Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hòa giải từ thực tiễn Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khi tranh chấp xảy ra, các bên thường cố gắng tự thương lượng, dàn xếp với nhau hoặc tìm đến người thứ ba để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột, chấm dứt các tranh chấp, bất hòa. Trường hợp các bên tranh chấp không tự thương lượng, hòa giải được với nhau về việc giải quyết tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết, thì tranh chấp sẽ được Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta luôn phải chống chọi với thiên tai khắc nghiệt và giặc ngoại xâm nên ý thức rất sâu sắc về sức mạnh đoàn kết cộng đồng. Người Việt Nam sống có tình có lý, và chính tính cộng đồng đã hình thành đạo lý sống thiên về tình hơn và “quan hệ” là yếu tố quan trọng có tính quyết định để tồn tại được trong một cộng đồng. Bên cạnh đó, xuất phát từ bản chất của quan hệ dân sự được thiết lập trên cơ sở tự do, tự nguyện thương lượng thỏa thuận giữa các chủ thể, nên khi có mâu thuẫn, tranh chấp, xích mích xảy ra, mặc dù có nhiều phương thức giải quyết khác nhau nhưng hòa giải vẫn được xem là phương án tối ưu được lựa chọn. Ngày nay, dưới tác động của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, đời sống kinh tế – xã hội của người Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, nhưng tinh thần đoàn kết cũng như lối sống trọng tình đã tồn tại ngàn đời nay vẫn được bảo tồn, phát huy và đây chính là căn nguyên, là mảnh đất cho hòa giải ngày càng phát huy ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc. Từ thực tiễn hoạt động hòa giải tại Tòa án, hòa giải ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, trong việc bảo đảm trật tự an toàn tại cộng đồng dân cư.

Hòa giải được pháp luật quy định là một nguyên tắc cơ bản của luật Tố tụng dân sự. Các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam xác định hòa giải vừa là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tố tụng dân sự, vừa là thủ tục tố tụng mà Tòa án, các đương sự có trách nhiệm tiến hành khi giải quyết vụ việc dân sự. Thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới. Bởi theo nguyên tắc “việc dân sự cốt ở đôi bên”, thì pháp luật luôn có xu hướng tạo điều kiện để các bên đương sự tự thương lượng, thỏa thuận giải quyết tranh chấp của mình. Hòa giải tranh chấp tại Tòa án là một trong những chế định nhằm thực hiện nguyên tắc này. Ở Việt Nam, trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, các bên vẫn có quyền quyết định và tự định đoạt việc giải quyết tranh chấp không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Nhưng khi quan hệ xã hội ngày càng phúc tạp thì đòi hỏi việc thực hiện pháp luật về hòa giải rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên đương sự. Thực tế cho thấy, việc bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải là hoàn toàn cần thiết.

Trong những năm gần đây, cùng với những thay đổi về kinh tế – xã hội, quan hệ giữa con người với con người trong đó có quan hệ dân sự cũng bị tác động mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê của Toà án các cấp, trong cả nước hàng năm số lượng các vụ án từ ngày 01/10/2018 đến ngày 30/9/2019, các Tòa án trên cả nước đã thụ lý 625.979 vụ việc. Số lượng vụ việc quá lớn như vậy đòi hỏi Nhà nước cần tác động bằng những chính sách pháp luật tương ứng nhằm khuyến khích hoặc ràng buộc các bên đương sự giải quyết tranh chấp qua con đường hòa giải để giải quyết tốt các tranh chấp và góp phần đảm bảo trật tự xã hội. Vì vậy, thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án là một vấn đề cơ bản cần được quan tâm, nghiên cứu chuyên sâu hơn và đưa ra nhiều biện pháp giải quyết hiệu quả, nhằm thúc đẩy để đảm bảo hơn nữa việc giải quyết xung đột, chấm dứt các tranh chấp, bất hòa và tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của các bên đương sự. Vì vậy, nay tác giả lựa chọn đề tài Thực hiện pháp luật về hòa giải từ thực tiễn Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài, trong đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu điển hình như:

Đề tài cấp Bộ năm 2010 do GS.TS Võ Khánh Vinh làm chủ nhiệm Quyền con người ở Việt Nam từ nhận thức lý luận đến hành động thực tiễn. Với cách tiếp cận tổng hợp, hệ thống, đa ngành, liên ngành, quyền con người, thực hiện, bảo đảm và bảo vệ quyền con người đã được nhận thức và tổ chức thực hiện như một trong những giá trị tổng hợp phổ biến trong sự tồn tại, phát triển của từng quốc gia, từng đất nước và của toàn nhân loại nói chung. Việc tìm hiểu tổng thể những vấn đề nói trên sẽ cung cấp những luận cứ mang tính lý luận và thực tiễn những vấn đề của hợp tác quốc tế và khu vực trong việc ghi nhận và bảo đảm quyền con người. Đồng thời, đề tài cũng giúp cho chúng ta thấy được mối quan hệ rất bền chặt giữa quyền con người và bảo đảm pháp lý về quyền con người trong quá trình vận động, phát triển của các yếu tố đó.

Chuyên khảo “Giáo dục quyền con người, những vấn đề lý luận và thực tiễn” của GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên (Viện khoa học xã hội Việt Nam, năm 2010); Sách chuyên khảo “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người” (Nxb Khoa học Xã hội, 2011) do GS.TS Võ Khánh vinh chủ biên. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người ở nước ta. Cuốn sách giúp 9 chúng ta nhận thức về cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người; các yếu tố tác động đến cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người nói chung; của Liên hợp quốc và một số khu vực trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Mặc dù mức độ hoàn thiện và hiệu quả của cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người có sự khác nhau giữa các khu vực và giữa các quốc gia, nhưng có một xu hướng chung là các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người ngày càng được quan tâm xây dựng, hoàn thiện để bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của chúng trong quá trình thực hiện quyền con người.

Quyền con người ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp bảo đảm phát triển, của tác giả TS. Phạm Ngọc Anh – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh bài viết được đăng tải trên tạp chí bảo hiểm xã hội số 8/2007. Tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu quyền con người, tầm quan trọng bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xá hội… và cơ chế bảo đảm phát triển cơ bản quyền con người.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Bảo đảm quyền con người trong tố tụng dân sự – Phân tích từ các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự, bài viết của tác giả Hà Thị Thúy giảng viên khoa Luật tại trường Đại học Vinh gửi đăng Bài Hội thảo năm 2017. Tác giả chủ chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về quyền con người và bảo đảm quyền con người theo Bộ luật Tố tụng dân sự và luật pháp,các hiệp định, pháp luật quốc tế, những nguyên tắc chung của pháp luật và những nguồn luật quốc tế khác.

Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, tác giả Nguyễn Công Bình, Đại học luật Hà Nội, năm 2006. Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm quyền của đương sự trên phương diện lý luận và thực tiễn và quyền của đương sự theo quy định của BLTTDS.

Hòa giải vụ việc dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, tác giả Lê Thị Bích, Đại học luật Hà Nội, năm 2013. Luận văn thạc sĩ tác giả chủ yếu làm rõ những quy định pháp luật dân sự áp dụng khi hòa giải vụ việc dân sự.

Qua thực tế các đề tài đã nghiên cứu cho thấy, các công trình nghiên cứu đã đề cập, đưa ra khái niệm và phân tích trên cơ sở lý luận có rất nhiều cách tiếp cận ở các góc độ khác nhau. Tuy nhiên chỉ có một số ít công trình đi sâu nghiên cứu, tổng hợp các vấn đề lý luận về hòa giải nói chung, chứ chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ về thực hiện pháp luật về hòa giải, cũng như ở TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nói riêng.

3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn hướng tới mục tiêu xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm việc thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nói riêng, tại một số địa bàn có điều kiện tương đồng nói chung.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

  • Làm rõ những vấn đề lý luận và pháp lý về thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện.
  • Phân tích các yếu tố đặc thù có ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa trong thời gian qua, trên cơ sở đó xác định những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó.
  • Đề xuất giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nói riêng, tại một số địa bàn có điều kiện tương đồng nói chung.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Các quan điểm khoa học liên quan đến thực hiện pháp luật về hoà giải tại toà án nhân dân cấp huyện.
  • Các quy định pháp luật về hoà giải tại toà án nhân dân cấp huyện.
  • Thực tiễn thực hiện pháp luật về hoà giải tại TAND thị xã Ninh Hoà, tỉnh
  • Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về hoà giải tại toà án nhân dân cấp huyện ở một số địa phương khác tại Việt Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

  • Phạm vi nghiên cứu về không gian: Hoạt động thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
  • Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Từ năm 2015 đến năm 2019 (05 năm).
  • Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, so sánh, thống kê và tổng hợp.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống và làm sáng tỏ thêm những khía cạnh lý luận và pháp lý về thực hiện pháp luật về hoà giải tại toà án nhân dân cấp huyện.

Kết quả nghiên cứu luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với hoạt động áp dụng pháp luật tại TAND thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hoà nói riêng, các toà án nhân dân cấp huyện nói chung. Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có giá trị tham khảo trong hoạt động nghiên cứu, đào tạo lĩnh vực khoa học pháp lý.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cơ cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện.

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về hòa giải từ thực tiễn Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện

Xã hội loài người là tổng thể các mối quan hệ giữa con người và con người. Những mối quan hệ đó được hình thành và phát triển theo xu hướng đa dạng, đa chiều và phức tạp, tạo thành những mắt xích trong mạng lưới xã hội liên kết các cá nhân lại với nhau. Khi cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội, nhằm đạt được những lợi ích của riêng mình đã làm xuất hiện những mâu thuẫn, tranh chấp. Để duy trì ổn định, trật tự xã hội, củng cố các mối quan hệ trong xã hội thì phải tìm các biện pháp hòa giải các tranh chấp đó. Một trong những biện pháp giải quyết các tranh chấp đó là hòa giải.

Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp. Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải. Theo từ điển Black’s Law Dictionary định nghĩa hòa giải (conciliation) là “sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải, hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ” [58, tr. 152].

Từ điển pháp lý của Rothenberg định nghĩa hòa giải là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít” [59, tr. 410].

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý Bộ tư pháp, thì hòa giải là “việc thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa”.

Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về hòa giải nhưng những khái niệm đó đều cho thấy hòa giải có ba yếu tố: thứ nhất, phải có tranh chấp giữa hai bên; thứ hai, có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc nhượng bộ của mỗi bên; thứ ba, trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập cho ý kiến tư vấn đồng thời công nhận thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp. Nếu không có sự tham gia của bên thứ ba thì quá trình này không được gọi là hòa giải mà là thương lượng giữa các bên.

Theo quy định của BLTTDS năm 2015, thì hòa giải vừa là nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự, vừa là chế định quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự, là phương thức giải quyết vụ án bằng chính sự thỏa thuận, thương lượng của đương sự mà mang lại hiệu quả thi hành án cao và góp phần giảm kinh phí giải quyết tranh chấp cho cả nhà nước và các đương sự nếu việc hòa giải thành công.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Trong việc giải quyết vụ án dân sự, Tòa án đóng vai trò là trung gian hòa giải, giúp đỡ các bên đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án. Điều này có nghĩa, “hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án với sự giúp đỡ của Tòa án nhân dân nhằm hướng sự thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự đúng pháp luật và chính sách…”

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hòa giải là một thủ tục đặc trưng và mang tính bắt buộc đối với Tòa án trước khi mở phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án mà pháp luật quy định phải hòa giải”. Khi tiến hành hòa giải, Tòa án thực hiện theo một trình tự và thủ tục nhất định.

