Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Vận dụng marketing-mix tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thương mại và dịch vụ văn phòng Trung Tín dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Giới thiệu về công ty TNHH MTV thương mại và dịch vụ văn phòng Trung Tín

2.1.1. Thông tin chung về công ty

Công ty TNHH MTV thương mại và dịch vụ văn phòng Trung, tên Tín viết tắt là Trung Tín, Công ty được thành lập vào ngày 21 tháng 04 năm 2008 theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do sở kế hoạch đầu tư tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 21/4/2008. Ngay từ khi mới thành lập, Ban lãnh đạo công ty đã xác định sứ mệnh cho công ty là cung cấp một cách hiệu quả nhất, nhanh nhất, chất lượng nhất các dịch vụ văn phòng cho khách hàng tiềm năng như các doanh nghiệp, Trường học, các cơ quan hành chính, tổ chức chính trị, xã hội đóng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thông qua đội ngũ nhân viên “chuyên nghiệp từ suy nghĩ đến hành động”. Lĩnh vực hoạt động chính của công ty là cung cấp dịch vụ văn phòng như máy tính văn phòng, máy photo copy, máy in, máy quét, máy scan,máy điều hòa,… tại Quảng Ngãi và các tỉnh lân cận khu vực miền, Trung trong đó tập trung chủ yếu vào cung cấp dịch vụ văn phòng cho các cơ quan hành chính, trường học và các tổ chức chính trị . Với xã hội hơn 10 năm thành lập và không ngừng phát triển, công ty đã thu được nhiều thành công đáng ghi nhận, doanh thu, lợi nhuận cũng như thị trường của công ty ngày một tăng [2].Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Sau đây là một số thông tin về công ty:

Tên thành lập: Công ty TNHH MTV thương mại và dịch vụ văn phòng Trung Tín Trụ sở chính: 312, Phan Đình Phùng, P Chánh Lộ, Thành phố Quảng Ngãi, Quảng Ngãi,Việt Nam

Mã số thuế: 4300376201

Ngành nghề đăng ký kinh doanh [2]:

  1. Cung cấp và phân phối các sản phẩm và dịch vụ CNTT.
  2. Các thiết bị máy văn phòng từ các nhà sản xuất lớn trên thế giới .
  3. Dịch vụ cho thuê máy tính bàn,máy quét, máy scan, máy photo copy.
  4. Dịch vụ bảo dưỡng, sửa máy cho các loại máy dùng văn phòng.
  5. Đại lý mua-bán-ký gửi hàng hóa.
  6. Mua bán Laptop-Máy tính xách tay: Mac book, Sony Vaio, Dell, HP, Asus, Lenovo, Acer … Linh kiện PC Chính hãng: INTEL, AMD, GIGABYTE, ASUS,

MSI, ASROCK, KINGMAX, KINGTON, SEAGATE, WESTERN, SAMSUNG, LG, ACBEL, COOLER MASTER, TP LINK, CISCO, AMP, MICROSOFT, KASPERSKY, HP, EPSON…

  1. Bán máy bộ PC, máy photo copy,và Màn hình tinh thể lỏng LCD.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Marketing

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Với hơn 10 năm xây dựng và phát triển công ty được khách hàng và đối tác biết đến một công ty máy tính chuyên nghiệp, uy tín tại thị trường máy tính Quảng Ngãi, có những điểm mốc đáng chú ý sau:

Đăng ký kinh doanh vào ngày 21/4/2008– số vốn điều lệ 500 triệu đồng. Trụ sở kinh doanh tại số 312, Phan Đình Phùng, P Chánh Lộ, Thành phố Quảng Ngãi, Quảng Ngãi, Việt Nam với tổng diện tích mặt bằng là 120m2

Trong quá trình kinh doanh của mình, Trung Tín luôn coi khách hàng là những cá thể riêng biệt, có nhu cầu được lắng nghe, chia sẻ, được đáp ứng, phục vụ một cách tốt nhất nhanh nhất, chính xác nhất, sản phẩm rẻ nhất, đúng chất lượng và được đối xử công bằng. Bởi vậy, Trung Tín luôn nỗ lực ở mức cao nhất để mỗi nhu cầu của khách hàng đều được đáp ứng nhanh nhất, hiệu quả nhất và chuyên nghiệp nhất. Sự hài lòng và tin cậy của khách hàng chính là khởi nguồn cho sự thịnh vượng và phát triển bền vững của công ty. Sau 10 năm đi vào hoạt động Trung Tín đã nhận được rất nhiều sự tin tưởng và sự hài lòng của khách hàng cho những dịch vụ mà công ty cung cấp. Doanh thu, lợi nhuận, tài sản và nguồn vốn của công ty tăng nhanh theo từng năm. Lợi nhuận trước thuế của công ty tăng từ 260 triệu năm 2009 lên 1,2 tỷ đồng năm 2018, số lượng nhân viên năm 2008 là 5 nhân viên đến nay công ty đã có hơn 20 nhân viên được đào tạo và làm việc hiệu quả. Trong tương lai gần, Trung Tín sẽ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh để phục vụ nhu cầu của khách hàng ngày một tốt hơn. Kim chỉ nam cho mọi hoạt động kinh doanh của công ty là “Chuyên nghiệp từ suy nghĩ đến hành động”“khách hàng luôn luôn đúng, nếu khách hàng sai xem lại chính mình” nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu riêng biệt của mỗi khách hàng.

Sơ đồ 1.2: Quá trình phát triển của Công ty

2.1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Công ty TNHH Trung Tín là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do ông Lê Văn Hoàng thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh và là giám đốc công ty, đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty.

Sơ đồ 1.3: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty

  • Vai trò của các bộ phận trong công ty:
  • Ban Giám đốc: là người điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của công ty, có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày; định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty thông qua việc hoạch định các chính sách, ra nghị quyết hành động cho từng thời kỳ phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.
  • Phòng hành chính, nhân sự: Trợ giúp cho Ban Giám đốc công ty quản lý và hoạch định các chính sách phát triển nguồn nhân lực, cũng như đảm bảo tốt môi trường làm việc và đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ công nhân viên và người lao động.
  • Phòng tài chính kế toán: Là phòng chức năng giúp việc cho Giám đốc công ty trong việc tổ chức, chỉ đạo công tác Tài chính – Kế toán theo đúng quy chế tài chính và điều lệ công ty. Phòng tài chính kế toán bám sát và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao bao gồm: Kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh, phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu chi tiêu kịp thời và đầy đủ, báo cáo kịp thời chính xác các chứng từ hợp đồng kinh tế, lập và gửi báo cáo thống kê, báo cáo tài chính hàng quý và cuối niên độ kế toán để gửi lên Ban giám đốc công ty. Ngoài ra Phòng tài chính kế toán còn đảm bảo hoàn thành tốt công tác lên kế hoạch tài chính, lập các báo cáo đột xuất phát sinh.
  • Phòng kinh doanh, marketing: chịu trách nhiệm lên phương án điều động nhân viên kỹ thuật lắp ráp, sữa chữa theo yêu cầu Ban giám đốc công. Quản lý, lưu giữ chứng từ, sổ sách nhập – xuất – kiểm kê kho, biên bản bàn giao hàng hóa và định kỳ lập các báo cáo theo yêu cầu quản lý. Tổ chức triển khai giao hàng trong nội tỉnh và làm thủ tục vận chuyển hàng hóa nội ngoại tỉnh. Lập kế hoạch vận chuyển và lưu kho hàng hóa và thu gom, phân phối đến các đại lý. Bên cạnh đó lên kế hoạch xúc tiến thương hiệu cho công ty.

Trong nội tại công ty, đôi khi các bộ phận chức năng có lợi ích riêng không thống nhất với nhau. Đây là một trong những nguyên nhân từ bên trong dẫn đến sự thất bại của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Do đó ban lãnh đạo công ty cần phải đảm bảo tính hệ thống trong liên kết nội tại này, làm cho các bộ phận thống nhất lợi ích để cùng hướng tới mục đích chung của công ty.

