Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về Di sản văn hoá ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 9 tháng 6 năm 2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành TW Đảng đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu bền vững phát triển đất nước. Nghị quyết đã đưa ra nhiều quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về xây dựng và phát triển văn hóa, trong đó có nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật về văn hóa tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các mục tiêu đề ra.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Ngày 04 tháng 4 năm 2016, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 01-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị khóa XI về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Theo đó, Bộ Chính trị xác định nội dung định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật về văn hóa, thể thao, dân tộc, dân số, gia đình, trẻ em, bình đẳng giới và chính sách xã hội; luật hóa chính sách tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm cho các tôn giáo, tín ngưỡng phát triển lành mạnh, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng để kích động chia rẽ khối đoàn kết dân tộc; hoàn thiện pháp luật về bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa… là một trong sáu nội dung định hướng của việc tiếp tục tổ chức thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020. Để thực hiện định hướng này, Kết luận số 01KL/TW chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng các bộ, ngành ở Trung ương tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật trong lĩnh vực bộ, ngành quản lý phù hợp với định hướng và của Nghị quyết 48-NQ/TW và Kết luận 01KL/TW.

Trong thời gian qua, nhất là sau khi Hiến pháp 2013 đã được triển khai trong thực tiễn, Quốc hội đã ban hành nhiều luật về các lĩnh vực khác nhau,đặc biệt là các luật cơ bản như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư… Có thể nói công tác xây dựng Luật, Pháp lệnh đã đạt được những kết quả khá tốt, tạo hành lang pháp lý điều chỉnh các hoạt động thực tiễn. Tuy nhiên điều này cũng đòi hỏi pháp luật ở từng lĩnh vực khác cần được rà soát, để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật nói chung, để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cho phù hợp với tinh thần của Hiến pháp và các đạo luật chung.

Trong những năm qua, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa Việt Nam – một kho tàng di sản/tài sản văn hóa vô cùng đồ sộ, phong phú và đa dạng.

Từ khi Luật di sản văn hoá có hiệu lực và đi vào thực hiện năm 2001, trong quá trình đưa Luật Di sản văn hoá, công tác quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá đã nảy sinh một số vấn đề bất cập như:

Nhận thức về giá trị di sản văn hóa của xã hội chưa thật sâu sắc và toàn diện, ý thức pháp luật chưa cao, vì thế còn xảy ra hiện tượng vi phạm.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Thực tiễn, kinh nghiệm công tác quản lý di sản văn ở Việt Nam cũng chưa hoàn chỉnh, đồng bộ. Hoàn cảnh khó khăn của đất nước đã ảnh hưởng đến công việc của các nhà nghiên cứu. Trong hoạt động bảo vệ di sản văn hóa, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn về cơ sở khoa học và nhất là thiếu một đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.

Cùng với sự nhận thức muộn màng, sự vận dụng một cách máy móc và cứng nhắc những khái niệm và biện pháp bảo vệ đối với di sản văn hóa, làm cho quá trình bảo vệ di sản văn hóa ở Việt Nam một thời gian dài bị hạn chế, lúng túng và thiếu hiệu quả, mất rất nhiều thời gian, công sức, dẫn đến những ý kiến trái chiều và lúng túng khi xác định biện pháp cụ thể để bảo vệ di sản. Chúng ta chưa chủ động nghiên cứu đề xuất những giải pháp hữu hiệu để xử lý tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, gây ra những bức xúc trong dư luận xã hội…

Một vấn đề vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn, cũng rất cần được quan tâm, đó là: hiện nay Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), tham gia ký kết TPP, AEC và các điều ước quốc tế khác về nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó hệ thống pháp luật về di sản văn hóa cần có sự đánh giá tổng thể để nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, từng bước hoàn thiện nhằm bảo đảm phù hợp, tương thích và chủ động thích ứng với môi trường hội nhập quốc tế.

Với những nhận thức trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài Pháp luật về Di sản văn hoá ở Việt Nam hiện nay cho luận văn tốt nghiệp cao học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính để nghiên cứu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Thực hiện Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 theo Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị thì việc nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa là một trong những vấn đề mang tính cấp thiết. Mặt khác, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một công tác có tổ chức có định hướng, chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở trung ương và địa phương, những cán bộ công tác về văn hóa nghệ thuật… tiến hành với mục đích nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa góp phần xây dựng và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Vấn đề này đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà quản lý văn hóa, nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và gia nhập các công ước quốc tế. Các công trình đã được nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau về di sản văn hóa, như :

Luận án tiến sĩ “Quản lý di sản thế giới ở Việt Nam (qua trường hợp Di tích Cố đô Huế và Đô thị cổ Hội An) ” của TS. Trịnh Ngọc Chung, 2017.

Luận án tiến sĩ “Di sản tư liệu ở Việt Nam – vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị (trường hợp các di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức Thế giới được UNESCO ghi danh)” của TS. Phạm Thị Khánh Ngân, 2017.

Sách : “Một con đường tiếp cận Di sản văn hóa” (2010-2017) tập hợp các bài viết được công bố trên tạp chí Di sản văn hóa của các nhà khoa học, nhà quản lý, các cộng tác viên của Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL.

Đề tài khoa học cấp Bộ VHTTDL “Bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế”, Chủ nhiệm đề tài TS. Nguyễn Thế Hùng, 2013.

Đề tài khoa học cấp Bộ VHTTDL“Xây dưng cơ chế chính sách và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam là di sản thế giới”, Chủ nhiệm đề tài PGS.TS. Trương Quốc Bình, 2014.

Tập tài liệu hội thảo khoa học : “Di sản văn hoá với chiến lược phát triển bền vững” của Cục Di sản văn hóa, Bộ VHTTDL, 2017.

Luận văn thạc sĩ “Quản lý Nhà nước đối với di sản văn hóa trong thời kỳ hội nhập”, Thạc sĩ Trịnh Ngọc Chung, 2008.

Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam”, Thạc sĩ Đoàn Quỳnh Dung, 2012.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Trong các công trình trên, các tác giả nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau của việc quản lý di sản, từ những bất cập, khó khăn, đến những thuận lợi trong quá trình quản lý; nêu ra nhiều vấn đề cơ bản cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa ở nhiều góc độ khác nhau: các vấn đề lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa, quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa một cách khái lược hoặc đề cập tới việc quản lý cụ thể đối với di tích lịch sử văn hóa, vấn đề quản lý về lễ hội, hay một truyền thống văn hóa dân gian một địa phương cụ thể…

Tuy nhiên, có thể thấy rằng, cho đến nay vẫn còn thiếu đề tài nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống về pháp luật liên quan đến hoạt động bảo tồn di sản văn hóa để kiến nghị việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này. Do vậy, luận văn này nhằm mục tiêu bước đầu nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về Pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay. Các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu quí giá được tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về di sản văn hoá Việt Nam đáp ứng yêu cầu về quản lý, bảo tồn, phát huy và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây :

  • Phân tích và làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về di sản văn hóa.
  • Nghiên cứu, đánh giá thực trạng của pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam.
  • Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện, bảo đảm thực hiện pháp luật di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

4.1. Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về di sản văn hoá ở Việt Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu:

  • Về không gian, thời gian: Luận văn nghiên cứu, đánh giá những quy phạm pháp luật về di sản văn hóa trong khoảng thời gian từ năm 2001 – năm ra đời Luật di sản văn hoá cho đến tháng 12 năm 2017.
  • Về nội dung: Luận văn khái quát những vấn đề lý luận về pháp luật di sản văn hóa; Đánh giá thực trạng pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam, từ đó đề ra giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

5.1. Phương pháp luận:

Luận văn được thực hiện trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật về văn hóa; quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong quản lý, phát triển văn hóa.