Bộ máy nhà nước của mỗi quốc gia có thể được tổ chức khác nhau nhưng về cơ bản chúng có ba bộ phận hợp thành, gồm: hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống cơ quan tư pháp có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau để thực hiện chức năng của nhà nước. Mỗi hệ thống này có cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn xác định để tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước dưới dạng quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trên phương diện tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, tư pháp là một nhánh quyền lực độc lập với quyền lập pháp, quyền hành pháp. Trong hệ thống cơ quan tư pháp, Tòa án có vị trí trung tâm thực hiện chức năng xét xử bảo vệ các giá trị mà xã hội ghi nhận. Ở nước ta, bộ máy nhà nước được tổ chức theo kiểu nhà nước XHCN, nhiệm vụ của nhà nước XHCN là thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Qua đó cho thấy ở Việt Nam quyền tư pháp luôn gắn bó chặt chẽ với quyền lập pháp và hành pháp trong tổng thể của quyền lực nhà nước. Trong khi hoạt động chủ yếu của cơ quan lập pháp là ban hành hiến pháp, pháp luật; của cơ quan hành pháp là tổ chức thực hiện pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trong giới hạn mà pháp luật quy định. Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiện tượng xâm phạm hiến pháp và pháp luật luôn là một nguy cơ trong đời sống xã hội. Để bảo vệ pháp luật, khôi phục trật tự pháp luật bị xâm phạm là một đòi hỏi khách quan của xã hội, từ đó hình thành nên hoạt động bảo vệ pháp luật là nội dung cơ bản của quyền tư pháp. Hoạt động của Tòa án là lĩnh vực thể hiện tập trung của quyền tư pháp. TAND là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

TAND cấp huyện là một bộ phận của TAND. Tòa án được thành lập để nhân danh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thực hiện chức năng xét xử. Tổ chức TAND gồm có: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt TAND cấp tỉnh), TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (gọi tắt TAND cấp huyện), Tòa án quân sự. Như vậy, TAND cấp huyện là một bộ phận của hệ thống TAND thực hiện chức năng xét xử ở phạm vi lãnh thổ cấp huyện. Đây là cấp Tòa án thực hiện xét xử thấp nhất tại địa phương đối với các vụ án được pháp luật quy định.

Pháp luật về hòa giải tại toà án nhân dân cấp huyện là tổng hợp các QPPL do các CQNN có thẩm quyền ban hành theo trình tự, hình thức luật định, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh về việc hòa giải tại TAND cấp huyện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật và được thực hiện trong thực tế cuộc sống.

Như vậy, theo tác giả có thể hiểu: Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập mà cụ thể là TAND cấp huyện, giúp các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội.

1.1.2. Đặc điểm của thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

1.1.2.1. Đặc điểm về bản chất

Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự. Mặc dù thực hiện pháp luật về hòa giải là một hoạt động do Tòa án tiến hành nhưng về bản chất hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự. Chỉ có các đương sự mới có quyền hòa giải với nhau về tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ án, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp. Khi tham gia vào quá trình hòa giải, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết những bất đồng về quyền lợi của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện ý chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của các đương sự đề bị coi là trái pháp luật và không được công nhận.

Mặc dù các đương sự có quyền tự thỏa thuận nhưng thỏa thuận của các đương sự phải trong khuôn khổ pháp luật nên thỏa thuận của các đương sự phải được Tòa án công nhận khi không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.

TAND cấp huyện cần phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong việc hòa giải những vụ việc thuộc thẩm quyền của mình theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc theo các trường hợp khác mà pháp luật quy định để vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; chịu sự điều chỉnh của quy chế, quy định riêng về quy tắc ứng xử, về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của nội bộ hệ thống Tòa án.

1.1.2.2. Đặc điểm về chủ thể Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Tòa án nhân dân cấp huyện là chủ thể trung gian tiến hành hòa giải, có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau. Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự nhưng Tòa án là chủ thể không thể thiếu trong quá trình hòa giải đó. TAND cấp huyện phân công Thẩm phán tham gia vào quá trình hòa giải với vai trò là người tổ chức, xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hòa giải, giải thích pháp luật và nội dung tranh chấp để các đương sự thỏa thuận với nhau. Thẩm phán không can thiệp vào nội dung thỏa thuận của các bên đương sự.

Khi hòa giải, Thẩm phán chủ động giải thích pháp luật liên quan đến quan hệ tranh chấp, động viên, khuyên giải, giúp đỡ họ tháo gỡ những vấn đề vướng mắc trong tâm tư tình cảm của mình. Và kết quả thỏa thuận của các đương sự là do các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của mình và Tòa án không hề tham gia vào hoạt động thỏa thuận đó.

1.1.2.3. Đặc điểm về đối tượng

Tòa án nhân dân cấp huyện hòa giải tất cả các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, tranh chấp về kinh doanh, thương mại, tranh chấp về lao động theo thẩm quyền luật định, trừ những vụ việc pháp luật quy định không được hòa giải hoặc hòa giải không được.

Kết quả của hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự. Các đương sự trong vụ án dân sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp trên tinh thần tự nguyện, trung thực, không bị bất kỳ một sự cưỡng ép hay can thiệp nào khác. Chỉ đương sự mới có quyền quyết định về việc giải quyết quyền và lợi ích của họ trong quá trình hòa giải. Khi các đương sự thảo thuận được với nhau về vấn đề giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành, hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên không thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

1.1.2.4. Cơ sở pháp lý

Tòa án nhân dân cấp huyện tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định của pháp luật. Việc quy định thủ tục hòa giải vụ án nhằm đảm bảo tính khách quan, công bằng, bảo đảm sự bình đẳng của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Điều 10 BLTTDS 2015 quy định, tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật này.

Điều 35 BLTTDS 2015 quy định, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo thủ tục sơ thẩm.

Khoản 1 Điều 205 BLTTDS 2015 quy định trách nhiệm hòa giải của tòa án: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này”.

1.1.2.5. Hình thức thực hiện pháp luật Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện cũng bao gồm các hình thức thực hiện pháp luật truyền thống: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Các hình thức thực hiện pháp luật này có tính đan xen, bao chứa và gắn bó chặt chẽ với nhau, Các chủ thể thông thường phải đồng thời tiến hành thực hiện các quy định pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau, điều này xuất phát từ tính thống nhất của các quy phạm pháp luật: giữa các quy định pháp luật luôn có sự liên hệ, gắn bó, ràng buộc lẫn nhau nên không thực hiện quy định pháp luật này sẽ không thể thực hiện được các quy định pháp luật khác. Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện chủ yếu ở hình thức sử dụng pháp luật (đối với chủ thể là các đương sự) và áp dụng pháp luật (đối với cán bộ, công chức trong TAND cấp huyện).

1.1.3. Vai trò của thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện

1.1.3.1. Vai trò đối với Tòa án

Trong trường hợp hòa giải thành, Tòa án sẽ giảm bớt được nhiều thời gian, công sức cho việc giải quyết vụ án. Đặc biệt nếu hòa giải thành trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Tòa án sẽ không phải mở phiên tòa sơ thẩm và không phải tiến hành các thủ tục xét xử tiếp theo mà nếu hòa giải không thành có thể sẽ phải thực hiện như xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Mặt khác, nếu làm tốt công tác hòa giải thì không chỉ số lượng xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm giảm xuống mà số lượng án ở Tòa án cấp phúc thẩm cũng giảm một cách rõ rệt, hệ quả là hiệu quả xét xử sẽ được nâng cao. Điều này sẽ không chỉ có vai trò về kinh tế mà còn có vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín của cơ quan xét xử nói riêng cũng như cơ quan nhà nước nói chung. Trong trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án cũng có điều kiện nắm vững nội dung tranh chấp, tâm tư, nguyện vọng của đương sự để xác định đường lối xét xử đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ án.

1.1.3.2. Vai trò đối với các đương sự Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Thực hiện pháp luật về hòa giải giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm với nhau, góp phần khôi phục lại tình đoàn kết giữa họ, giúp họ giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi mở, giảm bớt mâu thuẫn, ngăn ngừa tội phạm có nguồn gốc từ tranh chấp dân sự phát sinh. Trường hợp không hòa giải thành thì quá trình hòa giải cũng giúp cho các đương sự ngồi lại với nhau, hiểu rõ hơn nguyên nhân tranh chấp, được bày tỏ ý chí của mình. Từ đó, họ có thể phần nào tìm được tiếng nói chung, hạn chế bớt mâu thuẫn.

Thực hiện pháp luật về hòa giải góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các đương sự. Thông qua việc giải thích pháp luật của Tòa án trong phiên hòa giải, các đương sự sẽ phần nào hiểu được quy định của pháp luật về vấn đề mà họ đang tranh chấp. Từ đó, các bên có thể hiểu và tự quyết định về việc giải quyết tranh chấp, không trái với quy định của pháp luật.

1.1.3.3.  Vai trò đối với trật tự xã hội

Thông qua thực hiện pháp luật về hòa giải nhiều tranh chấp đã được giải quyết mà không cần phải mở phiên tòa xét xử. Hoặc nếu hòa giải không thành thì cũng giúp các bên đương sự hiểu rõ hơn về mâu thuẫn, giúp kiềm chế mâu thuẫn. Như vậy, hòa giải góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng xã hội, làm cho mối quan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh mà bằng giáo dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội. Mặt khác, hòa giải làm cho sự hiểu biết chính sách pháp luật của các đương sự nói riêng và của người dân nói chung được nâng cao. Qua đó, góp phần tăng cường ý thức pháp luật trong nhân dân.

1.2. Chủ thể, nội dung, hình thức, thủ tục thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

1.2.1. Chủ thể thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện

Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện do nhiều chủ thể tiến hành với nhiều cách thức khác nhau. Thực hiện pháp luật có thể do chủ thể là cá nhân, tổ chức, pháp nhân,… tiến hành. Có thể bằng hành động hoặc không hành động. Bởi lẽ, quy phạm pháp luật có nhiều loại khác nhau tương ứng với mỗi loại quy phạm pháp luật đó thì chủ thể thực hiện pháp luật sẽ xác định được xử sự cụ thể của mình, sao cho phù hợp với các quy định của pháp luật.

1.2.1.1. Về chủ thể tiến hành hoà giải

  • Chủ thể tiến hành hoà giải tại TAND cấp huyện:

Điều 209 của BLTTDS 2015 đã quy định thành phần phiên họp kiểm tra việc nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Theo quy định tại điểm a và b khoản 1 điều này, thì những người tiến hành hoà giải bao gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải; Thư ký Toà án ghi biên bản hòa giải.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải. Theo quy định tại khoản 7 Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phân tiến hành phiên hoà giải, ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự theo quy định của Bộ luật này.

Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải. Thư ký Toà án phải ghi biên bản hoà giải theo đúng quy định tại điều 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và phải chịu trách nhiệm về việc ghi biên bản hoà giải của mình.

  • Chủ thể tiến hành hoà giải tại Trung tâm hòa giải, đối thoại của Tòa án nhân dân:

Chủ thể tiến hành hoà giải tại Trung tâm hòa giải, đối thoại của Tòa án nhân dân Bao gồm: Hòa giải viên được phân công và thư ký trung tâm hòa giải và đối thoại tại TAND. Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại chỉ tham gia phiên họp để xác nhận sự kiện các bên tự nguyện hòa giải, đối thoại.

Hòa giải viên có thể bao gồm: Thẩm phán, Kiểm sát viên, những người giữ chức danh tư pháp khác đã nghỉ hưu; Luật sư, chuyên gia, nhà chuyên môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác; những người có uy tín cao trong xã hội. Những người này được bổ nhiệm hoặc bổ nhiệm lại tham gia công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

1.2.1.2. Về chủ thể tham gia hoà giải:Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Theo quy định tại điểm c, d, đ và e khoản 1 và khoản 2 điều 209 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì những người tham gia phiên hoà giải gồm:

Thứ nhất, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự (theo khoản 1 Điều 68 của BLTTDS 2015, đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).

Thứ hai, đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động. Trường hợp, đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hoà giải thì phải có ý kiến bằng văn bản.

Thứ ba, người bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có).

Thứ tư, người phiên dịch (nếu có).

Thứ năm, trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia phiên hoà giải; đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, Thẩm phán có thể yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp; nếu họ vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành phiên hòa giải.

1.2.2. Nguyên tắc và nội dung thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

1.2.2.1. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện

Thứ nhất, khi giải quyết bất cứ vụ án nào thì những người tiến hành tố tụng cũng phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và 207 BLTTDS 2015. Việc hòa giải được tiến hành theo nguyên tắc được quy định tại Điều 205: Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình, đồng thời nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”. Như vậy nguyên tắc tiến hành hòa giải cũng phù hợp với nguyên tắc hòa giải được quy định tại Điều 12 của BLDS 2015: Trong quan hệ dân sự việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích, không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự.

Thứ hai, các vụ án không được hòa giải và các vụ án không tiến hành hòa giải được, không phải bất cứ vụ án dân sự nào Tòa án cũng tiến hành hòa giải được. Theo quy định tại Điều 206 của BLTTDS 2015 những vụ án dân sự không được hòa giải gồm: Một là, yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tai sản của Nhà nước. Hai là, những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Thứ ba, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký tòa án ghi biên bản hòa giải, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người phiên dịch trong trường hợp đương sự không biết Tiếng Việt. Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hòa giải và việc tiến hành hòa giải đó không ảnh hưởng đến quyền nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải theo quy định tại Điều 209 BLTTDS 2015.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Thứ tư, khi tiến hành hòa giải Thẩm phán phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án quy định tại điểm a khoản 4 Điều 210 BLTTDS 2015.

Thứ năm, Thủ tục phiên hòa giải các vụ án Dân sự nói chung được tiến hành trong thời gian chuẩn bị xét xử, tức là sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án và trước khi đưa vụ án ra xét xử.

Khi giải quyết vụ án, Thẩm phán phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc cơ bản: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2.2.2. Nội dung thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện

  • Hoà giải khi hai bên đương sự thuận tình:

Sau khi tiến hành lấy ý kiến của các đương sự theo quy định, các bên đương sự đều có ý kiến thống nhất về việc giải quyết vụ án hoặc có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành hòa giải vi đã thống nhất nội dung giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm chuẩn bị mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để giải quyết việc yêu cầu của các đương sự.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình,phân tích hậu quả pháp lý của việc hoà giải thành để họ tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Thẩm phán trủ trì phiên hoà giải xác định những vấn đề các bên đã thống nhất. Trước khi kết thúc phiên hoà giải, Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải cần hỏi đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay không; nếu có thì hỏi họ có hoàn toàn tự nguyện hay không, có bị ép buộc hay không và xem xét thoả thuận đó có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không và thông báo cho họ biết hậu quả của việc Toà án ra quyết định công nhận thoả thuận đó, thì các đương sự không được kháng cáo, Viện kiểm sát không được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; quyết định của Toà án công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật.

Thẩm phán và thư ký phiên hòa giải tiến hành lập biên bản hòa giải và biên bản hòa giải thành. Biên bản hòa giải thành được tất cả các đương sự ký tên và được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải theo quy định tại Điều 211 của BLTTDS 2015 và đúng hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Hết thời hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán mới được ra quyết định công nhận thoả thuận của đương sự. Do đó, việc xác định chính xác thời hạn đó có ý nghĩa pháp lý quan trọng. Mọi trường hợp ra quyết định sớm hơn thời hạn này đều xâm phạm đến quyền được thay đổi ý kiến của đương sự và được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (theo quy định tại Điều 212 BLTTDS 2015)

  • Hoà giải khi có yêu cầu của một bên: Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Sau khi tiến hành lấy ý kiến của nguyên đơn theo quy định, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến không thống nhất đối với yêu cầu của nguyên đơn hoặc đã được Tòa án nhân dân cấp huyện triệu tập tống đạt nhiều lần nhưng không đến Tòa án. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm chuẩn bị mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tiến hành tống đạt, niêm yết đúng quy định.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nếu các đương sự có mặt thì tiến hành hòa giải theo quy định. Các đương sự trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hoà giải. Thẩm phán trủ trì phiên hoà giải xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất. Trước khi kết thúc phiên hoà giải, Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải cần hỏi đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án hay không; nếu có thì hỏi họ có hoàn toàn tự nguyện hay không, có bị ép buộc hay không và xem xét thoả thuận đó có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không và thông báo cho họ biết hậu quả của việc Toà án ra quyết định công nhận thoả thuận đó, thì các đương sự không được kháng cáo, Viện kiểm sát không được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; quyết định của Toà án công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án có hiệu lực pháp luật.

Trong trường hợp các bên không thống nhất được với nhau thì Thẩm phán, thư ký lập biên bản hòa giải với nội dung ghi rõ những nội dung thống nhất và chưa thống nhất và cho tất cả các đương sự ký tên vào biên bản hòa giải đã lập. Trong trường hợp bị đơn vắng mặt thì Thẩm phán, thư ký lập biên bản hòa giải không được và cho các đương sự có mặt ký tên vào biên bản hòa giải không được. Sau đó thẩm phán ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và tiến hành xét xử theo quy định.

Tại phiên toà sơ thẩm: Tuy về mặt thủ tục không phải là phiên hoà giải, nhưng tại phiên toà HĐXX không những tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện quyền tự thoả thuận giải quyết vụ án của họ mà còn chủ động tác động định hướng một cách tích cực cho các bên đương sự khi họ có thiện chí giải quyết vụ án bằng thương lượng, thoả thuận. Nếu tại phiên toà các đương sự tự thoả thuận được thì biên bản phiên toà cũng phải ghi rõ và đầy đủ các nội dung mà các bên đã thoả thuận tại phòng xử án. HĐXX có thẩm quyền ra quyết định công nhận theo quy định tại Điều 246 BLTTDS 2015.

1.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Hình thức (cách thức) cụ thể thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND. Trong các hình thức thực hiện pháp luật về hòa giải, áp dụng pháp luật về hòa giải được xem là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất. Phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền.

Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện cũng có những nét chung của các hình thức thực hiện pháp luật, đó là:

  • Tuân theo pháp luật về hòa giải là hình thức thực hiện pháp luật về hòa giải, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện trong khuôn khổ, không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm. Ví dụ: Điều 35 BLTTDS 2015 quy định thẩm quyền của TAND cấp huyện; Điều 48 BLTTDS 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán. Như vậy đối với TAND cấp huyện và Thẩm phán phải tuân theo những quy định trên là đã tuân theo pháp luật về hòa giải.
  • Chấp hành pháp luật về hòa giải là một hình thức thực hiện pháp luật về hòa giải, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực. Ví dụ: Điều 91 BLTTDS 2015 quy định nghĩa vụ chứng minh của các đường sự. Đương sự có trách nhiệm thi hành những quy định này một cách tích cực là đã chấp hành pháp luật về hòa giải.
  • Sử dụng pháp luật về hòa giải là một hình thức thực hiện pháp luật về hòa giải, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện thực hiện quyền chủ thể của mình. Ví dụ: Điều 70, Điều 71, Điều 72 BLTTDS 2015 quy định quyền của đương sự, nguyên đơn, bị đơn, các quyền này được quy định cụ thể để đảm bảo cho các đương sự thực hiện quyền của của mình khi tham gia tố tụng tại tòa án.
  • Áp dụng pháp luật về hòa giải là một hình thức thực hiện pháp luật về hòa giải, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể. Ví dụ: Điều 212 BLTTDS 2015 quy định về việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Khi các đương sự đã thống nhất nội dung giải quyết vụ án thì Tòa án phải có trách nhiệm áp dụng pháp luật theo những nội dung quy định này để ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Các giai đoạn áp dụng pháp luật tại TAND cấp huyện: Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

  • Xác định vụ việc: giai đoạn khởi đầu có tính chất bản lề. Trước hết cần xác định đúng nội dung, đối tượng, bản chất pháp lý của tranh chấp khởi kiện đó. Nếu cần áp dụng pháp luật thì làm rõ chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết sự việc đó. Tiếp theo chuẩn bị về mặt tổ chức, nhân sự, kỹ thuật…; xác định thuận lợi khó khăn, nhìn chung hướng đến sự thuận lợi, tiết kiệm chi phí, thời gian, đạt hiệu quả cao nhất.
  • Lựa chọn quy phạm áp dụng: về nguyên tắc, phải chọn quy phạm pháp luật còn hiệu lực và sát thực với nội dung sự kiện. Tiếp đó phân tích nội dung quy phạm đã lựa chọn. Trên thực tế, việc lựa chọn quy phạm có thể xảy ra các khả năng như sau:
  • Có một quy phạm pháp luật đáp ứng đủ yêu cầu thì áp dụng quy phạm pháp luật đó.
  • Có hai hay nhiều quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ đó nhưng cách giải quyết khác nhau thì trường hợp xung đột pháp luật sẽ lựa chọn quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn và được ban hành sau.
  • Không có quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp luật với sự kiện đó thì áp dụng pháp luật tương tự.
  • Ra văn bản và hình thức văn bản áp dụng: những văn bản do TAND cấp huyện ban hành theo một trình tự, thủ tục, tên gọi luật định, chứa đựng quy tắc xử sự cá biệt, cụ thể và được thực hiện một lần trong đời sống pháp lý.
  • Do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành.
  • Trình tự, thủ tục, hình thức, tên gọi văn bản áp dụng pháp luật được pháp luật quy định.
  • Chứa đựng quy tắc xử sự cá biệt, cụ thể.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
  • Được thực hiện một lần đối với chủ thể có liên quan.
  • Được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp Nhà nước.
  • Tổ chức thực hiện: đây là giai đoạn cuối. Cần tiến hành hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi các quyết định Áp dụng pháp luật với các chủ thể liên quan để đảm bảo hiệu lực của nó trên thực tế.

