Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp Marketing cho các sản phẩm tươi sống của Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên Việt Nam Kỹ Nghệ Súc Sản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Chương 1 đã trình bày những khái niệm và lý luận về hoạt động Marketing của một doanh nghiệp. Chương 2 sẽ ứng dụng để phân tích thực trạng hoạt động Marketing cho các SPTS của Công ty Vissan, trong đó tác giả đã tiến hành khảo sát kiến đánh giá của người tiêu dùng về các thành phần Marketing – mix của Công ty Vissan và mức độ ảnh hưởng của các thành phần này đối với quyết định mua SPTS của họ.

2.1. Giới thiệu Công ty Vissan và ngành hàng sản phẩm tươi sống

2.1.1. Giới thiệu sơ lược về Công ty Vissan Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Công ty Vissan là Công ty thành viên của Tổng Công ty Thương Mại Sài Gòn – Trách Nhiệm Hữu Hạn Một Thành Viên (Sau đây viết tắt là Satra), được thành lập từ những ngày đầu giải phóng Miền Nam và thống nhất đất nước. Công ty Vissan hoạt động trong lĩnh vực công nghệ giết mổ gia súc, đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh, cung cấp thịt tươi sống cho nhu cầu của người tiêu dùng tại TP.HCM trong thời kỳ nền kinh tế còn theo cơ chế bao cấp. Sau đó, Công ty đã tham gia xuất khẩu thịt đông lạnh sang thị trường Liên Xô và các nước Đông Âu chủ yếu là dưới hình thức Nghị định thư .

Vào những năm cuối của thập niên 80, tình hình chính trị và kinh tế trên thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng lớn đến các hoạt động xuất khẩu, đồng thời Đảng và Nhà nước có chủ trương chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, xóa bao cấp. Trong thời kỳ này để tồn tại và phát triển, phát huy vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước, Công ty đã chủ động chuyển hướng sản xuất, mạnh dạn đầu tư trang thiết bị, lấy thị trường nội địa làm đòn bẩy phát triển, đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng kênh phân phối, xây dựng chiến lược sản phẩm, giá cả phù hợp với thị hiếu và thu nhập của người dân. Do đó, sau khi chuyển sang cơ chế thị trường đến nay Công ty đã không ngừng phát triển về quy mô cũng như các lĩnh vực sản xuất. Trước đây, Công ty chỉ đơn thuần là giết mổ và phân phối thịt gia súc thì hiện nay Công ty mở rộng sang các ngành chế biến thực phẩm, rau quả, chăn nuôi, đầu tư tài chính, xây dựng thành công thương hiệu “VISSAN”, tạo được uy tín lớn trên thị trường SPTS và SPCB, là một trong những đơn vị chế biến thực phẩm hàng đầu trên cả nước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>>  Dịch Vụ Viết Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Marketing

2.1.2. Ngành nghề kinh doanh

Hoạt động của Công ty chuyên về sản xuất, chế biến và kinh doanh các sản phẩm thịt heo, trâu, bò, thịt gia cầm tươi sống và đông lạnh, hải sản, sản phẩm thịt nguội cao cấp theo công nghệ của Pháp, sản phẩm Xúc xích thanh trùng theo công nghệ của Nhật Bản, SPCB theo truyền thống Việt Nam, sản phẩm đóng hộp, trứng gà, vịt; kinh doanh các mặt hàng công nghệ phẩm và tiêu dùng khác; sản xuất kinh doanh heo giống, heo thịt, bò giống, bò thịt; sản xuất, kinh doanh thức ăn gia súc; dịch vụ kỹ thuật về chăn nuôi heo, bò; kinh doanh ăn uống; kinh doanh nước trái cây, lương thực chế biến; sản xuất kinh doanh rau củ quả các loại, rau quả chế biến, các loại gia vị và hàng nông sản. Sản phẩm của VISSAN hiện nay đã có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, với doanh thu và thị phần tương đối lớn.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Công ty Vissan cơ cấu tổ chức theo hàng dọc, tất cả các bộ phận, phòng ban đều trực thuộc Ban Tổng Giám Đốc, mỗi phòng ban có từng chức năng, nhiệm vụ riêng phối hợp với nhau để tác nghiệp, tuy nhiên đối với các đơn vị trực thuộc như các chi nhánh, xí nghiệp, mỗi phòng ban sẽ quản lý theo lĩnh vực chức năng của mình, ví dụ mảng kinh doanh của đơn vị trực thuộc sẽ do hai phòng kinh doanh quản lý, mảng tài chính – kế toán của đơn vị trực thuộc sẽ do phòng tài chính – kế toán quản lý…

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty Vissan

2.1.4. Các sản phẩm của Công ty

Công ty Vissan hiện tại đang kinh doanh hai ngành hàng chính là SPTS và SPCB.