5.2. Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được xây dựng dực trên việc sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:

  • Phương pháp thu thập tài liệu: Thu thập, lựa chọn những tài liệu, số liệu, những thông tin liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu trong luận văn từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, kế thừa số liệu của các đơn vị chuyên ngành hang năm. Số liệu thu thập được là nền tảng, tiền đề giúp cho việc phân tích, đánh giá tổng hợp các nội dung và đối tượng nghiên cứu.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh: Được sử dụng trong suốt quá trình, phân tích đánh giá các nội dung của luận văn như các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội; các yếu tố tác động chủ quan và khách quan; thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật lĩnh vực di sản văn hóa và những vấn đề đặt ra cần giải quyết.
  • Phương pháp dự báo, phỏng vấn chuyên gia: Được áp dụng để nghiên cứu dự báo các yếu tố khách quan và chủ quan, những tác động của kinh tế, xã hội đến việc xây dựng, ban hành và thực thi văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia, nhà khoa học có kinh nghiệm về chuyên môn và pháp lý. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay và đặc thù của lĩnh vực di sản văn hóa thì phương pháp này là cần thiết và hiệu quả.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần bổ sung lý luận về pháp luật di sản văn hoá Việt Nam hiện nay.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Các kết luận của luận văn có giá trị tham khảo trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về di sản văn hóa, có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về pháp luật di sản văn hóa Việt Nam.

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 Chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật di sản văn hóa

Chương 2: Thực trạng pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về di sản văn hóa ở Việt Nam

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT DI SẢN VĂN HÓA

1.1. Tổng quan về di sản văn hóa Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

1.1.1. Quan niệm chung về di sản văn hóa

Di sản văn hóa luôn là một vấn đề được thế giới và Việt Nam quan tâm, chú trọng trong tiến trình phát triển văn hóa, kinh tế và xã hội nói chung. Di sản văn hóa hình thành từ sự sáng tạo của con người, có giá trị trên nhiều lĩnh vực, lưu truyền qua nhiều thế hệ, được thế giới ghi nhận; là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và của cả nhân loại.

Di sản văn hóa theo văn kiện được Đại hội đồng quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS) lần thứ 11 ở Bungari tháng 10 năm 1996 phê chuẩn: “Di sản văn hóa là để chỉ những di tích và những di chỉ có giá trị di sản, tạo thành môi trường lịch sử hoặc môi trường xây dựng”

Xuất phát từ hai định nghĩa cốt lõi: Một là của UNESCO – Tổ chức có uy tín trên thế giới về Văn hóa, Giáo dục và khoa học; hai là, định nghĩa từ Luật di sản văn hóa Việt Nam, để trao đổi quan điểm, nhận thức về di sản văn hóa theo hướng tiếp cận hiện đại.

Theo UNESCO, “Văn hóa là tổng thể sống động sáng tạo của con người diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện đại. Qua hàng thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành một hệ thống các giá trị truyền thống, thị hiếu thẩm mỹ và lối sống mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”

Theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO năm 1972 (Công ước 1972) là Công ước đầu tiên đưa ra định nghĩa, tiêu chí bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóadi sản thiên nhiên. Đến năm 1992, Ủy ban di sản thế giới mới bổ sung và đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là cảnh quan văn hóa để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản. Theo báo cáo của UNESCO năm 2015, đã có 1.031 di sản, thuộc 163 quốc gia tham gia Công ước Di sản Thế giới 1972 được ghi danh là Di sản Thế giới (802 di sản văn hóa, 197 di sản thiên nhiên, 32 di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên).Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Tại điều 1 của Công ước về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới năm 1972 của UNESCO, di sản văn hoá được hiểu là: các di tích, các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ, các yếu tố hoặc các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các dấu khắc, các nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học.

Trong quá trình triển khai hoàn thiện Công ước 1972, một số quốc gia đã manh nha xuất hiện một khái niệm di sản văn hóa mới: luật pháp Nhật Bản và Hàn Quốc đã quy định các tập quán “truyền thống” là “sản phẩm văn hóa” (Bourdier 1993, Ogino 1995, Jongsung 2003). Tại châu Âu, từ những năm 1980, các hình thức thể hiện của di sản đã chịu ảnh hưởng của các phạm trù như “di sản dân tộc học” ở Pháp (Chiva 1990, Fabre 1997) hay “tài sản văn hóa dân gian – dân tộc học – nhân học” ở Ý (beni demoetnoantropologici) (Tucci 2005, Bravo; Tucci 2006). Nhằm phát huy Công ước 1972 và dung hòa với loại hình di sản văn hóa đang hình thành, Chương trình Kiệt tác của nhân loại được khởi xướng, và 30 năm sau, Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO năm 2003 (Công ước 2003) chính thức ra đời, là một bước tiến mới về tư duy của nhân loại trong nhận thức, phương pháp tiếp cận và nhận diện cũng như hướng đến mục tiêu chung là bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể – bộ phận quan trọng cấu thành kho tàng di sản văn hóa của nhân loại.

Năm 2001, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành Luật Di sản văn hóa, đến năm 2009, tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. Điều 1, Luật Di sản văn hóa quy định: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Từ hai định nghĩa then chốt nêu trên, cho ta thấy những nét đặc trưng cơ bản của di sản văn hóa là phản ánh khả năng sáng tạo của con người trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, được lưu truyền, chọn lọc, tích hợp hàm chứa những giá trị quý giá về lịch sử, văn hóa và khoa học; Di sản văn hóa đến từ quá khứ, nhưng mang hơi thở của thời đại, trở thành một phần hữu cơ của đời sống đương đại.

1.1.2. Phân loại di sản văn hóa

Di sản văn hóa hình thành từ sự sáng tạo của con người, có giá trị trên nhiều lĩnh vực, lưu truyền qua nhiều thế hệ, được thế giới ghi nhận gồm di sản văn hóa vật thể, di sản văn phi vật thể.

Di sản văn hoá vật thể

Luật di sản văn hoá năm 2001, được sửa đổi bổ sung năm 2009 định nghĩa: “Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.

Di sản văn hoá phi vật thể Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Theo điều 2 Công ước về Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể năm 2003 của UNESCO: “Di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hoá có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hoá của họ”.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hoá năm 2009 định nghĩa: “Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”.

