Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hòa giải từ thực tiễn Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Các yếu tố đặc thù tại địa phương có ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
2.1.1. Khái quát về địa phương Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
2.1.1.1. Đặc điểm về địa lý
Thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hòa là vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, thuộc tỉnh Khánh Hoà, nằm về phía Đông vòng cung Bắc Nam của dải Trường Sơn trên toạ độ từ 12020’ – 12045’ độ Vĩ Bắc và từ 105o52’ – 109o20’ độ Kinh Đông. Thị xã Ninh Hòa phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk; Tây Nam giáp huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa; Tây Bắc giáp huyện sông Hinh, tỉnh Phú Yên; phía Nam giáp huyện Diên Khánh và thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; phía Bắc giáp huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Trung tâm thị xã cách thành phố Nha Trang 33 km về phía Bắc (theo quốc lộ 1A).
Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa có 7 phường, 20 xã, trong đó có 4 xã miền núi và một xã hải đảo, với có tổng diện tích đất tự nhiên là 119.777 ha, có trên 70% là núi rừng, 0,44% là động cát ven biển, đồng bằng nơi đây là một lòng chảo hơi tròn, ba mặt bị núi bao bọc, bán kính khoảng 15 km. Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam. Vùng trung tâm đồng bằng đất đai tương đối phì nhiêu. Địa hình thị xã Ninh Hòa bị chia cắt nhiều bởi núi cao, nhiều dốc và đèo hiểm trở. Phía Tây trên quốc lộ 26 có đèo Dốc Đất, đèo Phượng Hoàng. Phía Nam trên quốc lộ 1A có đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì. Phía Bắc có dốc Giồng Thanh, dốc Đá Trắng. Phía Đông đồng bằng có dải núi Hòn Hèo chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, ba mặt nhô ra biển tạo thành một bán đảo lớn (146 km2) với nhiều đỉnh cao trên 700m.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật
2.1.1.2. Đặc điểm về kinh tế Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Trong năm 2019, thị xã Ninh Hòa thu ngân sách Nhà nước được hơn 2.142,7 tỉ đồng, vượt 93,4% kế hoạch tỉnh và vượt 34,7% chỉ tiêu Nghị quyết HĐND thị xã; trong đó tổng các khoản thu cân đối ngân sách được: 949.690 tỉ đồng, vượt 96% kế hoạch tỉnh và vượt 87,7% chỉ tiêu Nghị quyết HĐND thị xã. Từ nguồn thu này kết hợp với nguồn kinh phí hỗ trợ của tỉnh, trung ương và ngân sách của các xã, phường; thị xã đã thực hiện tổng chi ngân sách được hơn 1.396,9 tỉ đồng.
Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thực hiện phát triển kinh tế theo hướng cơ cấu công nghiệp – dịch vụ- nông nghiệp. Thị xã Ninh Hoà, có nhiều địa danh nổi tiếng như chiến khu Đá Bàn, Hòn Hèo, căn cứ địa Cần Vương Hòn Khói -Đầm Vân, xã anh hùng Ninh An, Ninh Thọ; trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh giá trị đã, đang và sẽ được khai thác phục vụ quốc kế dân sinh như Dốc Lết, Ba Hồ, hồ chứa nước Đá Bàn, suối nước nóng Trường Xuân, thác Bay (Ea – Crông- ru)…
Khoáng sản chủ yếu của thị xã Ninh Hòa là sét cao lanh, sét gạch ngói, sét Laterit, đá hoa cương phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng tại địa phương, có mỏ nước khoáng Trường Xuân trữ lượng lớn đang chuẩn bị đưa vào khai thác. Quy hoạch Khu kinh tế Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 51/2005/QĐ-TTg ngày 11/3/2005, theo đó hướng phát triển chủ yếu của phía Nam vịnh Vân Phong gồm Khu đô thị với các khu Dốc Lết, Ninh Thủy, Ninh Phước gắn kết với thị trấn Ninh Hòa (nay là phường Ninh Hiệp), Hòn Hèo, đầm Nha Phu phát triển thành đô thị loại III, với tính chất là đô thị du lịch, dịch vụ, giáo dục, đào tạo chuyên nghiệp, dạy nghề và công nghiệp; và phát triển Khu công nghiệp tại Ninh Thủy, kết hợp với khu công nghiệp đóng tàu.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
2.1.1.3. Đặc điểm về xã hội
- Dân số:
Số liệu điều tra dân số tại thị xã Ninh Hòa đến ngày 1/4/2019 cho thấy, dân số thực tế trên địa bàn thị xã Ninh Hòa là 230.049 người. Trong đó, có 50,14% là nam giới, 98,13% là người Kinh. Trong số 62.710 hộ trên địa bàn, có 98,99% hộ có nhà ở, diện tích nhà ở bình quân 22m2/người, 1% số hộ có nhà ở đơn sơ, 540 hộ có nhà ở dưới 6m2/người.
- Nguồn nhân lực:
Thị xã Ninh Hòa có nguồn nhân lực trong độ tuổi lao dộng dồi dào do quy mô dân số lớn, phần lớn nhân lực trong độ tuổi từ 18 đến 40 đã qua giáo dục THPT, THCS có điều kiện để tổ chức đào tạo, dạy nghề và thu hút thị trường lao động. Hiện tại cơ cấu lao động phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật còn chưa hợp lý, tỷ lệ lao động có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học còn thấp và lao động có tay nghề lao động cao còn thiếu.
2.1.1.4. Đánh giá về đặc điểm tình hình thị xã Ninh Hòa tác động đến thực hiện pháp luật hòa giải tại Tòa án nhân dân Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Thị xã Ninh Hòa có những điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội như trên tạo ra nền tảng thuận lợi những đồng thời cũng có những thách thức nhất định trong thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND.