2.1.4.1. Sản phẩm tươi sống:

  • Sản phẩm thịt heo: Thịt đùi, nạc tinh, ba rọi, nạc dăm, thăn nội, thăn ngoại, Sườn non, Giò rút xương, thịt xay, Sườn già…
  • Sản phẩm thịt bò (bò ta, bò úc): Fillot bò, thân ngoại, nạc đùi, nạc vai, gầu, nạm, bắp, đuôi, nạc xây…

Các SPTS trên tiêu thụ chủ yếu ở TP.HCM do nó mang tính tươi sống, khó khăn trong vận chuyển và bảo quản.

Ngoài ra, Công ty còn mua thịt gà, thịt vịt, cá từ một số nhà cung cấp, sau đó sơ chế đóng gói bao bì và bán lại.

2.1.4.2. Sản phẩm chế biến:Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Đa dạng về chủng loại, bao bì, mẫu mã. Công ty kinh doanh các mặt hàng chế biến từ heo, bò, gà như đồ hộp, lạp xưởng, giò các loại, thịt nguội,…trong đó, mặt hàng chủ lực chiếm tỷ trọng doanh thu và lợi nhuận cao nhất là xúc xích tiệt trùng các loại.

Ngoài hai ngành hàng trên, Công ty còn kinh doanh rau, củ quả các loại và mua bán một số mặt hàng công nghệ phẩm từ các đối tác bên ngoài.

Bảng 2.1: Sản lượng và doanh thu theo nhóm hàng của Công ty Vissan

Phòng Tài chính – kế toán Công ty Vissan Sản lượng SPTS giảm chủ yếu là do nguyên nhân sức mua giảm trong những năm trở lại đây và sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ. Doanh thu SPTS giảm tương ứng với sản lượng giảm. Riêng đối với thịt bò ta, từ năm 2013 sản lượng và doanh thu giảm nhưng Công ty cũng đã tăng cường bán thịt bò Úc để bù lại, vừa đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng, vừa đa dạng hóa các SPTS của Công ty. Doanh thu của Công ty vẫn tăng là do doanh thu các SPCB tăng, điển hình là mặt hàng xúc xích tiệt trùng.

2.1.5. Nguồn nhân lực

Công ty đang tạo điều kiện xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh, mọi người lao động được đối xử một cách tôn trọng và bình đẳng. Bên cạnh đó, Ban lãnh đạo của Công ty luôn công tâm, đối xử bình đẳng với người lao động, không áp đặt, luôn khuyến khích tất cả người lao động đóng góp ý, phản hồi thông tin lên cấp điều hành và Ban Giám đốc Công ty hoặc thông qua tổ chức Công đoàn. Qua đó Ban Giám đốc sẽ xem xét và đưa ra hướng giải quyết thích hợp.

GIỚI TÍNH NGUỒN NHÂN LỰC 

ĐỘ TUỔI NGUỒN NHÂN LỰC

Hình 2.2: Biểu đồ mô tả nguồn nhân lực Công ty Vissan

Theo số liệu trên, nguồn nhân lực có tỷ lệ nam nữ tương đối đồng đều, có trình độ tốt và số lao động trẻ cao, tỷ lệ dưới 20 tuổi chiếm đến 36.85% là lao động phổ thông thời vụ làm việc tại các xưởng sản xuất.

2.1.6. Năng lực tài chính Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Trong những năm vừa qua, Công ty luôn tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận, vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh được tài trợ rất lớn từ nguồn vốn đầu tư của chủ sở hữu là Satra và lợi nhuận sau thuế của Công ty. Ngoài ra, với uy tín của một thương hiệu lâu năm, Công ty luôn được các ngân hàng cho vay với lãi suất ưu đãi. Điều này đã tạo động lực rất lớn cho Công ty trong quá trình hoạt động.

