Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tại Cục Quản lý hoạt động xây dựng, Bộ Xây dựng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tại Cục Quản lý hoạt động xây dựng – Bộ Xây dựng

2.2.1. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu của Cục Quản lý hoạt động xây dựng – Bộ Xây dựng

Tìm hiểu pháp luật hiện hành về xây dựng cho thấy Bộ trưởng Bộ Xây dựng thực hiện việc quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng. Cục Quản lý hoạt động xây dựng được thành lập giúp Bộ trưởng Bộ Xây dựng quản lý nhà nước về lĩnh vực này. Vị trí, chức năng của Cục Quản lý hoạt động xây dựng được xác định cụ thể như sau:

Thứ nhất, về vị trí. Cục Quản lý hoạt động xây dựng là tổ chức thuộc Bộ Xây dựng, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước và thực thi pháp luật đối với lĩnh vực hoạt động xây dựng gồm lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; cấp giấy phép xây dựng; khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng; an toàn, vệ sinh lao động trong hoạt động xây dựng; quản lý năng lực hoạt động xây dựng. Khóa luận: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Cục Quản lý hoạt động xây dựng có tư cách pháp nhân, có con dấu để giao dịch, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, Cục Quản lý hoạt động xây dựng có nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, bao gồm:

Một là, về hoạt động đầu tư xây dựng.

Xây dựng để Bộ trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng; về khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công và nghiệm thu xây dựng; về cấp giấy phép xây dựng; về quản lý điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức, năng lực hành nghề hoạt động xây dựng của cá nhân; về an toàn, vệ sinh lao động trong hoạt động xây dựng;

Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình; tham gia thẩm định các dự án đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật;

Hướng dẫn, kiểm tra công tác thẩm định, phê duyệt thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán các công trình xây dựng; tổ chức thẩm định, thẩm tra thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công các công trình xây dựng theo phân cấp thuộc thẩm quyền Bộ Xây dựng theo quy định của pháp luật; phối hợp thực hiện việc thẩm định, thẩm tra dự toán các công trình xây dựng theo phân công của Bộ trưởng;

Theo dõi, kiểm tra, đánh giá tổng thể hoạt động đầu tư xây dựng theo thẩm quyền quản lý của Bộ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng quan trọng, công trình trọng điểm quốc gia theo quy định của pháp luật; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn chủ đầu tư đối với các dự án đầu tư xây dựng quan trọng, công trình trọng điểm quốc gia được Bộ trưởng phân công. Thực hiện nhiệm vụ Thường trực các Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo nhà nước các dự án đầu tư xây dựng quan trọng, các công trình trọng điểm quốc gia;

Xây dựng để Bộ ban hành theo thẩm quyền mẫu giấy phép xây dựng; hướng dẫn việc cấp, điều chỉnh, gia hạn, thu hồi giấy phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng theo giấy phép xây dựng; nghiên cứu, đề xuất để Bộ có văn bản đình chỉ xây dựng hoặc đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo đình chỉ xây dựng và xử lý vi phạm hoặc thu hồi giấy phép xây dựng khi phát hiện việc cấp giấy phép không đúng theo quy định hoặc công trình xây dựng phạm các quy định về quản lý trật tự xây dựng theo giấy phép xây dựng;

Hướng dẫn, kiểm tra công tác lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng và pháp luật về đấu thầu; hướng dẫn việc đánh giá kết quả thực hiện của nhà thầu theo quy định của pháp luật;

Hướng dẫn việc thực hiện quy chế thuê tư vấn nước ngoài trong hoạt động xây dựng tại Việt Nam và việc cấp, thu hồi giấy phép thầu cho các nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam; tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ để Bộ quyết định cấp, thu hồi giấy phép thầu cho nhà thầu nước ngoài là tổ chức nhận thầu các gói thầu thuộc dự án nhóm A và các gói thầu khác thuộc địa bàn từ hai tỉnh trở lên;

Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện năng lực hành nghề xây dựng của cá nhân và điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức tham gia trong các hoạt động xây dựng. Tổ chức cấp chứng chỉ hành nghề cho các cá nhân và chứng chỉ hoạt động xây dựng cho các tổ chức theo quy định của pháp luật;

Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng để Bộ ban hành theo thẩm quyền chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về các hoạt động xây dựng, quy định về việc sát hạch để cấp các loại chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, quy định mẫu chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng; hướng dẫn, kiểm tra việc cấp và quản lý các loại chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng. Tổ chức sát hạch để cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng cho các tổ chức theo quy định của pháp luật;

Xây dựng cơ sở dữ liệu, cập nhật đăng tải và cung cấp thông tin về năng lực của các tổ chức, cá nhân hành nghề tư vấn xây dựng, các nhà thầu hoạt động xây dựng trên phạm vi cả nước, bao gồm cả các nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam.

Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nghiên cứu, xây dựng để Bộ trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc Bộ ban hành theo thẩm quyền quy chuẩn kỹ thuật và các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn kỹ thuật trong thi công xây dựng;

Xây dựng danh mục máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động đặc thù ngành Xây dựng để Bộ đề nghị Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thống nhất ban hành;

Nghiên cứu, xây dựng để Bộ trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc Bộ ban hành quy trình kiểm định đối với các máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động đặc thù ngành Xây dựng sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội;

Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nghiên cứu, xây dựng để Bộ trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc Bộ ban hành theo thẩm quyền tiêu chí, điều kiện hoạt động của các tổ chức kiểm định đối với các máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động đặc thù ngành Xây dựng; hướng dẫn việc thực hiện sau khi được phê duyệt;

Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ;

Hướng dẫn, kiểm tra công tác an toàn kỹ thuật trong thi công xây dựng nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động, thiết bị thi công, công trình xây dựng và các công trình lân cận; phối hợp với các đơn vị có liên quan thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xử lý vi phạm, hướng dẫn giải quyết sự cố mất an toàn kỹ thuật trong thi công xây dựng công trình theo quy định của pháp luật.

Ba là, tổ chức điều hành các diễn đàn, sự kiện, các hội nghị, hội thảo khoa học cấp quốc gia, quốc tế, các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực quản lý và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực hoạt động xây dựng.

Bốn là, quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách khác, công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Cục theo quy định của pháp luật và của Bộ Xây dựng.

