Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về Di sản văn hoá ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Khái quát về di sản văn hóa Việt Nam

2.1.1. Tổng quan về di sản văn hóa Việt Nam

Trải mấy nghìn năm lịch sử, cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam đã luôn cùng nhau đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình đó, mỗi dân tộc đều sáng tạo và gìn giữ được những kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của riêng mình, từ đó tạo nên sự đa dạng văn hóa của cả quốc gia – dân tộc Việt Nam. Vì vậy, kho tàng di sản văn hóa Việt Nam rất phong phú, đa dạng, là sự chung đúc đồng thời biểu hiện rực rỡ nhất truyền thống yêu nước nồng nàn, cần cù, lao động sáng tạo và tâm hồn, trí tuệ của dân tộc. Kho tàng di sản văn hóa đó cũng chính là sự kết tinh và biểu hiện hết sức sinh động bản sắc văn hóa Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.1.1. Khái quát về hệ thống di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Việt Nam, mảnh đất của di tích, từ miền núi tới hải đảo, đâu đâu cũng có di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh. Hàng vạn di tích là nguồn tài nguyên vô giá cho việc khai thác du lịch bền vững. Có thể khái quát về hệ thống di tích của Việt Nam là: số lượng di tích rất lớn, đa dạng về loại hình và có giá trị to lớn về nhiều mặt.

Theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa, các di tích Việt Nam được phân thành 4 loại cơ bản là: di tích lịch sử, di tích kiến trúc – nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh. Tổng hợp từ kết quả kiểm kê kê di tích của các địa phương theo số liệu của Cục Di sản văn hóa đến hết năm 2016 : trên cả nước hiện có gần 4 vạn đối tượng có tiêu chí là di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh, được phân bố trên khắp các vùng miền trong nước, trong đó có 72 di tích quốc gia đặc biệt, 3.329 di tích quốc gia, 9.857 di tích cấp tỉnh, thành phố, nhiều công trình, địa điểm có giá trị tiêu biểu về văn hóa, khoa học, lịch sử đã được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật. Đặc biệt, 8 di tích và danh lam thắng cảnh tiêu biểu, mang giá trị độc đáo và nổi bật toàn cầu đã được UNESCO ghi vào Danh mục Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới, gồm: Quần thể di tích Huế (1993), Vịnh Hạ Long (1994, 2000), Khu Phố cổ Hội An (1999), Khu di tích Chăm Mỹ Sơn (1999), Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (2003), Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội (2010), Thành Nhà Hồ (2011), Quần thể danh thắng Tràng An (2014). Các di sản văn hóa và và thiên nhiên của Việt Nam được UNESCO vinh danh đều đạt hai tiêu chuẩn độc đáo, nổi bật toàn cầu theo quy định tại Công ước Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới của UNESCO.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Ngoài các di sản nêu trên, Việt Nam đã có 08 khu bảo tồn thiên nhiên được UNESCO ghi vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển thế giới : Rừng ngập mặn Cần Giờ, Vườn quốc gia Cát Tiên, Quần đảo Cát Bà, Châu thổ sông Hồng, Ven biển và biển đảo Kiên Giang, Miền Tây Nghệ An, Mĩu Cà Mau, Cù Lao Chàm. Cao nguyên đá Đồng Văn được Hội đồng tư vấn Mạng lưới Công viên đại chất Toàn cầu (GGN) của UNESCO chính thức công nhận là Công viên đại chất Toàn cầu.

Nhận thức của toàn xã hội về vai trò của di tích ngày càng được nâng cao. Bảo vệ di tích, phát huy giá trị của di tích phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm đã trở thành nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Hàng ngàn lượt di tích được xếp hạng, tu bổ trong những năm qua thể hiện những nỗ lực to lớn của toàn xã hội trong việc chăm lo và bảo vệ di tích. Về cơ bản, hệ thống di tích của đất nước ta đã được tu bổ, tôn tạo đảm bảo khả năng tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, do trải qua hàng chục năm chiến tranh, chúng ta chưa thực sự có nhiều điều kiện để đầu tư, nên đến nay, mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn nhiều di tích bị vi phạm, lấn chiếm chưa được giải tỏa. Nhiều di tích đang ở trong tình trạng xuống cấp nhưng hiện nay hầu như chưa có di tích nào được đầu tư tu bổ hoàn chỉnh từ kiến trúc tới hạ tầng, từ nội thất tới ngoại thất. Bên cạnh đó, chất lượng tu bổ di tích, nhất là những hạng mục được thi công bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp, còn chưa đạt yêu cầu về chuyên môn. Tăng cường quản lý nhà nước và xây dựng đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư, nghệ nhân, công nhân… phục vụ tu bổ di tích là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay.