Tuy vậy, xét đến cùng, rất khó phân tách thật rạch ròi giữa di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, bởi không thể một di sản văn hóa vật thể nào lại không hàm chứa tri thức, kinh nghiệm, tinh thần và dấu ấn của chủ nhân sáng tạo, đồng thời cũng không một di sản văn hóa phi vật thể nào lại không chứa đựng và biểu hiện thông qua một cái vỏ vật chất cụ thể – mà cái vỏ vật chất cao cấp nhất, đặc biệt nhất chính là con người. Cho nên, điều lý thú được rút ra là, con người cũng chính là một di sản văn hóa, với ý nghĩa (con người) vừa là chủ thể (sáng tạo ra văn hóa), vừa là khách thể (văn hóa nhào nặn ra nhân cách con người) của văn hóa. Theo đó, “trong đời sống xã hội, mỗi hành xử của con người được coi như một lựa chọn, trong đó ẩn dấu một động cơ giá trị. Và, mỗi sản phẩm văn hóa được tạo ra đều chứa đựng một giá trị xã hội nào đó. Vì thế, có thể xem toàn bộ những tạo phẩm do hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ cũng như hiện tại làm ra được biểu hiện như là hình thức ngoại hiện của văn hóa, còn tổng giá trị xã hội chứa đựng trong các tạo phẩm ấy (cả vật thể và phi vật thể) trở thành nội dung tinh thần của văn hóa.

1.2. Pháp luật về di sản văn hóa Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

1.2.1. Quan niệm pháp luật về di sản văn hóa

Pháp luật Việt Nam là hệ thống pháp luật thành văn, bao gồm tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành thống nhất. Pháp luật về di sản văn hóa là một “mảng” nội dung của hệ thống pháp luật có mối liên hệ và thống nhất với các quy định khác trong hệ thống pháp luật.

Pháp luật về di sản văn hóa đã được chú trọng ngay từ sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: Nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới; Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh 65 về việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Có thể xem đây là văn bản quy pháp luật đầu tiên với vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Kể từ thời điểm đó đến nay, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hay trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm “gắn kết cộng đồng dân tộc’ và làm “cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Trên cơ sở Hiến pháp Việt Nam năm 1992, Luật Di sản văn hóa 2001 được ban hành, tiếp đó đến 2009 là Luật sửa đổi bổ sung Luật di sản văn hóa năm 2009 chính là khung pháp lý quan trọng, thể hiện quan điểm pháp luật chính thức của nhà nước Việt Nam đối với di sản văn hóa.

Khi nghiên cứu pháp luật về di sản văn hóa có thể thấy pháp luật về di sản văn hóa là tổng thể các quy định do cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực di sản văn hóa. Có nhiều cách thức thể hiện khác nhau các quy định pháp luật về di sản văn hóa, nhưng phổ biến nhất hiện nay là các quy định chung, các quy định có tính nguyên tắc, quy định về chủ trương được định ra trong nội dung của văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật di sản văn hóa, Luật giáo dục, Luật du lịch, Luật xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh thư viện… Các quy định về hình thức, thủ tục thực hiện, thẩm quyền được quy định cụ thể trong văn bản riêng, thường là văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, như: quy định chi tết thi hành một số điều của Luật dỉ sản văn hoá và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (Nghị định số 98/2010/NĐ-CP), quy định về xét tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hoá phi vật thể (Nghị định số 62/2014/NĐ-CP); Có quy định một hoặc một nhóm vấn đề về di sản văn hóa được quy định trong văn bản riêng như : quy định về nội dung khoa học để xếp hạng di tích lịch sử-văn hoá và danh lam thắng cảnh (Thông tư số 09/2011/TT-BVHTTDL); kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể để đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL). Luật di sản văn hóa được coi là nguồn “gốc” về khái niệm di sản văn hóa. Tuy nhiên, do tính đa dạng của di sản văn hóa, các văn bản pháp luật khác lại thể hiện các quan điểm, biện pháp thực hiện bảo tồn và phát huy mỗi loại hình theo mỗi lĩnh vực khác nhau, nó có mối quan hệ ràng buộc, liên kết chặt chẽ với nhau.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Trước hết, pháp luật về di sản văn hóa có mối liên hệ mật thiết với các quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động quản lý hành chính. Xét về tính chất các vấn đề về di sản văn hóa là những hoạt động quản lý hành chính nhà nước nên quy định về từng loại hình, biện pháp cụ thể phải đảm bảo phù hợp với hoạt động quản lý có liên quan đến vấn đề đó. Hơn nữa, Nhà nước cũng phải thực hiện quản lý đối với bản thân các loại hình di sản văn hóa – Quy định thẩm quyền, nội dung quản lý nhà nước với di sản văn hóa. Vậy các quy định pháp luật về dịch vụ không tách rời các quy định về quản lý hành chính nhà nước. Pháp luật về quản lý xác định ranh giới giữa quản lý hành chính nhà nước về di sản văn hóa, nó giới hạn quyền quản lý của các cơ quan nhà nước cũng như bảo đảm cho các loại hình di sản văn hóa được thực hành đúng với bản chất của nó. Ngược lại, pháp luật về di sản văn hóa có mối quan hệ mật thiết với những quy định pháp luật về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước.

Pháp luật về di sản văn hóa còn có mối liên hệ với các quy định pháp luật về dân sự, giáo dục, bản quyền tác giả, du lịch, xây dựng, thi đua khen thưởng, công tác dân tộc… vì đó là những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc tạo môi trường sống cho di sản, tạo động lực phát triển cho từng lĩnh vực, ngành nghề. Ví dụ, phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân nhân dân”, “Nghệ nhân ưu tú” là sự công nhận chính thức, sự tôn vinh của Nhà nước và nhân dân về tài năng, đóng góp của cá nhân đối với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa quốc gia… Mối liên hệ pháp luật về di sản văn hóa với các ngành luật, các chế định pháp luật khác vừa thể hiện sự tác động qua lại, hai chiều, biện chứng, bổ khuyết cho nhau để đảm bảo cho tất cả các quan hệ xã hội quan trọng đều được điều chỉnh và bảo vệ bằng pháp luật; vừa là biểu hiệu vừa là cơ sở cho tính thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam.

1.2.2. Nội dung chủ yếu của pháp luật về di sản văn hóa Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Điều chỉnh pháp lý đối với di sản văn hóa là tất yếu bởi lẽ so với quy định pháp luật, sự hạn chế về phạm vi tác động, sự thiếu chặt chẽ và thống nhất của các phong tục, tập quán, của các quy phạm đạo đức, các tín điều tôn giáo… đã làm cho các loại quy tắc hành vi này không là chuẩn mực, không đủ sức mạnh để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này.

Pháp luật về di sản văn hóa được thể hiện dưới hình thức là các Luật do Quốc hội ban hành; các Nghị định của Chính phủ; Thông tư, Chỉ thị, Quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ; Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, Luật Di sản văn hóa 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa 2009 quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” (Điều 1 Luật Di sản văn hóa 2001); Luật quy định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Nội dung pháp luật di sản văn hóa là những quy tắc hành vi cho các chủ thể tham gia vào việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa; ngoài ra còn bao gồm các nguyên tắc, các chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển từng loại hình, nhóm loại hình di sản văn hóa ở Việt Nam.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Pháp luật về di sản văn có thể chia thành hai nhóm nội dung chính là:

Quy định về quy trình thủ tục thực hiện các hoạt động liên quan đến bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa (di sản văn hóa vật thể: di tích lịch sử văn háo, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, Bảo tàng; di sản văn hóa phi vật thể). Các nội dung cụ thể của pháp luật gồm: nguyên tắc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa; hình thức thực hiện; các yêu cầu, điều kiện, tiêu chí xác định di sản văn hóa; quyền và nghĩa vụ các bên, thủ tục thực hiện.