1.2.4. Trình tự, thủ tục thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện

1.2.4.1. Trình tự, thủ tục thực hiện pháp luật về hòa giải trước phiên tòa

Điều 10 của BLTTDS 2015 quy định “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của bộ luật này”. Các đương sự gồm có: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, tham gia hòa giải do tòa án tiến hành.

Mở phiên hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giúp đương sự có thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết quan hệ tranh chấp. Theo quy định của BLTTDS 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm tổ chức phiên hòa giải theo quy định trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; vụ án không được tiến hành hòa giải (Điều 206 BLTTDS 2015) và những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTDS 2015).Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Pháp luật tố tụng không quy định thời điểm mở phiên hòa giải cụ thể là bao nhiêu ngày kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp khi xét thấy việc xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đầy đủ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ; Thẩm phán sẽ linh hoạt ấn định thời điểm mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sao cho phù hợp. Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án vụ án tranh chấp về dân sự (Điều 26 BLTTDS 2015) và những tranh chấp về hôn nhân gia đình (Điều 28 BLTTDS 2015) thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; Đối với các vụ án Tranh chấp về kinh doanh, thương mại (Điều 30 BLTTDS 2015) và tranh chấp về lao động (Điều 32 BLTTDS 2015) thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Quy định của BLTTDS 2015 là trước khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán sẽ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; quy định này có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm sự minh bạch, công khai để đương sự trong vụ án có cơ hội tiếp cận toàn bộ chứng cứ, tài liệu một cách bình đẳng, trực tiếp từ đó phân tích, nhận định một cách toàn diện, khách quan vụ án, những điểm có lợi, bất lợi đối với mình tạo tiền đề giúp buổi hòa giải đạt được hiệu quả cao nhất. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải được diễn ra nối tiếp nhau.

Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hòa giải: Buổi hòa giải chỉ được tiến hành khi có mặt đầy đủ các đương sự, trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên hòa giải và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các bên đương sự có mặt đều đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải.

Thẩm phán phổ biến cho đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành hoặc không thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Sau khi được nghe Thẩm phán hướng dẫn và giải thích các quy định của pháp luật có liên quan đến vấn đề tranh chấp. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu ý kiến thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Người đại diện theo ủy quyền của đương sự có thể nhân danh người được ủy quyền tham gia, trình bày quan điểm, thỏa thuận về việc giải quyết vụ án trong phạm vi được ủy quyền. Người bảo vệ quyền và lợi hợp hợp pháp cho đương sự có thể phát biểu, đóng góp ý kiến bổ sung cho người mà họ bảo vệ quyền lợi. Trên cơ sở lời trình bày của các bên, Thẩm phán lập biên bản hòa giải xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu đương sự trình bày bổ sung những vấn đề chưa rõ, chưa thống nhất. Biên bản hòa giải phải có đầy đủ chữ ký của những người tham gia phiên họp. Căn cứ vào biên bản hòa giải có thể xảy ra các trường hợp:

Thứ nhất, Hòa giải thành toàn bộ vụ án: khác với việc hòa giải tại phiên tòa, chỉ trong trường hợp, các đương sự thống nhất được với nhau về toàn bộ các vấn đề giải quyết vụ án (kể cả phần án phí, lệ phí Tòa án) thì Tòa án mới lập biên bản hòa giải thành, trong đó nêu rõ tranh chấp và nội dung các đương sự thỏa thuận, hướng giải quyết. Biên bản hòa giải thành được thừa nhận khi có đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS 2015 và phải có đầy đủ chữ ký của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự tham gia hòa giải. Văn bản hòa giải thành này chưa có giá trị pháp lý, chỉ là văn bản ghi nhận sự kiện pháp lý nhưng là cơ sở để Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Trong vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, do tính chất đặc thù của quan hệ tranh chấp này nên mục tiêu hòa giải hướng tới việc đoàn tụ của hai vợ chồng. Trường hợp vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ các vấn đề có tranh chấp trong vụ án thì Tòa án sẽ lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành (Mẫu số 37-DS – Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao), giá trị biên bản này tương tự như biên bản hòa giải thành (Mẫu số 38).

Thứ hai, Hòa giải thành một phần vụ án: trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án hoặc thỏa thuận được về toàn bộ nội dung vụ án nhưng không thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí Tòa án thì thuộc trường hợp hòa giải không thành; trong biên bản hòa Tòa án ghi rõ những nội dung đã được các đương sự thống nhất và những nội dung không thống nhất.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Thứ ba, Hòa giải không thành: trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án phải lập biên bản hòa giải không thành (trong biên bản hòa giải phải ghi đầy đủ những nội dung không thống nhất được theo quy định tại Khoản 3 Điều 211 BLTTDS 2015) và sau đó ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Trường hợp các đương sự thống nhất được với nhau về toàn bộ các vấn đề giải quyết vụ án (kể cả phần án phí) thì Tòa án mới lập biên bản hòa giải thành, trong đó nêu rõ tranh chấp và nội dung các đương sự thỏa thuận, hướng giải quyết. Biên bản hòa giải thành được thừa nhận khi có đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS năm 2015 và phải có đầy đủ chữ ký của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự tham gia hòa giải. Văn bản hòa giải thành này chưa có giá trị pháp lý, chỉ là văn bản ghi nhận sự kiện pháp lý nhưng là cơ sở để Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do sự nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

1.2.4.2. Trình tự, thủ tục thực hiện pháp luật về hòa giải trong phiên xét xử Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Khi không thể giải quyết vụ án bằng thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa,Thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ tranh chấp ra xét xử. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là khả năng giải quyết vụ tranh chấp bằng hòa giải đã bị khép lại. Trong phiên tòa sơ thẩm, HĐXX vẫn tạo điều kiện cho các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Khi các đương sự thống nhất hòa giải tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công nhận kết quả hòa giải thành tại phiên tòa.

Tại phiên tòa sơ thẩm, pháp luật tố tụng không buộc Tòa án phải tiến hành phiên hòa giải theo trình tự, thủ tục quy định tại phiên hòa giải; tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào việc pháp luật tố tụng không có quy định trực tiếp về hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm để cho rằng tại phiên tòa sơ thẩm thì hoạt động hòa giải không diễn ra là không chính xác. Bởi mặc dù pháp luật tố tụng không có quy định trực tiếp về việc hòa giải nhưng việc hòa giải vẫn hiện hữu thông qua việc Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không? (khoản 1 Điều 246 BLTTDS 2015). Việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thực chất là việc Toà án kiểm tra, xác thực lại xem các đương sự có tự hoà giải được với nhau hay không.

Điểm khác biệt của hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm so với trong thời hạn chuẩn bị xét xử chính là sự chủ động, vai trò của Tòa án đối với việc hòa giải của các đương sự. Hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm được coi như việc các đương sự tự chủ động tìm sự đồng nhất trong quan điểm giải quyết vụ án, trong trường hợp này Tòa án chỉ là bên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu sự thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Vì vậy việc hoà giải này do các đương sự tự thoả thuận, việc thỏa thuận này có thể được thực hiện vào bất kỳ thời điểm nào từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến thủ tục bắt đầu phiên tòa. Các đương sự tự mình thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau để giải quyết tranh chấp không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất định về trình tự, thủ tục, hoàn toàn không có sự tham gia của Toà án.

Đến phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa kiểm chứng lại sự thỏa thuận của các đương sự, trong trường hợp các đương sự thỏa thuận về việc giải quyết vụ án thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Việc hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm cần phải lưu ý một số nội dung sau:Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Về thời điểm hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại BLTTDS 2015 thì việc hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không do Chủ tọa phiên tòa hỏi và được thực hiện trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa (Điều 246, mục 2, Chương XIV BLTTDS 2015). Sau khi tiến hành khai mạc phiên tòa và thực hiện các thủ tục theo Điều 239 BLTTDS 2015, Chủ tọa phiên tòa hỏi và giải quyết về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu; Chủ tọa phiên tòa tiến hành hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Việc hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không là hoạt động cuối trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa; việc các đương sự không hòa giải được trong giai đoạn này chính là tiền đề cho hoạt động tiếp theo là tranh tụng tại phiên tòa.

Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì chỉ phải chịu 50% mức án phí. Trường hợp các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó. Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì các bên đương sự vẫn phải chịu án phí như trường hợp xét xử.

Hình thức và hậu quả pháp lý: Tương tự như trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ thẩm thì HĐXX sẽ xem xét và thảo luận tại phòng nghị án; nếu nội dung thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội thì HĐXX ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay mà không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

1.2.4.3. Trình tự, thủ tục thực hiện pháp luật về hòa giải tại trung tâm hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh: Theo quy định tại Điều 1 Dự thảo Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án thể hiện phạm vi hòa giải, đối thoại bao gồm các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Có thể thấy, đây chính là các trường hợp được tiến hành hòa giải trong BLTTDS 2015 và đối thoại trong LTTHC 2015. Theo đó, khi người khởi kiện, người yêu cầu nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đến Tòa án giải quyết thì thủ tục hòa giải, đối thoại tại Tòa án là thủ tục bắt buộc.

Thủ tục hòa giải, đối thoại được tiến hành bởi Tòa án trước khi được Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, hành chính theo thủ tục tố tụng khi đương sự nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính và các bên đương sự đồng ý hòa giải, đối thoại. Bên cạnh đó, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Dự thảo quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, đối thoại thì đương sự có quyền: “Đồng ý hoặc từ chối tham gia hòa giải, đối thoại”. Ngoài ra, khoản 2 Điều 15 của Dự thảo quy định về thủ tục chuyển đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính để hòa giải, đối thoại tại Tòa án: “Tòa án nhận đơn, vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 BLTTDS 2015, khoản 1 Điều 121 LTTHC 2015”. Sau khi Tòa án đã tiến hành nhận đơn, tại khoản 3 Điều 15 Dự thảo quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại xem xét đơn khởi kiện, đơn yêu cầu”.

Sau khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự, Chánh án Tòa án phân công cho Thẩm phán làm công tác hòa giải, đối thoại mà không thông qua thủ tục hỏi đương sự xem đương sự có đồng ý hòa giải, đối thoại không. Bên cạnh đó, cũng tại khoản 4 của Điều này xác định: Thẩm phán được phân công hòa giải, đối thoại xem xét đơn khởi kiện, yêu cầu sau đó sẽ phân công cho Hòa giải viên trong danh sách của Tòa án và sau đó mới thông báo cho các bên liên quan biết. Quy định như trên sẽ mặc nhiên khẳng định công tác hòa giải, đối thoại là một thủ tục bắt buộc tại Tòa án trước khi Tòa án tiến hành giải quyết đơn theo thủ tục tố tụng.