2.1.1.2. Khái quát về mạng lưới Bảo tàng Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Các bảo tàng đầu tiên ở Việt Nam đã ra đời vào đầu thế kỷ XX cùng với sự du nhập của văn hóa phương Tây, đến nay, ở Việt Nam đã hình thành một hệ thống Bảo tàng. Từ năm 1986, cùng với quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước, nhiều bảo tàng mới ra đời hoặc được nâng cấp với sự đầu tư lớn của nhà nước như: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam… Theo thống kê của Cục Di sản Văn hóa đến hết năm năm 2016, ở Việt Nam đã hình thành một mạng lưới với 154 bảo tàng (gồm 123 bảo tàng công lập và 31 bảo tàng ngoài công lập), lưu giữ và trưng bày gần 3 triệu tài liệu, hiện vật là các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia quý hiếm. Bảo tàng đã thực hiện tốt chức năng giáo dục khoa học, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện những nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể và đã cung cấp những tri thức khoa học, góp phần nâng cao dân trí. Trong số bảo tàng hiện có, nhiều bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng cấp tỉnh mới được xây dựng trong những năm gần đây đã làm thay đổi diện mạo thiết chế văn hóa ở địa phương và đang dần trở thành trung tâm văn hóa – du lịch có sức hấp dẫn.

2.1.1.3. Khái quát về kho tàng di sản văn hóa phi vật thể Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Cùng với kho tàng di sản văn hóa vật thể, đất nước ta còn có một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể đa dạng về loại hình, phong phú về trữ lượng, đặc sắc về lịch sử, văn hóa, khoa học. Theo số liệu của cục Di sản Văn hóa tổng hợp từ các báo cáo kết quả kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể đến hết năm 2016, trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố, hiện chúng ta đã thống kê được 59.297 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có 202 di sản đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia qua 17 đợt công bố. Đến nay, Việt Nam đã có 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh, gồm: Nhã nhạc – Nhạc Cung đình Việt Nam – Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (2003), được đổi thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2008); Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại (2005), được đổi thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2008); Dân ca Quan họ Bắc Ninh – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2009); Hát Ca trù – Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp (2009); Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2010); Hát Xoan Phú Thọ – Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp (2011); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2012); Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2013); Dân ca ví, dặm Nghệ Tĩnh (2014); Kéo co và tín ngưỡng thờ Tam Phủ Việt Nam (2016).

UNESCO cũng đã ghi danh 06 di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới, gồm: Mộc bản triều Nguyễn (2009); Bia đá các khoa thi tiến sĩ triều Lê – Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu – Hà Nội (2010); Mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm (2012); Châu bản triều Nguyễn (2014); Thơ văn trên kiến trúc Cung đình Huế và Mộc bản trường Phúc Giang ( 2016).

Hơn 40 năm qua, bằng nguồn kinh phí tự lập, có sự hỗ trợ của chính phủ và các Quỹ phi chính phủ, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam đã triển khai được 4.000 công trình nghiên cứu khoa học và sưu tầm về văn hóa dân gian các dân tộc Việt Nam, trong đó có nhiều công trình nghiên cứu đã giúp phục hồi được các di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một hoặc mất hẳn.

Ngày 05 tháng 9 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1211/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012-2015 nhằm nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia, đóng góp vào sự nghiệp phát triển văn hóa. Trong Chương trình này, mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa, đảm bảo việc giới thiệu, quảng bá và phát huy di sản văn hóa để khai thác phục vụ du lịch văn hóa.

2.1.2. Vị trí, vai trò của di sản văn hóa Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Trong xã hội hiện đại, mỗi quốc gia đều phải giải quyết nhiệm vụ tăng cường khả năng cạnh tranh/phát triển kinh tế trên cơ sở huy động tối đa các nguồn lực của đất nước, trong đó có nguồn lực được hình thành từ lĩnh vực hoạt động văn hóa. Nhiệm vụ ấy càng đặt ra một cách trực tiếp, thường nhật, đòi hỏi phải được giải quyết thấu đáo trong suốt quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Bởi vì, ngày nay, từ nhận thức ngày càng đầy đủ về những lý thuyết phát triển và từ kiểm nghiệm của thực tiễn, người ta ngày càng thống nhất xác định văn hóa là yếu tố đồng hành, chỉ dẫn chất lượng sống của con người trong các quan hệ với thực tại. Theo đó, văn hóa không đứng ngoài phát triển, văn hóa là nhân tố nội sinh của phát triển. Nghị quyết 33/NQ-TW Hội nghị lần thứ Chín, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định rõ: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển bền vững đất nước, văn hóa, văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.

Ngày nay, các nguồn lực của sự phát triển thường được tính đến bao gồm: vốn, tài nguyên, khoa học kỹ thuật, con người cùng các quan hệ xã hội. Do vậy, nhận thức văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực thúc đẩy, là nhân tố nội sinh, của sự phát triển kinh tế – xã hội, cũng có nghĩa khẳng định văn hóa là một nguồn lực quan trọng, nguồn lực phi vật thể, của sự phát triển kinh tế – xã hội. Đây thực sự là một bổ sung/cụ thể hóa nhận thức về các nguồn lực của sự phát triển.