2.2. Các yếu tố tác động đến hoạt động Marketing mix của Công ty TNHHMTV Thương mại và dịch vụ văn phòng Trung Tín

2.2.1. Yếu tố khách quan Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

2.2.1.1. Môi trường kinh tế

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 nền kinh tế đã phục hồi kéo theo sự vực dậy của các ngành kinh tế nước nhà và Nghị quyết số 11 của Thủ tướng Chính phủ về cắt giảm đầu tư công. Theo đó ngành đầu tư về công  nghệ thông tin cho các cơ quan hành chính Nhà nước cũng có những bước phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng. Năm 2008 nền kinh tế Việt Nam đã trải qua những bước biến động mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ khoảng 6,7% thấp hơn tốc độ 8,48% của năm 2007, lạm phát ở mức 22,9 % cao nhất kể từ năm 1992 trở lại đây, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2008 đạt khoảng 17.328.227 VNĐ. Năm 2017 và 2018 nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình 7.3%/năm. Điều này góp phần nâng cao mức chi tiêu cũng như tăng mức nhu cầu giao lưu, đi lại của người dân trong đời sống hiện đại hóa như ngày nay. Như vậy đây là cơ hội tốt để doanh nghiệp tận dụng và tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ văn phòng(công nghệ thông tin)của mình[21].

2.2.1.2. Yếu tố Chính trị – Xã hội

Hiện nay Việt Nam được đánh giá là một trong những môi trường đầu tư an toàn nhất với tình hình chính trị ổn định. Chính phủ có nhiều nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO với lộ trình giảm thuế cam kết sẽ tạo ra những cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tuy nhiên hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động giám sát còn lỏng lẻo và chưa có quy định rõ ràng đối với việc kinh doanh dịch vụ văn phòng gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Một yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ văn phòng Việt Nam hiện nay là khuôn khổ chính sách của chính phủ như: tính tự chủ trong quyết định giá bán, giá dịch ,vụ các điều kiện gia nhập thị trường… Hoạt động dịch vụ văn phòng là ngành hàng đòi hỏi tính liên kết rất cao. Tuy nhiên, trên thị trường hiện nay các DN dịch vụ văn phòng của Việt Nam rất nhỏ, hoạt động theo hướng tách ra. Chủ yếu các doanh nghiệp dịch vụ văn phòng Việt Nam đều chủ động đưa ra những biện pháp để tăng năng suất, hiệu quả hoạt động bằng cách tăng giá bán, tăng chi phí sữa chữa và chi phí lắp đặt.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống của xã hội ngày càng được tăng cao, nhu cầu của người dân cũng có sự thay đổi nhanh chóng. Việc ứng dụng khoa học công nghệ tạo nên một bước tiến mạnh mẽ nâng cao hiệu quả công việc, đẩy mạnh chất lượng cuộc sống của con người. Cùng với sự gia tăng của thu nhập, nhu cầu của con người ngày càng phát triển một cách phong phú

2.2.1.3. Môi trường khoa học công nghệ

Khoa học công nghệ là lĩnh vực phát triển với tốc độ chóng mặt trong vài thập niên trở lại đây chính vì vậy sản phẩm công nghệ thông tin thay đổi về các tính năng, công dụng cũng như mẫu mã, kiểu dáng một cách nhanh chóng. Các sản phẩm PC, laptop, điện thoại di động ngày càng trở nên phổ biến đối với người dân. Các sản phẩm về phần mềm cũng được nâng cao về tính năng để tương thích với chức năng của sản phẩm chính. Đặc biệt những năm gần đây Việt Nam được đánh giá là thị trường tiềm năng của khu vực Đông Nam Á nói riêng khu vực châu Á nói chung. Năm 2008 cùng với Philippines và Indonesia, Việt Nam là các nước trong khu vực có tỷ lệ tăng trưởng chi tiêu công nghệ thông tin trên 10%. Năm 2009, trong tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng tăng trưởng của Việt Nam vẫn dương ( hơn 1%). Như vậy có thể thấy sự phát triển của khoa học công nghệ tác động tới toàn bộ các khía cạnh của nền kinh tế xã hội. Đặc biệt là với các doanh nghiệp kinh dịch vụ văn phòng thì cơ sở hạ tầng, kỹ thuật công nghệ của nền kinh tế như: hệ thống mạng lưới đường truyền, hệ thống thông tin liên lạc…ảnh hưởng lớn đến việc tăng giảm các chi phí về lắp đặt, sữa chữa , chi phí về thời gian vận chuyển của công ty.

2.2.1.4. Đặc điểm của đối thủ cạnh tranh Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh luôn là vấn đề diễn ra sôi động, cấp bách và gay gắt. Bất cứ một doanh nghiệp nào để tồn tại trước tiên phải có vốn, nguồn lao động và kỹ thuật nhưng phải biết sử dụng và quản lý một cách có hiệu quả. Bên cạnh đó các doanh nghiệp luôn phải có các công cụ và phương pháp cạnh tranh thì mới có thể đứng vững và phát triển. Khi đóng vai trò là yếu tố tích cực cạnh tranh chính là bước đào tạo, là động lực để các doanh nghiệp vươn lên phát triển, theo kịp với xu thế phát triển kinh tế thế giới, đem lại hiệu quả cao cho hoạt động kinh doanh, đóng góp vào ngân sách nhà nước, đem lại cuộc sống ấm no cho người lao động. Cạnh tranh được coi là yếu tố tiêu cực khi nó gây ra áp lực, dẫn đến đường lối làm ăn vi phạm chuẩn mực xã hội. Cạnh tranh là biểu hiện của tính hai mặt đối lập nhau tuy nhiên nó không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường.

Thông thường khi xuất hiện đối thủ cạnh tranh thì việc đẩy mạnh marketing, định vị thương hiệu của doanh nghiệp sẽ phải được chú trọng và thực hiện một cách hiệu quả hơn. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải tạo cho mình một chỗ đứng trong thị trường, có thị trường và uy tín. Nếu doanh nghiệp không nắm bắt được thị trường, không nắm bắt được xu hướng phát triển thì sẽ bị bỏ rơi và có thể bị khách hàng lãng quên.

Cạnh tranh trong ngành dịch vụ văn phòng đang rất căng thẳng. Sự di chuyển, thay đổi công nghệ,vận động của dòng sản phẩm công nghệ thông tin và con người diễn ra một cách nhanh chóng kéo theo nó là sự bủng nổ của hệ thống các hình thức, phương thức kinh doanh sản phẩm công nghệ thông tin ra đời. Sự xuất hiện ngày càng nhiều số lượng các công ty, tập đoàn máy tính đang tạo một sức ép cạnh tranh to lớn lên các doanh nghiệp. Điều này khiến cho việc đẩy mạnh ứng dụng marketing – Mix vào hoạt động của các doanh nghiệp máy tính ngày càng quan trọng.

2.2.2. Yếu tố chủ quan 

2.2.2.1. Đặc điểm sản phẩm dịch vụ văn phòng Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Từ khi công nghệ thông tin ra đời cho đến nay và việc áp dụng công nghệ thông tin vào công việc hàng ngày của cá nhân, tổ chức và cơ quan hành chính,công nghệ nhà nước thông tin luôn đóng vai trò là một mắt xích quan trọng của quá trình quản lý,sản xuất, kinh doanh và quản lý thông tin của các nhà doanh nghiệp .Dịch vụ văn phòng làm ột ngành dịch vụ, tham gia vào việc cung ứng các thiết bị, máy móc và công nghệ thông tin cho các cơ sở sản xuất, các tổ chức chính trị xã hội và các cơ quan hànḥ chính nhà nước, giúp cho quá trình sản xuất xã hội diễn ra liên tục và được thực hiện nhanh chóng.Phục vụ nhu cầu sinh hoạt, nắm bắt thông tin hàng ngày của người dân giúp cho các hoạt động sinh hoạt được diễn ra thuận tiện.