Với điều kiện tự nhiên đa dạng phong phú, kinh tế của thị xã đang có những biến động sâu sắc. Điều này vừa là xuất phát điểm thuận lợi nhưng cũng hàm chứa những khó khăn cho thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND. Tương lai khi các khu kinh tế và khu công nghiệp được triển khai thực hiện sẽ tạo ra cơ hội để thị xã Ninh Hòa thu hút đầu tư phát triển nhanh hơn, mở ra cơ hội phát triển mới, tạo ra bước đột phá về tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khi nguồn lao động lớn, dân cư tập trung đông rất dễ phát sinh những tranh chấp, những vụ việc tòa án phải giải quyết sẽ nhiều hơn, đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức trong TAND thị xã Ninh Hòa phải đủ phẩm chất và năng lực thực hiện hòa giải nhằm giảm thiểu bất đồng trong nhân dân, tăng tính đoàn kết và ổn định trật tự xã hội trên địa bàn thị xã.
Trong những năm gần đây kinh tế địa phương có nhiều chuyển biến rõ nét, giá trị quyền sử dụng đất ở nơi đây không ngừng tăng lên, đời sống nhân dân cao hơn điều này cũng kéo theo các mâu thuẫn tranh chấp về đất đai trong nhân dân cũng tăng lên, tính chất mâu thuẫn trong tranh chấp cũng phức tạp và đa dạng. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ nhiều khía cạnh, trong đó việc gia tăng nhanh chóng về giá trị đất, quyền sử dụng đất là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh tranh chấp. Trong số đó phát sinh tranh chấp về hợp đồng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất chiếm, tranh chấp về tài sản chung, thừa kế , và các tranh chấp khác về đất đai. Từ đó vấn đề bức thiết đặt ra cho TAND thị xã Ninh Hòa là vấn đề hòa giải, tổ chức hòa giải có hiệu quả các mâu thuẫn tranh chấp đất đai phát sinh.
Thị xã Ninh Hòa có địa bàn rộng lớn, có vùng núi phía tây địa hình phức tạp, cơ cấu hạ tầng yếu kém, cũng có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, có nền văn hóa đa dạng về ngôn ngữ, phong tục, tập quán… kèm theo đó là sự phát triển kinh tế – xã hội, cũng làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc giải quyết các tranh chấp. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, giữ gìn khối đại đoàn kết các dân tộc, giữ gìn sự ổn định chính trị xã hội và cũng là những yếu tố (nhất là những phong tục tập quán lạc hậu) đã tác động đến việc thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND.
Tình hình trên đã tác động trực tiếp đến việc thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa, đặt ra những thách thức không nhỏ trong việc thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa. Đòi hỏi TAND thị xã Ninh Hòa phải có những nổ lực lớn trong triển khai thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND.
2.1.2. Nhu cầu hòa giải tại Tòa án nhân dân ở địa phương Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Trong những năm qua, các tranh chấp khởi kiện tại TAND thị xã Ninh Hòa vẫn không ngừng tăng lên, những tranh chấp xảy ra phổ biến, rất phức tạp và hầu hết phải đưa ra giải quyết bằng con đường Tòa án và rất khó để hạn chế tranh chấp.
Năm 2017, tổng số các loại vụ, việc TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thụ lý: 1311 vụ, việc. Năm 2018, tổng số các loại vụ, việc TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thụ lý: 1261 vụ, việc. Năm 2019, tổng số các loại vụ, việc TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thụ lý: 1064 vụ, việc. Năm 2019, tổng số các loại vụ, việc TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thụ lý: 1064 vụ, việc. Có thể thấy các tranh chấp nhu cầu giải quyết các tranh chấp của người dân rất lớn. Nếu không giải quyết triệt để vụ, việc tranh chấp thì dễ dẫn tới các đương sự sẽ khởi kiện lại. Việc tăng cường hòa giải trong các vụ án sẽ giải quyết kịp thời rất nhiều vụ việc mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không để các mâu thuẫn nhỏ phát triển thành phức tạp, từ đó góp phần giảm bớt các tranh chấp của đương sự và cũng giảm được áp lực đối với TAND thị xã Ninh Hòa.
Mặc dù Tòa án nhân dân đã đề ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác Tòa án, trong đó, các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hòa giải trong giải quyết các vụ án là một trong những nội dung trọng tâm. Nhưng số lượng vụ, việc được hòa giải thành rất khiêm tốn các vụ án phải đưa ra xét xử chiếm tỷ lệ cao, khiến các tranh chấp không giải quyết được triệt để và tỷ lệ án hủy tăng cao (năm 2019, tổng số các loại vụ, việc TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thụ lý: 1064 vụ, việc; đã giải quyết: 994 vụ, việc, đạt tỷ lệ 93,4%; số vụ án bị hủy, sửa: 6,5 vụ, chiếm tỷ lệ 0,69%; tổng số các loại vụ, việc hòa giải thành: 293 vụ, việc, chỉ chiếm tỷ lệ 33,2%).
2.1.3. Tổ chức trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Để đổi mới, tăng cường công tác hòa giải, đối thoại trong giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính, ngày 1/10/2018, TAND tối cao đã ban hành Kế hoạch số 301/KH-TANDTC về việc triển khai thực hiện thí điểm đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại một số TAND, trong đó có TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, triển khai từ thời gian (ngày 01/01/2018 đến ngày 31/10/2019). Theo đó, các Trung tâm hòa giải, đối thoại tại 7 đơn vị thuộc TAND hai cấp tỉnh Khánh Hòa sẽ tiến hành hòa giải các tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động; đối thoại các khiếu kiện hành chính trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết, trừ những tranh chấp, khiếu kiện theo quy định của BLTTDS, LTTHC không được hòa giải, đối thoại.