Nghị quyết 03/NQ-TW, Hội nghị lần thứ Chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI khẳng định Di sản văn hóa là tài sản văn hóa của các thế hệ trước để lại, “là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”. Mà “ bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đáu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân- gia đình – làng xã- Tổ quốc; làng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”, vì vậy, bản sắc dân tộc hay di sản văn hóa giữ vai trò/ trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, không thể thay thế với sự phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Di sản văn hóa không chỉ có giá trị tinh thần lớn lao, mà còn là nguồn lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Di sản văn hóa có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, với tư cách là nguồn nhân lực quan trọng, tạo nên sức mạnh đóng góp trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Di sản văn hóa có tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội trước hết được biểu hiện ở chỗ, di sản văn hóa góp phần xây dựng môi trường xã hội Việt Nam lành mạnh, có văn hóa. Di sản văn hóa góp phần giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng phương thức cung cấp cho xã hội những thông tin nguyên gốc về tri thức, hiểu biết và kinh nghiệm lịch sử để chúng ta hiểu đúng quá khứ, nhận thức đúng hiện tại, định hướng đúng tương lai. Sau nữa, di sản văn hóa được tu bổ, tôn tạo theo đúng chuẩn mực khoa học sẽ trở thành tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch, cung cấp loại hình dịch vụ văn hóa có sức hấp dẫn, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch – văn hóa, một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 1 năm 2017 của Bộ Chính trị.

Tuy nhiên, di sản văn hóa đang đứng trước những thử thách khốc liệt của cơ chế kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là, cần xử lý hài hòa, thỏa đáng những mối quan hệ phức tạp trong quá trình hội nhập và phát triển. Đó là những mối quan hệ giữa: kinh tế và văn hóa, phát triển và bảo tồn, truyền thống và hiện đại, quốc gia và quốc tế v.v… Con đường đi tới là phải làm sao để “hiện đại hóa được yếu tố truyền thống” và “truyền thống hóa được yếu tố hiện đại”. “Hiện đại hóa được yếu tố truyền thống” được hiểu là tạo cơ chế chính sách phù hợp để yếu tố truyền thống tìm được chỗ đứng, có sức sống trong đời sống xã hội đương đại và cả trong tương lai, đồng thời có khả năng thỏa mãn, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu do xã hội đặt ra. Yếu tố truyền thống phải thực sự là nhịp cầu gắn bó quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngược lại, “truyền thống hóa được yếu tố hiện đại” có nghĩa là mọi hoạt động sáng tạo các giá trị văn hóa mới nói chung, các sản phẩm văn hóa và loại hình dịch vụ văn hóa nói riêng, mang được hơi thở thời đại, tiếp cận được yếu tố tiến bộ, thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới, nhưng vẫn thấm đẫm bản sắc văn hóa dân tộc, không bị lai căng, dập khuôn một cách máy móc mô hình từ nước ngoài. Các giá trị di sản văn hóa phải được bảo vệ và phát huy, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh; không bao giờ chỉ đơn thuần vì mục tiêu phát triển kinh tế mà hy sinh hoặc làm phương hại tới kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Xu thế toàn cầu hóa về kinh tế và quốc tế hóa về văn hóa một mặt cũng tạo ra những cơ hội và điều kiện cho hoạt động bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi nước, song cũng nảy sinh nhiều nguy cơ hủy hoại các giá trị văn hóa truyền thống và đe dọa sự tồn vong của các di sản văn hóa.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

  • đây, chúng ta phải thấy cả hai mặt. Mặt thuận lợi là chúng ta có thêm các điều kiện, kiến thức, thông tin, cơ hội giao lưu học hỏi và tiếp nhận nguồn trợ lực từ quốc tế. Nhưng cũng có những thách thức đang đặt ra hết sức quyết liệt. Làm thế nào để vừa bảo vệ các di sản văn hóa vừa phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập với thế giới? Làm thế nào để giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát triển, kinh tế và văn hóa, quốc gia và quốc tế? Đó là những câu hỏi, những thách thức đòi hỏi chúng ta phải giải quyết đúng đắn, phải vững vàng vượt qua. Mặt khác, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đang đứng trước những thử thách dữ dội của cơ chế thị trường và sự lựa chọn vô cùng gay gắt giữa nhiệm vụ bảo tồn và yêu cầu phát triển; giữa ưu tiên cho phát triển kinh tế, thương mại, du lịch hay ưu tiên cho văn hóa, nghệ thuật. Xét về tổng thể, không có cái bảo tồn cứng nhắc nói chung, vì nếu như vậy thì làm sao nhân loại có thể phát triển tiến lên như ngày hôm nay. Thế hệ sau nhất định có sự tiếp nối, điều chỉnh, nhưng cũng không phải là thay đổi, phá dỡ mọi cái cũ để làm mới.