Một dịch vụ có thể do nhiều tổ chức cung ứng, do đó các giải pháp marketing-mix cũng chịu tác động bởi các chính sách của các tổ chức mà doanh nghiệp liên kết để cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Một đặc trưng rất cơ bản của dịch vụ là tính không tách rời được. Trong đa số các trường hợp, dịch vụ được sản xuất và tiêu dùng đồng thời, và chỉ được hoàn thành cùng với sự hoàn thành tiêu dùng của khách hàng. Nếu chưa có khách hàng, chưa có hệ thống tạo ra dịch vụ. Do dịch vụ văn phòngđược thực hiện bởi những người cung cấp khác nhau, ở những thời gian và địa điểm khác nhau và có cả sự can thiệp của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ đã tạo ra tính không ổn định của dịch vụ. Vì thế khó có thể kiểm tra trước chất lượng dịch vụ và điều này gây khó khăn trong quản lý chất lượng của dịch vụ. Dịch vụ văn phòng bao gồm:

  • Lắp đặt hệ thống công nghệ thông tin như máy tính để bàn, máy photo, máy quét, máy scan, máy in, dàn âm thanh, thiết bị truyền, máythông điều hòa,….
  • Giao nhận và sữa chữahiết bị, máy móc dùng trong văn phòng.
  • Tư vấn, thiết kế phòng làm việc, trụ sở làm. việc
  • Lưu kho và phân phối hàng hoá.

Việc phối hợp các dịch vụ này với nhau ở những mức độ và kết cấu khác nhau sẽ hình thành nên những phối thức dịch vụ khác nhau. Trung Tín đã biết khéo léo kết hợp các loại dịch vụ khác nhau đó để tạo ra cho mình một tập hợp dịch vụ tương đối hoàn chỉnh phù hợp với những thế mạnh của mình, đồng thời đáp ứng tốt nhất nhu cầu có tính đặc thù của thị trường mà doanh nghiệp đã lựa chọn. Tuy nhiên, do thị trường, khoa học công nghệ luôn thay đổi theo từng ngày, đòi hỏi Trung Tín phải luôn có những điều chỉnh linh hoạt theo sự thay đổi nhu cầu và thị hiếu của khách hàng để tránh lãng phí.

2.2.2.2. Cơ sở vật chất của công ty

Riêng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ văn phòng thì tài sản máy móc, sản phẩm chiếm mới phần lớn tổng tài sản của doanh nghiệp. Nó là thành phần trực tiếp tạo ra doanh thu cho công ty, khi nào các sản phẩm được xuất kho, có ký kết hợp đồng mua bán với các khách hàng là cá nhân hay tổ chức doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị quản lý hành chính…thì doanh nghiệp có doanh thu.

Hơn thế nữa các dịch vụ mà công ty mang lại cho khách hàng cũng là một phương tiện quảng cáo hữu hiệu và có tính chất tác động mạnh mẽ đến khách hàng. Khi khách hàng tìm đến với doanh nghiệp thì cái mà khách hàng bị thuyết phục đầu tiên chưa chắc đã là hệ thống văn phòng hiện đại, sang trọng của doanh nghiệp mà chính là hệ thống các dòng sản phẩm thương hiệu trên thế giới, đội ngũ thợ kỹ thuật lành nghề và phong cách phục vụ chu  đáo mà doanh nghiệp có.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Bên cạnh đó, khi thiết bị, máy móc của văn phòng bị hỏng thì đội ngũ ky thuật, cứu hộ sẽ có mặt kịp thời khắc phục sữa chữa khả năng và phản ứng đối với những thay đổi bất ngờ của điều kiện tự nhiên và các tai nạn bất ngờ xảy ra không chỉ góp phần thu hút khách hàng, tạo ra sự tín nhiệm của khách hàng mà còn là yếu tố làm giảm chi phí sửa chữa bảo dưỡng, hạn chế hư hỏng. Yếu tố quan trọng của ngành dịch vụ văn phòng là chịu nhiều tác động của điều kiện công việc, do vậy cần được trang bị cho doanh nghiệp một đội ngũ kỹ thuật lành nghề, nhiệt tình với khá hàng khi có yêu cầu cấp thiết phương và tiện thông tin liên lạc hiện đại, hoạt động nhanh chóng để đảm bảo cho hoạt động hàng ngày không bị tổn thất

Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp không chỉ là phương tiện mà bên cạnh đó còn là hệ thống máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Cơ sở vật chất kỹ thuật này góp phần tăng giá trị phần dịch vụ cung ứng ra thị trường của doanh nghiệp. Nếu hệ thống này hoạt động hiệu quả thì chúng đóng góp một phần không nhỏ vào đầu vào của doanh nghiệp và tạo được sự nhanh chóng trong cung cấp dịch vụ cho khách hàng, giúp cho công việc được hoạt đông xuyên suốt không bị ách tắt và cũng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng tốt hơn.

Bảng 2.1. Cơ cấu tài sản của Công ty Trung Tín

Tuy nhiên, đổi mới và nâng cao chất lượng để bảo đảm phục vụ nhu cầu của khách hàng,cũng cần phải cân nhắc so sánh giữa chi phí bỏ ra để đầu tư nhập về số lượng lớn các máy móc và thiết bị và mới các khoản chi phí tiết kiệm lâu dài có được. Trị giá của một lô hàng cần nhập về là rất lớn và để có được một đơn hàng với các thiết kế đầy đủ tiện nghi cho một cơ quan, đơn vị khi lắp đặt đòi hỏi thì một chi phí còn cao hơn nữa… Bên cạnh đó là đòi hỏi một đội ngũ kỹ sư có trình độ chuyên môn cao để có thể điều hành phát triển. Nói chung để đạt được mong muốn đổi mới cả hệ thống thì buộc doanh nghiệp phải có khách hàng lâu dài và chu đáo.

2.2.2.3. Trình độ nhân sự của công ty

Lao động là một trong những yếu tố đóng góp lớn vào sự thành công của doanh nghiệp. Hiện tại lực lượng lao động của công ty đều là những người có kỹ năng, có kiến thức cũng như có trình độ tay nghề và khả năng ứng dụng công nghệ cao. Về trình độ chuyên môn, lao động làm việc tại công ty đều được tuyển chọn kĩ càng, họ đều là những kỹ sư, chuyên gia về một lĩnh vực nhất định để đáp ứng yêu cầu công việc.

Nhằm thu hút được những nhân tài, doanh nghiệp cũng đưa ra chính sách để trọng dụng những người giỏi và giữ chân những người tài. Cụ thể như xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu công việc của người lao động, cung cấp hệ thống máy tính cá nhân hiện đại phục vụ yêu cầu công việc, hỗ trợ đi lại cũng như bãi gửi xe cho nhân viên và một số điều kiện vật chất khác. Bên cạnh đó chế độ lương thưởng gắn liền với lợi ích của nhân viên cũng được ban lãnh đạo cân nhắc thường xuyên và đưa ra mức hợp lí với sự đóng góp của nhân viên. Không những thế, công ty cũng xây dựng đặc trưng môi trường văn hóa kinh doanh tạo ra môi trường làm việc nhanh, chuyên nghiệp, hiệu quả và sự kết nối chặt chẽ giữa nhân viên, từ đó tạo động lực làm việc cho nhân viên.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Hơn nữa, yếu tố kinh nghiệm và kỹ năng quản lý trong kinh doanh được coi là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Nguồn lực của doanh nghiệp dù có dồi dào đến đâu nhưng không có cách quản lý đúng đắn, không có kinh nghiệm trong điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì cuối cùng những nguồn lực ấy cũng không thể phát huy hết tác dụng. Nó tạo ra sự lãng phí nguồn lực và lãng phí trong cả chi phí cho lượng lao động không được làm đúng và chậm lại công việc của công ty.