Trong quá trình hòa giải, đối thoại, các Hòa giải viên, Đối thoại viên là những người trung lập, khách quan để hỗ trợ các bên thỏa thuận, đối thoại để giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính. Những lời khai của người tham gia hòa giải, đối thoại không được sử dụng làm chứng cứ trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật; trường hợp các bên yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành, đối thoại thành thì quyết định này có hiệu lực thi hành như bản án, quyết định của Tòa án. Chi phí, bồi dưỡng cho Hòa giải viên, Đối thoại viên do Tòa án chi trả, các bên không phải chi trả cho Hòa giải viên, Đối thoại viên bất cứ khoản thù lao nào.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Trung tâm hòa giải, đối thoại tại TAND thị xã Ninh Hòa có 04 Hòa giải viên. Vai trò của Trung tâm hòa giải, đối thoại tại TAND thị xã Ninh Hòa là “giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp mà không phải mở phiên tòa xét xử; kết quả hòa giải thành, đối thoại thành phần lớn được các bên tự nguyện thi hành; vụ việc không phải trải qua thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm theo quy định của các luật tố tụng; tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức của các bên liên quan và Nhà nước; hạn chế tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc trong dư luận”. Qua đó cho thấy, nếu hòa giải, đối thoại thành có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ giúp các bên hiểu nhau hơn, giữ gìn được các mối quan hệ tốt đẹp vốn có mà còn tránh việc khiếu kiện giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính tại Tòa án. Đồng thời, giảm tải cho công tác xét xử của Tòa án trong bối cảnh số lượng biên chế của Tòa án còn hạn chế, trong khi số lượng các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính ngày càng tăng, tính chất các vụ việc ngày càng phức tạp. Đây cũng là cơ sở thực tiễn để xây dựng Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
2.1.4. Nguồn lực thực hiện hoạt động hòa giải của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa hiện có 28 công chức, người lao động; trong đó có 14 Thẩm phán (trong đó có 01 thẩm phán trung cấp), 09 Thư ký; trong đó, có 18 công chức nữ và 04 nhân viên hợp đồng làm công tác phục vụ, lái xe và bảo vệ, có 02 công chức có trình độ thạc sỹ. Cơ cấu tổ chức của TAND thị xã Ninh Hòa gồm 01 Chánh án, 01 Phó Chánh án và 01 Phó chánh văn phòng (Số liệu thống kê năm 2019). Số lượng vụ án rất lớn, mỗi năm đều trên 1000 vụ, việc các loại nhưng số lượng Thẩm phán thiếu so với số lượng án phải giải quyết, các Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay đều chịu áp lực công việc rất lớn, số lượng vụ, việc phải giải quyết trên mỗi Thẩm phán nên không đáp ứng được việc thực hiện pháp luật về hòa giải một cách khoa học và hiệu quả. Việc hòa giải sẽ trở nên rất hình thức, thực tế tại TAND thị xã Ninh Hòa tỷ lệ hòa giải thành các vụ án khá thấp, các vụ án đa phần đều phải qua thủ tục xét xử sơ thẩm, khiến hiệu quả của việc giải quyết các vụ án chưa được toàn diện nhất.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tại TAND thị xã Ninh Hòa đều đáp ứng được yêu cầu và quy định của ngành tòa án, nhưng hiện nay hầu hết đều chưa được đào tạo kỹ năng hòa giải tại tòa án, hầu hết đều dùng kinh nghiệm thực tế của bản thân để thực hiện hòa giải. Để đảm bảo hơn nữa việc hòa giải tại tòa án có chất lượng thì đòi hỏi phải có đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án phải được đào tạo kỹ năng hòa giải bài bản là rất quan trọng có ý nghĩa quyết định. Thực tế trong quá trình giải quyết các vụ án có tính chất các vụ án ngày càng phức tạp, do vậy đòi hỏi người tiến hành tố tụng khi giải quyết các tranh chấp ngoài việc phải có nghiệp vụ chuyên sâu, nắm vững các quy định của pháp luật, thì kỹ năng hòa giải đóng vai trò hết sức quan trọng, góp phần vào việc giải quyết các vụ án một cách triệt để.
Chế độ dành cho cán bộ, công chức, chính sách tiền lương dành cho công chức tại TAND thị xã Ninh Hòa nói riêng và hệ thống TAND trên cả nước nói chung rất nhiều bất cập, lương thấp không đáp ứng được đời sống của cán bộ, công chức ngành Tòa án. Công tác chi tiền cho việc hòa giải các vụ án khá thấp, mỗi vụ án hòa giải thành thì Thẩm phán trực tiếp hòa giải được chi số tiền 90.000đ/vụ và thư ký được chi số tiền 35.000đ/ vụ. Các cán bộ, công chức không thể tập trung cống hiến toàn tâm cho công việc khi họ, làm cho chất lượng, hiệu quả thực hiện hòa giải không đáp ứng yêu cầu.