Những giá trị bền vững của di sản văn hóa chỉ thực sự hấp dẫn và trở thành những sản phẩm văn hóa độc đáo, hay tiềm năng du lịch bền vững, nếu chúng ta biết phát huy những giá trị đích thực, những thế mạnh, mà không bị lôi cuốn vào xu thế thương mại hóa đơn thuần; đồng thời phải có cách tiếp cận mới – vừa tập trung vào diện mạo của di sản văn hóa, kể cả vật thể và phi vật thể, vừa bảo vệ cảnh quan môi trường trên nền tảng một quy hoạch phát triển chung của toàn xã hội. Đó mới là biện pháp bảo đảm sự tồn tại cho chính di sản văn hóa, đồng thời cũng là giải pháp hữu hiệu để bảo vệ di sản văn hóa trước những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Bởi vậy, di sản văn hóa cần được bảo vệ và phát huy bằng sức mạnh và trách nhiệm của từng người dân, của cộng đồng, của cấp ủy Đảng, của chính quyền các cấp; bằng các hoạt động quản lý và nghiệp vụ, bằng cơ chế, chính sách, pháp luật tương ứng.

2.2. Tình hình pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay

2.2.1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, hiện nay đang có 5 Luật (Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa, Luật Quảng cáo, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật phòng, chống bạo lực gia đình), 01 Pháp lệnh (Pháp lệnh thư viện), 42 Nghị định và 98 Thông tư, Thông tư liên tịch điều chỉnh trực tiếp.

Theo sự phân chia mang tính chất tương đối thì hệ thống pháp luật nói chung được phân thành 4 nhóm gồm:

Nhóm 1, pháp luật về kinh tế.

Nhóm 2, pháp luật về văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học công nghệ và môi trường.

Nhóm 3, pháp luật về quốc phòng, đối ngoại, an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Nhóm 4, pháp luật về tổ chức bộ máy, hành chính, hình sự, dân sự, tư pháp.

Bảng 2.1: Số lượng Luật, Pháp lệnh

Lĩnh vực văn hóa, gia đình thuộc nhóm thứ 2. Trong nhóm này, số lượng Luật, pháp lệnh được ban hành trong 10 năm qua là nhiều nhất (99 văn bản) chiếm 44% tổng số Luật, pháp lệnh được ban hành. Tuy nhiên, số lượng Luật, pháp lệnh về văn hóa, gia đình chỉ chiếm số lượng rất nhỏ 05 luật (trong đó có 03 luật là sửa đổi, bổ sung).Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Biểu 2.1: Số lượng Luật, Pháp lệnh do Bộ VHTTDL chủ trì

Số lượng luật, pháp lệnh do Bộ chủ trì

Số lượng nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ

So sánh số lượng nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao và số lượng các Luật, pháp lệnh do các Bộ chủ trì, có thể thấy rằng số lượng Luật, Pháp lệnh do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì là rất ít (10 nhiệm vụ quản lý nhà nước nhưng trong 10 năm chỉ chủ trì soạn soạn 5 Luật, pháp lệnh), các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực văn hóa, gia đình chủ yếu điều chỉnh bằng Nghị định và Thông tư, điều này mang đến hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước là không cao.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa gồm: 01 Luật (bao gồm cả Luật sửa đổi, bổ sung), 7 Nghị định của Chính phủ, 03 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 18 Thông tư và Thông tư liên tịch điều chỉnh trực tiếp hoạt động di sản văn hóa, chiếm 18% tổng số văn bản QPPL về văn hóa, gia đình.