Quản lý là một phạm trù khoa học và nghệ thuật do chính con người sáng tạo qua thực tế kinh doanh được đúc kết lại. Người quản lý đòi hỏi phải là người vừa thấu hiểu nghiệp vụ đồng thời vừa phải là người có nghệ thuật đối xử xã hội và phải có tầm nhìn, biết sản xuất bố trí chức vụ công việc phù hợp cho nhân viên của mình. Do vậy, doanh nghiệp phải biết áp dụng những biện pháp quản lý thích hợp cho từng tình huống, từng giai đoạn cụ thể để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghiệp,

Trình độ quản lý còn hiểu là phương pháp quản lý của đội ngũ lãnh đạo và trình độ quản lý của chính đội ngũ cán bộ của công ty. Một phương pháp quản lý khoa học sẽ giúp cho doanh nghiệp có thể vận hành tốt từ đây mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp. Nếu như trình độ quản lý cũng như cơ chế quản lý không tốt sẽ dẫn đến việc cán bộ cấp dưới bê trễ làm việc thiếu tinh thần, kìm giảm năng suất lao động làm việc không được hoàn thành đúng kế hoạch. Hơn thế nữa nếu phương pháp quản lý không tốt có thể dẫn đến tình trạng không đồng nhất từ trên xuống dưới, những thông tin truyền đạt từ cấp cao xuống các bộ phận có thể thiếu chính xác tạo nhầm lẫn trong thông tin. Đây là một vấn đề rất nguy hiểm sẽ là nguy cơ cho sự tồn tại của công ty nếu nó xảy ra. Nếu có sự quản lý sát sao về công việc của từng người và có những tổ chức định mức cụ thể để dễ dàng kiểm tra về hao phí, tốc độ hoàn thành công việc thì khả năng lãng phí các nguồn lực doanh nghiệp sẽ giảm đi, giá thành của sản phẩm dịch vụ sẽ được hạ thấp từ đó nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

2.3. Thực trạng vận dụng marketing-mix trong hoạt động kinh doanh dịch vụ văn phòng của Công ty TNHH MTV thương mại và dịch vụ văn phòng Trung Tín

2.3.1. Khái quát thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây

Khi mới thành lập điều kiện kinh doanh của công ty là vô cùng khó khăn, trang thiết bị thô sơ, nhân lực thiếu thốn. Tuy nhiên, ban lãnh đạo công ty luôn có những chiến lược kinh doanh đúng đắn dẫn dắt công ty vượt lên khó khăn, ngày càng khẳng định tên tuổi trên thị trường. Từ năm 2008 đến nay công ty luôn duy trì được mức tăng trưởng cao.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Doanh thu và lợi nhuận là hai chỉ tiêu quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Trong những năm vừa qua với sự cố gắng của Ban giám đốc và tập thể những người lao động, công ty đã đạt được những kết quả lạc quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ bảng 2.2 bên dướita có thể thấy tình hình hoạt động của Trung Tín là rất ổn định, tăng trưởng trong những năm 2008-2018 luôn đạt cao khoảng 60% mỗi năm.

Về doanh thu: Doanh thu của công ty đã tăng qua các năm từ năm 2008 đến năm 2018. Năm 2008, giá trị doanh thu đạt 734 triệu đồng, năm 2009, giá trị doanh thu đạt 1.221 triệu đồng tăng 487 triệu tương ứng với 66,3%. Sau 8 năm vào năm 2017 giá trị doanh thu tăng với tốc độ vượt bậc đạt 6.234 triệu đồng tăng 5.500 triệu so với năm 2008 tương ứng với 88,2%. Giá trị doanh thu năm 2018 đạt 7.064 triệu tăng 830 triệu tương ứng 13,3%.

Về lợi nhuận: Năm 2008, mức lợi nhuận đạt 260 triệu đồng. Sau 10 năm lợi nhuận tăng dần với mức lợi nhuận là 1,25 tỷ đồng tăng 990 triệu đồng so với năm 2008 tương ứng với 79,2%. Diễn biến về mức tăng và tốc độ tăng lợi nhuận có mối quan hệ tương quan với doanh thu.

Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty năm 2008-2018

Nguyên nhân của kết quả này là do năm 2008 công ty mới đi vào tiến hành các hoạt động sản xuất, nguồn khách hàng còn ít,lực lượng lao động còn mỏng,tay nghề của người lao động còn non kém nên hiệu quả đạt được còn thấp. Những năm sau đó, có tên tuổi trên thị trường, nguồn khách hàng biết đến ngày càng nhiều, đô ngũ lao động lành nghề, số lượng máy thiết móc,bị nhập về tăng dần, tay nghề của người lao động được nâng cao đồng thời công ty cũng tìm ra và áp dụng những biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí kinh doanh. Do đó sau 10 năm có số lượng đơn đặt hàng tăng cao nên tốc độ tăng doanh thu cao. Tuy nhiên tốc độ tăng giữa các năm không đều. Năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và ảnh hưởng của lạm phát cao tại Việt Nam khiến cho nhu cầu của người dân giảm, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty. Đánh giá được tình hình khó khăn, Trung Tín đã cố gắng nỗ lực, tập trung vào hoạt động kinh doanh, huy động nguồn lực phát triển khách hàng và đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, công ty đã thu được kết quả đáng khen ngợi. Đặc biệt năm 2010, do việc đầu tư thêm nguồn vốn kinh doanh, cơ sở hạ tầng cùng với nền tảng kinh doanh sau hơn 2 năm đi vào hoạt động chuyên nghiệp, với việc tổ chức tốt các hoạt động xúc tiến thương mại nên Công ty có mức tăng doanh thu vượt trội 92% so với năm 2008. Năm 2011 trở về sau, công ty đã đi vào hoạt động ngày càng ổn định cùng với lượng khách hàng và nhu cầu sử dụng công nghệ thông tin của khách hàng được lên kế hoạch và mang tính đều đặn, công ty đạt mức tăng trưởng 31,9% doanh thu là mức tăng trưởng cao và mang tính ổn định, là xu thế tất yếu để Trung Tín có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường hiện nay.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng doanh thu của Công ty giai đoạn 2008 – 2018

Tóm lại trong 10 năm từ năm 2008 đến năm 2018 kết quả hoạt động kinh doanh của công ty là rất tốt. Năm 2009 công ty đạt được mức tăng và tốc độ tăng cao nhất cả về doanh thu và lợi nhuận là một thành công quan trọng để công ty đi vào ổn định, trình độ hoạt động kinh doanh của công ty ngày càng tốt và dần được hoàn thiện.

Bảng 2.4: Cơ cấu doanh thu của công ty Trung Tín

Trong bản này chỉ cập nhập đánh giá số liệu doanh thu từ năm-20112008 để đánh giá doanh thu chung cho công ty và doanh thu cũng đã so sánh qua bản 2.3. Qua bảng 2.4 ta nhận thấy rằng doanh thu cung cấp dịch vụ bán hàng theo đơn đặt hàng cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp qua các năm tăng nhanh và chiếm tỷ trọng lớn, là yếu tố quan trọng làm tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận chung của công ty. Năm 2008 doanh thu từ bán hàng theo đơn đặt hàng đạt 475 triệu đồng, năm 2009 doanh thu từ hoạt động này tăng 40,9% so với 2008. Năm 2011 mức tăng trưởng doanh thu sữa chữa, lắp đặt 104% so năm 2008, đạt 254 triệu đồng, tạo ra một sự thay đổi không nhỏ trong cơ cấu doanh thu. Nếu xét chỉ số doanh thu dịch vụ bán hàng theo hợp đồng trên tổng doanh thu của cả công ty thì doanh thu từ hoạt động này chiếm tỷ trọng trên 70%, doanh thu từ sữa chữa, lắp đặt là 20%, còn lại 10% là doanh thu từ bán hàng linh kiện và hàng bán lẻ. Có được kết quả trên là do ngay từ khi mới thành lập Trung Tín đã tập trung nguồn lực vào nguồn khách hàng là các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp với số lượng bán lớn và cho đến nay đã có được một lượng khách hàng quen lớn, có uy tín và được định vị trên phân đoạn thị trường này. Đây cũng sẽ là nền tảng để Trung Tín tiếp tục phát triển hoạt động kinh doanh của công ty sang các phân đoạn thị trường khác.