Đơn vị tính: Triệu Đồng

Doanh thu

Hình 2.3: Biểu đồ thể hiện doanh thu Công ty Vissan

Phòng Tài chính – Kế toán Công ty Vissan Doanh thu của Công ty vẫn duy trì mức tăng trưởng ổn định qua các năm, đạt mức cao nhất là năm 2011 với 3,876 tỷ đồng, sang năm 2012 và năm 2013, doanh thu có giảm so với năm 2011 nguyên nhân là do nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, thu nhập của người lao động giảm, sức mua giảm đáng kể, việc tiếp cận nguồn vốn đối với các doanh gặp nhiều trở ngại. Tuy nhiên, do kinh doanh thực phẩm là mặt hàng thiết yếu nên doanh thu của Công ty vẫn có thể tăng trưởng từ năm 2012 sang năm 2013.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Đơn vị tính: Triệu Đồng

Lợi nhuận

Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện lợi nhuận sau thuế Công ty Vissan Vissan

Phòng Tài chính – Kế toán Công ty Vissan Cơ cấu nợ của Công ty luôn được chủ động điều chỉnh một cách có hiệu quả.

Năm 2011, nền kinh tế tăng trưởng mạnh, sức mua tăng cao, Công ty chủ động sử dụng đòn bẩy tài chính để gia tăng doanh thu và lợi nhuận. Sang năm 2012 và 2013, kinh tế khó khăn, Công ty giảm việc vay vốn ngân hàng để tránh rủi ro tài chính, tận dụng lại nguồn vốn của chủ sở hữu.

Vissan

Khả năng thanh toán hiện hành của Công ty lớn hơn 1 chứng tỏ Công ty vẫn đảm bảo khả năng thanh. Có một sự chênh lệch lớn giữa khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán hiện hành là do hàng tồn kho. Do kinh doanh sản xuất thực nên lượng hàng tồn kho của Công ty rất lớn, nhất là khi trên báo cáo tài chính lượng hàng tồn kho được thể hiện vào ngày 31 tháng 12 hàng năm là lúc Công ty dự trữ cao điểm tết. Lượng hàng tồn kho luôn được kiểm soát và duy trì có kế hoạch.

Phòng Tài chính – Kế toán Công ty Vissan Chỉ số ROA duy trì hàng năm, ROE giảm mạnh vào năm 2013 là do Công ty tăng vốn điều lệ từ 158 tỷ đồng lên 342 tỷ đồng, mặc dù lợi nhuận của Công ty vẫn tăng.

Tóm lại, qua những phân tích trên, ta thấy sức khỏe tài chính của Công ty rất tốt, nguồn lực tài chính dồi dào có thể tận dụng để phát trển kinh doanh, tạo lợi thế so với các đối thủ, giành lại thị phần đối với các SPTS.

2.1.7. Giới thiệu về đặc thù ngành hàng sản phẩm tươi sống Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Ngành hàng SPTS bao gồm các mặt hàng thiết yếu ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của tiêu dùng, mức độ nhạy cảm về giá của ngành hàng ở mức trung bình. Hiện nay, với tình trạng dịch bệnh ngày càng tăng như heo tai xanh, lỡ mồm lông móng… cùng với việc ý thức bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống của người tiêu dùng thì việc sản xuất, kinh doanh SPTS đảm bảo yêu cầu về vệ sinh là vấn đề đang được xã hội hết sức quan tâm. Với chủ trương đảm bảo cung cấp đủ thực phẩm cho người dân tại TP.HCM với giá cả hợp lý, hàng năm Ủy ban nhân dân TP.HCM phối hợp với các sở ban ngành tổ chức chương trình bình ổn thị trường. Các doanh nghiệp tham gia chương trình này sẽ phải bán các sản phẩm thực phẩm với giá đã đăng ký trước với Ủy ban, đồng thời không được thay đổi giá bán trong suốt thời gian tham gia bình ổn. Bù lại, các doanh nghiệp được hỗ trợ vay vốn với mức lãi suất rất thấp để phục vụ kinh doanh và thương hiệu của doanh nghiệp được người dân đặt niềm tin. Đối với Công ty Vissan nói riêng và các doanh nghiệp tham gia bình ổn nói chung, có điểm bất lợi rất lớn là hạn chế khả năng sinh lợi cũng như nguy cơ dân đến kinh doanh thua lỗ là hoàn toàn có thể xảy ra. Điều đó phụ thuộc vào giá cả nguyên vật liệu đầu vào, khi giá nguyên vật liệu giảm thì doanh nghiệp không thể giảm giá để tăng sản lượng, khi giá nguyên vật liệu tăng thì doanh nghiệp cũng không thể tăng giá và có thể dẫn đến thua lỗ. Công ty Vissan phụ thuộc rất lớn vào giá cả nguyên liệu heo hơi, trong khi chi phí thức ăn gia súc ngày càng tăng cao, nhiều hộ nông dân không thể duy trì chăn nuôi, lượng heo hơi cung cấp từ xí nghiệp Gò Sao có giới hạn đã làm giá vốn Công ty tăng lên rất lớn, do đó Công ty gặp rất nhiều trở ngại và khó khăn khi tham gia bình ổn thị trường.