Biểu 2.2: Số lượng văn bản quy phạm pháp luật về DSVH

 Số lượng VQPPL về DSVH

 Số lượng VBQPPL về văn hóa, gia đình

Hệ thống pháp luật về di sản văn hóa đã tạo ra hành lang pháp lý phù hợp với tình hình thực tiễn, khuyến khích các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Về cơ bản, hệ thống pháp luật này đã kế thừa các giá trị của các văn bản pháp luật trước đó, đồng thời cập nhật những vấn đề thực tiễn cuộc sống đang đặt ra, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể sáng tạo, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và các đối tượng sử dụng, hưởng thụ, bảo vệ lợi ích quốc gia, tương thích với luật pháp quốc tế, thể hiện sự minh bạch, khả thi. Vì vậy, nó đã tạo điều kiện và cơ hội để hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước ta ngày càng thu hút được sự tham gia tích cực của toàn xã hội, đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ có hiệu quả của cộng đồng quốc tế.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001, xác định rõ vấn đề bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc ở Việt Nam (bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) – đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về di sản văn hóa, phản ánh một bước chuyển biến rõ rệt, tích cực về nhận thức và quyết tâm của toàn xã hội trên hành trình bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Để quy định chi tiết thi hành Luật di sản văn hóa, một hệ thống văn bản dưới Luật đã được ban hành, gồm : 02 Nghị định, 02 Chỉ thị, 01 Thông tư, 09 Quyết định ; cụ thể là: Nghị định số 92/2002/NĐ ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa; Nghị định số 86/2005/NĐ ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Chính phủ về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước; Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020; Chỉ thị số 05/2002/CT-TTg ngày 18 tháng 02 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ cổ vật trong di tích và ngăn chặn đào bới trục vớt trái phép di chỉ khảo cổ học; Thông tư số 07/2004/TT-BVHTT ngày 19 tháng 02 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin hướng dẫn trình tự, thủ tục đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24 tháng 7 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020…( xem chi tiết Phụ lục 2).Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Ngày 18 tháng 6 năm 2009, Luật sửa đổi, bổ sung tại một số điều của Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII kỳ họp thứ 5 thông qua. Theo quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa đã kịp thời được nghiên cứu, xây dựng, nhằm đưa ra những quy định chi tiết, cụ thể việc thi hành Luật trong thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, phục vụ có hiệu quả quá trình phát triển kinh tế – xã hội ; từ 2010 – nay. đã có 5 Nghị định của Chính phủ và 10 Thông tư của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được ban hành ; cụ thể là: Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa; Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh; Nghị định số 62/2014/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân , Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể ; Nghị định số 109/2017/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ quy định về bảo vệ và quản lý Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam; Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL ngày 30/6/2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Thông tư số 13/2010/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình tự, thủ tục công nhận bảo vật quốc gia; Thông tư số 11/2013/TT-BVHTTDL ngày 16 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về sưu tầm hiện vật của bảo tàng công lập ; Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn xác định chi phí lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế – kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích…(xem chi tiết Phụ lục 3).Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Hiện tại, việc soạn thảo các văn bản theo chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đang được tích cực thực hiện.

2.2.2. Tình hình thực thi pháp luật về di sản văn hóa

Hệ thống pháp luật về di sản văn hóa đã tạo ra hành lang pháp lý phù hợp với tình hình thực tiễn, khuyến khích các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Nhờ vậy, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã được củng cố, từng bước mở rộng và hoàn thiện, đạt được kết quả đáng ghi nhận. Cụ thể theo số liệu của Cục Di sản Văn hóa đến hết năm 2016 như sau:

Hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích:

  • Gần 4 vạn đối tượng có tiêu chí là di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh hiện còn, được phân bố trên khắp các vùng miền trong nước, trong đó có 3.329 di tích đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia, 72 di tích quốc gia đặc biệt và 08 Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam
  • Việc lập quy hoạch, dự án, báo cáo kinh tế- kỹ thuật và thi công tu bổ, tôn tạo di tích được thực hiện theo quy định của Luật di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành, theo đó chất lượng của hoạt động tu bổ di tích từng bước được nâng cao, vi phạm trong công tác tu bổ di tích đã giảm và hầu như không còn để xảy ra những vi phạm lớn; công tác đào tạo được chú trọng thông qua việc mở lớp bồi dưỡng kiến thức cho đối tượng là kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng hoạt động trong lĩnh vực bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích (Tính đến hết quý III năm 2015, Viện Bảo tồn di tích đã tổ chức được 14 khóa học với 570 học viên; Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức 10 khóa học với 553 học viên; Trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh tổ chức được 03 khóa học với sự tham gia của khoảng 160 học viên); cấp Chứng chỉ hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cho 719 cá nhân và Giấy chứng nhận đủ điều kiện nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích cho 131 tổ chức; công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa cũng được đẩy mạnh…
  • Đối với việc lập quy hoạch khảo cổ đến nay đã có 05 tỉnh/thành phố triển khai, cụ thể: Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Thanh Hóa, Khánh Hòa, Đà Nẵng.
  • Trong giai đoạn 2011-2015, theo số liệu của Cục Di sản văn hóa, Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã đầu tư vốn cho hoạt động tu bổ, tôn tạo 1.302 lượt di tích với tổng kinh phí là 1.436.844 tỷ đồng, trong đó: Ngân sách sự nghiệp hỗ trợ 893 di tích với tổng kinh phí là: 402.992 tỷ đồng; từ nguồn vốn đầu tư phát triển hỗ trợ 409 di tích với tổng kinh phí là 1.033.852 tỷ đồng. Công tác xã hội hoá hoạt động bảo tồn di tích cũng đã huy động được nhiều nguồn lực xã hội, tương đương với nguồn đầu tư của nhà nước. Các di tích sau khi tu bổ, tôn tạo đã được chính quyền các cấp cùng với cộng đồng nơi có di tích quản lý và phát huy giá trị có hiệu quả, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng và các cấp, ngành đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc. Nhiều di tích sau khi được tu bổ đã trở thành sản phẩm văn hóa – du lịch, tương đối hoàn chỉnh, phục vụ thiết thực nhu cầu sinh hoạt văn hoá cộng đồng và góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Hoạt động bảo tàng:

  • Hệ thống bảo tàng Việt Nam tiếp tục được mở rộng với 154 bảo tàng (gồm 123 bảo tàng công lập, 31 bảo tàng ngoài công lập), lưu giữ gần 3 triệu tài liệu, hiện vật, trong giai đoạn 2011-2015 có: 03 bảo tàng được xếp hạng I; 08 bảo tàng được xếp hạng II; 05 bảo tàng được khánh thành; 05 bảo tàng được thành lập mới; 18 bảo tàng ngoài công lập được cấp phép hoạt động.
  • Hệ thống bảo tàng Việt Nam tiếp tục được đổi mới về phương thức hoạt động, theo hướng tăng cường hiện vật gốc và ứng dụng thành tựu của khoa học kỹ thuật để làm phong phú và hấp dẫn nội dung trưng bày, đổi mới hình thức phục vụ công chúng; xây dựng các phòng giáo dục và chương trình giáo dục dành riêng cho học sinh phổ thông; chủ động kết hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức thường xuyên các cuộc trưng bày chuyên đề; kết hợp với việc trình diễn, giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể tại bảo tàng. Thông qua công tác trưng bày và tuyên truyền giáo dục, hệ thống bảo tàng ngày càng khẳng định vị thế của mình trong hệ thống thiết chế văn hóa của đất nước, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức giữ gìn, tự hào và tôn vinh bản sắc văn hóa của dân tộc, đồng thời đáp ứng nhu cầu phổ biến kiến thức khoa học và nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của công chúng.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể:

  • Qua công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể được triển khai trên phạm vi toàn quốc, hiện đã thống kê được 59.297 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó 11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh, 02 di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần bảo vệ khẩn cấp và 06 di sản tư liệu thuộc chương trình Ký ức thế giới của UNESCO, 202 di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể được tuyên truyền sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân, qua đó họ đã ý thức được tầm quan trọng và lợi ích của hoạt động này để nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần cho chính mình. Việc kiểm kê, lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể, cũng như việc triển khai các đề án/dự án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại các địa phương tiếp tục được quan tâm thực hiện qua đó góp phần ngăn chặn nguy cơ mai một, thất truyền. Nhiều hoạt động, dự án liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể đã và đang được triển khai dưới hình thức xã hội hóa, huy động được tiềm năng trí tuệ, nguồn nhân lực cũng như vật chất và tài chính của cộng đồng, các tổ chức xã hội trong nước và quốc tế đóng góp, tham gia.
  • Chính phủ đã ban hành Nghị định số 62/2014/NĐ-CP quy định về xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và Nghị định số 109/2015/NĐ-CP quy định về việc hỗ trợ đối với nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn. Năm 2015, Chủ tịch nước đã ký Quyết định phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú cho 600 cá nhân và truy tặng cho 17 cá nhân.

Hoạt động hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa: Hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng được nhiều kết quả tích cực qua đó góp phần tích cực vào

chiến lược văn hóa đối ngoại nhằm không ngừng quảng bá về đất nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Việt Nam đã chính thức là một trong 21 thành viên của Ủy ban Di sản thế giới nhiệm kỳ 2013 – 2017.

Tuy nhiên, tình trạng vi phạm trong việc sử dụng, khai thác di tích vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều dự án phát triển kinh tế, xã hội còn chưa được gắn kết chặt chẽ với các dự án bảo tồn di tích; việc triển khai Quy hoạch hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020 còn chậm, nhiều bảo tàng còn chưa đổi mới nội dung và hình thức hoạt động nên kém hấp dẫn; hoạt động của tổ chức bộ máy bảo vệ di sản văn hóa còn có sự lúng túng, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, đoàn thể có liên quan. Tình trạng này có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của di sản văn hóa; năng lực, kinh nghiệm và hệ thống thực thi pháp luật còn hạn chế; pháp luật về di sản văn hóa vẫn còn những quy định chưa phù hợp với thực tiễn.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Đất nước ta đang trong bối cảnh hội nhập và phát triển, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng. Nhờ đó, ngân sách Nhà nước và đời sống của toàn xã hội ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều nguồn lực để bảo vệ di sản văn hóa. Nhưng đồng thời, di sản văn hóa cũng dễ bị tác động bởi nhiều yếu tố bất lợi, đó là: quá trình toàn cầu hóa và việc đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc cùng với sự du nhập mạnh mẽ của văn hóa ngoại lai, sự phá bỏ hoặc xa rời các giá trị truyền thống, sự bất bình đẳng trong việc giải quyết các mâu thuẫn giữa bảo

tồn và phát triển mà thông thường là sự thắng thế của những ưu tiên cho sự phát triển kinh tế, thương mại… Do đó, việc tăng cường hiệu lực của Luật di sản văn hóa có những tác động to lớn tới những vấn đề cốt lõi, cơ bản bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước ta. Luật di sản văn hóa đã tạo nên những tác động xã hội to lớn tới nhận thức của toàn xã hội, sự quan tâm đối với di sản văn hóa là một xu hướng chung của toàn xã hội ngày càng được khẳng định.