2.3.2.Thực trạng vận dụng marketing – mix trong hoạt động kinh doanh của công ty trong những năm gần đây Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

2.3.2.1. Chính sách sản phẩm

  • Về chủng loại: Do đặc thù của công ty là kinh doanh thương mại và dịch vụ, do vậy các sản phẩm được nhập từ các hãng sản xuất, hoặc từ các nhà cung cấp phân phối cấp 1. Chủng loại hàng CNTT như máy tính xách tay, máy nguyên bộ, máy lắp ráp, máy chủ, máy in, máy scan, máy fax… và các linh kiện, thiết bị phụ trợ đi kèm bao gồm: thiết bị mạng như modem, bộ thu phát router, 3G, bộ chia mạng. Các thiết bị giải trí bao gồm: tai nghe, webcam, ghi âm, MP3, máy ảnh, máy quay…

Các linh kiện cho máy lắp ráp bao gồm:

  • Bo mạch chủ, vi sử lý, nguồn, ổ cứng, vỏ máy, phím, chuột, loa …
  • Về chất lượng: Chất lượng sản phẩm của công ty theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất, theo phiếu bảo hành của từng hãng.
  • Về nhãn mác bao bì: Theo tiêu chuẩn của từng hãng đóng gói, nhãn mác bao bì dưới dạng nguyên hộp bìa cứng, hộp giấy, hộp nhựa, bọc bóng kính, thùng xốp…

Các nhãn mác xuất sứ theo nhà sản xuất như: Intel, microsoft, IBM, Sony, HP, Samsung, Acer, Lenovo, Toshiba, Dell, LG, Canon, MSI, Epson, Linksys, Tplink, Gigabyte, Asus, Ben Q, AOC, Kingston….Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

  • Về đa dạng hóa sản phẩm: Do đặc thù mô hình chuỗi bán lẻ nên công ty nhập đa dạng mẫu mã, chủng loại để đủ số lượng tồn kho cho trưng bày hàng hóa theo mô hình siêu thị, đến đó khách có thể tham khảo, so sánh một loại với nhiều loại sản phẩm khác nhau.

Ví dụ như: các sản phẩm phụ trợ như máy bộ thì có linh kiện thay thế, có phần mềm bán kèm. Máy in thì có mực in, thiết bị mạng thì có bán cả dây mạng, kìm bấm, USB 3G để kết nối internet.

Với chính sách đa dạng hóa sản phẩm phần nào đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của mỗi phân khúc thị trường dành cho từng khác hàng.

  • Dùng thử sản phẩm: Trong vòng 48 giờ sau khi mua hàng, khách hàng được quyền đổi lại sản phẩm nếu không ưng ý và có thể đổi lại sản phẩm khác, hoặc hoàn trả lại tiền mà không mất bất kỳ khoản phí nào(không áp dụng máy để bàn, nguyên bộ của hãng, máy tính xách tay, máy chiếu, máy fax, máy in, máy photocopy, máy huỷ tài liệu, máy ảnh, máy quay và các sản phẩm bị tiêu hao trong quá trình sử )dụng.
  • Đổi sản phẩm: Tất cả sản phẩm của công ty Trung Tín cung cấp nếu bị lỗi do nhà sản xuất không phải lỗi do khách hàng sẽ được:
  • Đổi mới 100% trong 10 ngày: Đối với sản phẩm bảo hành tại .hãng
  • Đổi mới 100% trong 45 ngày: Đối với sản phẩm bảo hành tại Trung Tín.
  • Đổi tương đương trong 120 ngày: Đối với tất cả sản phẩm mua từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 6.

Như vậy có nhiều chính sách dịch vụ đối với sản phẩm như một sự cam kết với khách hàng, tăng niềm tin khách hàng với sản phẩm tạo uy tín công ty.

Do Công ty Trung Tín được thành lập trên quan điểm đi trực tiếp vào những quan ngại, lo lắng của khách hàng, lắng nghe họ để có những dịch vụ xuất sắc và đột phá, phát triển những sản phẩm chào bán có thể thực sự đáp ứng nhu cầu thực sự cần thiết của khách hàng. Nắm bắt được tâm lý khách hàng quan tâm nhất đến sự giao hàng tin cậy, đúng hạn với chi phí cạnh tranh nhất, thậm chí ngay cả khi điều kiện thời thiết rất tệ; hay là nhu cầu cần thấy được sự vận động liên tục của quá trình cung cấp dịch vụ, để đáp ứng điều này thì thách thức lớn nhất chính là công nghệ thông tin; nhu cầu dịch vụ lắp đặt trọn gói, muốn một nhà cung cấp duy nhất chịu trách nhiệm cuối cùng về kết quả dịch vụ, cho dù nhà cung cấp ấy có cộng tác với ai đi chăng nữa.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Trung Tín đưa ra 5 yếu tố quan trọng nhất đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ mình cung cấp bao gồm:

  1. Tin cậy: Khả năng thực hiện cam kết với khách hàng một cách đáng tin cậy và chính xác.
  2. Đáp ứng: Sự sẵn lòng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ nhanh chóng.
  3. Sự đảm bảo: Kiến thức và sự nhã nhặn của nhân viên cùng khả năng truyền đạt sự tín nhiệm và tin cậy.
  4. Sự thông cảm: Sự quan tâm, chú ý tới từng khách hàng.
  5. Các phương tiện hữu hình: Vẻ bề ngoài của các cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân viên và các phương tiện truyền đạt thông tin.

Trong kinh doanh thời gian là vô cùng quan trọng quyết định tới lựa chọn của khách hàng đối với dịch vụ. Chính vì thế công ty luôn quan tâm tới việc rút ngắn thời gian thực hiện các công việc để thực hiện dịch vụ sớm nhất, thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách nhanh nhất.

Một yếu tố khác tạo nên chất lượng của sản phẩm dịch vụ mà công ty cung cấp là các quy trình nghiệp vụ phát sinh như: quy trình quản lý các chứng từ bán hàng, quy trình giải quyết sự cố bất ngờ xảy ra… Công ty Trung Tín thực hiện các hoạt động này trên nguyên tắc nhanh, gọn, chi tiết, dứt điểm.

  1. Nhân viên kỹ thuật trực tiếp liên hệ với bộ phận điều hành
  2. Nhân viên kỹ thuật trực tiếp liên lạc với bộ phận bảo hành của công ty, nha sản xuất.
  3. Hai bộ phận trên xác nhận với nhau về tình trạng hàng hóa và tình trạng phương tiện từ đó bộ phận điều hành sẽ căn cứ vào đó để thông báo cho nhà cung cấp, khách hàng và các bộ phận liên quan.
  4. Nếu sự cố không thể giải quyết ngay lập tức, bộ phận điều hành sẽ điều người trực tiếp đến công trình để xử lý, kịp thời khắc phục.

Tình hình thực hiện dịch vụ của công ty Trung Tínthời gian qua được đánh giá là hiệu quả, luôn hoàn thành hoặc vượt mức kế hoạch đặt ra. Điều đó cho thấy công ty Trung Tínđã tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trường, nắm rõ năng lực và khả năng cũng như những cơ hội, thách thức mà doanh nghiệp có được trên thị trường.

Công ty Trung Tíncũng xác định thị trường mục tiêu của công ty là các Trường học, cơ quan uảnq lý Nhà nước, trung tâm văn hóa.Một.. số khách hàng tiêu biểu của công ty:

  • Các Trường THPT ở tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam và Quy Nhơn.
  • UBND các xã, huyện thuộc tỉnh Quảng Ngãi.
  • Các Ngân hàng, tiệm internet…

2.3.2.2. Chính sách giá Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy các sản phẩm hay dịch vụ của công ty. Yêu cầu cuối cùng của khách hàng chính là dịch vụ phải cạnh tranh về chi phí. Trung Tínhiểu rõ yêu cầu này, vì thế việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không những vô cùng quan trọng mà còn mang tính thách thức. Nếu đặt giá quá thấp, công ty cần phải tăng số lượng bán trên đơn vị sản phẩm theo chi phí để có lợi nhuận. Nếu đặt giá quá cao, khách hàng sẽ dần chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Quyết định về giá bao gồm điểm giá, giá niêm yết, chiết khấu, thời kỳ thanh toán, v.v…

Đối với thị trường nhạy cảm với giá cả như thị trường Việt Nam, giá cả phù hợp là yếu tố quan trọng giúp công ty đạt được thành công trong quá trình bán hàng. Tuy nhiên, giá cả phải theo vai trò định hướng của các tham số marketing còn lại, giá sẽ không có tác dụng gì nếu sử dụng sai thị trường mục tiêu. Cung cầu thị trường cũng là yếu tố tác động mạnh tới giá. Giá cước sản phẩm, dịch vụ được công ty TNHH MTV dịch vụ văn phòng Trung Tín tính toán dựa trên bốn yếu tố sau:

  • Đảm bảo lợi nhuận cho công ty
  • Phù hợp với nhu cầu và khả năng thanh toán của thị trường
  • Đảm bảo tính cạnh tranh
  • Phù hợp với chiến lược phát triển của công ty

Việc định giá được công ty tiến hành một cách linh hoạt sử dụng kết hợp hai phương pháp là định giá theo chi phí cộng thêm và định giá dựa vào cạnh tranh. Từ đó, công ty hình thành hai loại giá sau:

  1. Giá phổ thông: Giá bán đã quy định sẵn cho từng danh mục sản phẩm theo từng thời kỳ.
  2. Giá ưu đãi: Giá đặc biệt thường thấp hơn giá phổ thông, được áp dụng tùy vào chiến lược của công ty hay giành cho khách hàng ưu tiên, khách hàng đặc biệt.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Các chi phí được tính vào giá thành sản phẩm của công ty Trung Tín bao gồm ba yếu tố chính tiền vận chuyển, tiền nhân công và chi phí quản lý. Hai yếu tố tiền vận chuyển và tiền nhân công được phân tích thành hai loại chi phí cố định và chi phí biến đổi. Cụ thể như sau:

Tiền vận chuyển:

  • Nguyên giá cố định: Chi phí vận chuyển, Bảo hiểm sản phẩm hàng hóa.
  • Nguyên giá biến động: Chi phí nhiên liệu, chi phí tài xế Chi. phí thay săm lốp (Nếu xe thuê ngoài thì chỉ tính chi phí thuê). xe

Tiền nhân công:

  • Nguyên giá cố định: Lương cơ bản. Phụ cấp đi công tác, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm XH, Thưởng.
  • Nguyên giá biến động: Phụ cấp bán hàng tính trên số hàng hóa bán được. Sau khi tính toán được nguyên giá sản phẩm, công ty tiến hành định giá cộng thêm phần trăm lợi nhuận nhất định phù hợp với từng giai đoạn, từng mục tiêu khách hàng mà công ty đặt ra. Chi phí bán hàng chiếm hơn 60% trong tổng giá thành sản phẩm.Ngoài ra, những yếu tố về tỷ giá, lương thưởng cho nhân viên cũng thay đổi ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chung của công ty.

2.3.2.3. Chính sách phân phối

Việc phân phối đề cập đến địa điểm bán hàng và đưa dịch vụ đến với khách hàng. Địa điểm phân phối có thể là nhà máy, kho hàng, một website thương mại điện tử, hay một catalog gửi trực tiếp đến khách hàng. Việc cung cấp dịch vụ đến nơi và vào thời điểm mà khách hàng yêu cầu là một trong những khía cạnh quan trọng nhất trong kế hoạch marketing của công ty. Kênh phân phối càng nhiều, càng hiệu quả thì cơ hội phát triển sản phẩm, mở rộng thị trường của công ty càng lớn.

Công ty dùng lực lượng bán hàng trực tiếp để trực tiếp tìm kiếm, thực hiện giao dịch với khách hàng kết hợp thông qua website thương mại điện tử của mình. Có nhiều cách để đưa dịch vụ đến với khách hàng, điều quan trọng được công ty Trung Tínđặt lên hàng đầu là việc tiến hành công việc mà không gây mâu thuẫn giữa các kênh phân phối.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Hiện nay, công ty Trung Tínđang áp dụng các hình thức phân phối chính là: Công ty trực tiếp thực hiện, thông qua chi nhánh, và qua mạng máy tính. Như vậy, hiện nay công ty mới chỉ áp dụng hình thức phân phối trực tiếp. Hình thức này có ưu nhược điểm là:

Ưu điểm:

  • Tận dụng hết được các nguồn lực hiện có của công ty
  • Chi phí thấp do không phải mất tiền trung gian
  • Công ty có thể chủ động kiểm soát trực tiếp quá trình thực hiện dịch vụ, vì thế thu được hiệu quả cao hơn
  • Có điều kiện nắm bắt nhu cầu khách hàng chính xác, kịp thời do có thể tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, từ đó công ty có những chính sách marketing phù hợp

Nhược điểm:

  • Chi phí đầu tư lớn để xây dựng văn phòng, kho hàng, thiết bị bốc dỡ, bảo quản.
  • Đặc thù của ngành dịchvụ hàng hóalà có tính thời điểm theo mùa, điều này dễ gây lãng phí nguồn lực.

Bảng 2.5: Hệ thống kho bãi của Trung Tín

Công ty đưa ra ba tiêu chí cơ bản để đánh giá hoạt động phân phối của công ty bao gồm:

  • Tự đảm bảo cho khách hàng cókhả năng tiếp cận ngay hệ thống dịch vụ nhanh chóng để đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng.
  • Mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận bán hàngbên trong công ty để thiết lập những dịch vụ mới, đặc thù để giải quyết những khó khăn trên những thị trường tại các vùng kém phát triển.
  • Khả năng giúp khách hàng quản lý dòng chảy hàng hóa trên cơ sở những tài sản mà đã được vận hành bởi công ty.

Công ty xác định phát triển và đầu tư vào trang thiết bị văn phòng sẽ hỗ trợ một cách hiệu quả và hiệu năng cho các yêu cầu về phân phối của khách hàng.

Công ty Trung Tín sử dụng website như một công cụ để khách hàng có thể tìm hiểu về công ty, tìm kiếm các thông tin cần thiết về giá cả, dịch vụ. Việc sử dụng internet trong phân phối đã giúp công ty tiếp cận được với nhiều nhóm khách hàng, giúp cho thương hiệu của công ty được định vị nhanh hơn, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, website của công ty còn rất thô sơ, giao diện đơn giản, chưa được cập nhật liên tục và chưa thực hiện được chức năng thương mại điện tử

2.3.2.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Xúc tiến hỗn hợp là tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo rằng khách hàng nhận biết về sản phẩm và dịch vụ của công ty, có ấn tượng tốt về chúng và thực hiện giao dịch mua bán thật sự. Những hoạt động này bao gồm quảng cáo, catalog, quan hệ công chúng và giao tiếp trực tiếp với khách hàng, cụ thể là quảng cáo trên truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các bảng thông báo, đưa sản phẩm vào phim ảnh, tài trợ cho các chương trình truyền hình và các kênh phát thanh được được tiếp sóng tại Quảng Ngãi đã được đông đảo công chúng theo dõi, tài trợ cho các chương trình dành cho khách hàng thân thiết, bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua thư trực tiếp, giới thiệu sản phẩm tận nhà, gởi catalog cho khách hàng, quan hệ công chúng v.v.

Công ty Trung Tínluôn đề cao hình thức giao dịch cá nhân trong chiến lược xúc tiến. Trong quá trình giao dịch, nhân viên dịch vụ thực hiện các hoạt động tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, có thể thu hút sự chú ý của khách hàng nhiều hơn, không những thế nhân viên dịch vụ có thể tùy theo tình huống để điều chỉnh nội dung giao tiếp với khách hàng cho phù hợp với nhu cầu của họ.

Một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao dịch cá nhân là khách hàng của công ty chủ yếu là các cá nhân mua lẻ, trường học,doanh nghiệp, tổ chức, vì vậy số lượng không nhiều. Hiện nay, đa phần nhân viên giao dịch của công ty đều có kiến thức cơ bản rất vững, am hiểu quy trình nghiệp vụ. Kết quả hoạt động giao dịch cá nhân của công ty thời gian qua là rất đáng khen ngợi, hầu hết các hợp đồng có được của công ty đều được thông qua giao dịch cá nhân. Tuy nhiên, công ty chưa có kế hoạch tiếp xúc khách hàng một cách bài bản, gần như các nhân viên giao dịch mang tính tự phát và tận dụng các quan hệ cá nhân là chủ yếu.

Bảng 2.6: Hiệu quả hoạt động marketing-mix của Công ty qua các tiêu thức định lượng

Chi phí marketing là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xét hiệu quả của hoạt động marketing đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Quảng cáo và các hoạt động xúc tiến khác được tiến hành một cách hời hợt, chỉ đơn thuần mang ý nghĩa truyền tin, giới thiệu sơ qua về công ty, tên, địa chỉ, lĩnh vực hoạt động, không nêu được điểm mạnh, điểm khác biệt của công ty.