Năm là, quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách nhà nước được phân bổ, thực hiện quản lý các hoạt động có thu theo quy định của pháp luật và của Bộ Xây dựng. Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Sáu là, Cục trưởng Cục Quản lý hoạt động xây dựng được quyền:

  • Yêu cầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ và các địa phương cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết phục vụ cho việc thực hiện các lĩnh vực công tác của Cục;
  • Ký một số văn bản hành chính, văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ nhân danh Cục trưởng và sử dụng con dấu của Cục theo quy định pháp luật;
  • Được Bộ trưởng ủy quyền ký một số văn bản về các lĩnh vực công tác của Cục theo quy định tại Quy chế làm việc của cơ quan Bộ Xây dựng;
  • Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Xây dựng giao.

Thứ ba, cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý hoạt động xây dựng gồm:

Một là, các đơn vị trực thuộc bao gồm: i) Văn phòng; ii) Phòng Dự án xây dựng; iii) Phòng Khảo sát, thiết kế xây dựng; iv) Phòng An toàn lao động;

Trung tâm Nghiên cứu và tư vấn xây dựng. Trung tâm nghiên cứu và tư vấn xây dựng là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Cục, được khắc con dấu theo mẫu quy định để giao dịch, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và ngân hàng theo sự ủy quyền, phân cấp quản lý tài chính kế toán của Cục trưởng Cục Quản lý hoạt động xây dựng và các quy định của pháp luật.

Hai là, các đơn vị trực thuộc Cục có cấp trưởng, một số cấp phó và các công chức, viên chức chuyên môn nghiệp vụ. Việc thành lập, tổ chức lại, giải thể và bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh cấp trưởng các đơn vị trực thuộc Cục Quản lý hoạt động xây dựng do Bộ trưởng quyết định theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý hoạt động xây dựng và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ.

Ba là, lãnh đạo Cục bao gồm: i) Cục Quản lý hoạt động xây dựng có Cục trưởng và các Phó Cục trưởng; ii) Cục trưởng và Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo quy định của Đảng và pháp luật; iii) Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý hoạt động xây dựng, Cục trưởng có trách nhiệm lập kế hoạch công tác cho từng giai đoạn, xác định nhu cầu biên chế của Cục; xây dựng và ban hành quy chế làm việc của Cục; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi đơn vị, cá nhân trong Cục và báo cáo Bộ trưởng; iv) Cục trưởng quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh cấp phó các đơn vị trực thuộc Cục theo quy định của Đảng và pháp luật, sau khi có ý kiến chấp thuận của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; v) Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục; Phó Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Cục trưởng và pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công [2, Điều 2, 3, 4].

Bốn là, về lực lượng, trình độ chuyên môn của Cục Quản lý hoạt động xây dựng. Hiện nay, Cục Quản lý hoạt động xây dựng có 70 cán bộ, công chức nhà nước. Về trình độ chuyên môn có 04 tiến sĩ, 32 thạc sĩ và 34 cử nhân được phân bổ như sau:

  • Lãnh đạo Cục Quản lý hoạt động xây dựng có 04 người; trong đó có 02 tiến sĩ; 02 thạc sĩ;
  • Văn phòng Cục có 10 người, trong đó có 04 thạc sĩ, 06 cử nhân;
  • Phòng Quản lý dự án có 08 người, trong đó có 07 thạc sĩ, 01 cử nhân;
  • Phòng Thiết kế có 07 người, trong đó có 07/07 thạc sĩ;
  • Phòng Quản lý kỹ thuật có 09 người, trong đó có 02 tiến sĩ; 04 thạc sĩ và 03 cử nhân;
  • Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn xây dựng có 32 người, trong đó có 08 thạc sĩ và 24 cử nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>>  Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Công

2.2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tại Cục Quản lý hoạt động xây dựng – Bộ Xây dựng Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Cục Quản lý hoạt động xây dựng được thành lập theo Quyết định số 1001/QĐ-BXD về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của Cục Quản lý hoạt động xây dựng ngày 09/10/2013 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

Thứ nhất, xét trong lĩnh vực quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, tính từ thời điểm thành lập đến ngày 31/12/2017, Cục Quản lý hoạt động xây dựng đã cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I cho cá nhân và năng lực tổ chức: Cấp 5.755 cá nhân, đạt tỷ lệ 37% so với tổng cấp cả nước; Cấp 1.664 tổ chức, đạt tỷ lệ 26% (theo phân cấp quản lý của Bộ Xây dựng thì Cục Quản lý hoạt động xây dựng có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I. Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, hiệp hội nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng (sau đây gọi chung là Sở Xây dựng cấp tỉnh) có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng II và hạng III); cụ thể:

Một là, đối với số chứng chỉ hành nghề cá nhân hạng I thực cấp là 5.755 cá nhân; bao gồm: i) Lĩnh vực thiết kế 3.453 chứng chỉ hành nghề hạng I;

Lĩnh vực giám sát 2.302 chứng chỉ hành nghề hạng I; iii) Lĩnh vực định giá 1.381 chứng chỉ hành nghề hạng I; iv) Lĩnh vực kiểm định 115 chứng chỉ hành nghề hạng I; v) Lĩnh vực khảo sát 552 chứng chỉ hành nghề hạng I. Như vậy, theo số liệu này cho thấy lĩnh vực thiết kế được cấp số lượng chứng chỉ hành nghề hạng I lớn nhất (3.453 chứng chỉ); tiếp đến là lĩnh vực giám sát (2.302 chứng chỉ hạng I); lĩnh vực định giá xây dựng (1.381 chứng chỉ hạng I); lĩnh vực khảo sát (552 chứng chỉ hạng I). Lĩnh vực kiểm định chất lượng công trình xây dựng có số lượng chứng chỉ hành nghề được cấp thấp nhất (115 chứng chỉ hạng I).