2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật về di sản văn hóa

2.3.1. Kết quả đạt được

Luật di sản văn hóa, Luật sửa đổi, bổ sung tại một số điều của Luật di sản văn hóa đã phản ánh một bước chuyển biến rõ rệt, tích cực về nhận thức và quyết tâm của toàn xã hội trên hành trình bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, được thể hiện cụ thể qua việc tạo lập một hành lang pháp luật rộng mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trên lĩnh vực này phát triển. Những nội dung được sửa đổi, bổ sung của Luật vừa đảm bảo sự tiếp cận những nhận thức mới về khoa học bảo tồn di sản văn hóa của quốc tế và tuân thủ những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, vừa đảm bảo phù hợp thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Điều đó đảm bảo tính khả thi cao của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa trong thực tiễn đời sống từ khi Luật có hiệu lực đến nay.

Qua hơn 8 năm triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã có nhiều chuyển biến tích cực:Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Ý thức tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân được nâng cao; Hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích ngày càng đi vào nề nếp; Hệ thống bảo tàng đã có nhiều đổi mới, tiếp cận xu thế phát triển của bảo tàng thế giới;

Công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể được triển khai trên phạm vi toàn quốc, góp phần từng bước ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ mai một, thất truyền đối với nhiều di sản văn hóa phi vật thể có giá trị.

Luật Di sản văn hóa, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được thể hiện cụ thể qua việc tạo lập một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trên lĩnh vực này phát triển. Bên cạnh đó, Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi một số điều của Luật Di sản văn hóa đã thể chế hóa các quy định của Hiến pháp về:

Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa của các dân tộc ở Việt Nam (trong đó có việc bảo vệ tiếng nói và chữ viết của các dân tộc);

Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với di sản văn hóa, những việc được làm, quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, đoàn thể liên quan ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia rộng rãi vào hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, mở rộng giao lưu, tuyên truyền, giới thiệu di sản văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.

Các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa đảm bảo sự tiếp cận những nhận thức mới về khoa học bảo tồn di sản văn hóa của quốc tế và tuân thủ những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, vừa đảm bảo phù hợp thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

2.3.2. Hạn chế, bất cập và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Hệ thống pháp luật về di sản văn hóa tạo hành lang pháp lý cho 2 hoạt động chủ yếu gồm bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa. Tuy nhiên hiện nay, các văn bản pháp luật về di sản văn hóa chủ yếu điều chỉnh hoạt động bảo vệ di sản là chủ yếu, nội dung phát huy giá trị di sản còn chưa tương xứng với yêu cầu của thực tế. Nhiều hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa đã và đang triển khai trong thực tiễn nhưng chưa có căn cứ pháp lý cụ thể để thực thi có hiệu quả trong từng lĩnh vực cụ thể như: giáo dục đào tạo, y tế, kinh tế…