Quy định về quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa (tổ chức bộ máy, nhân sự; về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong các hoạt động về di sản văn hóa). Các nội dung của pháp luật di sản văn hóa là nhằm bảo tồn di sản văn hóa, đảm bảo cho các di sản được trân trọng, phát huy, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của di sản và tạo ra sự hợp tác và hỗ trợ trong nước cũng như quốc tế trong các lĩnh vực này. Pháp luật hiện nay tập trung vào vai trò của các cộng đồng và tập thể trong việc bảo tồn di sản văn hóa; quan tâm tới các di sản mà cộng đồng coi là quan trọng và đóng góp vào việc thúc đẩy sự sáng tạo cũng như sự đa dạng, góp phần đảm bảo sự bình an cho cộng đồng, tập thể và xã hội nói chung, qua đó tạo tiền đề cho phát triển bền vững và chung sống hòa bình.

Triển khai Luật di sản văn hóa, một hệ thống văn bản dưới Luật đã được ban hành, gồm : 02 Nghị định, 02 Chỉ thị, 01 Thông tư, 09 Quyết định (xem chi tiết Phụ lục 2); Luật sửa đổi, bổ sung tại một số điều của Luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII kỳ họp thứ 5 thông qua. Theo quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa đã kịp thời được nghiên cứu, xây dựng, nhằm đưa ra những quy định chi tiết, cụ thể việc thi hành Luật trong thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, cụ thể đã có 5 Nghị định của Chính phủ và 10 Thông tư của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch được ban hành (xem chi tiết Phụ lục 3).

Về phạm vi tác động, đối tượng điều chỉnh: pháp luật về di sản văn tác động đến các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cộng đồng và cá nhân tham gia.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Đối tượng tác động của pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể chia thành 3 nhóm cơ bản. Một là, chủ thể là chủ nhân của các di sản văn hóa . Đó là cộng đồng người, những tập thể, nhóm người và trong một số trường hợp là cá nhân đã sáng tạo nên di sản văn hóa phi vật thể đó. Hai là, các cơ quan nghiên cứu di sản văn hóa , các tổ chức liên quan đến việc nhận diện và xác định di sản văn hóa phi vật thể, các cơ sở đào tạo về di sản văn hóa phi vật thể, các viện chuyên ngành: Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Viện Âm Nhạc (thuộc Bộ VHTTDL), Viện Nghiên cứu văn hóa (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam), Viện Nghiên cứu Hán-Nôm, các bảo tàng, hiệp hội, tổ chức phi chính phủ Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Ủy ban UNESCO Việt Nam… Ba là, các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực di sản văn hóa. Chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương như Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc cơ quan hành chính bằng hành vi của mình đảm bảo cho việc cung cấp dịch vụ đúng pháp luật, có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của nhân dân.

Tương ứng với sự tham gia của 3 nhóm chủ thể trên, những quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của pháp luật về dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính gồm: quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bảo tồn và phát huy di sản văn hóa và quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền với các chủ thể sáng tạo ra di sản văn hóa và các chủ thể nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.

Tóm lại, pháp luật về di sản văn hóa là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bảo tồn, phát huy và quản lý nhà nước đối với các loại hình di sản văn hóa.

1.2.3. Ý nghĩa của pháp luật về di sản văn hóa

Luật di sản văn hóa, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa cùng hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành phản ánh bước chuyển biến rõ rệt và tích cực về nhận thức và quyết tâm của toàn xã hội trên hành trình bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, vừa phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, vừa đảm bảo cập nhật những nhận thức mới và tuân thủ những điều ước quốc tế mà Việt nam đã kỹ kết hoặc tham gia.

1.2.3.1. Đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Hệ thống pháp luật XHCN Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được quy định thành các chế định pháp luật, ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định. Là một chế định pháp luật hợp thành của hệ thống pháp luật Việt Nam, sự ra đời của pháp luật về di sản văn hoá đã góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật phù hợp với sự phát triển của điều kiện kinh tế-xã hội đất nước trong thời kỳ mới; bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN là những quan hệ xã hội quan trọng phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Đồng thời, thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng là đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của toàn dân, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, tham quan du lịch của khách nước ngoài, tạo nền móng vững bền góp phần “xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới.

Trong phạm vi điều chỉnh của mình, pháp luật về di sản văn hoá góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội của các đạo luật khác như: Luật thi đua khen thưởng, Luật du lịch, Luật giáo dục, luật về xử phạt vi phạm hành chính, pháp luật về quản lý lễ hội v.v. Có thể xem pháp luật về di sản văn hoá là như pháp luật về nội dung, nó chứa đựng các quy tắc xử sự thúc đẩy các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà chức trách thực hiện nghiêm

chỉnh các nghĩa vụ pháp lý để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân trong lĩnh vực văn hoá.

Như vậy, pháp luật về di sản văn hoá góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Pháp luật về di sản văn hoá không chỉ là công cụ thể chế hóa một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước mà còn đóng góp tích cực vào việc nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác.

1.2.3.2. Trong đời sống xã hội Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Pháp luật về di sản văn hoá ra đời đã có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội thể hiện trên các lĩnh vực.

Trong lĩnh vực chính trị

Trong lịch sử xã hội loài người từ khi nhà nước xuất hiện, pháp luật chính là phương tiện thể chế hoá đường lối, chủ trương, chính sách của giai cấp cầm quyền. Chính vì vậy, pháp luật nói chung và pháp luật về di sản văn hoá phải là phương tiện thể chế hoá đường lối của Đảng – làm cho đường lối đó có hiệu lực thực thi và bắt buộc chung trên quy mô toàn xã hội. Do đó, thông qua việc ban hành pháp luật về di sản văn hoá, các quan điểm, đường lối của Đảng về bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc mới có giá trị bắt buộc thực hiện trong phạm vi toàn quốc và đối với mọi người.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Bên cạnh đó, cá nhân, cộng đồng trong quá trình tham gia các hoạt động văn hoá và bảo tồn di sản văn hoá có nhu cầu khẳng định các quyền năng của mình trong việc thụ hưởng các giá trị của văn hoá. Việc ổn định văn hoá và khẳng định các quyền thụ hưởng giá trị di sản văn hoá nhằm ổn định chính trị, an ninh, trật tự. Pháp luật về di sản văn hoá với những quy định cụ thể về quyền của cá nhân, công dân và cộng đồng trong việc quản lý di sản văn hoá đã cho nhân dân thấy được vai trò làm chủ thực sự của mình. Pháp luật về di sản văn hoá đã hướng dẫn người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của họ với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước, là đối tượng kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước trong việc quản lý di sản văn hoá. Các chủ thể văn hóa được xác định rõ về quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình một cách ngày càng rõ ràng đúng đắn. Được tham gia bảo vệ di sản văn hoá bằng việc giám sát, kiểm tra, góp ý xây dựng, phê bình đối với đảng viên, cán bộ nhà nước và đoàn thể các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về di sản văn hoá. Thông qua pháp luật về di sản văn hoá, nhà nước khuyến khích người dân phát hiện, ngăn chặn các biểu biểu hiện sai trái, tiêu cực trong lĩnh vực quản lý văn hoá nói chung, di sản văn hóa nói riêng.