Về cơ sở vật chất phục vụ cho thực hiện việc hòa giải và giải quyết vụ án tại TAND thị xã Ninh Hòa còn chưa đáp ứng yêu cầu, phòng làm việc dành cho Thẩm phán còn thiếu, có một số Thẩm phán mới bổ nhiệm phải làm việc chung với thư ký, diện tích phòng làm việc rất nhỏ, không đáp ứng để hòa giải các vụ án có nhiều đương sự, ảnh hưởng đến chất lượng phiên hòa giải. TAND thị xã Ninh Hòa đã được lắp đặt mô hình phòng xử án xét xử dân sự mới nhằm đảm bảo bảo các bên đương sự cảm thấy thoải mái và nhẹ nhàng hơn đối với các vấn đề tranh chấp, góp phần tăng số lượng những vụ việc hòa giải thành tại phiên tòa, đây là bước tiến bộ của cải cách tư pháp. Còn thiếu việc xây dựng và trang bị thêm mô hình phòng hòa giải và Hội trường xét xử đặc biệt đối với các vụ án Hôn nhân gia đình và đối với người chưa thành niên theo đặc thù của loại vụ, việc.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
2.2.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hòa giải trong các vụ việc thuận tình ly hôn, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự và theo yêu cầu của một bên
Trong những năm qua, cụ thể từ năm 2015 đến năm 2019,Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa đã thụ lý và hòa giải các vụ án:
Bảng 2.1 Kết quả thụ lý và kết quả hòa giải các vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thời gian 05 năm (2015 – 2019)
Bảng 2.2 Biểu đồ thể hiện về số lượng án thụ lý và kết quả hòa giải vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thời gian 05 năm (2015 – 2019)
Qua bảng số liệu thống kê từ năm 2015 cho đến năm 2019 cho thấy số lượng vụ án mà TAND thị xã Ninh Hòa thụ lý qua các năm rất lớn, đều trên 1000 vụ án. Tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa lượng án phải thụ lý và giải quyết là rất lớn, trong đó chủ yếu là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn; tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tín dụng… Để giải quyết số lượng lớn án như vậy đòi hỏi phải có sự cố gắng rất lớn của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán, Thư ký của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa. Trong quá trình thụ lý và giải quyết các vụ án phần lớn đều đúng thời hạn luật định, các bản án, quyết định được ban hành đúng theo trình tự quy định của pháp luật, không có đơn thư khiếu nại, tố cáo về hành vi thực hiện việc hòa giải của Tòa án.
Số lượng vụ án được hòa giải thành mà TAND thị xã Ninh Hòa giải quyết chiếm tỉ lệ thấp so với số lượng vụ án thụ lý và giải quyết. Cụ thể năm 2019 TAND thị xã Ninh Hoà thụ lý là 1064 vụ, giải quyết 994 vụ nhưng chỉ hòa giải thành được 293 vụ. Tỷ lệ giải quyết đối với các vụ án đã thụ lý tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa thời gian qua rất cao thời gian qua luôn đạt tỷ lệ trên 90%. Để đạt được kết quả trên là sự cố gắng không ngừng vươn lên của đội ngũ Thẩm phán và Thư ký TAND thị xã Ninh Hòa.
Kết quả hòa giải thành trong tố tụng có hiệu lực ngay và được thi hành thông qua thủ tục thi hành án nhưng việc hòa giải được tiến hành trong quá trình tố tụng nên lời trình bày, lời khai của đương sự là chứng cứ. Khi đương sự cung cấp thông tin sẽ thận trọng, dè dặt, do vậy, Thẩm phán sẽ khó tìm hiểu được nguyên nhân mâu thuẫn, mối quan hệ giữa các đương sự (quan hệ tình cảm, quan hệ làng xóm, láng giềng, quan hệ hợp tác kinh doanh,…) và những thông tin cần thiết khác, từ đó hạn chế hiệu quả của việc hòa giải.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Trước phiên hòa giải, Thẩm phán đã nắm được các tình tiết về vụ án, có thể đã bước đầu định hình đường lối giải quyết vụ án nên có khả năng áp đặt suy nghĩ và nhận định của mình lên các đương sự trong quá trình hòa giải. Theo quy định của pháp luật tố tụng thì việc hòa giải được tiến hành sau khi tiếp cận, công khai chứng cứ dẫn đến chậm tiến trình hòa giải. Mặt khác, việc hòa giải phải được tiến hành công khai, tại trụ sở Tòa án, trong giờ hành chính mà không thể linh hoạt về thời gian, địa điểm để phù hợp với các bên hay bảo đảm sự bảo mật thông tin của các bên, do vậy việc hòa giải không nhanh chóng, thuận lợi. Hòa giải, đối thoại trong tố tụng do Thẩm phán tiến hành nên phải chấp hành quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán, khó linh hoạt để tiếp xúc, đưa ra những giải thích, lời khuyên giúp các bên tranh chấp cảm thông, chia sẻ, nhượng bộ và hòa giải.
Về phía đương sự, nhiều trường hợp bị đơn có thái độ bất hợp tác, gây khó khăn cho Tòa án như: từ chối nhận giấy triệu tập, cố tình không đến phiên hòa giải; không có mặt tại địa chỉ tạm trú nên Tòa án không tống đạt được giấy báo phiên hòa giải; đương sự không thoả thuận được với nhau đã bỏ về mà không ký tên vào biên bản hòa giải…Vụ án dân sự liên quan đến yêu cầu hủy quyết định cá biệt của UBND nhưng đại diện của UBND thường xin vắng mặt hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng nhưng người được ủy quyền không nắm rõ nội dung vụ án nên hòa giải không đạt kết quả. Nhiều quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động phức tạp khó giải quyết dứt điểm toàn bộ các tranh chấp ngay mà phải trải qua quá trình thu thập chứng cứ, xác minh, thẩm định và phải tiến hành hòa giải trong nhiều phiên nên đã ảnh hưởng đến thời gian hòa giải, giải quyết vụ án. Nhiều vụ án thời gian Tòa án thu thập chứng cứ và thẩm định trước khi tiến hành mở phiên họp hòa giải khá dài dẫn đến mâu thuẫn giữa các đương sự ngày càng trầm trọng cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả hòa giải không thành. Nhiều đương sự do ngại đi lại nhiều lần, tốn kém chi phí, thời gian nên đề nghị không hòa giải, dẫn đến vụ án không tiến hành hòa giải được.Trong vụ án có nhiều đương sự được Tòa án triệu tập tham gia hòa giải nhưng nhiều đương sự vắng mặt mà không ủy quyền cho người đại diện dẫn tới Tòa án phải mở phiên họp nhiều lần mà vẫn không tiến hành hòa giải được.