Các phương tiện, công cụ trong hoạt động xúc tiến chưa được lựa chọn cẩn thận, mang tính tự phát. Chưa có chiến lược xúc tiến hỗn hợp chi tiết, cụ thể bao gồm mục tiêu xúc tiến, ngân sách xúc tiến, nguồn nhân lực có chuyên môn trong xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến.

2.3.2.5. Chính sách con người Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Lao động và chất lượng sản phẩm, điều kiện bảo hành luôn là yếu tố quyết định đến khả năng kinh doanh của công ty. Do kinh doanh trong lĩnh vực này nên trong cơ cấu lao động của Công ty Trung Tín, tỷ trọng lao động nam luôn chiếm lớn hơn tỷ trọng lao động nữ, vì đặc thù của lực lượng lao động trong lĩnh vực kinh doanh này chủ yếu là nhân viên kỹ thuật, điều hành công trình và thường đi công trình nên cơ cấu lao động có sự chuyển hướng tích cực, thể hiện ở tỷ lệ lao động có trình độ đại học tăng đều qua các năm. Điều đó chứng tỏ Công ty đã chú trọng nhiều đến công tác tổ chức nhân sự và có kế hoạch tuyển dụng những cán bộ trẻ có trình độ cao, năng động, góp phần phát triển Công ty ngày một lớn mạnh.

Số lượng lao động của Công ty phân chia theo các tiêu thức thể hiện qua bảng dưới đây:

Bảng 2.7: Lực lượng lao động của Công ty qua các năm

Năm 2008, Công ty bắt đầu hoạt động kinh doanh vào tháng 4 với 5 thành viên, các thành viên đều có sự hiểu biết về hoạt động kinh doanh dịch vụ văn phòng,Ban lãnh đạo hiểu rõ về năng lực của nhân viên, công ty hoạt động một cách hiệu quả, sớm có được lượng khách hàng, doanh thu lớn. Cùng với sự mở rộng thị trường kinh doanh, nhu cầu về nhân sự của công ty tăng trung bình 25%/năm. Với hơn mười năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ văn phòng, Trung Tín đã tạo dựng được một đội ngũ nhân viên tận tâm, năng động, chuyên nghiệp, am hiểu nghiệp vụ để quản lý, điều hành hệ thống cơ sở vật chất, điều kiện bán hàng, kho hàng cũng như hệ thống sữa chữa và lắp đặt. Tổng số lao động tại Trung Tín hiện nay là 23 nhân viện, trong đó do đặc thù của lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhân viên phải có sức khỏe tốt, thường xuyên công trình, công tác xa nên trong công ty chủ yếu là nhân viên nam (20 nhân viên) – chiếm 86,9%, nhân viên nữ là 3 – chiếm 13,1%. Nhân viên là kỹ thuật, sữa chữa, lắp đặt là 12 chiếm 52%, bộ phận điều hành và bán hàng là –7 chiếm 30% còn lại 28% là quản lý, nhân viên hành chính, kế toán.

Trung Tín là một công ty trẻ, đội ngũ nhân viên tuổi bình quân khoảng 32 tuổi, đối với đội ngũ kỹ thuật, sữa chữa độ tuổi bình quân là 27 tuổi, đã có nhiều năm kinh nghiệm và hiểu rõ tính năng, hoạt động của hệ thống máy móc. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của nguồn nhân lực có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của công ty nên công ty luôn có những chính sách đề cao sự sáng tạo, tự nguyện và trung thành của từng cá nhân.

Nhân sự của công ty có trình độ đại học và trên đại học chiếm khoảng 25%.

Đây là đội ngũ lao động có chất lượng cao trong công ty, hầu hết đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong hệ thống cả công ty như: các vị trí trong ban giám đốc, trưởng các bộ phận. Các vị trí trưởng phòng kinh doanh, phòng marketing, bán hàng,… đều được các cử nhân kinh tế đảm nhiệm. Chuyên ngành kỹ thuật được đảm nhận nhiệm vụ liên quan đến các phòng kỹ thuật ở các bộ phận điều hành, sữa chữa, thay thế và lắp đặt… Tại các vị trí liên quan đến chuyên ngành luật có 1 nhân viên đảm nhiệm như phòng nhân sự, hành chính. Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Tỷ trọng lao động trình độ cao đẳng nghề trong doanh nghiệp chiếm lớn nhất khoảng 60%. Lực lượng lao động này mặc dù có trình độ cao đẳng nghề nhưng là một lực lượng không thể thiếu trong công ty. Vì đặc điểm các vị trí trong bộ phận lắp đặt,ảob dưỡng sửa chữa, vận chuyển hàng hóa… không yêu cầu cao về trình độ nên người lao động được tuyển dụng vào sẽ trải qua một khóa ngắn hạn đào tạo nghiệp vụ để hoàn thành công việc của mình.

Kết quả đáng ghi nhận nhất là thu nhập bình quân đầu người của cán bộ công nhân viên trong toàn doanh nghiệp tăng đều qua các năm, từ 2,5 triệu đồng/người/tháng năm 2008 lên tới 6 triệu đồng/người/tháng năm 2018, trung bình mức thu nhập của cán bộ nhân viên công ty tăng 20%/năm. Điều này thể hiện sự tăng trưởng bền vững của công ty, tăng trưởng gắn liền với điều kiện làm việc, điều kiện sống của cán bộ nhân viên cũng không ngừng tăng lên. Chế độ đãi ngộ, khen thưởng hợp lý là động lực để thúc đẩy tập thể nhân viên trong công ty nỗ lực phấn đấu hơn vì sự tồn tại và phát triển của công ty.

2.4. Đánh giá thực trạng vận dụng marketing-mix trong hoạt động kinh doanh dịch vụ của Công ty trong những năm gần đây

2.4.1. Những mặt đạt được

Sau 10 năm đi vào hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thiết bị văn phòng,công ty Trung Tín đã đạt được nhiều thành công đáng ghi nhận. Từ thực trạng vận dụng marketing-mix trong hoạt động kinh doanh dịch vụ cung cấp thiết bị văn phòng cho thấy Công ty đã có những hiểu biết và sự vận dụng các tham số cơ bản của marketing-mix một cách đúng đắn.

Về chính sách sản phẩm và phân phối, Công ty đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật chất lớn, hàng hóa đều được mua bảo hiểm, sở hữu nhà kho riêng và phương tiện riêng, trụ sở, chi nhánh, kho hàng có vị trí thuận lợi, chất lượng dịch vụ linh hoạt. Hiện nay, Công ty sở hữu nhiều công nghệ mới và tiên tiến trên thế giới.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Công ty cũng ký kết hợp đồng với các công ty và các doanh nghiệp như thế giới di động, doanh nghiệp trang trí nội thất,sẵn sàng cho hoạt động khi Trung Tín yêu cầu.

Điều này giúp công ty có một lượng khách hàng quen cùng với nhu cầu hàng hóa sẵn có lớn, đều đặn, thường xuyên và dễ dàng thực hiện cung cấp dịch vụ một cách nhanh chóng và đạt chất lượng cao khi có khách hàng mới. Hệ thống kho bãi 3000 m2 ở

Quảng Ngãi và Quảng Nam là yếu tố tăng thêm sự tiện lợi, đảm bảo sự nguyên vẹn của hàng hóa, là yếu tố đặc biệt quan trọng khi Công ty tiến hành cung cấp dịch vụ hàng hóa đòi hỏi phải qua khâu lưu kho, phải thực hiện kiểm kê và tiến hành một số hoạt động khác như: đóng gói, bao bì… trước khi tiếp tục vận chuyển đến điểm nhận hàng theo yêu cầu của khách hàng. Đây là nền tảng cho công ty tiếp tục hoạt động có hiệu quả với phương châm “không ngừng trao đổi, thông tin và liên lạc” với cả khách hàng lẫn trong nội bộ công ty.