Bên cạnh đó, tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài ngày càng trở nên gay gắt. Riêng đối với ngành hàng SPTS, các Công ty nước ngoài với dây chuyền sản xuất, giết mổ tự động, chuyên môn hóa, đồng thời đầu tư với quy mô lớn chuỗi cung ứng khép kín từ khâu thu mua nguyên vật liệu cho đến sản xuất ra thành phẩm nhằm hạ giá thành sản phẩm dẫn đến hạ giá bán đã tạo một áp lực không nhỏ cho các doanh nghiệp trong nước sở hữu công nghệ sản xuất chưa thực sự hiện đại. Mặt khác, các doanh nghiệp nước ngoài rất chú trọng đến các hoạt động Marketing thương hiệu và sản phẩm của mình. Chính vì những lý do nêu trên mà Công ty Vissan đang gặp phải rất nhiều khó khăn khi phải đối mặt các đối thủ rất lớn.

2.2. Thực trạng hoạt động Marketing cho sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

2.2.1. Công tác tổ chức bộ phận Marketing

Các hoạt động Marketing như nghiên cứu thị trường, quảng cáo, khuyến mãi, thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu… do bộ phận Marketing riêng biệt phụ trách là Phòng thị trường. Theo đó, cơ cấu tổ chức của phòng thị trường được tổ chức theo các chức năng của Marketing.

  • Trưởng phòng Thị trường
  • Phó Phòng thị trường phụ trách marketing thương mại
  • Phó Phòng thị trường phụ trách marketing thương hiệu
  • Nhân viên phụ trách chính sách sản phẩm
  • Nhân viên phụ trách chính sách giá
  • Nhân viên phụ trách chính sách phân phối
  • Nhân viên phụ trách trưng bày sản phẩm, poster…
  • Nhân viên phụ trách PR
  • Nhân viên phụ trách quảng cáo, tiếp thị Nhân viên phụ trách nghiên cứu thị trường
  • Nhân viên phụ trách thiết kế, nhận diện thương hiệu.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Hình 2.8: Cơ cấu tổ chức Phòng Thị trường của Công ty Vissan

Việc tổ chức theo chức năng như trên là sự đơn giản về mặt hành chính, song hình thức này sẽ mất đi tính hiệu quả khi sản phẩm và thị trường của Công ty tăng lên. Trước hết là việc hoạch định đối với những sản phẩm và thị trường cụ thể không sát với thực tế, không có ai trách nhiệm về bất kỳ sản phẩm và thị trường nào. Thứ hai mỗi nhóm chức năng đều muốn tranh giành nhau để có được ngân sách nhiều hơn cũng như địa vị cao hơn so với những chức năng khác.

2.2.2. Hệ thống thông tin Marketing

2.2.2.1. Ghi chép nội bộ

Bao gồm các báo cáo tài chính, báo cáo nội bộ về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Từ đó có thể đánh giá hiệu quả của các hoạt động Marketing của Công ty về doanh thu, lợi nhuận của các chương trình hoạt động trên tổng chi phí phải bỏ ra. Đó cũng là cơ sở để lập kế hoạch ngân sách cho các kế hoạch Marketing. Hiện nay, việc cung cấp các báo cáo nội bộ theo từng chương trình Marketing chưa được thực hiện dẫn đến các chương trình không đánh giá được hiệu quả.