Biểu đồ 2.1: Số lượng chứng chỉ hành nghề hạng I được cấp cho mỗi lĩnh vực (tính đến ngày 31/12/2017)

Hai là, số chứng chỉ năng lực tổ chức thực cấp là 1.664 chứng chỉ hành nghề hạng I; bao gồm: i) Lĩnh vực khảo sát xây dựng 216 chứng chỉ hành nghề hạng I; ii) Lĩnh vực thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng 582 chứng chỉ hành nghề hạng I; iii) Lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng 233 chứng chỉ hành nghề hạng I; iv) Lĩnh vực thi công xây dựng công trình 383 chứng chỉ hành nghề hạng I; v) Lĩnh vực giám sát thi công xây dựng công trình 446 chứng chỉ hành nghề hạng I; vi) Lĩnh vực quản lý, thẩm tra chi phí đầu tư xây dựng 399 chứng chỉ hành nghề hạng I; vii) Lĩnh vực kiểm định xây dựng 28 chứng chỉ hành nghề hạng I [12], [13], [14], [15].

Biểu đồ 2.2: Số lượng chứng chỉ năng lực tổ chức được cấp cho mỗi lĩnh vực (tính đến ngày 31/12/2017)

Như vậy, theo số liệu này cho thấy năng lực tổ chức trong lĩnh vực thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng chiếm số lượng chứng chỉ cao nhất (582 chứng chỉ hành nghề); tiếp đến là năng lực tổ chức trong lĩnh vực giám sát thi công xây dựng công trình (446 chứng chỉ hành nghề); năng lực tổ chức trong lĩnh vực quản lý, thẩm tra chi phí đầu tư xây dựng (399 chứng chỉ hành nghề); năng lực tổ chức trong lĩnh vực thi công xây dựng công trình (383 chứng chỉ hành nghề); năng lực tổ chức trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng (233 chứng chỉ hành nghề); năng lực tổ chức trong lĩnh vực khảo sát xây dựng (216 chứng chỉ hành nghề). Năng lực tổ chức trong lĩnh vực kiểm định xây dựng được cấp chứng chỉ thấp nhất (28 chứng chỉ hành nghề).

Mặt khác, theo phân cấp quản lý của Bộ Xây dựng, Cục Quản lý hoạt động xây dựng có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I; Sở Xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và hiệp hội nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng (sau đây gọi chung là Sở Xây dựng cấp tỉnh) có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng II và hạng III. So sánh kết quả cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I của Cục Quản quản lý hoạt động xây dựng với kết quả cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng II và hạng III của Sở Xây dựng các địa phương cho thấy:

  • Quản lý hoạt động xây dựng với kết quả cấp chứng chỉ hành nghề hoạt. Kể từ khi thành lập Cục Quản lý hoạt động xây dựng đến nay, cả nước đã cấp được tổng số 15.454 chứng chỉ; trong đó, Cục Quản lý hoạt động xây dựng cấp được 5.755 chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I (chiếm tỷ lệ 37%); Sở Xây dựng cấp tỉnh các địa phương cấp được 9.699 chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng II và hang III (chiếm tỷ lệ 63%).
  • Đối với việc cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng cho các tổ chức. Kể từ khi thành lập Cục Quản lý hoạt động xây dựng đến nay, cả nước đã cấp được tổng số 6.388 chứng chỉ; trong đó, Cục Quản lý hoạt động xây dựng cấp được 1.664 chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng I (chiếm tỷ lệ 26%); Sở Xây dựng cấp tỉnh các địa phương cấp được 4.724 chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng hạng II và hang III (chiếm tỷ lệ 74%).

Bảng 2.1: Số liệu cấp chứng chỉ hoạt động xây dựng tổ chức, cá nhân

Đánh giá việc phân cấp thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng giữa Cục Quản lý hoạt động xây dựng (Bộ Xây dựng) với Sở Xây dựng cấp tỉnh của các địa phương, tác giả rút ra một số nhận định chủ yếu sau đây:

Về ưu điểm

Việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng cho tổ chức và cá nhân theo quy định của Luật xây dựng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành mặc dù được phân cấp cho các địa phương – theo đó, Cục Quản lý hoạt động xây dựng có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hạng I; Sở Xây dựng cấp tỉnh cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hạng II và hạng III – một mặt, đảm bảo sự phân cấp, tính tự chủ, nâng cao trách nhiệm, chủ động cho cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng ở địa phương góp phần cải cách thủ tục hành chính, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, người dân trong việc cấp chứng chỉ hành nghề; mặt khác, vẫn đảm bảo sự quản lý nhà nước tập trung, thống nhất trong lĩnh vực xây dựng. Bởi lẽ, việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của các Sở Xây dựng cấp tỉnh phải lấy mã số từ Bộ Xây dựng. Do vậy, thông qua hoạt động này, Bộ Xây dựng (mà đầu mối là Cục Quản lý hoạt động xây dựng) quản lý, theo dõi được việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của các địa phương. Với cơ chế hoạt động như vậy, thiết nghĩ năng lực, hoạt động của các cá nhân và tổ chức tham gia hành nghề xây dựng được quản lý bài bản, quy củ.

Hiện tại, công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng đang áp dụng giải quyết thủ tục hành chính công theo các tiêu chuẩn cải cách hành chính mức độ 3. Dự kiến đến năm 2019, lĩnh vực quản lý nhà nước này sẽ được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình thức giải quyết thủ tục hành chính công mức độ 4. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nói chung và quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng nói riêng; từng bước tháo gỡ những khó khăn cho doanh nghiệp, người dân hoạt động hành nghề xây dựng v.v… Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Về tồn tại

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, việc phân cấp thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng như đã đề cập cũng bộc lộ hạn chế qua việc triển khai thực hiện trên thực tế. Đó là, Cục Quản lý hoạt động xây dựng (Bộ Xây dựng) có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hạng I trên toàn quốc. Vì vậy, một số cá nhân và tổ chức ở các địa phương xa có đủ năng lực hành nghề xây dựng muốn được cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hạng I vẫn phải gửi hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng về Cục Quản lý hoạt động xây dựng. Hơn nữa, sau khi nhận đầy đủ hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng, Cục Quản lý hoạt động xây dựng phải thẩm tra, xét duyệt hồ sơ và ra quyết định cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng hạng I cho cá nhân, tổ chức có nhu cầu. Điều này khiến cá nhân, tổ chức có nhu cầu phải mất thời gian chờ đợi mới nhận được chứng chỉ hành nghề. Đây dường như là quy trình chưa thực sự hợp lý và chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư, sản xuất – kinh doanh của tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực xây dựng…

Thứ hai, về công tác soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Một là, Cục quản lý hoạt động xây dựng chủ trì soạn thảo:

  • Dự thảo Nghị định về sửa đổi, bổ sung một số Điều Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng (đã trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình số 87/TTr-BXD ngày 14/11/2016).
  • Dự thảo Nghị định quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng (đã được Bộ Tư pháp thẩm định tại văn bản số 307/BTP-PLDSKT ngày 05/10/2016 và đang chỉnh sửa trình Bộ trưởng ký trình Thủ tướng Chính phủ).
  • Thông tư số 14/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về cấp giấy phép hoạt động xây dựng và quản lý nhà thầu nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam;
  • Thông tư số 15/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về cấp giấy phép xây dựng;
  • Thông tư số 16/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng;
  • Thông tư số 17/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng;
  • Thông tư số 18/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung về phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình.
  • Thông tư số 24/2016/TT-BXD ngày 01/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư liên quan đến quản lý dự án đầu tư xây dựng.
  • Quyết định số 1390/QĐ-BXD ngày 29/12/2016 của Bộ Xây dựng về việc ban hành mẫu và hướng dẫn Quy chế hoạt động của Hội đồng xét cấp chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng, Quy chế sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng và điều kiện cơ sở vật chất phục vụ sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng.
  • Quyết định số 1391/QĐ-BXD ngày 29/12/2016 của Bộ Xây dựng về việc công bố Bộ câu hỏi trắc nghiệm phục vụ sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng (Cục đã tập trung nhiều công sức, kinh phí, thời gian cùng với các chuyên gia để hoàn thiện).

Hai là, Cục Quản lý hoạt động xây dựng (sau đây gọi là Cục) phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Xây dựng và các bộ, ngành khác soạn thảo:

  • Quyết định số 838/QĐ-BXD ngày 29/8/2016 của Bộ Xây dựng về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành; thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế; thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ trong lĩnh vực hoạt động xây dựng thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.
  • Phối hợp với Cục Viễn Thông (Bộ Thông tin Truyền thông) ban hành Thông tư liên tịch số 15/2016/TTLT-BTTTT-BXD ngày 22/6/2016 hướng dẫn quản lý việc xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động.

Thứ ba, về công tác quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ. Khóa luận: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Một là, về quản lý đầu tư xây dựng.

Công tác thẩm định dự án, thiết kế và dự toán xây dựng công trình tiếp tục thực hiện có hiệu quả. Thông qua việc thẩm định thiết kế, dự toán đã cắt giảm chi phí không hợp lý của nhiều dự án góp phần phòng, chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng. Theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng và 26/63 địa phương, trong năm 2016 đã thẩm định 1.369 dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước (năm 2015 là 1.204 dự án) với tổng mức đầu tư trước khi thẩm định là 66.393,861 tỷ đồng, giá trị tổng mức đầu tư sau khi thẩm định là 65.750,071 tỷ đồng, giá trị cắt giảm tổng mức đầu tư là 642,790 tỷ đồng (tương đương với 0,97% (năm 2015 là 1,8%)); đã thẩm định thiết kế, dự toán cho 9.129 công trình (năm 2015 là 4.587 công trình) với tổng giá trị dự toán trước thẩm định là 163.509,626 tỷ đồng, giá trị tổng mức đầu tư sau khi thẩm định là 153.920,999 tỷ đồng, giá trị cắt giảm sau khi thẩm định là 9.589,627 tỷ đồng (tương đương với 5,87% (năm 2015 là 5,02%)); tỷ lệ hồ sơ phải sửa đổi, bổ sung thiết kế do Bộ Xây dựng thẩm định khoảng 3,47% (năm 2015 là 17,5%), do các địa phương thẩm định khoảng 35,96% (năm 2015 là 26,4%), qua đó phòng ngừa được nhiều rủi ro về chất lượng công trình. Thời gian thẩm định dự án trung bình là 27 ngày (tương đương năm 2015) [7]. Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Với sự chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo Bộ và nỗ lực của đội ngũ lãnh đạo Cục, cán bộ, công chức, viên chức, việc thẩm định dự án, thiết kế cơ sở được thực hiện tốt, đảm bảo thời gian và chất lượng, giúp Chủ đầu tư dự án thực hiện đúng các quy định về đầu tư xây dựng, giảm thiểu rủi ro khi triển khai thực hiện, chống thất thoát, lãng phí đối với các dự án ngân sách nhà nước.

Hai là, về giấy phép xây dựng.

Công tác cấp phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng được tăng cường thực hiện, các thủ tục hành chính trong cấp phép xây dựng được thực hiện công khai minh bạch, trách nhiệm của các chủ thể liên quan đã được quy định rõ hơn. Theo số liệu báo cáo môi trường kinh doanh Doing Business 2017 công bố tháng 10 năm 2016 của Ngân hàng thế giới (WB), chỉ số về quản lý cấp phép xây dựng của Việt Nam đứng thứ 24/190 quốc gia, dẫn đầu trong nhóm các chỉ số đánh giá về môi trường kinh doanh của Việt Nam, trong đó tiêu chí về kiểm soát chất lượng xây dựng (một trong các tiêu chí đánh giá chỉ số về quản lý cấp phép xây dựng) ở Việt Nam đứng cao nhất với 12 điểm (cao hơn chỉ số của các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD là 11,3 điểm, các nước Đông Á và Thái Bình Dương là 8,7 điểm). Theo báo cáo của 37/63 địa phương, trong năm 2016 đã cấp tiếp nhận, xử lý và thực hiện cấp giấy phép xây dựng đối với 130.946 công trình (trong đó có 4.068 công trình được miễn giấy phép theo quy định của Luật Xây dựng 2014). Tỷ lệ công trình không có giấy phép xây dựng chiếm khoảng 4,86% số lượng công trình được xây dựng (năm 2015 là 3,7%); số công trình sai với giấy phép được cấp chiếm khoảng 2,82% (năm 2015 là 1,11%).

Biểu đồ 2.3: Tình hình cấp phép xây dựng cho các công trình trong năm 2015-2016

Ba là, về quản lý điều kiện năng lực hoạt động xây dựng và cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng.