Về cơ sở vật chất, cơ sở vật chất của TAND thị xã Ninh Hòa còn hạn chế (thiếu phòng hòa giải thân thiện, số lượng án hôn nhân và gia đình TAND thị xã Ninh Hòa chiếm số lượng lớn); phải tổ chức hòa giải tại phòng nghiên cứu hồ sơ của Hội thẩm nhân dân, phòng họp của cơ quan…Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Về các quy định của BLTTDS, Bộ luật không quy định rõ trường hợp đương sự không có mặt tại phiên hòa giải lần đầu thì trong thời hạn bao lâu Tòa án sẽ tổ chức phiên hòa giải tiếp theo? Số lần hòa giải tối đa là bao nhiêu lần? Bộ luật cũng chưa quy định rõ trường hợp ngay sau khi nộp đơn khởi kiện, đương sự có đề nghị không tiến hành hòa giải thì Tòa án có tiến hành các thủ tục thông báo phiên hòa giải như các vụ án thông thường hay không? Bộ luật Tố tụng dân sự chưa quy định cụ thể về tối đa số lần tổ chức phiên hòa giải; không ít trường hợp, các đương sự lợi dụng sự vắng mặt để trì hoãn việc giải quyết vụ án. Thời gian tổ chức buổi hòa giải không nhất thiết phải sau 15 ngày kể từ ngày thụ lý (trừ trường hợp các bên có yêu cầu tổ chức hòa giải sớm), như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Một số quy định này làm giảm tính linh hoạt, đơn giản của thủ tục hòa giải trong việc triệu tập thành phần tham gia phiên hòa giải. Việc công nhận kết quả hòa giải ngoài tố tụng, đây là chế định mới được quy định tại Chương XXXIII của BLTTDS 2015. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có trường hợp nào đề nghị Tòa án công nhận.
Đồng thời, BLTTDS chưa có những quy định riêng về hòa giải đối với một số tranh chấp đặc thù như tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thừa kế, đất đai, lao động, kinh doanh, thương mại,… Việc pháp luật không có những quy định riêng về hòa giải đối với những tranh chấp có tính đặc thù này đã làm hạn chế hiệu quả của công tác hòa giải đối với mỗi loại tranh chấp đó tại TAND.
Qua thực tế thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa trong những năm gần đây cho thấy, hiện nay cơ chế hòa giải, đối thoại trong tố tụng. Bên cạnh những kết quả đạt được, các cơ chế này có một số hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính ngày càng tăng về số lượng và tính chất phức tạp.
2.2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về hòa giải tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động hòa giải thí điểm của Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án thị xã Ninh Hòa thụ lý và hòa giải các vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thời gian từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/10/2019.
Các Hòa giải viên, Đối thoại viên nhanh chóng tiếp thu quy trình, quy định về hòa giải, đối thoại theo hướng dẫn của TAND tối cao, tiếp thu kinh nghiệm của các đồng chí Thẩm phán. Do đó, việc triển khai thí điểm tại thị xã Ninh Hòa đã được tổ chức thành công và thu được những kết quả nổi bật. Qua 10 tháng triển khai thực hiện thí điểm, Trung tâm hòa giải, đối thoại tại TAND thị xã Ninh Hòa đã nhận 1.115 đơn khởi kiện. Số vụ việc người khởi kiện, người yêu cầu, đương sự không đồng ý hòa giải, đối thoại tại Trung tâm 135 vụ việc. Tổng số đơn thụ lý của Trung tâm: 980 vụ việc. Tổng số vụ việc Trung tâm đã giải quyết: 980 vụ việc. Số vụ không hòa giải, đối thoại được (do đương sự không đến Trung tâm hòa giải): 506 vụ việc. Số vụ được hòa giải, đối thoại tại Trung tâm hòa giải: 527 vụ việc. Số vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành: 409 vụ việc. Số vụ việc hòa giải không thành, đối thoại không thành: 30 vụ việc. Tỷ lệ % các vụ việc đã giải quyết trên tổng số đơn thụ lý của Trung tâm: 100%. Tỷ lệ % kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trên tổng số vụ việc được hòa giải, đối thoại tại Trung tâm hòa giải: 77,6%. Tỷ lệ % hòa giải thành của từng loại vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động và tỷ lệ đối thoại thành các vụ việc hành chính trên tổng số vụ việc đã đã thụ lý của từng loại vụ việc cụ thể như sau: dân sự: 69,5%; hôn nhân gia đình: 78,5%; kinh doanh thương mại, lao động: 0%, hành chính: 0%.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Qua thực tiễn triển khai thí điểm công tác hòa giải, đối thoại, TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa cũng nghiên cứu tìm hiểu đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng đối thoại các vụ án giải quyết tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Đánh giá mặt tích cực của Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án:
Thông qua thực tiễn thực hiện thí điểm Trung tâm hòa giải, đối thoại tại TAND thị xã Ninh Hòa, có thể nhận thấy mô hình Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án có những điểm tiến bộ, ưu việt hơn so với việc hòa giải, đối thoại trong tố tụng như sau:
Thứ nhất, hòa giải, đối thoại tại Trung tâm được tiến hành tại thời điểm “tiền tố tụng”, do đó tại thời điểm này, các bên tranh chấp chưa bắt đầu thực hiện các hoạt động tố tụng, đồng thời sự kiện pháp lý ghi nhận việc thụ lý vụ án chưa được thực hiện, điều đó tạo tâm lý thoải mái hơn cho các chủ thể, đặc biệt với bên bị khởi kiện. Thực tiễn chứng minh khi mâu thuẫn đạt đến đỉnh điểm, mà các bên không thể tự mình ngồi lại với nhau thì mới dẫn đến việc khởi kiện ra Tòa; đồng thời, tâm lý nặng nề của người khởi kiện, người bị kiện là đã khởi kiện ra Tòa thì để Tòa án giải quyết, đây chính là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc hòa giải, đối thoại vụ án.
