phương lại tổ chức lễ hội Núi Văn, Núi Võ để tưởng nhớ công ơn của vị danh tướng này.

2.4.9. Điểm du lịch di tích lịch sử 27/7

” Dù ai đi đông về tây,

Hai bảy, tháng bảy nhớ ngày thương binh”

Nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 30km về phía Tây Bắc, tại xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, đó là khu di tích đã được nhà nước tôn tạo và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 17/07/1997. Với diện tích 3000m2 gồm: Nhà lưu niệm, Bia là tảng đá vân mây trắng hình trụ, chóp nhọn, cao hơn 3m, rộng gần 3m, nặng gần 7 tấn: “Nơi đây ngày 27/7/1947, cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố thư Bác Hồ, ghi nhận sự ra đời ngày Thương binh liệt sỹ ở nước ta”. Hàng năm cứ đến ngày 27/7 là một dịp cho đồng bào ta bày tỏ lòng hiếu nghĩa, nhớ ơn công lao của các thương binh liệt sỹ. Khóa luận: Phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Hồ Núi Cốc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động Du lịch tại khu vực Hồ Núi Cốc

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x