Cục đã tích cực chủ động xây dựng phần mềm để phục vụ công tác sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, đến nay phần mềm này đã hoạt động ổn định. Trong quá trình xây dựng phần mềm, mặc dù Cục còn khó khăn về kinh phí, tuy nhiên với phương án xã hội hóa trong thực hiện nên Cục đã hoàn thành nhiệm vụ, đây là sự cố gắng vượt bậc của Cục. Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Các thông tin năng lực của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng đã từng bước được thực hiện minh bạch, công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền. Trong năm 2016, Bộ Xây dựng và các Sở Xây dựng địa phương đã tiếp nhận hồ sơ và thực hiện đăng tải công khai thông tin về năng lực hoạt động xây dựng của 2.745 tổ chức.

Công tác cấp chứng chỉ hành nghề cơ bản được triển khai theo quy định:

Trong năm 2016, 29/63 Sở Xây dựng các địa phương đã cấp 22.153 chứng chỉ hành nghề hạng II và hạng III các loại, trong đó có 1.164 chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư, 6.647 chứng chỉ hành nghề kỹ sư, 14.342 chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng.

Biểu đồ 2.4: Số lượng chứng chỉ hành nghề hạng II và III được cấp trong năm 2016

Tuy nhiên, do là giai đoạn chuyển tiếp trong triển khai cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014, một số Sở Xây dựng địa phương còn lúng túng, chậm triển khai tổ chức thực hiện. Để đảm bảo công tác này sớm đi vào cuộc sống, Cục đã chủ động báo cáo lãnh đạo Bộ để có văn bản hướng dẫn cho các địa phương thực hiện; đồng thời chủ động liên lạc với các Sở Xây dựng để trực tiếp phối hợp sát hạch và trực tiếp hướng dẫn công tác sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề và chuyển giao phần mềm sát hạch trong tháng 1 năm 2017. Tác giả cho rằng việc phân cấp cho Sở Xây dựng cấp tỉnh các địa phương cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014 đã góp phần giảm áp lực cho Bộ Xây dựng. Điều này giúp Bộ Xây dựng dành thời gian cho công tác chỉ đạo, điều hành quản lý nhà nước về xây dựng ở tầm vĩ mô; hạn chế giải quyết các vụ việc cụ thể. Mặt khác, phân cấp thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề cho Sở Xây dựng cấp tỉnh để nâng cao tính tự chủ, trách nhiệm cho các địa phương trong việc giải quyết nhanh chóng nhu cầu đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, người dân; đồng thời, góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực xây dựng và cải thiện môi trường đầu tư ở các địa phương.

Thực hiện quy định của Luật Xây dựng năm 2014, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng, Thông tư số 17/2016/TT-BXD, Cục Quản lý hoạt động xây dựng đã nỗ lực, khắc phục khó khăn để hoàn thành, kịp thời báo cáo lãnh đạo Bộ thông qua và cho ban hành các nội dung hướng dẫn, cơ sở hạ tầng và điều kiện phục vụ sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề như:

Đã ban hành mẫu và hướng dẫn Quy chế hoạt động của Hội đồng xét cấp chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng, Quy chế sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng và điều kiện cơ sở vật chất phục vụ sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tại Quyết định số 1390/QĐ-BXD ngày 29/12/2016 của Bộ Xây dựng.

Đã ban hành 1.999 câu hỏi trắc nghiệm phục vụ sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng tại Quyết định số 1391/QĐ-BXD ngày 29/12/2016 của Bộ Xây dựng.

Đã tổ chức sát hạch cho 1.920 lượt thi của khoảng 1.100 cá nhân đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng.

Về cấp giấy phép hoạt động của nhà thầu nước ngoài.

Hoạt động của các nhà thầu nước ngoài tại Việt Nam tiếp tục được quản lý chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng, tiến độ xây dựng, bảo đảm việc làm và nâng cao năng lực của các nhà thầu trong nước. Trong năm 2016, Bộ Xây dựng đã cấp 119 giấy phép cho nhà thầu nước ngoài thực hiện dự án nhóm A, 37/63 Sở Xây dựng địa phương cấp 32 giấy phép cho nhà thầu nước ngoài thực hiện dự án nhóm B, C.

Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng, Cục đã tham mưu giúp Bộ Xây dựng hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư và nhà thầu xử lý các tình huống vướng mắc trong công tác quản lý dự án và trong đấu thầu.

Về chế độ tiền lương, tài chính – kế toán: Theo dõi nâng lương đúng quy định và kịp thời. Công tác tài chính công khai, minh bạch.

Về công tác quản lý các công trình trọng điểm.

Tham gia công tác quản lý dự án Nhà Quốc hội, dự án Đại học Quốc gia, dự án thủy điện Lai Châu, dự án điện hạt nhân, tham gia tổ công tác, hướng dẫn, theo dõi kiểm tra, báo cáo về tình hình thực hiện, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; thực hiện công tác theo dõi, tổng hợp thông tin liên quan đến công tác quản lý dự án theo chức năng nhiệm vụ. Khóa luận: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Ngoài các nhiệm vụ nêu trên, Cục đã tổ chức nghiên cứu hoàn thành tốt một số dự án sự nghiệp kinh tế, đề tài khoa học công nghệ; đồng thời tham gia cùng với các đơn vị soạn thảo, góp ý kiến cho nhiều văn bản quy phạm pháp luật; nghiên cứu trả lời hơn 350 văn bản của tổ chức, doanh nghiệp, công dân tháo gỡ khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh; Giải pháp thắc mắc của doanh nghiệp, công dân qua cổng thông tin điện tử Chính phủ là 83 câu hỏi và của cổng thông tin điện tử Bộ Xây dựng là 82 câu hỏi.

Về công tác phổ biến pháp luật.

Xác định công tác tập huấn, phổ biến pháp luật là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Cục. Trong năm 2016, Cục đã trực tiếp phổ biến, tập huấn Luật Xây dựng năm 2014, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng và các thông tư hướng dẫn tại một số tỉnh, thành phố, doanh nghiệp. Qua công tác phổ biến pháp luật, Cục nắm bắt được tình hình hoạt động xây dựng của địa phương, doanh nghiệp, cá nhân và cũng là một kênh thông tin để kịp thời báo cáo lãnh đạo Bộ điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung và ban hành theo thẩm quyền; trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật để kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong thực tế.

Thứ tư, thực hiện nghị quyết của Chính phủ giao.