Thứ hai, chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại là những người có kinh nghiệm hòa giải, đối thoại: Khác biệt lớn nhất giữa Hòa giải viên, Đối thoại viên tại Trung tâm hòa giải, đối thoại so với Thẩm phán chính là nhiệm vụ, quyền hạn của họ. Nhiệm vụ chính của Thẩm phán là giải quyết vụ án; để giải quyết vụ án, Thẩm phán phải tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục luật định trong đó có việc hòa giải, đối thoại; như vậy hòa giải, đối thoại ở đây chỉ là một thủ tục tố tụng được tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử. Đối với Hòa giải viên, Đối thoại viên, nhiệm vụ là hướng tới sự đồng thuận của các bên; do đó hoạt động duy nhất của các Hòa giải viên, Đối thoại viên chính là việc hòa giải, đối thoại; đây cũng là kết quả cuối cùng thể hiện qua biên bản hòa giải, đối thoại thành hay không thành. Chất lượng hòa giải, đối thoại được tiến hành bởi chủ thể kiêm nhiệm chắc chắn không thể bằng so với chủ thể chuyên trách, đó là quy luật tất yếu được thực tiễn chứng minh.
2.3. Đánh giá chung về thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
2.3.1. Ưu điểm và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
2.3.2.1 Những ưu điểm
- Các văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện hòa giải:
Trong BLTTDS 2015, chế định hòa giải đã được hoàn thiện trên cơ sở kế thừa các quy định về hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự trước đây, pháp điển hóa thành chuẩn mực chung điều chỉnh các quan hệ pháp luật tố tụng phát sinh trong quá trình hòa giải các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Việc hoàn thiện chế định về hòa giải trong BLTTDS tiếp tục khẳng định ý nghĩa quan trọng của hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, đánh dấu bước phát triển mới của chế định này trong giai đoạn hiện nay, thể hiện:
Những vụ án dân sự không được hòa giải, những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự, trừ những trường hợp không được hòa giải được không tiến hành hòa giải được. Quy định này góp phần rất tích cực giúp giải quyết vụ án được nhanh chóng, thuận tiện và chính xác. Vì trong thực tế, có nhiều trường hợp, tuy loại việc pháp luật quy định cần hòa giải nhưng các bên đương sự không thể tham gia được phần hòa giải vì cố tình trốn tránh hay có lý do chính đáng, cũng không có khả năng tham gia hòa giải, nếu pháp luật không quy định về những trường hợp này, việc giải quyết vụ án sẽ vướng mắc, kéo dài và khó giải quyết.
Thành phần phiên hòa giải: phiên hòa giải quy định trong BLTTDS 2015 đầy đủ và hợp lý. Ngoài các bên đương sự Bộ luật đã quy định cụ thể về việc tham gia của người đại diện hợp pháp trong hòa giải. Người đại diện của đương sự có đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định của pháp luật, do đó, họ có quyền tham gia hòa giải. Quy định này xác định chính xác địa vị pháp lý của người đại diện, mang tính thống nhất với các quy định về người đại diện của những phần khác. Ngoài ra, Bộ luật đã quy định cụ thể về sự tham gia của những người tiến hành tố tụng cần có mặt cũng như vai trò cụ thể của họ tại phiên hòa giải. Điều này vừa góp phần thúc đẩy tiến trình giải quyết vụ án được nhanh chóng, vừa xác định rõ trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Thủ tục Hòa giải: việc tiến hành một phiên hòa giải được BLTTDS 2015 quy định khá chi tiết và mang tính khả thi, quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải. Nguyên tắc là những tư tưởng mang tính chỉ đạo thực hiện. Việc hòa giải phải được tiến hành tuân thủ theo những nguyên tắc do pháp luật quy định, đảm bảo phát huy hết giá trị đích thực và của hoạt động hòa giải trong tố tụng dân sự. Đó là những nguyên tắc: tôn trọng sự tự thỏa thuận của đương sự, nội dung thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của pháp luật; trái đạo đức xã hội. Thủ tục hòa giải được quy định chi tiết từ công việc thông báo của Thẩm phán về phiên hòa giải, nội dung cụ thể của biên bản hòa giải, đến việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự cũng như hiệu lực của quyết định này.
- Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức TAND: Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đã được TAND tối cao, tòa án nhân dân tỉnh quan tâm, tổ chức để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vũ, kỹ năng hòa giải. Công tác đào tạo bồi dưỡng được tổ chức thường xuyên nhất là các chuyên đề tập huấn trực tuyến hàng tháng của TAND tối cao quy định. Qua đó giúp các cán bộ, công chức TAND thị xã Ninh Hòa có sự trao đổi về pháp luật, cũng như thống nhất pháp luật trong hệ thống TAND.
- Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo: Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo được TAND thị xã Ninh Hòa quan tâm và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Kịp thời giải quyết các khiếu nại tố cáo liên quan đến việc giải quyết các vụ, việc tại tòa án, trong có có khiếu nại về hành vi hòa giải, thực hiện hòa giải (trong năm 2018, TAND thị xã Ninh Hòa đã nhận được 08 đơn khiếu nại và đã giải quyết 08 đơn, đạt tỉ lệ 100%, đúng theo quy định của pháp luật).