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 1 cũng quy định về nhiệm vụ của hòa giải là hòa giải, đối thoại trên cơ sở tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Như vậy, việc lựa chọn hòa giải, đối thoại trước khi thụ lý vụ việc dân sự bởi Tòa án hay không cũng phải dựa trên tinh thần “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” (nguyên tắc đặc trưng, mang tính kim chỉ nam trong tố tụng dân sự).Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Thứ hai, về địa điểm tiến hành hòa giải, đối thoại: hoạt động hòa giải, đối thoại này được tiến hành tại trụ sở của Tòa án, chịu sự quản lý trực tiếp của Tòa án. Tại Tòa án có văn phòng riêng và cơ sở vật chất bảo đảm hoạt động cho công tác hòa giải, đối thoại mà không làm ảnh hưởng đến công tác tố tụng chung tại Tòa án.

Thứ ba, về đối tượng của hòa giải, đối thoại: Trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính đã quy định những trường hợp trả lại đơn khởi kiện, việc trả lại đơn khởi kiện được tiến hành trước khi có quyết định thụ lý vụ án. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án sẽ tiến hành các bước để giải quyết vụ án đó. Tòa án chỉ tiến hành giải quyết các vụ án dân sự khi đảm bảo điều kiện thụ lý. Đối chiếu với Điều 15 Dự thảo quy định để được tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án khi vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính đảm bảo hai điều kiện: Thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; không thuộc trường hợp không được hòa giải, đối thoại.

Có thể thấy, đối với vụ việc không được hòa giải, đối thoại thì thủ tục hòa giải, đối thoại tiền tố tụng hoặc trong tố tụng đương nhiên sẽ không được tiến hành bởi bất kỳ chủ thể nào. Tuy nhiên, điều kiện “thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án” chưa đủ điều kiện để tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án trước khi Tòa án ra quyết định thụ lý vụ việc đó tại Tòa án.

Thứ tư, cách thức xử lý kết quả hòa giải, đối thoại: Kết quả hòa giải, đối thoại được tiến hành bởi Tòa án theo Dự thảo luật có thể rơi vào hai trường hợp: không thành hoặc thành. Theo quy định tại Điều 26 của Dự thảo, nếu kết quả hòa giải, đối thoại không thành hoặc không tiến hành hòa giải, đối thoại được thì Hòa giải viên chuyển đơn và tài liệu chứng cứ kèm theo cho Tòa án để Tòa án xem xét thụ lý vụ việc theo thủ tục chung của BLTTDS 2015 và đối thoại trong LTTHC 2015.

Trong trường hợp hòa giải, đối thoại thành thì kết quả hòa giải, đối thoại đó được lập thành biên bản sau đó được gửi ngay cho các bên tham gia hòa giải, đối thoại và lưu vào hồ sơ hòa giải, đối thoại. Tại khoản 1 Điều 24 Dự thảo quy định: “Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận kết quả, Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành”. Nếu như trong thời hạn nhất định đó mà không có ai thay đổi ý kiến đã thỏa thuận thì Tòa án mới ra quyết định “Công nhận kết quả hòa giải, đối thoại thành”. Khoản 4 Điều 24 đã chỉ rõ quyết định trên có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, quyết định này sẽ được thi hành theo pháp luật thi hành án dân sự, thi hành án hành.

1.2.4.4. Kỹ năng của Thẩm phán, Hòa giải viên khi thực hiện pháp luật về hòa giải Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

BLTTDS 2015 dành nhiều quy định để điều chỉnh về việc hòa giải, thực tiễn các Thẩm phán TAND Ninh Hòa, các Hòa giải viên không chỉ áp dụng những quy định của pháp luật mà còn áp dụng kỹ năng mềm để giúp cho việc hòa giải đạt hiệu quả tốt nhất.

Thẩm phán, Hòa giải viên là người chủ trì phiên hòa giải, tác động định hướng để các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp. Vì vậy tùy từng thời điểm khác nhau, Thẩm phán, Hòa giải viên phải biết đóng các vai khác nhau trong quá trình hòa giải. Trong đó Thẩm phán, Hòa giải viên có thể là người trung gian, có thể là người điều đình và cũng có thể là người trọng tài. Các vai ấy phải được vận dụng thể hiện mềm dẻo, linh hoạt, chuyển hóa luân phiên tùy thuộc diễn biến của phiên hòa giải.

  • Người trung gian: Thẩm phán, Hòa giải viên luôn giữ chuẩn mực là người không thuộc về một bên và không áp đặt tư duy, cách giải quyết của Thẩm phán, Hòa giải viên để buộc một hoặc cả hai bên đương sự phải nghe theo.
  • Người điều đình: Biết tăng giảm liều lượng căng thẳng hoặc mềm dẻo, duy trì mức độ trung hòa để đạt được mục đích hòa giải.
  • Người trọng tài: Biết lắng nghe cả hai bên, chắt lọc và gợi ý để đi đến thỏa thuận chung.

Tùy theo loại vụ án (dân sự, kinh doanh thương mại, ly hôn…) mà Thẩm phán, Hòa giải viên thể hiện từ phong thái đến phương án hòa giải và xử lý tình huống trong quá trình hòa giải; các kỹ năng chắt lọc thông tin, tổng hợp, ngôn ngữ và tư duy của Thẩm phán, Hòa giải viên khi hòa giải. Để việc hòa giải có hiệu quả,thì Thẩm phán, Hòa giải viên cần có nhiều công tác chuẩn bị khác nhau, trong đó có việc xây dựng kế hoạch hòa giải. Thường việc xây dựng kế hoạch hòa giải được tiến hành qua các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở, vật chất: Bố trí phòng hòa giải riêng biệt, sắp xếp chỗ ngồi của Thẩm phán, Hòa giải viên, Thư ký và đương sự hợp lý, vừa trang nghiêm nhưng cũng vừa cởi mở, tạo được sự thoải mái cho đương sự.

Bước 2. Nghiên cứu nội dung vụ án: Thẩm phán, Hòa giải viên cần có thời gian thích hợp để nghiên cứu kỹ hồ sơ, trang bị cho bản thân những hiểu biết về vụ án, bao gồm các nội dung: Quan hệ pháp luật tranh chấp; nguyên nhân của tranh chấp; quan hệ tình cảm giữa các bên đương sự (nếu có); chứng cứ, tài liệu làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự; những văn bản, điều luật làm cơ sở pháp lý để giải quyết yêu cầu của đương sự; những yếu tố, điều kiện nào tốt nhất, có lợi cho các bên nhằm đạt đến sự thỏa thuận theo kế hoạch hòa giải của Thẩm phán, Hòa giải viên.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Việc nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án sẽ giúp Thẩm phán, Hòa giải viên đưa ra được những phương án về việc giải quyết vụ án, trên cơ sở đó mà có những phương án hòa giải phù hợp với nội dung vụ án và đúng pháp luật. Lập phương án hòa giải và dự liệu phương án xử lý tình huống có khả năng xảy ra giữa các bên đương sự tại phiên hòa giải là một việc hết sức quan trọng mà Thẩm phán, Hòa giải viên phải chuẩn bị. Điều này giúp Thẩm phán, Hòa giải viên chủ động trong phiên hòa giải, đồng thời là cơ sở để Thẩm phán, Hòa giải viên thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Ngoài ra, để chuẩn bị tốt hơn cho phiên hòa giải, Thẩm phán, Hòa giải viên có thể tiếp xúc và tác động theo hướng hòa giải tích cực đối với từng bên nhằm nắm rõ nguyện vọng, ý định của mỗi bên trước khi hòa giải.

Bước 3. Lựa chọn thời điểm hoà giải: Để chọn được thời điểm mở phiên hòa giải thích hợp, đòi hỏi sự nhạy cảm, chủ động và hết sức linh hoạt của Thẩm phán, Hòa giải viên. Thông thường, thời điểm thích hợp nhất để tiến hành phiên hòa giải là thời điểm Thẩm phán, Hòa giải viên xác định đúng và đủ từng yêu cầu của các đương sự trong vụ án, thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ và nắm vững ý chí nguyện vọng, thái độ của đương sự trong vụ án. Khi đó người Thẩm phán, Hòa giải viên có các thông tin cần thiết để xác định nội dung cần hòa giải và định hướng việc hòa giải. Khi đó khả năng hòa giải thành sẽ rất cao. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp phải chờ khi thu thập đủ các dữ kiện trên mới tiến hành hòa giải mà tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể để xác định thời điểm và có thể tổ chức hòa giải ngay sau khi nhận được các ý kiến và yêu cầu của các đương sự.

Ví dụ như trong vụ án ly hôn, sau khi thụ lý Thẩm phán, Hòa giải viên có thể căn cứ vào thái độ hợp tác của các đương sự để lựa chọn thời điểm hòa giải phù hợp: Nếu xét thấy khả năng vợ chồng đoàn tụ rất cao thì bố trí phiên hòa giải ngay. Nếu xét thấy đương sự có thể sẽ suy nghĩ lại và thay đổi ý định ly hôn, thì Thẩm phán, Hòa giải viên không nên mở phiên hòa giải ngay, mà cần tìm hiểu, đánh giá thêm đương sự còn vướng mắc với nhau điểm nào, cái gì có thể hàn gắn họ được. Từ đó, Thẩm phán, Hòa giải viên có những biện pháp thích hợp tác động thêm đến đương sự cho đến khi đánh giá khả năng đương sự có thể đoàn tụ được, thì lúc đó mới tiến hành mở phiên hòa giải.

Kỹ năng giao tiếp trong hòa giải: Kỹ năng giao tiếp là tất cả các yếu tố từ ánh mắt nhìn, cử chỉ hành động, trạng thái tâm lý, ngôn ngữ ứng xử, sự hiểu biết và nắm vững kiến thức chuyên môn của người Thẩm phán, Hòa giải viên … Tất cả những yếu tố đó hợp thành tạo nên những ấn tượng về sự cởi mở dân chủ và niềm tin cho các bên hướng tới sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp. Một số kỹ năng giao tiếp, trong hòa giải mà Thẩm phán, Hòa giải viên cần phải có:

Thư thái, tự tin: Phong cách thư thái và tự tin tác động đến tâm lý đương sự khi Thẩm phán, Hòa giải viên bước vào phòng hòa giải.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Sâu sắc nhưng chia sẻ: Thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về kiến thức xã hội có liên quan đến mâu thuẫn phải hòa giải giữa hai bên nhưng đồng thời cũng thể hiện sự chia sẻ về những tổn thất tâm lý mà mỗi bên đang chịu đựng.

Mềm dẻo, quyết đoán đúng thời điểm tác động: Luôn mềm dẻo trong giao tiếp để lắng nghe những điều mà bình thường họ không thể thổ lộ với người thứ ba. Chọn đúng thời điểm thích hợp để tác động đến suy nghĩ, tâm tư của mỗi bên để định hướng suy nghĩ của họ.

Vô tư và thân thiện: Bộc lộ cử chỉ để các bên có thiện cảm với Thẩm phán, Hòa giải viên, họ nhận thấy được sự vô tư và dễ gần gũi với Thẩm phán, Hòa giải viên khi hòa giải.