Một là, thực hiện Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP ngày 28/04/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 – 2017, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 35/2016/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Cục đã phối hợp với Vụ Pháp chế rà soát các luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh, doanh nghiệp theo hướng lồng ghép một số thủ tục thẩm duyệt để phù hợp với Luật Phòng cháy chữa cháy, Luật Bảo vệ môi trường, mở rộng thêm đối tượng miễn giấy phép xây dựng, đơn giản hóa điều kiện cấp giấy phép xây dựng, phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép công trình cấp đặc biệt,… Ngoài ra, Theo Nghị quyết số 19/2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 nêu trên, lãnh đạo Bộ giao Cục chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo Dự thảo Nghị định quy định các loại giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng (đã được Bộ Tư pháp thẩm định tại Văn bản số 307/BTP-PLDSKT ngày 05/10/2016 và đang chỉnh sửa trình Bộ trưởng ký trình Thủ tướng Chính phủ). Khóa luận: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Hai là, thực hiện Nghị quyết số 60/2016/NQ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2016, Cục đã rà soát Luật Đầu tư công và các văn bản pháp luật liên quan, trong đó đã nêu ra nhiều bất cập, chồng chéo giữa Luật Đầu tư công và Luật Xây dựng. Cụ thể, Cục đã triển khai như sau:

  • Tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng; phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công, tổng dự toán, thực hiện phân cấp mạnh và rà soát, kịp thời giải quyết các rào cản, khó khăn, vướng mắc trong việc thẩm định, quản lý dự án;
  • Rà soát, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét việc miễn giấy phép xây dựng đúng pháp luật đối với các dự án của các cơ quan trung ương (như Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao…);
  • Tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc triển khai, tổ chức thực hiện các thông tư hướng dẫn về lập, thẩm định dự án đầu tư xây dựng, thiết kế dự toán xây dựng công trình, việc thành lập các ban quản lý chuyên ngành, ban quản lý khu vực và quản lý đầu tư xây dựng, về giấy phép xây dựng, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh; Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng, báo cáo Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 7 năm 2016.

Thứ năm, về công tác cải cách hành chính.

Công tác cải cách hành chính luôn được Lãnh đạo Cục Quản lý hoạt động xây dựng đặc biệt quan tâm và chỉ đạo quyết liệt, thể hiện qua việc ban hành kịp thời các chương trình, kế hoạch hành động của Cục để thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Quốc hội về phát triển kinh tế – xã hội, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cũng như các Nghị quyết, chương trình, kế hoạch chuyên đề, các văn bản chỉ đạo điều hành về cải cách hành chính của Chính phủ. Các thông tin, nội dung có liên quan đến cải cách hành chính thường xuyên được đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng; thực hiện công bố và niêm yết công khai các thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ để cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp biết, thực hiện theo đúng quy định.

Trong năm 2016, công tác cải cách thể chế được tập trung thực hiện, trọng tâm là xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng với nhiều nội dung đổi mới căn bản, góp phần tạo lập hành lang pháp lý hoàn chỉnh, đồng bộ, điều chỉnh các hoạt động trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngành, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu quản lý.

Công tác cải cách thủ tục hành chính, trọng tâm là các thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng, đã đạt được những kết quả quan trọng bước đầu, góp phần vào cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Trong năm 2016, Cục đã chủ động rà soát, đề xuất phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp trong cấp phép xây dựng, thẩm định dự án, thiết kế xây dựng, được các Bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao.

Công tác cải cách tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện thường xuyên, liên tục theo hướng tinh gọn, ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

2.2.3. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng tại Cục Quản lý hoạt động xây dựng Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

2.2.3.1. Những kết quả đạt được

Tìm hiểu hoạt động quản lý nhà nước của Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng (Bộ Xây dựng) về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng thời gian qua đã đạt được một số kết quả cơ bản sau đây:

Một là, sau khi được thành lập, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng đã nhanh chóng củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước; thành lập các phòng, trung tâm với việc giao nhiệm vụ, phân công công việc cụ thể, rõ ràng trên nguyên tắc “một việc giao cho một cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm” và bắt tay ngay vào việc triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công về quản lý nhà nước đối với công tác cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng.

Cục Quản lý hoạt động xây dựng đã tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Xây dựng trong xây dựng thể chế, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng; phối hợp với các vụ, cục, viện và các đơn vị chức năng khác của Bộ Xây dựng trong việc rà soát, tham mưu cho lãnh đạo Bộ chỉ đạo ban hành hệ thống các văn bản quy pháp pháp luật làm cơ sở để triển khai thực hiện quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng.

Hai là, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng tiến hành triển khai các hoạt động tập huấn, phổ biến nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng cho các Sở Xây dựng của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các doanh nghiệp xây dựng, đội ngũ kiến trúc sư, chuyên gia tư vấn giám sát và các tổ chức, cá nhân khác hoạt động trong lĩnh vực hành nghề xây dựng.

Bên cạnh đó, Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng xây dựng kế hoạch hàng năm về bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng trình Bộ trưởng Bộ Xây dựng phê duyệt. Trên cơ sở đó, Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng phối hợp với các Sở Xây dựng của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức các lớp bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng cho đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về xây dựng ở các địa phương, cho các doanh nghiệp xây dựng và các tổ chức, cá nhân hành nghề xây dựng v.v… trong cả nước.

Ba là, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng tiến hành các cuộc thanh tra định kỳ hoặc thanh tra đột xuất theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trưng ương. Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Bốn là, trên cơ sở quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng tiến hành cử cán bộ, công chức tham gia các đoàn thanh tra của Bộ Xây dựng thanh tra hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng ở các địa phương. Mặt khác, Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng phối hợp với Thanh tra Bộ Xây dựng tổ chức các cuộc thanh tra theo chuyên đề về quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng trong phạm vi cả nước.

Năm là, hướng dẫn và giải đáp các thắc mắc, kiến nghị của các địa phương đối với những vấn đề phát sinh trong quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng. Trên cơ sở đó, tổng hợp các kiến nghị của địa phương, tham mưu trình lãnh đạo Bộ về phương án rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng trong phạm vi thẩm quyền, chức năng của Bộ Xây dựng.