- Công tác tống kết, sơ kết và thi đua khen thưởng: Công tác này được thực hiện thường xuyên và thường kỳ để đánh giá tổng kết và rút kinh nghiệm giải quyết các vụ án của TAND, phần tạo động lực thi đua cho các cán bộ, công chức cũng như tuyên dương những cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ. Công việc này được tiến hành chu đáo và dần vào nề nếp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
2.3.2.1. Nguyên nhân
Một là, Nhận thức được tầm quan trọng của công tác hòa giải trong việc giải quyết các vụ, việc tại TAND, TAND các cấp đều chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về thực hiện pháp luật về hòa giải từ những vướng mắt trong thực tiễn.
Hai là, Quan hệ xã hội luôn vận động, các tranh chấp mới phát sinh, có nhiều quan hệ xã hội chưa được pháp luật điều chỉnh, hằng năm việc tổng kết đánh giá và rút kinh nghiệm góp phần tạo sự thống nhất và rút kinh nghiệm chung cho TAND các cấp trong tỉnh Khánh Hòa và có những đề xuất để TAND tối cao sớm có việc ban hành các văn bản điều chỉnh hợp lý.
Ba là, Sự quan tâm, tạo điều kiện của lãnh đạo TAND các cấp với sự nỗ lực của các cán bộ, công chức tại TAND thị xã Ninh Hòa góp phần tạo động lực to lớn trong việc hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, cũng là góp phần thực hiện mục tiêu chung của ngành tòa án.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
2.3.2.1. Những hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên thì việc thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa vẫn còn một số hạn chế nhất định. Những hạn chế đó được thể hiện chủ yếu trong quá trình tham gia tố tụng và giải quyết vụ án.
Quy định của pháp luật về thực hiện pháp luật về hòa giải còn chưa cụ thể. Trong trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt: Theo nội dung điều luật, Chủ thể được xác định là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Thực tiễn áp dụng trường hợp trên gặp nhiều khó khăn, việc áp dụng không thống nhất bởi trong chính nội dung điều luật đã ẩn chứa những quy định mang tính định tính, được hiểu theo nhiều cách khác nhau và không có sự thống nhất giữa các điều luật quy định cùng nội dung.
Về phía nguyên đơn là người khởi kiện, trong quá trình thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều khi nguyên đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, gây khó khăn, không hợp tác với Tòa án trong quá trình tòa án tiến hành hòa giải vụ án.
Về phía bị đơn, trong nhiều trường hợp, Tòa án đã giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị đơn nhưng bị đơn cố tình không thực hiện, lẩn tránh không hợp tác, gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Thực tế nhiều vụ án bị đơn không hợp tác; không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án; không đưa ra ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không có mặt khi tham gia tố tụng, hòa giải gây cản trở và chống đối quá trình làm việc tại Tòa án nên dẫn đến một số vụ án không tiến hành hòa giải được.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Thực tiễn tại TAND thị xã Ninh Hòa vẫn còn nhiều vụ án mà Tòa án đã giải quyết áp dụng không đúng pháp luật, đưa thiếu người vào tham gia tố tụng dẫn đến quyết định công nhận thỏa thuận bị hủy, sửa ảnh hưởng đến việc giải quyết lại vụ án, nhiều trường hợp các bên không còn thiện chí hòa giải. Tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì quyền trình bày của nguyên đơn, bị đơn chưa được đảm bảo đôi khi chỉ mang tính hình thức. Việc trình bày giúp người tiến hành tố tụng đánh giá chứng cứ, thông việc trình bày của các đương sự sẽ làm rõ bản chất của vụ án hơn. Đương sự sẽ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trên cơ sở các chứng cứ và lời trình bày được đánh giá khách quan, rõ ràng tại phiên hòa giải. Tuy nhiên, việc trình bày chưa thực chất và chưa hiệu quả, chưa thực sự đem lại hiệu quả đúng như tinh thần của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bên cạnh đó, cần phải xem xét đến kỹ năng hòa giải của Thẩm phán còn hạn chế, việc các đương sự công kích còn xảy ra.
Thẩm phán gặp phải những hạn chế nhất định về quyền hạn, kỹ năng; không ít Thẩm phán chưa chú trọng đúng mức đến công tác hòa giải; một số quy định về trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm trong hòa giải cứng nhắc, không linh hoạt… dẫn đến số lượng các vụ án phải xét xử chiếm tỷ lệ cao. Nhiều mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải tại TAND chưa được phát hiện hoặc được phát hiện nhưng chưa được hòa giải, hòa giải không kịp thời, hòa giải không thành, dẫn đến khiếu kiện kéo dài.
2.3.2.2 Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Một là, Nhận thức của những người tiến hành tố tụng, của đương sự, những người tham gia tố tụng về vai trò của thực hiện pháp luật về hòa giải còn hạn chế, niềm tin của một số người dân vào pháp luật, công lý, vào thực thi pháp luật của TAND còn thấp.
Hai là, hệ thống pháp luật và các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải thật sự đảm bảo, thiếu đồng bộ và chồng chéo nhau nên gây khó khăn cho quá trình áp dụng để giải quyết vụ án. Xã hội luôn vận động và phát triển nên trong quá trình giải quyết vụ án phát sinh nhiều mối quan hệ pháp luật nhưng không có các văn bản pháp luật chuyên ngành cụ thể phù hợp để áp dụng vào giải quyết dẫn đến áp dụng pháp luật chung chung không đảm bảo thực hiện pháp luật về hòa giải trong các vụ án. Đồng thời chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên dẫn đến việc cùng một điều luật nhưng nhận thức và cách hiểu của mỗi người trực tiếp giải quyết vụ án lại khác nhau.