Kỹ năng trao đổi tự nhiên nhưng chuyên nghiệp: Kỹ năng này đòi hỏi Thẩm phán, Hòa giải viên phải tự học hỏi thông qua cách nói chuyện với đương sự như một kỹ năng có rèn luyện, khắc phục dần những nhược điểm, thuyết phục đương sự theo chức năng nghề nghiệp. Âm lượng kết hợp với cử chỉ tạo nên thông điệp thu hút đương sự về các thông tin mà mình định truyền đạt. Ví dụ như: âm lượng nhấn mạnh, mềm dẻo, trấn an… Đôi khi cần biết “cương đúng lúc” đối với một bên có thái độ không đúng mực.

Kỹ năng lắng nghe: Lắng nghe là một kỹ năng cần thiết và quan trọng trong phiên hòa giải. Tuy nhiên, kỹ năng lắng nghe cần phải chú ý tới hai thái cực: Một là, đừng để đương sự nói dài vượt quá nội dung cần nghe để chắt lọc thông tin hòa giải. Hai là, không cắt ngang mạch trình bày của đương sự làm cho họ bị ức chế về tâm lý, mất sự tin tưởng đối với Thẩm phán, Hòa giải viên.

Kỹ năng chắt lọc và tổng hợp thông tin: Những thông tin mà Thẩm phán, Hòa giải viên tiếp nhận từ các đương sự phải được chắt lọc và tổng hợp đúng với ý định mà họ đã trình bày. Điều này giúp cho Thẩm phán, Hòa giải viên chủ động lựa chọn phương án giúp họ giải quyết vấn đề mâu thuẫn một cách có hiệu quả, đạt kết quả tích cực về lợi ích chung của các bên và cũng là mục đích của phiên hòa giải.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Tập trung vào mâu thuẫn giữa các bên chứ không quan tâm đến quan hệ tốt xấu của mỗi bên: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là từ một phía hay cả hai phía, mức độ mâu thuẫn. Những điểm chính của nội dung mâu thuẫn, điểm mâu thuẫn nào là quan trọng, nếu tháo gỡ được mâu thuẫn này sẽ là chìa khóa mở ra cánh cửa của sự thỏa thuận giải quyết vụ án.

Tập trung vào lợi ích chung chứ không phải thái độ cư xử, ý kiến của mỗi bên đương sự và đặc biệt Thẩm phán, Hòa giải viên không được dùng những ngôn ngữ tạo sự kích động cho các bên: Khi hòa giải, có thể tùy từng trường hợp mà mỗi đương sự có những cử chỉ, lời nói khác nhau: một bên chịu đựng, một bên lấn át;một bên hung hãn, một bên dịu ngọt; một bên thô lỗ, một bên tế nhị; cả hai bên to tiếng với nhau… nhưng Thẩm phán, Hòa giải viên phải thông qua hành vi của họ để tìm được mục đích, ý định của họ để Thẩm phán, Hòa giải viên đưa họ đến điểm thống nhất chung.

Một số kỹ năng về điều hành và kiểm soát phiên hòa giải:

Thứ nhất, thỏa thuận về các nguyên tắc xem xét, đánh giá phương án giải quyết vấn đề mà hai bên đưa ra: Lựa chọn nguyên tắc chung là dựa trên các giá trị lợi ích chung mà cả hai bên đương sự đều quan tâm đến. Vì vậy, nguyên tắc này sẽ giữ vai trò chủ đạo mà theo đó các phương án giải quyết sẽ xoay quanh nguyên tắc này nhằm đạt được mục đích hòa giải mà người Thẩm phán, Hòa giải viên mong muốn

Thứ hai, tìm phương án để giải quyết mâu thuẫn: Thẩm phán, Hòa giải viên lựa chọn phương án để giải quyết mâu thuẫn trong phiên hòa giải phải nhanh nhạy, lựa chọn phương án chung cho cả hai hoặc tổng hợp từ hai cách lựa chọn của hai bên thành phương án chung hoặc từ phương án của một bên nâng lên thành phương án chung để đạt được mục đích hòa giải.

Thứ ba, kiên trì hòa giải: Trong hòa giải, Thẩm phán, Hòa giải viên cần kiên trì. Thẩm phán, Hòa giải viên phải nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của mỗi bên đương sự để điều đình, thương lượng, tăng giảm lợi ích của mỗi bên nhằm đạt đến sự thống nhất chung. Khi lợi ích của các bên quá khác nhau không tìm được tiếng nói chung, thẩm phán phải kiên trì phân tích, đưa ra các phương án khác nhau để tìm được phương án tốt nhất, tránh tình trạng đưa ra hòa giải chiếu lệ để lập biên bản hòa giải không thành cho đủ thủ tục xét xử.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Thứ tư, kỹ năng kiểm soát hành vi gây hấn hoặc quá khích của các đương sự: Khi các đương sự có hành vi gây hấn hoặc quá khích tại phiên hòa giải, Thẩm phán, Hòa giải viên phải giữ thái độ bình tĩnh, không nóng nảy quát tháo, đạp bàn đập ghế. Thẩm phán, Hòa giải viên nghiêm nghị yêu cầu các đương sự dừng ngay hành động quá khích lại, tỏ thái độ thông cảm cho các đương sự rằng mình có thể hiểu tâm trạng của họ và chỉ cho họ thấy rằng hành động quá khích làm cho vấn đề lại càng phức tạp hơn, phải bình tĩnh trao đổi để tìm ra phương án chung thống nhất.

Thứ năm, kỹ năng duy trì trật tự phiên hòa giải: Tại phiên hòa giải, Thẩm phán, Hòa giải viên phải luôn duy trì thái độ cởi mở, gần gũi với đương sự, nhưng cũng cần phải nghiêm nghị để đảm bảo trật tự của phiên hòa giải. Khi các đương sự ồn ào hoặc tranh luận gay gắt, Thẩm phán, Hòa giải viên phải yêu cầu đương sự trật tự và điều khiển phần trình bày của đương sự, yêu cầu đương sự nào trình bày trước, đương sự nào trình bày sau và yêu cầu những người còn lại phải giữ trật tự để lắng nghe.

Thứ sáu, kỹ năng đặt câu hỏi: Trong phiên hòa giải, Thẩm phán, Hòa giải viên cần có kỹ năng đặt câu hỏi mang tính chất gợi ý để đương sự chia sẽ nhằm giúp cho Thẩm phán tìm hướng hòa giải có hiệu quả. Một số dạng câu:

  • Câu hỏi đánh giá: Loại câu hỏi thường nhằm đánh giá suy nghĩ, thái độ của người trả lời: Ví dụ: “Anh (chị) cho biết tại sao anh (chị) nuôi con lại tốt hơn?” Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa
  • Câu hỏi mở: Người nghe có thể trả lời tùy theo ý của mình. Ví dụ: “Khi ly hôn, anh (chị) ai là người nuôi con?”
  • Câu hỏi gợi ý: Người đưa ra câu hỏi thường gợi ý sự hợp tác của người trả lời. Ví dụ: “Anh (chị) có đồng ý rằng, khi vợ chồng ly hôn, con cái không thể có trọn vẹn tình cảm yêu thương từ bố mẹ?”
  • Câu hỏi yêu cầu: Người hỏi yêu cầu người trả lời hướng đúng vào vấn đề mà người hỏi quan tâm. Ví dụ: “Yêu cầu anh (chị) nói rõ lý do vì sao anh (chị) có thái độ đối với vợ (chồng) của anh (chị) như vậy?”
  • Câu hỏi đóng: Dạng câu hỏi trả lời có hoặc không. Ví dụ: “Như vậy, anh (chị) có thừa nhận là mình có thái độ cư xử quá mức không?”
  • Câu hỏi tác động suy nghĩ: Dạng câu hỏi để người được hỏi tự suy nghĩ. Ví dụ: “Với thời gian hai mươi năm sống hạnh phúc với nhau, anh (chị) suy nghĩ thế nào chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ mà đánh đổ tất cả chuỗi ngày hạnh phúc mà anh chị đã có?”

Hòa giải có thể được tiến hành trong nhiều môi trường khác nhau, thủ tục có thể được thỏa thuận và điều chỉnh cho thích nghi. Tính linh hoạt đem lại lợi thế là các bên được bày tỏ ý kiến xem quá trình nào thì phù hợp với họ; cho phép có những điều chỉnh khi bản chất của tranh chấp và các bên tranh chấp đòi hỏi phải vậy; tránh khả năng về việc có những yêu cầu về thủ tục kỹ thuật quá phức tạp. Ngược lại, phương thức tố tụng Tòa án có một cách thức tổ chức cứng nhắc hơn, có những quy định và thủ tục cố hữu. Có một vài yếu tố mang tính kỹ thuật đòi hỏi rất cao, buộc các bên phải nghiêm chỉnh chấp hành cả trong thời gian trước và đang diễn ra quá trình xét xử.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Một sự khác biệt quan trọng giữa hòa giải và biện pháp tố tụng là những thông tin và chứng cứ nào có thể được sử dụng, sử dụng và kiểm chứng như thế nào. Trong tố tụng, vấn đề này được điều chỉnh theo quy định về chứng cứ và thủ tục để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy. Trong hòa giải thường không có quy định nào về chứng cứ và cũng không có quy định về kiểm chứng cũng như xem xét về mặt thủ tục. Chỉ có những quy định thủ tục mở về phương pháp nói chuyện và giao tiếp. Các bên tranh chấp được phép kể chuyện của họ nếu thấy phù hợp và có thể biểu lộ tình cảm mà không bị bài bác và bị cho là không có ý nghĩa.

Tuy nhiên cũng có những giới hạn đối với tính linh hoạt của hoạt động hòa giải. Mặc dù nó không phải là một quá trình cứng nhắc, nhưng khi các hòa giải viên hướng dẫn, các bên vẫn phải có sự thống nhất cao trong các giai đoạn khác nhau. Các hòa giải viên phải thực hiện một cách có hệ thống qua từng giai đoạn của hoạt động hòa giải theo trình tự cụ thể. Điều này giúp khai thác được từng điểm mạnh trong toàn bộ quá trình hòa giải, vì mỗi một giai đoạn trong quá trình đó đều có cái lý lẽ riêng của nó. Vì thế, mặc dù có sự linh hoạt, nhưng hòa giải mang tính tổ chức hơn so với những cuộc đàm phán có tính chất tùy tiện. Một trong những đóng góp của một hòa giải viên là có thể xác lập trật tự trong những cuộc đàm phán vô tổ chức và thiếu thống nhất.

Tính thân mật trong hòa giải luôn luôn gắn liền với tính linh hoạt của nó. Ở đây, tính thân mật là muốn nói đến không gian và môi trường, phong thái và ngôn ngữ trong hòa giải, hành vi giao tiếp và ứng xử của những người tham gia. Hoạt động này thân mật, hoặc có khả năng thân mật, từ góc độ trang phục ăn mặc, địa điểm tổ chức, không gian và môi trường, ngôn ngữ sử dụng và thời gian tham dự. Hòa giải không có thủ tục nghi lễ và không gian trầm tĩnh huyền bí như của hoạt động xét xử. Hoạt động xét xử tại Tòa án luôn thể hiện tính trang trọng, nghi lễ và tính thứ bậc. Nhưng trong hòa giải, các bên tham gia thường không có cảm nhận về hình thức nghi lễ và tính thứ bậc trong đó.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Giá trị của tính thân mật là ở chỗ nó có thể làm cho quá trình trung gian hòa giải gần gũi và thân thiện với các bên tranh chấp hơn, không tạo ra sự lo lắng và căng thẳng so với hoạt động xét xử tại tòa. Đặc biệt hơn là trong trung gian hòa giải, các bên có thể sử dụng ngôn ngữ thông tục hàng ngày, khác hẳn với những hình thức giao tiếp được phong cách hóa trong môi trường Tòa án. Tuy nhiên, hòa giải viên cũng có thể yêu cầu sử dụng ngôn ngữ trang trọng và các bên tranh chấp cũng có thể khách sáo trong việc sử dụng ngôn từ khi hòa giải. Khác với hệ thống Tòa án, mức độ trang trọng đến đâu thì cũng có thể được các bên thỏa thuận để phù hợp với văn hóa của các bên tranh chấp.