Sáu là, về cơ bản, công tác cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng thuộc thẩm quyền của Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng được thực hiện đúng với các quy định của Luật Xây dựng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành; không để xảy ra những vi phạm, sai sót nghiêm trọng ảnh hưởng đến uy tín của Bộ Xây dựng cũng như gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hành nghề trong lĩnh vực xây dựng. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được lãnh đạo Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng chú trọng quan tâm chỉ đạo giải quyết kịp thời, nhanh chóng, dứt điểm trên cơ sở tuân thủ đúng các quy định của pháp luật không để dây dưa kéo dài, phát triển trở thành “điểm nóng” ảnh hưởng đến quá trình sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành xây dựng.

Bảy là, nhận thức được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức của Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng quyết định đến chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng. Lãnh đạo Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng rất chú trọng đến công tác tuyển chọn, sắp xếp, sử dụng, bồi dưỡng và quy hoạch đội ngũ cán bộ, công chức của Cục. Động viên, tạo điều kiện để cán bộ, công chức của Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng tham gia các khóa đào tạo, bồi dường về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng; kỹ năng quản lý; năng lực hội nhập; các lớp bồi dưỡng về chính trị, bồi dưỡng vị trí, việc làm v.v… nhằm nâng cao năng lực, trình độ, kỹ năng về mọi mặt đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về quản lý nhà nước trong cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng.

Tám là, xây dựng bộ tiêu chí ISO về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng đi đôi với cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính; xây dựng mô hình “một cửa” và “một cửa liên thông”; ứng dụng công nghề hiện đại từng bước áp dụng việc nhận, xét duyệt và cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng cho các tổ chức, cá nhân qua cổng thông tin điện tử, mạng internet v.v… đã góp phần làm giảm thời gian chờ đợi, chi phí đi lại của tổ chức, cá nhân có nhu cầu cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng…

2.2.3.2. Những hạn chế, yếu kém Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước của Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém cơ bản sau đây:

Một là, do mới được thành lập và đi vào hoạt động chưa lâu nên công tác quản lý nhà nước của Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng khó tránh khỏi những hạn chế; bởi lẽ, bộ máy, cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đang trong quá trình sắp xếp, hoàn thiện, củng cố và kiện toàn nên gặp những bỡ ngỡ, lúng túng nhất định khi thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng.

Hai là, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng vẫn còn thiếu thống nhất, đồng bộ; thậm chí có một số quy định bất cập, lạc hậu và chậm sửa đổi, bổ sung. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng.

Ba là, cơ chế phối, kết hợp giữa Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng với các vụ, cục, viện và các đơn vị khác của Bộ Xây dựng trong thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng có lúc còn chưa nhịp nhàng, đồng bộ, ăn ý. Dường như chưa có sự minh định giữa chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ với hoạt động thanh tra trong lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành mà Cục Quản lý hoạt động hành nghề xây dựng được giao. Khóa luận: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Bốn là, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; đặc biệt là trình độ ngoại ngữ của một bộ phận cán bộ, công chức của Cục Quản lý hoạt động xây dựng còn hạn chế nên chưa đáp ứng với đòi hỏi của công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng. Hơn nữa, một bộ phân công chức, người lao động của Cục Quản lý hoạt động xây dựng ở độ tuổi còn trẻ, tốt nghiệp các trường đại học, có kinh nghiệm công tác chưa lâu… nên cũng khó tránh khỏi những bỡ ngỡ, lúng túng trong xử lý công việc.

Năm là, việc phối, kết hợp trong chỉ đạo, điều hành giữa Cục Quản lý hoạt động xây dựng với các Sở Xây dựng trong quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng còn chưa thật sự khoa học, hợp lý. Văn bản hướng dẫn của Cục dường như còn chưa kịp thời và còn xảy ra tình trạng chậm trả lời các công văn của các Sở Xây dựng liên quan đến công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng.

Sáu là, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về quản lý việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng đang trong quá trình xây dựng, cập nhật và từng bước hoàn thiện. Vì vậy, hệ thống cơ sở dữ liệu này còn chưa đầy đủ, thống nhất về thông tin, số liệu của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đây cũng là một thách thức cho công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của Cục Quản lý hoạt động xây dựng.

Bảy là, công tác đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng và nâng cao trình độ hiểu biết các văn bản pháp luật có liên quan thực hiện chưa bao phủ hết 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Sự hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới trong việc chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm quản lý cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng; tổ chức các tọa đàm, hội thảo về chuyên môn, các khóa đào tạo, bồi dưỡng với sự tham gia hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài còn hạn chế.

Tám là, việc ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng phần mềm trong quản lý các thông tin, số liệu về chứng chỉ hành nghề; thực hiện “số hóa” các hồ sơ, giấy tờ về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng và thực hiện việc đăng ký, nộp hồ sơ và cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng qua mạng internet v.v… tại Cục Quản lý hoạt động xây dựng còn hạn chế.

Chín là, việc nắm bắt tình hình tổ chức, hoạt động của các tổ chức hoạt động xây dựng thuộc các Bộ, ngành, địa phương để quản lý điều kiện năng lực và đề xuất cơ chế, chính sách thúc đẩy lực lượng này phát triển vẫn còn hạn chế. Lý do chính là chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước còn chồng chéo, chế độ báo cáo chưa được quy định cụ thể và thực hiện không nghiêm túc.

Mười là, một số cán bộ, công chức chưa chủ động để thực hiện nhiệm vụ được giao theo đúng chức danh của chuyên viên là phải độc lập nghiên cứu và đề xuất giải quyết nên một số công việc thực hiện chưa đạt hiệu quả cao.

Mười một là, việc nghiên cứu cơ chế, chính sách, cập nhật thông tin những nội dung liên quan đến lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của Cục chưa thường xuyên, đồng thời sự phối hợp với các đơn vị liên quan chưa thực sự tốt nên một số công việc thực hiện còn mất nhiều thời gian.