Trong lĩnh vực kinh tế – văn hóa – xã hội

Pháp luật về di sản văn hoá ra đời phù hợp với ý Đảng, lòng dân. Pháp luật về di sản văn hoá ghi nhận và khẳng định giá trị trường tồn của di sản văn hoá Việt Nam với ý nghĩa di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.

Pháp luật về di sản văn hoá có vai trò là công cụ pháp lý cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, đáp ứng nhu cầu về văn hoá ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hoá thế giới. Thực tế cho thấy, trong những năm qua, trên phạm vi cả nước, nhân dân đã dốc công, dốc của để xây dựng, bảo tồn di sản văn hoá của quốc gia. Vận dụng phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “nhân dân tham gia quản lý nhà nước” về di sản văn hoá đã đem lại nhiều thành tựu to lớn cho nền kinh tế, xã hội của đất nước.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Trong lĩnh vực quản lý nhà nước

Pháp luật về di sản văn hoá thực sự là công cụ cho hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá. Pháp luật về di sản văn hoá đã xác định về các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hoá ở nước CHXHCN Việt Nam. Đặc biệt, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Như vậy, pháp luật về di sản văn hoá đã xác định những nhiệm vụ và phương thức hoạt động của cơ quan quản lý một cách khá cụ thể, mặt khác nhân dân cũng xác định được phạm vi, nội dung những nghĩa vụ mà cơ quan quản lý nhà nước phải thực hiện đối với nhân dân; tránh được những đòi hỏi, yêu sách quá đáng, thiếu cơ sở gây rối loạn trật tự xã hội cũng như cản trở hoạt động đúng đắn của chính quyền trong quản lý di sản văn hoá.

Ngoài ra, pháp luật về di sản văn hoá có vai trò quan trọng giúp cơ quan quản lý, cá nhân có thẩm quyền quản lý sử dụng là cơ sở pháp lý cho các hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật về di sản văn hoá ở Việt Nam. Đồng thời, pháp luật về di sản văn hoá cũng là cơ sở để xác định hành vi vi phạm pháp luật về di sản văn hoá và là căn cứ để phân định trách nhiệm pháp lý đối với các cá nhân có hành vi vi pháp luật về di sản văn hoá.

Tóm lại, sự ra đời của pháp luật về di sản văn hoá là phù hợp với tình hình lịch sử cụ thể của đất nước, giải quyết được những bức xúc của nhân dân trước tình trạng di sản văn hoá không được bảo tồn, phát huy một cách có hiệu quả, đôi khi còn bị xâm hại. Đồng thời thông qua pháp luật về di sản văn hoá phát huy quyền làm chủ, tính sáng tạo của nhân dân trong quá trình tham gia quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá. Thông qua việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về di sản văn hoá, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc bảo vệ di sản văn hóa cũng được thể hiện bằng sự thể chế hoá đường lối, chính sách văn hoá mà Đảng đã đề ra. Thông qua việc phát huy vai trò của pháp luật về di sản văn hóa, niềm tin đối với Đảng được tăng cường, mối quan hệ gắn bó giữa người lãnh đạo và đông đảo quần chúng được củng cố đã thúc đẩy sự tích cực, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới XHCN.

1.3. Các yếu tố tác động đến pháp luật về di sản văn hóa Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

1.3.1. Nhu cầu bảo tồn, khai thác các giá trị di sản văn hóa

Di sản văn hóa không chỉ có giá trị tinh thần lớn lao, mà còn là nguồn lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Di sản văn hóa có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, với tư cách là nguồn nhân lực quan trọng, tạo nên sức mạnh đóng góp trực tiếp vào sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Di sản văn hóa có tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội trước hết được biểu hiện ở chỗ, di sản văn hóa góp phần xây dựng môi trường xã hội Việt Nam lành mạnh, có văn hóa. Di sản văn hóa góp phần giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bằng phương thức cung cấp cho xã hội những thông tin nguyên gốc về tri thức, hiểu biết và kinh nghiệm lịch sử để chúng ta hiểu đúng quá khứ, nhận thức đúng hiện tại, định hướng đúng tương lai. Sau nữa, di sản văn hóa được tu bổ, tôn tạo theo đúng chuẩn mực khoa học sẽ trở thành tài nguyên du lịch, sản phẩm du lịch, cung cấp loại hình dịch vụ văn hóa có sức hấp dẫn, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch – văn hóa, một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước theo Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16 tháng 1 năm 2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Tuy nhiên, Nghị quyết số 08-NQ/TW cũng khẳng định mục tiêu “Phát triển du lịch bền vững; bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trường và thiên nhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội”. Có thể thấy, Di sản văn hóa đang đứng trước những thử thách khốc liệt của cơ chế kinh tế thị trường. Vấn đề đặt ra là, cần xử lý hài hòa, thỏa đáng những mối quan hệ phức tạp trong quá trình hội nhập và phát triển. Đó là những mối quan hệ giữa: kinh tế và văn hóa, phát triển và bảo tồn, truyền thống và hiện đại, quốc gia và quốc tế… Con đường đi tới là phải làm sao để “hiện đại hóa được yếu tố truyền thống” và “truyền thống hóa được yếu tố hiện đại”. “Hiện đại hóa được yếu tố truyền thống” được hiểu là tạo cơ chế chính sách phù hợp để yếu tố truyền thống tìm được chỗ đứng, có sức sống trong đời sống xã hội đương đại và cả trong tương lai, đồng thời có khả năng thỏa mãn, đáp ứng đầy đủ những nhu cầu do xã hội đặt ra. Yếu tố truyền thống phải thực sự là nhịp cầu gắn bó quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngược lại, “truyền thống hóa được yếu tố hiện đại” có nghĩa là mọi hoạt động sáng tạo các giá trị văn hóa mới nói chung, các sản phẩm văn hóa và loại hình dịch vụ văn hóa nói riêng, mang được hơi thở thời đại, tiếp cận được yếu tố tiến bộ, thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới, nhưng vẫn thấm đẫm bản sắc văn hóa dân tộc, không bị lai căng, dập khuôn một cách máy móc mô hình từ nước ngoài. Các giá trị di sản văn hóa phải được bảo vệ và phát huy, phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh; không bao giờ chỉ đơn thuần vì mục tiêu phát triển kinh tế mà hy sinh hoặc làm phương hại tới kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Xu thế toàn cầu hóa về kinh tế và quốc tế hóa về văn hóa một mặt cũng tạo ra những cơ hội và điều kiện cho hoạt động bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi nước, song cũng nảy sinh nhiều nguy cơ hủy hoại các giá trị văn hóa truyền thống và đe dọa sự tồn vong của các di sản văn hóa.