Chính tính thân mật và tính linh hoạt của hòa giải cho phép sự tham gia trực tiếp của các bên vào quá trình này. Sự tiếp cận và tham gia trước hết dành cho các bên tranh chấp. Trong hòa giải, các bên tranh chấp có thể nói chuyện, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình. Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của mình về tranh chấp. Đây là một bước rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp của hòa giải. Hòa giải đem lại cơ hội cho các bên trình bày, giải thích và đưa ra lời xin lỗi với nhau. Sự tham gia trực tiếp của các bên tranh chấp trong hòa giải là rất cần thiết vì nó đề cao được tinh thần trách nhiệm của các bên đối với các lựa chọn của mình. Thông thường, so với việc để những người bên ngoài như thẩm phán hay trọng tài viên đưa ra quyết định thì bản thân các bên thường đưa ra những quyết định có lợi hơn cho mình. Bằng cách này, sự tham gia có thể xóa bỏ cảm giác của các bên khi cho rằng họ phải chịu áp lực để đưa ra một quyết định nào đó. Nếu các bên nhận thấy rằng họ “làm chủ” quá trình, thì họ có thể dễ dàng ủng hộ kết quả hơn. Ngược lại, mô hình tố tụng truyền thống chỉ cho phép sự tham gia rất hạn chế và theo nguyên tắc nhất định đối với những bên có lợi ích hợp pháp liên quan. Nó khuyến khích sự thụ động, sự phụ thuộc và thiếu vắng trách nhiệm lựa chọn.

Trong khi phần lớn việc giải quyết tranh chấp có xu hướng tập trung vào hành vi, vào tình tiết là chính thì trong hòa giải, trọng tâm là con người chứ không phải tình tiết vụ việc. Việc này đòi hỏi hòa giải viên phải xét đến nhu cầu hiện tại cũng như mối quan tâm của các bên. Hòa giải cho phép giải quyết vụ việc dựa trên lợi ích mong muốn của các bên. Hòa giải viên thường không yêu cầu các bên phải thuyết phục hay làm cho họ tin về những tình tiết thực tế, hơn nữa, họ cũng thiếu những cơ chế hỗ trợ điều tra hoặc kiểm nghiệm sự thật. Mặt khác, các bên cũng không có điều kiện để chất vấn hay kiểm chứng những lời nói hay tuyên bố của nhau theo những cách thức giống như trong tố tụng Tòa án.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Bên cạnh việc đặt con người ở vị trí trung tâm, hòa giải còn đặt trọng tâm vào khía cạnh duy trì mối quan hệ. Điều này mang ý nghĩa nhân văn của giải quyết tranh chấp. Các bên có cơ hội thể hiện tình cảm, bày tỏ sự quan tâm đến các quan hệ trong tương lai giữa các bên.

Khi đưa ra quyết định, Tòa án và các trọng tài viên đều dựa vào các quy phạm pháp luật, nghĩa là các quy tắc và nguyên tắc được quy định trong các đạo luật. Trong hòa giải, các bên không viện dẫn các quy phạm để định hướng giải quyết, nhưng các quy phạm lại có thể được các bên rút ra từ chính kết quả giải quyết vụ việc.

Trong hòa giải, các bên được tự do không áp dụng các quy tắc, nguyên tắc và chính sách mà vốn có tính ràng buộc với các Tòa án, trọng tài viên. Thỏa thuận giữa các bên có thể đạt được trên cơ sở lợi ích chung vì nó chỉ diễn ra vào một thời điểm cụ thể nhất định. Các bên thường có cách nhìn của họ về lợi ích rộng hơn so với một thẩm phán.

Sự kín đáo và tính bảo mật được thể hiện ở việc: phiên họp hòa giải được tổ chức kín, người ngoài chỉ có thể biết được trình tự thủ tục và nội dung nếu được các bên đồng ý; không công bố công khai nội dung được trao đổi trong phiên họp; việc công bố điều khoản giải quyết là vấn đề phải được hai bên thỏa thuận.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

1.3.1. Nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện

Nhận thức của những người tiến hành tố tụng, cụ thể là Thẩm phán, thư ký, Hội thẩm nhân dân, đầu tiên là người Thẩm phán – chủ trì phiên hòa giải cần phải có kiến thức pháp luật, chuyên môn cao, am hiểu tường tận mọi vấn đề của vụ án, hiểu rõ yêu cầu của người khởi kiện cũng như các kiến thức xã hội tổng quát để hướng các đương sự đến việc hòa giải thành.

Nếu một vụ án có nhiều tình tiết phức tạp nhiều người tham gia tố tụng thì tất nhiên thời gian giải quyết vụ án sẽ kéo dài cũng như công tác hòa giải sẽ gặp nhiều khó khăn, Thẩm phán, thư ký sẽ tốn nhiều thời gian, công sức trí tuệ để lấy lời khai, thu thập chứng cứ cũng như triệu tập đương sự đến tòa án bởi vì chỉ cần thiếu lời khai, chứng cứ hay thiếu người tham gia tố tụng thì buổi hòa giải sẽ khó mà tiến hành chứ chưa kể đến việc hòa giải thành.

Ngoài ra, sự hợp tác, thiện chí hòa giải của đương sự, những người tham gia tố tụng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hòa giải vụ án. Yếu tố niềm tin vào pháp luật, công lý, vào thực thi pháp luật của TAND và cá nhân công quyền có tầm quan trọng đặc biệt trong thực hiện pháp luật về hòa giải. Luật pháp muốn có hiệu lực, hiệu quả thì ngoài sức mạnh của công quyền, bằng cưỡng chế thì còn cần huy động cả sức mạnh của tư tưởng và tinh thần, pháp luật phải được con người nhận thức như là cái cần thiết và có cơ sở, phải tạo niềm tin và sự kính trọng đối với pháp luật. Sự hiểu biết và tôn trọng pháp luật là cơ sở để mỗi cá nhân hình thành ý thức tôn trọng và lối sống tuân theo pháp luật.

1.3.2. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về hoà giải tại Toà án nhân dân Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

  • mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, yếu tố pháp luật được hiểu là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật của mỗi quốc gia, đó là hệ thống pháp luật, các quan hệ pháp luật, ý thức pháp luật, văn hóa pháp luật, … Trong hoàn thiện pháp luật, sự ảnh hưởng của yếu tố pháp luật đến chất lượng xây dựng pháp luật thể hiện các khía cạnh sau:
  • Hệ thống các quy định của pháp luật về xây dựng pháp luật, như các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước, trách nhiệm cá nhân có thẩm quyền xây dựng và ban hành VBQPPL. Ngoài ra, các quy định pháp luật ghi nhận, bảo đảm các quyền tham gia xây dựng pháp luật của các cơ quan, tổ chức và người dân. Ở Việt Nam, hoạt động xây dựng pháp luật phải căn cứ các quy định tại Hiến pháp năm 2013, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trường hợp các văn bản đó quy định khoa học, lôgíc, chặt chẽ, hợp lý sẽ làm cho quy trình xây dựng pháp luật được bảo đảm, các quy phạm pháp luật ra đời có tính khả thi, hợp hiến, hợp pháp…, ngược lại sẽ ảnh hưởng tới chất lượng xây dựng pháp luật.
  • Sự ảnh hưởng của văn hóa pháp luật đối với xây dựng pháp luật thể hiện thông qua hành vi pháp luật, sự tuân thủ pháp luật của từng chủ thể có thẩm quyền trong quá trình xây dựng pháp luật, đó là sự nghiêm chỉnh thực hiện đúng, đủ, kịp thời các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành VBQPPL.

Bên cạnh đó, các yếu tố cổ hủ lạc hậu, sự tồn tại tư tưởng thờ ơ hoặc coi thường pháp luật ở một số nơi, một số người sẽ có tác động tiêu cực tới hoạt động xây dựng pháp luật trong giai đoạn hiện nay.

1.3.3. Chất lượng hoạt động của đội ngũ công chức thực hiện pháp luật về hoà giải tại Toà án nhân dân Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Nguồn nhân lực trong thực hiện pháp luật về hòa giải là các chủ thể tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật về hòa giải, gồm: các cán bộ, công chức làm việc trong TAND cấp huyện.

Để bảo đảm chất lượng thực hiện pháp luật về hòa giải, các chủ thể trên phải đáp ứng các yêu cầu về số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với từng giai đoạn giải quyết các vụ án, như yêu cầu về biên chế và vị trí việc làm được duyệt, về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, về tính chuyên nghiệp, mẫn cán và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của mỗi chủ thể …

1.3.4. Nguồn lực thực hiện pháp luật về hoà giải tại Toà án nhân dân

Trong mọi hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều cần có kinh phí và cơ sở vật chất để tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, các yếu tố này ảnh hưởng lớn tới hiệu lực, hiệu quả hoạt động của TAND cấp huyện.

Đối với thực hiện pháp luật về hòa giải, yếu tố kinh phí và cơ sở vật chất có tác động lớn tới chất lượng thực hiện pháp luật về hòa giải của các TAND cấp huyện, cá nhân có thẩm quyền bởi nếu kinh phí, cơ sở vật chất không đủ, không phù hợp thì các chủ thể có thẩm quyền khó có thể bảo đảm tiến độ triển khai nhiệm vụ, cũng như các cơ quan, tổ chức và người dân khó có thể thực hiện quyền tham gia thực hiện pháp luật theo quy định.

1.3.5. Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện của một số địa phương khác tại Việt Nam Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Hòa giải đoàn tụ thành vụ án ly hôn tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội

Tóm tắt quá trình hòa giải: Sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện của chị D về việc ly hôn với anh Q, Hòa giải viên được phân công đã chủ động nghiên cứu hồ sơ vụ việc. Trên cơ sở đó, Hòa giải viên đã tiến hành buổi gặp gỡ riêng với chị D, anh Q và biết được nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là thời gian gần đây, do áp lực công việc, anh Q thường xuyên uống rượu về nhà muộn nên hai vợ chồng xảy ra cãi vã. Anh Q vẫn còn tình cảm với chị D và rất mong muốn hai vợ chồng có thể về đoàn tụ để cùng nuôi dạy hai con chung. Tại buổi hòa giải, Hòa giải viên phân tích các quy định pháp luật và hậu quả của việc ly hôn đối với vợ chồng chị D, anh Q. Sau đó, Hòa giải viên lắng nghe hai bên giãi bày những tâm tư của mình và giúp họ tháo gỡ các mâu thuẫn, bất đồng bằng các câu hỏi logic. Qua hòa giải, hai bên đều nhận ra chính họ cũng đã có lỗi trong cách cư xử với nhau, quan trọng hơn là khiến họ nhận ra họ vẫn còn tình cảm với nhau và mong muốn hàn gắn hôn nhân, cùng nhau nuôi dạy con cái. Anh Q hứa sẽ không uống rượu, về nhà muộn nữa và chia sẻ với chị D những vất vả trong cuộc sống. Chị D hứa sẽ lắng nghe chồng hơn để hai vợ chồng tìm lại hạnh phúc gia đình. Sau đó, chị D đã tự nguyện rút đơn khởi kiện và về đoàn tụ với anh Q.