Ba là, hiện nay công tác quản lý, sử dụng cán bộ chưa phù hợp, còn xảy ra tình trạng làm việc chưa thật sự có trách nhiệm, chưa thường xuyên kiểm tra, uốn nắn những cán bộ có tư tưởng lệch lạc. Vì vậy, cần phải thường xuyên mở các lớp tập huấn kỹ năng hòa giải, chuyên sâu nghiệp vụ hòa giải để cán bộ tòa án kịp thời nắm bắt, cập nhật các loại văn bản hướng dẫn nâng cao nghiệp vụ. Để đáp ứng với sự phát triển của xã hội hiện nay và đảm bảo thực hiện pháp luật về hòa giải tốt thì cần phải đẩy mạnh cải cách tư pháp, đổi mới một cách toàn diện và khoa học phương pháp hòa giải các vụ án.
Bốn là, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tòa án trong quá trình giải quyết, hòa giải, xét xử các vụ án chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu công việc hiện nay. Công việc giải quyết vụ án ngày càng tăng, áp lực ngày càng nhiều trong khi biên chế ngày càng giảm gây lên nhiều áp lực cho cán bộ tòa khi giải quyết. Tòa án cấp huyện hiện nay chưa có Tòa chuyên trách nên các Thẩm phán cấp huyện đều phải cùng lúc xét xử hầu hết các loại án nên dẫn đến khả năng chuyên sâu và cập nhật văn bản mới chưa đáp ứng được đòi hỏi của công việc ngày càng cao. Nhiều cán bộ tòa án không được đào tạo chính quy mà chuyển từ cơ quan khác sang nên phải đào tạo theo học các lớp chuyên môn nghiệp vụ trong thời gian ngắn vừa học vừa làm để phục vụ công việc dẫn đến trình độ của các Thẩm phán còn bộc lộ nhiều hạn chế trong việc hòa giải các vụ án.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Năm là, Hệ thống pháp luật về không ổn định, thường xuyên sửa đổi, bổ sung và việc ban hành các văn bản hướng dẫn còn chậm, còn thiếu nên chưa đáp ứng được nhu cầu giải quyết án tại tòa án nên dẫn đến ảnh hưởng đến việc hỏa giải các vụ án.
Sáu là, một số Thẩm phán kinh nghiệm còn yếu nên dẫn đến việc chủ quan, đánh giá chứng cứ yếu, thiếu thận trọng dẫn đến sai sót và quyết định, bản án bị hủy, sửa. Chính vì vậy, để đảm bảo thực hiện pháp luật về hòa giải thật tốt đòi hỏi đội ngũ Thẩm phán, cán bộ Tòa án phải không ngừng học hỏi, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, thường xuyên danh thời gian cập nhật thông tin, văn bản hướng dẫn nghiệp vụ để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn hiện nay. Cần có cơ chế đào tạo, tuyển dụng hợp lý và phù hợp với từng địa phương nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ kế cận giỏi về chuyên môn nghiệp vụ.
Bảy là, về cơ sở vật chất, kĩ thuật của tòa án để phục vụ cho công tác hòa giải trong giải quyết các vụ án còn nghèo nàn, hạn chế và thiếu nhiều. Trụ sở làm việc TAND thị xã Ninh Hòa đã xuống cấp nhưng không được đầu tư kinh phí để sửa chữa, hệ thống máy tính, máy in, máy phô tô đã cũ, hết hạn sử dụng nhưng vẫn tận dụng để làm việc vì không có kinh phí thay mới dẫn đến hiệu quả công việc giải quyết án chưa đảm bảo. Chế độ về tiền lương và các chế độ đãi ngộ đối với ngành Tòa án chưa thực sự được quan tâm dẫn đến ảnh tới cuộc sống của cán bộ công chức ngành Tòa án. Số lượng án giải quyết của Thẩm phán ở thị xã cao gấp hai đến ba lần so với số lượng án của Thẩm phán ở cấp huyện và chịu nhiều áp lực do khối lượng công việc nhiều nên không thể tránh được những thiếu sót và không thật sự toàn tâm cho công tác hòa giải.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
Tiểu kết chương 2
Từ việc nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải của TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa trong những năm qua đã đạt những kết quả nhất định góp phần đảm bảo thực hiện pháp luật về hòa giải, tác dụng tốt trong đồi sống xã hội và phát triển có những bước tiến đáng kể so với các huyện lân cận.
Tuy vậy, kết quả hòa giải tại Tòa án vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của người dân và xã hội; chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc xây dựng cơ chế chính sách thực hiện pháp luật về hòa giải một cách phù hợp với những đặc thù của địa phương, các vụ án tăng dần qua từng năm nhưng tỷ lệ hòa giải thành trong giải quyết các vụ án chưa cao, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn. TAND thị xã Ninh Hòa đã phát hiện còn có những thiếu sót trong việc đảm bảo thực hiện pháp luật về hòa giải trong thực tiễn giải quyết các vụ án, nên dẫn đến một số vụ án còn kéo dài, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Để đảm bảo thực hiện pháp luật và hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa hiện nay cần có những giải pháp thích hợp để củng cố kiện toàn tổ chức và hoạt động về hòa giải. Trước hết cần phải phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại và hạn chế trong thực hiện pháp luật về hòa giải trong thời gian qua. Nhận thức sâu sắc và đúng đắn tầm quan trọng của việc thực hiện pháp luật và hòa giải, tích cực trong việc đề ra những giải pháp thực hiện phù hợp nhằm góp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