  • Một số vẫn đề thực tiễn phát sinh do thiếu văn bản điều chỉnh hoặc có nhưng chưa đầy đủ, chặt chẽ
  • Chưa có quy định cụ thể về việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị loại hình di sản thế giới được UNESCO công nhận nhằm bảo đảm sự tương thích với các nguyên tắc của UNESCO và hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam về các lĩnh vực như: du lịch, bảo vệ và phát triển rừng, đa dạng sinh học, thủy sản…
  • Hệ thống các quy định của pháp luật về lập quy hoạch, dự án tu bổ di tích đã nảy sinh nhiều bất cập trong thực tiễn, không còn phù hợp với hệ thống pháp luật về xây dựng nói chung và Luật xây dựng năm 2015 nói riêng.
  • Chưa có quy định cụ thể về quản lý nhà nước cho Bộ, ngành nào về di sản tư liệu, công viên địa chất, khu dự trữ sinh quyển; chưa có quy định về chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế cho các đơn vị, doanh nghiệp có đóng góp trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị của di sản văn hóa.
  • Việc bảo tồn di sản văn hoá chưa được triển khai theo một quy hoạch, kế hoạch dài hạn nên thường bị động. Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa quy hoạch bảo tồn di tích với quy hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội của các ngành khác trên cùng địa bàn, nên chưa tạo được cơ sở vật chất, môi trường văn hoá và sinh thái đồng bộ, có chất lượng ở di tích.
  • Hiện tượng lấn chiếm đất đai di tích, thương mại hoá hoạt động và tổ chức lễ hội ở di tích, đào bới, mua bán trái phép cổ vật… diễn ra ngày càng phổ biến.
  • Tình trạng vi phạm, mất cắp, cháy nổ tại di tích diễn ra ở một số nơi; công tác cắm mốc giới các khu vực bảo vệ di tích, lập quy hoạch khảo cổ, lập và công bố danh mục di tích để bảo vệ còn chậm ảnh hưởng đến công tác bảo vệ di tích.
  • Việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, triển khai các chương trình dự án bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể thực hiện còn chậm do những khó khăn về kinh phí và nhiều nơi chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, các chương trình, dự án về di sản văn hóa phi vật thể thực hiện một cách độc lập, không có hoặc rất ít sự gắn kết liên ngành và đặc biệt là còn thiếu sự tham gia một cách sâu rộng của cộng đồng, cũng như các nhà khoa học.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam
  • Việc xây dựng mới các công trình lưu niệm, tưởng niệm có xu hướng phát triển mang tính phong trào, đua tranh tự phát, thiếu sự chỉ đạo và quản lý thống nhất các dự án đầu tư, trong nhiều trường hợp chỉ thiên về quy mô công trình nên hiệu quả kinh tế – xã hội, giáo dục, thẩm mỹ thấp, gây lãng phí, không được sự đồng tình trong dư luận xã hội. Các địa phương thường quan tâm đến xây dựng công trình lưu niệm, tưởng niệm danh nhân cách mạng và kháng chiến, chưa chú ý thỏa đáng đến danh nhân lịch sử, danh nhân văn hóa, khoa học…
  • Chưa đồng bộ với các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ di sản, như quy định của Luật Du lịch, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đa dạng sinh học, Luật Thủy sản, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản Luật nói trên (cụ thể là: trường hợp trong một khu vực di sản thế giới cùng đồng thời tiến hành lập nhiều quy hoạch tổng thể với cùng mục tiêu là bảo vệ các yếu tố gốc tạo nên giá trị của một di sản thế giới, dẫn tới chồng chéo trong quản lý, lãng phí nguồn lực không cần thiết).
  • Chưa quy định về thẩm quyền của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc thẩm định các dự án xây dựng mới hoặc chỉnh lý nội dung trưng bày bảo tàng. Nhiều dự án đầu tư xây dựng bảo tàng chưa tuân thủ quy trình xây dựng và trưng bày bảo tàng (chưa thực hiện đầy đủ các bước chuẩn bị khoa học phục vụ việc thiết kế và tổ chức trưng bày; chưa có ý kiến thỏa thuận, đóng góp chuyên môn của cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về nội dung và thiết kế trưng bày…). Đội ngũ tư vấn thiết kế bảo tàng và trưng bày bảo tàng còn mỏng, yếu, chưa tiếp cận được với trình độ quốc tế.
  • Các quy định của pháp luật về thuế chưa có quy định về việc miễn, giảm thuế thu nhập cho các doanh nghiệp có đóng góp trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Vì vậy, cần nghiên cứu, đề xuất chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào hoạt động văn hóa nói chung, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nói riêng.

Vướng mắc, hạn chế trong triển khai văn bản

Có sự chồng chéo trong công tác quản lý hoạt động tu bổ di tích do sự chưa thống nhất giữa quy định tại Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Vướng mắc, hạn chế do quy định tại văn bản

Một số quy định là thủ tục hành chính nhưng thiếu những thành phần cấu thành để thực hiện. Ví dụ: Thủ tục hành chính cấp trung ương về thành lập bảo tàng chuyên ngành thuộc Bộ, ngành, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương (Khoản 25, Điều 1 Luật SĐBSMSĐ của Luật DSVH; Khoản 1 Điều 28 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP; Điểm đ Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 01/2012/NĐ-CP): Trình tự thực hiện: chưa quy định việc Bộ, ngành, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương gửi hồ sơ đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để xác nhận điều kiện thành lập bảo tàng; Cách thức thực hiện: Chưa quy định; Số lượng hồ sơ: Chưa quy định. Thủ tục xếp hạng di tích quốc gia (Khoản 11 Khoản 12 Điều 1 Luật DSVH; Điều 13 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP; Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL): chưa quy định về cách thức thực hiện, số lượng hồ sơ, thời hạn giải quyết… Ví dụ đối với thủ tục hành chính cấp tỉnh trong xếp hạng di tích cấp tỉnh (Khoản 11 Khoản 12 Điều 1 Luật DSVH; Điều 13 Nghị định số 98/2010/NĐ-CP; Thông tư số 09/2011/TT-BVHTDL): cũng thiếu hẳn quy định cách thức thực hiện, số lượng hồ sơ, thời hạn giải quyết… (xem chi tiết Phụ lục 4).

Tiểu kết Chương 2

Pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam thời gian qua đã thể hiện nhiều mặt tích cực đặc biệt là tính tương thích hay khả năng vận dụng xây dựng các điều luật phù hợp với các định hướng và khuyến nghị trong Công ước quốc tế liên quan. Các quy định của Luật đã mở rộng hành lang pháp lý để huy động các nguồn lực xã hội; đặt cơ sở pháp lý xây dựng bộ máy tổ chức và đào tạo nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ di sản văn hóa. Song pháp luật về di sản văn hóa cũng đã bộ lộ những điểm hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được tốt nhất đòi hỏi của thực tiễn quản lý. Những hạn chế đó đã gây ra những khó khăn trong việc tổ chức thực hiện.

Trên cơ sở nhận thức rõ những nguyên nhân khách quan, chủ quan. đánh giá những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn mà văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực di sản văn hóa chưa điều chỉnh để từ đó đề ra giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay.Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Di sản văn hóa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x