đây, phải thấy cả hai mặt: mặt thuận lợi là có thêm các điều kiện, kiến thức, thông tin, cơ hội giao lưu học hỏi và tiếp nhận nguồn trợ lực từ quốc tế. Nhưng cũng có những thách thức đang đặt ra hết sức quyết liệt. Làm thế nào để vừa bảo vệ các di sản văn hóa vừa phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập với thế giới? Làm thế nào để giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát triển, kinh tế và văn hóa, quốc gia và quốc tế? Đó là những câu hỏi, những thách thức đòi hỏi chúng ta phải giải quyết đúng đắn, phải vững vàng vượt qua. Mặt khác, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đang đứng trước những thử thách dữ dội của cơ chế thị trường và sự lựa chọn vô cùng gay gắt giữa nhiệm vụ bảo tồn và yêu cầu phát triển; giữa ưu tiên cho phát triển kinh tế, thương mại, du lịch hay ưu tiên cho văn hóa, nghệ thuật. Xét về tổng thể, không có cái bảo tồn cứng nhắc nói chung, vì nếu như vậy thì làm sao nhân loại có thể phát triển tiến lên như ngày hôm nay. Thế hệ sau nhất định có sự tiếp nối, điều chỉnh, nhưng cũng không phải là thay đổi, phá dỡ mọi cái cũ để làm mới.

Những giá trị bền vững của di sản văn hóa chỉ thực sự hấp dẫn và trở thành những sản phẩm văn hóa độc đáo, hay tiềm năng du lịch bền vững, nếu chúng ta biết phát huy những giá trị đích thực, những thế mạnh, mà không bị lôi cuốn vào xu thế thương mại hóa đơn thuần; đồng thời phải có cách tiếp cận mới – vừa tập trung vào diện mạo của di sản văn hóa, kể cả vật thể và phi vật thể, vừa bảo vệ cảnh quan môi trường trên nền tảng một quy hoạch phát triển chung của toàn xã hội. Đó mới là biện pháp bảo đảm sự tồn tại cho chính di sản văn hóa, đồng thời cũng là giải pháp hữu hiệu để bảo vệ di sản văn hóa trước những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Bởi vậy, di sản văn hóa cần được bảo vệ và phát huy bằng sức mạnh và trách nhiệm của từng người dân, của cộng đồng, của cấp ủy Đảng, của chính quyền các cấp; bằng các hoạt động quản lý và nghiệp vụ, bằng cơ chế, chính sách tương ứng và trên hết là bằng pháp luật.

1.3.2. Năng lực quản lý nhà nước về di sản văn hóa Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

  • Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
  • Quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực của nhà nước thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế, chính sách, kế hoạch… Quản lý nhà nước về văn hóa nhằm giữ gìn, xây dựng và đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa dân tộc; tạo thành các giá trị văn hóa mới và quản lý con người để phát triển văn hóa theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng. Đồng thời, đảm bảo quyền tự do dân chủ trong hoạt động và sáng tạo văn hóa; xác lập vai trò, vị trí của văn hóa trong sự phát triển của dân tộc.
  • Các hoạt động quản lý nhà nước về văn hoá bao gồm:
  • Quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá;
  • Quản lý nhà nước đối với văn hoá nghệ thuật;
  • Quản lý nhà nước đối với văn hoá – xã hội.
  • Quản lý nhà nước về di sản văn hóa: là sự chấp hành, điều hành của Nhà nước bằng các phương thức, công cụ quản lý, như: pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch…tác động vào đối tượng quản lý để định hướng, điều chỉnh những hoạt động của xã hội về lĩnh vực di sản văn hóa đi theo đúng hướng, đúng mục đích, theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam
  • Năng lực quản lý nhà nước về di sản văn hóa thể hiện ở việc thực hiện tốt những nội dung sau:

Thứ nhất, Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và ban hành, tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về di tích lịch sử – văn hóa.

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa trước hết phải gắn với việc xây dựng hệ thống thể chế – là tổng hợp các phương pháp và cách thức thực hiện việc quản lý nhà nước. Bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý văn hóa ban hành nhằm điều chỉnh về các mặt tổ chức và hoạt động, chế độ công vụ, tài chính, nhân sự liên quan; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về lĩnh vực của bộ mày hành chính nhà nước.

Trong thực tế, việc hoạch định và tổ chức thực thi các chính sách có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết, các văn bản pháp luật về văn hóa nói chung, di sản văn hóa nói riêng còn thiếu hoặc chưa đủ sức bao quát được mọi lĩnh vực trong hoạt động văn hóa. Hoạch định chính sách phải dựa trên cơ sở mối tương quan giữa ba thành phần chính cùng tham gia và chịu trách nhiệm trong việc xây dựng và ban hành chính sách cụ thể, như: chủ thể quyết định chính sách là nhà lãnh đạo và quản lý; người thực hiện chính sách là những người hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực di sản văn hóa và người bị chính sách tác động là các tầng lớp nhân dân cũng như tiềm năng của lĩnh vực. Cơ chế thực hiện chính sách yêu cầu thông tin hóa trong quản lý nhà nước bao gồm quá trình tiếp nhận thông tin, năng lực đánh giá, sử dụng thông tin và khả năng điều khiển thông tin; kế hoạch hóa, xây dựng chiến lược phát triển trong những thời kỳ khác nhau; xây dựng những chương trình với những yêu cầu xác định mục tiêu của chương trình văn hóa, chọn các hướng ưu tiên để đạt được mục tiêu, xác định nguồn lực cần huy động và có thể huy động được, xác định cơ chế điều hành tối ưu đối với chương trình mục tiêu đó…

Thứ hai, tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; tổ chức bộ máy và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về di sản văn hóa.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Việc tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học về di sản văn hóa là việc làm quan trọng, cần thiết không chỉ nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, tìm kiếm phát hiện thêm những giá trị vẫn còn tiềm ẩn trong di sản văn hóa, nhằm mục đích quảng bá, giới thiệu với nhân dân trong nước và quốc tế.

Tổ chức bộ máy quản lý di sản văn hóa không chỉ nhằm hạn chế và khắc phục những tồn tại, bất cập hiện nay mà còn góp phần tạo tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện những kiến nghị khác về chuyên môn nghiệp vụ. Qua đó, tăng cường mối quan hệ đặc biệt là quản lý chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ về công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý, quy định rõ ràng, cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng ban, ngành chức năng, chính quyền các cấp, phân cấp trong quản lý di sản văn hóa sẽ phát huy giá trị của di sản văn hóa.

Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là một nội dung mang tính khoa học, đảm bảo tính chuyên môn cao; do đó, đòi hỏi cần có một đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực thực sự mới đủ khả năng để nghiên cứu, bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích theo đúng khoa học chuyên ngành. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là cần xây dựng đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, có chất lượng về chuyên môn – nghiệp vụ. Quan tâm đầu tư đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về di sản văn hóa là việc làm thường xuyên, quan trọng; ngoài đào tạo chuyên môn đặc thù, phải được bồi dưỡng kiến thức cơ bản về Luật di sản văn hóa, các chính sách, chế độ của Nhà nước đối với di sản văn hóa.