Kinh nghiệm rút ra: Đặc thù trong hòa giải vụ án ly hôn là liên quan đến tình cảm, tình nghĩa vợ chồng. Để hướng tới mục đích hòa giải đoàn tụ thì vai trò của Hòa giải viên là cầu nối để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hòa giải viên cần lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của hai bên vợ chồng để giúp họ tháo gỡ các mâu thuẫn, bất đồng; trong đó, kỹ năng đặt câu hỏi logic để các bên tự trả lời và tự nhận ra tình cảm và trách nhiệm của mình là kinh nghiệm quan trọng cho thấy sự hiệu quả.

Hòa giải thuận tình ly hôn và thỏa thuận về việc nuôi con tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Tóm tắt quá trình hòa giải: Người vợ yêu cầu ly hôn chồng do chồng ngoại tình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Sau khi Hòa giải viên tiến hành hòa giải, vợ chồng đã đi đến thống nhất việc thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, hai vợ chồng đều muốn được nuôi con và đứa trẻ đã trốn tránh khi Hòa giải viên hỏi ý kiến con muốn được ở với bố hay mẹ. Hòa giải viên đã kiên trì, đến tận nhà động viên, tâm tình với cháu bé, tạo cho cháu sự thân thiện và tin tưởng. Và cuối cùng, cháu bé đã tâm sự thật rằng cháu muốn được ở với mẹ nhưng sợ bố nên không dám nói. Khi hiểu được nguyện vọng của cháu, Hòa giải viên đã phân tích, khuyên giải và người chồng đã đồng ý để vợ nuôi con, người chồng cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Kinh nghiệm rút ra: Khi cha mẹ ly hôn thì trẻ em thường bị tổn thương về mặt tâm lý. Do đó, để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của cháu bé, Hòa giải viên cần hiểu tâm lý trẻ em, tạo sự thân thiện, tin tưởng, tâm tình và động viên để cháu bé bày tỏ mong muốn, nguyện vọng của mình; đồng thời, Hòa giải viên cần phân tích khuyên giải cha mẹ cháu bé để có được phương án hòa giải đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con họ.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Hòa giải thành tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, Nghệ An

Tóm tắt quá trình hòa giải: Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, Nghệ An nhận được đơn khởi kiện của chị H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T trả 118 triệu đồng tiền vay. Sau khi được phân công, Hòa giải viên đã trực tiếp đến nhà anh T để tìm hiểu sự việc thì được biết hoàn cảnh kinh tế của gia đình anh T đang gặp khó khăn, thực tế khoản tiền đó anh T vay hộ cho bạn, bạn anh T lại đang vỡ nợ nên hiện nay anh T không có khả năng trả nợ cho chị H; anh T lại là hàng xóm của mẹ chị H. Hòa giải viên cũng đã gặp gỡ, trao đổi riêng với chị H. Tại buổi hòa giải, Hòa giải viên đã phân tích các quy định của pháp luật có liên quan, phân tích cả về khía cạnh tình nghĩa hàng xóm, láng giềng cho các bên. Kết quả là vụ việc đã hòa giải thành, chị H thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu anh T phải trả cho chị H 30 triệu đồng tiền gốc, anh T nhất trí trả nợ cho chị H.

Kinh nghiệm rút ra: Đối với hòa giải trong tranh chấp vay nợ thì một trong vấn đề mấu chốt là khả năng trả nợ của bên vay. Khi bên vay có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì kỹ năng thuyết phục của Hòa giải viên đối với bên cho vay là quan trọng nhất, trong đó, Hòa giải viên gợi ra các mối quan hệ thân tình, tốt đẹp vốn có giữa hai bên (như tình làng, nghĩa xóm) để bên cho vay thông cảm, chia sẻ với hoàn cảnh khó khăn của bên vay, từ đó hai bên thống nhất được phương án hòa giải phù hợp, khả thi đối với cả hai bên.

Hòa giải thành tranh chấp thừa kế tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An

Tóm tắt quá trình hòa giải: Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An nhận được đơn khởi kiện của anh X yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế tài sản của bố mẹ anh X là ½ giá trị tài sản mà bà H (người mẹ kế của anh) hiện đang quản lý, sử dụng. Trong quá trình hòa giải, bà H cho rằng tài sản đó là do bà và bố anh H tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên không chấp nhận chia cho anh X. Hòa giải viên đã đến tận nhà riêng từng bên tranh chấp để giải thích các quy định của pháp luật và thuyết phục các bên hòa giải. Hòa giải viên cũng đến gặp chính quyền cơ sở, Trung tâm quản lý đất và phòng tài chính để tham khảo giá đất để có cơ sở đưa ra phương án hòa giải cho các bên lựa chọn. Qua 3 lần mời các đương sự đến Trung tâm Hòa giải để làm việc, Hòa giải viên đã thuyết phục được hai bên đi đến thống nhất, bà H đồng ý giao lại giá trị di sản thừa kế phần của anh X bằng tiền mặt, được thực hiện trong 2 tháng, hai bên giữ được tình cảm gia đình.

Kinh nghiệm rút ra: tranh chấp thừa kế đối với di sản là nhà đất thì Hòa giải viên nên đến hòa giải tại nơi có tài sản tranh chấp để tìm hiểu rõ nguyên nhân tranh chấp và hiện trạng sử dụng tài sản, đồng thời, Hòa giải viên cần chủ động gặp cơ quan quản lý nhà đất và giá đất để giúp các bên xây dựng phương án hòa giải phù hợp. Kỹ năng thuyết phục cũng rất quan trọng trong hòa giải tranh chấp thừa kế vì liên quan đến tình cảm gia đình.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Đối thoại thành khiếu kiện hành chính về thu hồi đất và phương án bồi thường khi nhà nước thu hồi đất tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

Tóm tắt quá trình hòa giải: Hơn 30 hộ gia đình khởi kiện UBND quận A,thành phố Hà Nội về quyết định thu hồi đất để làm đường giao thông. Trước khi khởi kiện tại Tòa án, các hộ dân này đã khiếu nại nhiều lần đến cơ quan hành chính có thẩm quyền nhưng chưa được giải quyết. Sau khi được phân công, Đối thoại viên đã gặp gỡ riêng người khởi kiện để làm rõ nội dung yêu cầu khởi kiện, đồng thời gặp gỡ chủ tịch Ủy ban nhân dân quận A để vận động, thuyết phục. Qua phân tích của Đối thoại viên, chủ tịch Ủy ban nhân dân quận A đã nhận thấy việc ban hành quyết định thu hồi đất không đúng đối tượng, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của công dân nên đã ban hành Quyết định sửa đổi Quyết định thu hồi đất và các hộ dân đã rút đơn khởi kiện.

Kinh nghiệm rút ra: Trong đối thoại hành chính, năng lực quan trọng nhất của Đối thoại viên là sự am hiểu pháp luật, kỹ năng đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính để giúp các bên giải quyết khiếu kiện một cách nhanh chóng, ít tốn kém và tháo gỡ mâu thuẫn giữa chính quyền và người dân.

Tiểu kết chương 1

Thực hiện pháp luật là toàn bộ những hành vi (hành động hoặc không hành động), những phương thức xử sự của các chủ thể pháp luật nhằm thực hiện những quy định của pháp luật. Thực hiện pháp luật có vị trí, vai trò quan trọng trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật, là quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống, khắc phục tình trạng không chấp hành pháp luật, hạn chế và ngăn ngừa những vi phạm pháp luật.

Thực hiện pháp luật về hòa giải tại TAND cấp huyện là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về hòa giải tại tòa án đi vào cuộc sống thực tiễn. Thực hiện pháp luật về hòa giải tại Tòa án nhân dân cấp huyện có ý nghĩa quan trọng đối với quốc gia nhằm bảo đảm gắn phát triển kinh tế – xã hội với giải quyết các vấn đề tranh chấp đang diễn ra ngày càng phức tạp với các hành vi và quan hệ tranh chấp mới.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

Tranh chấp trong nhân dân có xu hướng ngày càng tăng về số lượng và gia tăng tính đa dạng, phức tạp; đồng thời, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định xã hội. Hòa giải tranh chấp là một trong những phương thức nhằm hóa giải các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp. TAND phải thực hiện pháp luật về hòa giải một cách hiệu quả. Ví dụ, hòa giải tranh chấp đạt hiệu quả cao ở khu vực nông thôn trong việc giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn nhỏ, tính chất đơn giản. Phương thức này phù hợp với tâm lý của người dân nông thôn, nơi mà ở đó các thiết chế đạo đức, văn hóa, phong tục, tập quán truyền thống chi phối, ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ đời sống của người dân. Các mối quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm được người dân rất coi trọng giữ gìn và bảo vệ. Tuy nhiên ở khu vực đô thị, hòa giải tranh chấp ít phát huy hiệu quả bởi tính thị trường ngày càng tăng cao, và quan hệ cộng đồng của người dân thành thị không còn khăng khít.

Việc hòa giải tranh chấp tại TAND cấp huyện chủ yếu dựa vào đội ngũ Thẩm phán. Tuy nhiên, có nhiều Thẩm phán thiếu kỹ năng vận động, chưa nắm chắc các quy định của pháp luật về hòa giải. Hơn nữa, chế độ thù lao của Nhà nước cho Thẩm phán thấp chưa tương xứng với thời gian, công sức và chất xám mà các Thẩm phán đã bỏ ra. Do sự yếu kém trong công tác thi hành pháp luật dẫn đến việc hòa giải không nhận được sự thống nhất của các đương sự, khiến các vụ án kéo dài. Năng lực thực hiện pháp luật về hòa giải của các thẩm phán và các nguồn lực dành cho công tác hòa giải ở Việt Nam phải được bổ sung và hoàn thiện để hoà giải có thể phát triển thành một phương thức giải quyết chính trong các vụ án.

Sửa đổi pháp luật hiện hành cũng nhằm khuyến khích giải quyết các tranh chấp theo hướng hòa giải và giúp hoà giải đạt được kết quả tốt hơn. Tăng hiệu quả của hoạt động hoà giải tranh chấp có thể giảm các xung đột, căng thẳng xuất phát từ quá trình đô thị hoá nhanh chóng, do đó đóng vai trò rất quan trọng cho tương lai của Việt Nam.Luận văn: Lý luận pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về hòa giải tòa án xã Ninh Hòa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x