2.2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Nguyên nhân chủ quan

Những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của Cục Quản lý hoạt động xây dựng bắt nguồn từ một số nguyên nhân chủ quan chủ yếu sau đây:

  • Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước của Cục Quản lý hoạt động xây dựng hạn chế về số lượng; năng lực, trình độ chuyên môn còn chưa đồng đều; trong khi phạm vi quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng rộng liên quan đến nhiều ngành, nghề xây dựng khác nhau. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của Cục Quản lý hoạt động xây dựng.
  • Trong bối cạnh hội nhập quốc tế thì trình độ ngoại ngữ có vai trò quan trọng. Nó là “chìa khóa” để kết nối với đội ngũ chuyên gia, đồng nghiệp nước ngoài và tiếp cận với các tài liệu chuyên môn, tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm nước ngoài về quản lý nhà nước đối với hoạt động cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng. Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ, công chức, người lao động của Cục Quản lý hoạt động xây dựng.
  • Vẫn còn tồn tại tư duy quản lý theo kiểu hành chính truyền thống mà chưa chuyển đổi sang tư duy quản trị hiện đại trong suy nghĩ, tác phong, lề lối làm việc của một bộ phận công chức của Cục Quản lý hoạt động xây dựng.
  • Hơn nữa, kinh nghiệm quản lý của một số công chức trẻ còn chưa nhiều nên khó tránh khỏi những bỡ ngỡ, lúng túng trong công việc.
  • Các kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao việc; kỹ năng điều hành v.v chưa được trang bị, tiếp cận đối với một số công chức của Cục Quản lý hoạt động xây dựng. Điều này cũng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng.
  • Còn có những biểu hiện quan liêu, hách dịch, tác phong xử lý công việc chưa kịp thời, chưa chuyên nghiệp và giao tiếp, văn hóa ứng xử chưa thực sự chuẩn mực đã khiến đối tượng chịu sự quản lý, tổ chức và cá nhân có nhu cầu cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng chưa thực sự thỏa mãn, hài lòng… Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Nguyên nhân khách quan

Bên cạnh nguyên nhân chủ quan, những hạn chế, yếu kém trong quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của Cục Quản lý hoạt động xây dựng bắt nguồn từ một số nguyên nhân khách quan chủ yếu sau đây:

  • Việc chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có sự đổi mới tổng thể, đồng bộ và toàn diện trong quản lý nhà nước. Công tác quản lý nhà nước về xây dựng nói chung và quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng nói riêng chưa theo kịp với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động gây những khó khăn nhất định đến tư tưởng, thái độ của một bộ phận cán bộ, công chức, người lao động của Cục Quản lý hoạt động xây dựng; trong điều kiện chế độ lương, đãi ngộ của Nhà nước chưa đảm bảo đời sống cho bản thân họ và gia đình.
  • Do sự hạn chế của ngân sách nhà nước nên việc mua sắm, trang bị các phương tiện, điều kiện làm việc, cơ sở vật chất phục vụ quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề chưa đồng bộ, đầy đủ và đáp ứng yêu cầu của quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng của Cục Quản lý hoạt động xây dựng.
  • Các quy định về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng chủ yếu nằm ở các văn bản dưới luật do Chính phủ hoặc Bộ Xây dựng ban hành có hiệu lực pháp lý thấp hơn một đạo luật. Hơn nữa, Luật Xây dựng năm 2014 có một số quy định về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng song mới “dừng lại” ở nguyên tắc chung, khái quát chưa cụ thể, chi tiết. Điều này cũng ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước trong cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng.
  • Việc ứng dụng công nghệ thông tin; phần mềm quản trị hiện đại trong hoạt động quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng tại Cục Quản lý hoạt động xây dựng mới dừng lại ở việc lưu trữ thông tin, xử lý công văn, giấy tờ và soạn thảo các văn bản quản lý v.v… Hiện Cục Quản lý hoạt động xây dựng chưa xây dựng đồng bộ, thống nhất, đầy đủ và cập nhật thường xuyên tình hình, kết quả cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm cả nước. Điều này tác động, ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng tại Cục Quản lý hoạt động xây dựng v.v…

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

Sản phẩm của hoạt động xây dựng là nhà ở, công trình xây dựng. Nó được hình thành thông qua quá trình đầu tư nguồn vốn rất lớn của xã hội. Mặt khác, nhà ở, công trình xây dựng không chỉ là nơi cư trú, sinh sống và làm việc của con người mà còn là cơ sở vật chất, tiềm lực của nền kinh tế quốc dân. Để bảo đảm sự an toàn, bền vững và sự hài hòa giữa nhà ở, công trình xây dựng với kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên thì việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng có ý nghĩa quan trọng. Nó đảm bảo các tổ chức, cá nhân hành nghề xây dựng có đủ năng lực, kiến thức, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật, công nghệ xây dựng. Muốn vậy Nhà nước cần phải quản lý chặt chẽ việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng. Phúc đáp đòi hỏi này pháp luật về quản lý nhà nước đối với việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng đã ra đời tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động này được thực hiện trên thực tế.

Pháp luật về quản lý nhà nước đối với việc cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng là một lĩnh vực cụ thể của pháp luật xây dựng và đang trong quá trình hoàn thiện. Nó bao gồm các quy định về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng; các quy định về thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng; các quy định về hồ sơ cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng; các quy định về trình tự, thủ tục cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng v.v…

Việc ra đời lĩnh vực pháp luật về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng từng bước đi vào nền nấp và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng.

Cục Quản lý hoạt động xây dựng – Bộ Xây dựng được thành lập với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu là giúp Bộ trưởng Bộ Xây dựng quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng. Mặc dù, mới được thành lập với 70 cán bộ, công chức và người lao động (trong đó 100% có trình độ cử nhân trở lên; có 04 tiến sĩ; 32 thạc sĩ và 34 cử nhân) song tập thể người lao động của Cục Quản lý hoạt động xây dựng đã nỗ lực vượt khó, không ngừng phấn đấy vượt mọi khó khăn để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao phó. Với việc ra đời mô hình Cục Quản lý hoạt động xây dựng, công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng từng bước đi vào nề nếp và có hiệu quả. Tuy nhiên, do mới thành lập và đi vào hoạt động, nên công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng gặp không ít trở ngại, thách thức khiến hiệu quả đạt được chưa tương xứng với sự kỳ vọng của xã hội. Những hạn chế, yếu kém của công tác quản lý nhà nước về cấp chứng chỉ hành nghề xây dựng bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ quan và khách quan được đề cập tại Tiểu mục 2.2.3.3 Chương 2 luận văn. Luận văn: Thực trạng về Cục Quản Lý hoạt động xây dựng

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Luận văn: Giải pháp nâng cao quản lý chứng chỉ hành nghề

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x