Về chính sách giá và xúc tiến, trên thị trường dịch vụ văn phòng và công nghệ thông tin hiện nay, Công ty được nhiều khách hàng biết đến với hình ảnh là một công ty năng động, sáng tạo, phong cách mới trong ngành dịch vụ văn phòng Việt, có mức giá cạnh tranh theo giá thị trường và luôn đảm bảo lợi ích cho cả công ty lẫn khách hàng. Công ty đã bước đầu xây dựng được một số qui trình quản lí như: qui trình quản lí giá, chương trình xúc tiến hỗn hợp…và bước đầu xây dựng được bộ máy kinh doanh độc lập, thống nhất với đội ngũ nhân viên làm việc với tác phong chuyên nghiệp, hiệu quả, bộ máy nề nếp, vận hành chức năng, nhiệm vụ rõ ràng.

Về con người, Công ty đã có một đội ngũ 23 nhân viên chuyên nghiệp, có kinh nghiệm trong thương mại quốc tế, kho hàng, kỹ thuật. Tất cả nhân viên đều được trang bị những kỹ năng làm việc, luôn luôn cập nhập kiến thức. Đặc biệt là đội ngũ bảo hành, kỹ thuật nắm rõ chi tiết từng công nghệ, máy móc, hàng hóa mà công ty cung cấp luôn đảm bảo đúng về thời gian,đúng về địa điểm, đúng về hàng hóa, tạo sự yên tâm trong xã hội, đáp ứng nhu cầu khách hàng bất kỳ nơi nào.

2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

2.4.2.1. Tồn tại

Những phát sinh trong khâu quản lý chứng từ: Nguyên nhân chủ quan là do khâu chuẩn bị, thu thập, lưu trữ chứng từ nhân viên Trung Tín chưa thực sự lưu ý, sơ xuất làm thiếu chứng từ hoặc khai báo không khớp với bộ hồ sơ quản lý khác. Lỗi này là lỗi thường xuyên nhất, do bộ chứng từ thường nhiều thông tin, giấy tờ và số lượng lớn. Đa số lỗi này phát sinh từ việc xử lý, bảo quản chứng từ của đội ngũ bán hàng, thiếu hoặc làm mất chứng từ và do trình độ của nhân viên quản lý chứng từ còn kém, thiếu sự đồng bộ giữa cách làm việc của nhân viên bán hàng, quản lý kho và nhân viên quản lý chứng từ. Cũng có một số ít trường hợp nguyên nhân là từ phía khách hàng, do khách hàng ghi thông tin sai, thiếu hay khách hàng chưa kịp cung cấp chứng từ đẩy đủ.

  • Nhân viên nhận chứng từ của nhà cung cấp
  • Khi kết thúc giao hàng, nhân viên phải thu thập đủ chữ ký liên quan .
  • Sau khi có đủ chữ ký của khách hàng, chuyển về bộ phận nghiệm thu chứng từ.
  • Bộ phận chứng từ kiểm tra tính hợp lệ, sau đó chuyển cho BP kế toán một bản.
  • Chứng từ hợp lệ sẽ được chuyển đến khách hàng sau 5 ngày

Những phát sinh trong khâu vận chuyển, giao nhận hàng hóa: trong khâu giao nhận vận chuyển thường xảy ra các lỗi như giao nhận không đúng, thiếu về trọng lượng hay số lượng, hàng hóa đóng gói không đúng sản phẩm, đóng nhầm,sai quy cách… hàng hóa đang đi trên đường gặp tai nạn bất ngờ… Nếu hàng hóa gặp phải các vấn đề trên, khách hàng sẽ yêu cầu bổ sung, thay thế hàng hóa, công ty phải tốn một khoảng thời gian để giải quyết vấn đề, gây chậm trễ thời gian thực hiện dịch vụ, gây ấn tượng xấu về chất lượng dịch vụ mà công ty cung cấp cho khách hàng. Ngoài ra các quy định của nhà nước về thời gian xe chạy trong thành phố, trọng tải…cũng gây nhiều ảnh hưởng đến việc thực hiện dịch vụ của công ty.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Thiếu sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý giữa các bộ phận tham gia trực tiếp vào quá trình thực hiện dịch vụ. Sự thiếu nhịp nhàng này chủ yếu là do các nhân viên phụ trách các khâu như: nhân viên làm chứng từ, nhân viên kiểm hàng, nhân viên vận chuyển… chưa có sự phối hợp ăn ý trong công việc.

2.4.2.2. Nguyên nhân

Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các tồn tại trên xuất phát từ các vấn đề khách quan và chủ quan sau:

  • Pháp luật nước ta chưa đồng bộ và rõ ràng, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
  • Ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường nói chung, thị trường dịch vụ hàng hóavăn phòngnói riêng tạo nên môi trường cạnh tranh khốc liệt.
  • Một vấn đề khá bức thiết và cũng là một trở ngại lớn nữa đối với ngành dịch vụ thiết bị văn phòng là hệ thống cơ sở hạ tầng ở nước ta còn quá thiếu đồng bộ, các phương thức vận tải khó có thể liên kết được với nhau, hoạt động hết công suất do các trục đường bộ không được thiết kế đúng tiêu chuẩn.
  • Chức năng, nhiệm vụ còn chưa phân định rõ ràng giữa các phòng ban nhất là phòng marketing và phòng kinh doanh.
  • Hoạt động marketing còn chưa được chú trọng đúng mức, số lượng nhân viên còn mỏng (3 người).
  • Công ty còn chưa có chiến lược rõ ràng cho từng phân đoạn khách hàng hay từng sản phẩm dịch vụ mà công ty cung cấp cũng như trong việc mở rộng thị trường.Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

Tiểu kết Chương 2

Chương 2, đã nêu lên được quá trình hình thành, phát triển cũng như những kết qua mà Trung Tín đạt được và chưa đạt được trong những năm qua. Bên cạnh đó,cũng phân tích kết quả kinh doanh cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tại Trung Tín một cách khá chi tiết. Đồng thời phân tích hiện trạng hoạt động Marketing-mix của công ty, mà chủ yếu tập trung nghiên cứu vào 4P bao gồm:

Chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến hỗn hợp.Từ đó đưa ra các ưu điểm, nhược điểm của mỗi chiến lược đang được áp dụng tại Trung Tín và được đúc kết lại như sau:

  • Trung Tín vẫn chưa xây dựng được các chiến lược Marketing đồng bộ và hiệu quả, nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trong dài hạn, các chiến lược Marketing hiện tại chỉ mang tính chung chung và chưa có sự khác biệt và mang tính đột phá. Hoạt động tác nghiệp chủ yếu dựa vào các chương trình, kế hoạch ngắn hạn, hàng năm mà công ty đã đề ra.
  • Tung Tín cũng đã tạo được thị phần tương đối lớn ở thị trường Miền Trung, đặc biệt là khu vực tỉnh Quảng Ngãi và đang từng bước chiếm thị phần tại thị trường Quảng Nam, Bình Định và các tỉnh Tây Nguyên.Tuy nhiên, vị thế này không bền vững vì áp lực từ nhu cầu khách hàng, hội nhập kinh tế. Đặc biệt là việc mở rộng quy mô hoạt động và cải tiến sản phẩm, dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh.

Các chính sách giá chưa thực sự cạnh tranh với các đối thủ khác, một số sản phẩm cần có chính sách giá tốt hơn. Các chiến lược xúc tiến hỗn hợp chưa thực sự ấn tượng ghi dấu ấn đậm nét trong lòng khách hàng, tuy nhiên với những gì Trung tín đã xây dựng trong thời gian qua, bước đầu đã tạo được lòng tin cho khách hàng về sản phẩm dịch vụ, đã tạo cho Trung tín cơ hội cạnh tranh tốt trong thời gian tới. Nếu có thể cải tiến một số giải pháp hoạt động Marketing-mix trong chiến lược tổng thể của công ty. Để từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh và nhằm bứt phá mạnh mẽ, giữ vững ngôi vị đơn vị kinh doanh dịch vụ văn phòng số 1 ở Quảng Ngãi.

Những vấn đề đã phân tích ở Chương 2 sẽ là cơ sở để đưa ra những giải pháp trong Chương 3 nhằm hoàn thiện hoạt động Marketing-mix. Luận văn: Thực trạng marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Giải pháp marketing tại Công ty văn phòng Trung Tín

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x