Thứ ba, huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phục vụ các nhiệm vụ bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa.

Nguồn lực là yếu tố rất cơ bản, quyết định khả năng thực hiện chương trình bảo vệ phát huy giá trị di sản văn hóa. Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước là huy động các nguồn vốn đầu tư tu bổ, tôn tạo, bảo vệ di sản văn hóa.

Có 03 nguồn lực chủ yếu: Kinh phí từ ngân sách Nhà nước cấp; Kinh phí từ phong trào xã hội hóa hoạt động bảo tồn, tu bổ, tôn tạo di tích, trong đó có kinh phí do người dân đóng góp, ngoài ra còn có thể huy động từ các tổ chức doanh nghiệp. Hỗ trợ của các tổ chức nước ngoài, như tổ chức UNESCO cho các di tích vinh danh…; Nguồn thu từ hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa (vé vào tham quan di tích, công đức).Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Thứ tư, Thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước; tổ chức khen thưởng, kỷ luật trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Đây là một hoạt động có vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói riêng, văn hoá nói chung. Bởi vì, văn hoá có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Trong xu hướng xã hội hoá văn hoá hiện nay, các tác động tiêu cực nảy sinh ngày càng nhiều; vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm cần phải được quan tâm thực hiện một cách nghiêm túc, có kế hoạch, phối hợp tổ chức hoạt động một cách chặt chẽ với các Bộ, ngành, cơ quan, đơn vị khác. Như vậy, mới có khả năng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ mà công tác quản lý nhà nước về văn hoá đã đề ra.

Muốn phát huy được giá trị của các di sản văn hóa trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đảm bảo giữ gìn, phát huy những nhân tố tích cực của lịch sử, văn hóa truyền thống thấm sâu vào lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, để kinh tế xã hội có những bước phát triển bền vững thì quản lý nhà nước cần phải có những chính sách và giải pháp đúng đắn cùng với sự nỗ lực chung của toàn xã hội. Nhận thức rõ vai trò quan trọng này Luật Di sản văn hoá do Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật DSVH ban hành năm 2009 đã luật định nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa.

1.3.3. Hội nhập quốc tế Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, đối thoại và giao lưu giữa các nền văn hóa, văn minh, xét một cách tổng thể, sẽ có 4 hệ thống pháp luật được sử dụng như công cụ quản lý di sản văn hóa:

  • Pháp luật Việt Nam
  • Pháp luật nước ngoài
  • Các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia (công pháp quốc tế) có liên quan đến di sản văn hóa.
  • Tư pháp quốc tế.
  • Thuận lợi, tích cực

Với tư cách là quốc gia thành viên UNESSCO – Tổ chức hợp tác trí tuệ lớn nhất hành tinh – Việt Nam đã và đang phối hợp chặt chẽ với UNESCO trong công cuộc bảo tồn các di sản văn hóa.

Nhờ những quan điểm và nhận thức mới của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa trước những tác động và nguy cơ có tính toàn cầu mà sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị các di sản Việt Nam đã và đang có nhưng đổi mới cơ bản về cả nhận thức lẫn hành động.

Dấu mốc quan trọng ghi nhận những đổi mới cơ bản trong nhận thức về văn hóa nối chung và di sản văn hóa nói riêng của lãnh đạo và nhân dân Việt Nam từ quá trình tiếp thu những quan điểm mới, những nhận thức mới của UNESCO được thể hiện tập trung nhất, rõ rệt nhất trong việc xây dựng đường lối và xây dựng pháp luật về di sản văn hóa.

Về mặt đường lối, tất cả các quan điểm mới, nhận thức mới về văn hóa và di sản văn hóa của UNESCO mà Việt Nam đã tiếp nhận bằng những hình thức khác nhau từ những năm 1980 đến 1998, đặc biệt là đến kết luận của Hội nghị liên chính phủ về chính sách văn hóa vì sự phát triển của UNESCO tổ chức tại Thủy Điển tháng 4 năm 1998 – theo đó “ …ngày nay, di sản phải được hiểu bao gồm tất cả các thành phần tự nhiên và văn hóa, vật thể và phi vật thể…” – đã được tiếp thu và vận dụng trong xác định đường lối về văn hóa của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chiến lược hoạt động văn hóa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Chính phủ Việt Nam.

Đường lối văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã xác định tầm quan trọng của văn hóa và di sản văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Về xây dựng pháp luật

Ghi nhận tính chất khách quan, kịp thời của Luật Di sản văn hóa được soạn thảo từ các năm 1997 đến nửa đầu năm 2001 và được Quốc hội Việt Nam thông qua tháng 6 năm 2001. Ngoài những nhu cầu khách quan và chủ quan nội tại ở Việt nam, việc đồng bộ hóa những căn cứ pháp lý trong quá trình hội nhập quốc tế, phù hợp với những quy định quốc tế về di sản văn hóa cũng là những nguyên nhân cơ bản nhất của việc xây dựng một bộ luật mới về di sản văn hóa ở Việt Nam.

(TS. Trương Quốc Bình: Vận dụng những quan điểm của UNESCO vào việc hoạch định chính sách và hệ thống pháp lý về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam. Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế 10 năm thực hiện công ước về di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO- bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai, Hội An năm 2013)

Các điều ước mà nước ta tham gia, ký kết trở thành luật áp dụng đối với nước ta trong hoạt động và quan hệ hợp tác quốc tế về di sản văn hóa. Đó là hệ thống các quy tắc xử sự do các quốc gia thỏa thuận xây dựng nên nhằm điều chỉnh quan hệ hợp tác quốc trong quá trình bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Hiện nay, các Điều ước quốc tế (nguồn chủ yếu của pháp luật quốc tế) được ký kết ngày càng nhiều trên lĩnh vực di sản văn hóa, với những cấp độ khác nhau. Đó là các điều ước quốc tế song phương, như thỏa thuận tài chính giữa Việt nam và Pháp nhằm thực hiện dự án phát huy di sản bảo tàng Việt Nam. Ở cấp độ khu vực, đó là tuyên bố của ASEAN về di sản văn hóa, dự án hợp tác Á – Âu về bảo tồn các di sản văn hóa… Ở cấp độ toàn cầu, đó là các công ước quốc tế được ký kết trong khuôn khổ của UNESCO, như công ước bảo vệ tài sản văn hóa trong trường hợp xung đột vũ trang (còn gọi công ước HAGUE 1954 và nghị định thư kèm theo). Công ước năm 1970 về các biện pháp ngăn cấm xuất nhập khẩu và chuyển giao trái phép quyền sở hữu tài sản văn hóa (gọi tắt là công ước UNESCO năm 1970 về buôn bán bất hợp pháp); công ước năm 1972 về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới (thường gọi công ước di sản thế giới)…(xem chi tiết Phụ lục 1)Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Hệ thống điều ước quốc tế về di sản văn hóa hiện nay là một bộ phận không thể tách rời công pháp quốc tế; là nguồn cơ bản của pháp luật quốc tế; là sản phẩm của toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế, giao lưu văn hóa và đấu tranh ngoại giao giữa các nước trên trường quốc tế.

Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đất nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Có thể nói rằng, chúng ta đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa và có vai trò nhất định trong các tổ chức đó.

Sự gia tăng các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam trong các Danh mục Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới cho thấy, di sản văn hóa và thiên nhiên ở nước ta phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình. Việc Nhà nước ta phê chuẩn các Công ước quốc tế về bảo vệ di sản vật thể và phi vật thể và trở thành thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế là điều kiện thuận lợi để chúng ta có cơ hội tiếp nhận sự hỗ trợ ngày càng tăng về kinh phí, chuyên gia, kỹ thuật, đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực quản lý của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trên thế giới. Sự hiện diện của Văn phòng đại diện UNESCO tại Hà Nội là một thuận lợi để chúng ta triển khai đầy đủ trách nhiệm, đồng thời được hưởng lợi từ những hoạt động của UNESCO đối với lĩnh vực phát triển Giáo dục, Văn hóa, Khoa học nói chung, di sản văn hóa nói riêng.

Khó khăn, thách thức

Những thập kỷ gần đây, trước những tác động to lớn, nhanh chóng về khoa học công nghệ, những tác động của toàn cầu hóa, việc bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa ở Việt nam đã, đang đứng trước những thách thứ to lớn.

Để hội nhập quốc tế mà không bị hòa tan, phát triển nhưng vẫn bảo vệ được bản sắc văn hóa dân tộc, cần phải có phương pháp tiếp cận tổng thể và toàn diện để có được nhận thức đúng đắn, toàn diện về vấn đề phát triển – tiền đề cho việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Là một quá trình phát triển, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế, mà còn mở rộng sang một số lĩnh vực khác, trong đó có văn hóa ; tạo nên sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc, kích thích giao lưu, trong đó có giao lưu văn hóa, góp phần nâng cao dân trí và sự tự khẳng định của mỗi dân tộc, quốc gia, vùng miền. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng nảy sinh không ít tác động tiêu cực mà hiện tại cả nhân loại đang phải đối mặt, đặc biệt là nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc.

Toàn cầu hóa là quá trình tất yếu không thể chối bỏ, mà ngược lại, chúng ta phải chủ động hội nhập để tranh thủ những cơ hội mà nó đưa lại nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Nhưng, các cơ hội dù là thuận lợi nhất vẫn có khả năng bị bỏ lỡ nếu chúng ta không có nguồn nội lực đủ mạnh, hoặc không đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao, cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Cũng có nghĩa là, chúng ta không nên quá ỷ lại vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn lao động dồi dào nhưng giản đơn với giá công lao động thấp, không phù hợp với yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa về kinh tế và hội nhập quốc tế về văn hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia chỉ có thể xây dựng nguồn nội lực đủ mạnh trên cơ sở một nền tảng tinh thần thật vững chắc, đó là bản sắc văn hóa dân tộc và tính thống nhất trong đa dạng văn hóa. Điều này càng khẳng định vai trò, vị trí và tầm quan trọng của di sản văn hóa trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Xuất phát từ quan điểm phát triển bền vững, có thể thấy, những yếu tố cần quan tâm là: tốc độ tăng trưởng kinh tế mà theo đó là mức độ cải thiện điều kiện sống, tiếp theo là yếu tố văn hóa mà cốt lõi là bản sắc văn hóa dân tộc và cuối cùng là yếu tố môi trường sinh thái – nhân văn. Phát triển kinh tế, cải thiện điều kiện sống chỉ đáp ứng nhu cầu của con người về mặt sinh học, tạo cho họ thể chất tốt, nhưng con người ta để sống, lao động sáng tạo và cống hiến vẫn rất cần được giáo dục, đào tạo, nâng cao năng lực sáng tạo, sự phong phú, đa dạng trong đời sống tinh thần. Đây chính là những nhân tố quyết định nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như tạo ra bản lĩnh cho cả dân tộc bước vào hội nhập quốc tế mà không sợ bị hòa tan.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Trước những thách thức do toàn cầu hóa đặt ra vẫn tồn tại hai xu hướng giải quyết, với hai hệ quả tích cực và tiêu cực kèm theo. Thứ nhất, nếu chúng ta đủ bản lĩnh vững vàng, có chính sách đúng đắn và giải pháp phù hợp để khắc phục thì thử thách hoàn toàn có thể biến thành cơ hội. Thứ hai, một khi không vượt qua được thử thách thì không những không tranh thủ được các cơ hội để phát triển, mà còn hứng chịu nhiều tác động tiêu cực, trong đó, di sản văn hóa sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do ô nhiễm môi trường, do các dự án phát triển kinh tế thái quá làm cho bị biến dạng, bị xuống cấp…

Có thể khẳng định, những giá trị bền vững của di sản văn hóa chỉ thực sự hấp dẫn và trở thành những sản phẩm văn hóa độc đáo, có ý nghĩa, trở thành tiềm năng du lịch bền vững, nếu chúng ta biết phát huy những giá trị đích thực, những thế mạnh, mà không bị lôi cuốn vào xu thế thương mại hóa tầm thường. Đồng thời, cũng rất cần có cách tiếp cận mới về công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm không chỉ bảo đảm sự tồn tại của chính di sản văn hóa trước những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường, mà còn đưa hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trực tiếp có những đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

Vậy có thể nói rằng hệ thống điều ước quốc tế về di sản văn hóa hiện nay là một bộ phận không thể tách rời công pháp quốc tế; là nguồn cơ bản của pháp luật quốc tế; là sản phẩm của toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế, giao lưu văn hóa và đấu tranh ngoại giao giữa các nước trên trường quốc tế.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

Tiểu kết Chương 1

Trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đất nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Có thể nói rằng, chúng ta đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa và có vai trò nhất định trong các tổ chức đó. Sự gia tăng các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam trong các Danh mục Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới cho thấy, di sản văn hóa và thiên nhiên ở nước ta phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình. Việc Nhà nước ta phê chuẩn các Công ước quốc tế về bảo vệ di sản vật thể và phi vật thể và trở thành thành viên chính thức của các tổ chức quốc tế là điều kiện thuận lợi để chúng ta có cơ hội tiếp nhận sự hỗ trợ ngày càng tăng về kinh phí, chuyên gia, kỹ thuật, đào tạo cán bộ, nâng cao năng lực quản lý của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trên thế giới. Sự hiện diện của Văn phòng đại diện UNESCO tại Hà Nội là một thuận lợi để chúng ta triển khai đầy đủ trách nhiệm, đồng thời được hưởng lợi từ những hoạt động của UNESCO đối với lĩnh vực phát triển Giáo dục, Văn hóa, Khoa học nói chung, di sản văn hóa nói riêng.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản, một mặt góp phần nâng cao phông văn hóa của xã hội, nhưng mặt khác là biến di sản thành nguồn lực, là một giải pháp cơ bản phục vụ phát triển kinh tế, phát triển bền vững. Với ý nghĩa là một nguồn lực, văn hóa và di sản đang trở thành một dạng tài nguyên vô giá và vô tận nếu biết cách khai thác và gìn giữ, bảo vệ một cách khoa học.Luận văn: Lý luận pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về Di sản văn hóa Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x