2.2.2.2. Tình báo tiếp thị Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Công ty hiện nay vẫn thiếu nhưng nguồn thông tin tình báo về tình hình thị trường, đối thủ… Đa phần khi muốn phát triển sản phẩm mới hoặc đưa ra các giải pháp Marketing mới, Công ty thường thuê Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen để thực hiện. Tuy nhiên, đó chỉ là những thông tin nghiên cứu nhu cầu của khách hàng, còn những thông tin về đối thủ cạnh tranh Công ty thu thập được rất ít.

2.2.3. Thị phần ngành hàng sản phẩm tươi sống

Trước đây, đối với ngành hàng SPTS thị phần của Công ty tại TP.HCM chiếm khoảng 40% nhưng từ khi Việt Nam mở cửa hội nhập quốc tế, sức ép cạnh tranh từ các đối thủ nước ngoài cộng với sự trỗi dậy của các đối thủ trong nước như các tư thương đã khiến thị phần công ty giảm chỉ còn khoảng 30%, theo kết quả kinh doanh công ty đã giảm cả về doanh thu và sản lượng đối với các SPTS.

Thị phần sản phẩm tươi sống tại TP.HCM bình quân 6 tháng năm 2014

Đối thủ khác

Hình 2.9: Thị phần SPTS tại TP.HCM bình quân 6 tháng năm 2014

2.2.4.1. Yếu tố sản phẩm trong hoạt động Marketing sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Lĩnh vực thực phẩm tươi sống luôn đặt yêu cầu về vệ sinh, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng lên trên hết. Để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, Công ty Vissan đã xây dựng SPTS của mình như sau:

  • Về chủng loại sản phẩm: Do kinh doanh đặc thù là các SPTS phục vụ cho mọi đối tượng người tiêu dùng không phân biệt giới tính, độ tuổi, thu nhập… nên công ty chỉ phân loại thành 2 chủng loại chính là heo và bò. Riêng đối với mặt hàng bò, hiện nay công ty đã bổ sung thêm các sản phẩm bò úc để cung cấp cho người tiêu dùng.

Bảng 2.2: SPTS của công ty Vissan thời điểm 30/06/2014

  • Về nhãn hiệu và bao bì sản phẩm: SPTS của Công ty chia làm 2 loại là sản phẩm tươi và sản phẩm đông lạnh. Đối với sản phẩm tươi, công ty giết mổ heo, bò, pha lóc và đem bán tươi tại hệ thống phân phối của mình nên không có gắn nhãn hiệu hoặc đóng gói. Còn đối với sản phẩm đông lạnh, Công ty dán nhãn logo của công ty, hút chân không và đóng gói. Việc cung cấp ra thị trường các sản phẩm đông lạnh đáp ứng cho những người tiêu dùng bận rộn, không có thời gian mua SPTS mỗi ngày có điều kiện bảo quản sản phẩm được tốt hơn.
  • Về chất lượng sản phẩm: Công ty luôn cố gắng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình bằng cách tìm kiếm những nguồn nguyên liệu sạch, an toàn. Tuy nhiên, hiện nay do sử dụng các chất tăng trọng trong chăn nuôi để gia tăng lợi nhuận của người nông dân đã làm những vùng có nguồn nguyên liệu sạch ngày càng trở nên khan hiếm. Ngoài ra, chất lượng sản phẩm của Công ty còn phụ thuộc vào qui trình giết mổ mà công ty đang áp dụng, với quy trình giết mổ bán tự động, có nghĩa là có bàn tay của người công nhân tham gia khá nhiều trong quy trình chứ không tự động hoàn toàn như các doanh nghiệp nước ngoài, đã làm giảm sức cạnh tranh của công ty.
  • Về dịch vụ gắn liền với sản phẩm: Công ty luôn đáp ứng đầy đủ lượng hàng cung cấp cho các kênh phân phối của mình theo đúng thời gian quy định trong hợp đồng cũng như những thỏa thuận khác. Tuy nhiên, công ty chưa phục vụ khách hàng tốt tại các điểm bán hàng.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Các chính sách sản phẩm công ty đang áp dụng:

  • SPTS của công ty là nhu cầu thiết của người tiêu dùng nên luôn tồn tại và công ty không chú trọng đến chu kỳ sống của sản phẩm. Công ty chỉ chú trọng đến việc tìm nguồn nguyên liệu sạch để sản xuất và gần đây phát triển sản phẩm mới nhập khẩu 100% nước ngoài là Bò Úc.
  • Khi bán các SPTS công ty rất quan tâm đến chu kỳ kinh doanh trong năm để cân đối sản xuất và thu mua hợp lý: Nhu cầu SPTS sẽ tăng lên vào dịp lễ, tết vào tháng 1,2 ; trở lại bình thường vào tháng 3,4; giảm thấp vào tháng 5,6,7 do các trường học nghỉ hè và tăng trở lại bình thường vào tháng 8, 9, 10, 11, 12.

Sau đây là ý kiến khảo sát người tiêu dùng về thành phầm sản phẩm (đánh giá theo thang đo likert 5 mức với 1 là hoàn toàn không đồng ý và 5 là hoàn toàn đồng ý):

Bảng 2.3: Giá trị trung bình ý kiến đánh giá của người tiêu dùng về thành phần sản phẩm của SPTS Công ty Vissan

Điều tra khảo sát của tác giả, T7-8/2014 Với độ tin cậy 95%, tác giả kiểm định One Sample T-test về sự đồng ý của người tiêu dùng về thành phần sản phẩm của Công ty Vissan (giá trị kiểm định = 4).

Kết quả cho thấy giá trị mức ý nghĩa (Sig) nhỏ hơn rất nhiều so với mức ý nghĩa 5%, người tiêu dùng không đồng ý đối với các phát biểu về sản phẩm của công ty Vissan.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Bảng 2.4: Giá trị trung bình mức độ ảnh hưởng của các thành phần sản phẩm đến quyết định mua SPTS của người tiêu dùng

Điều tra khảo sát của tác giả, T7-8/2014 Với độ tin cậy 95%, tác giả kiểm định One Sample T-test về sự ảnh hưởng của thành phần sản phẩm đến quyết định mua của người tiêu dùng (giá trị kiểm định cho thấy: Đa phần người tiêu dùng rất chú đến chất lượng sản phẩm phải an toàn cho sức khỏe, tươi ngon, nơi bán sạch sẽ và thái độ phục vụ của nhân viên vì đó là những yếu tố tối thiểu khi tiêu dùng một sản phẩm, nhất là đối với SPTS, còn mức độ đa dạng của sản phẩm thì người tiêu dùng không đánh giá quan trọng. Đó chính là lý do, các sạp tư thương có rất cơ hội để cạnh tranh với Công ty.

2.2.4.2. Yếu tố giá cả trong hoạt động Marketing sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan

Đối với người tiêu dùng, giá cả là một vấn đề hết sức nhạy cảm. Do đó, để có thể cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp phải cân nhắc rất kỹ khi định giá sản phẩm của mình. Nhìn chung, giá cả các SPTS của Công ty Vissan cao hơn so với các đối thủ ở tất cả các chủng loại. Điều này phụ thuộc rất lớn vào giá cả nguyên liệu và mục tiêu Marketing của công ty. Về khía cạnh nguồn nguyên liệu, với việc biến động liên tục của chi phí thức ăn chăn nuôi, giá heo hơi, bò hơi cũng biến động theo. Do đó, lợi nhuận của Công ty bị ảnh hưởng rất lớn do công ty không được thay đổi giá bán tương ứng khi tham gia bình ổn. Về khía cạnh mục tiêu, công ty không chú trọng đến việc tối đa hóa lợi nhuận hoặc dẫn đầu thị trường mà công ty tập trung vào giá cả đi đôi chất lượng, do những chi phí tăng lên trong khâu xử lý để đảm bảo sản phẩm luôn an toàn, hợp vệ sinh, giá thành sản phẩm của công ty tăng lên.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Tuy nhiên, công ty cũng đã cố gắng thực hiện các chính sách về giá để khuyến khích tiêu dùng như: Đối với khách hàng tổ chức như siêu thị, trường học, bệnh viện… Công ty có chính sách giá chung là chiết khấu trên đơn giá của mỗi kg bán ra khi giá cả nguyên liệu giảm để đẩy mạnh sản lượng bán ra. Còn đối với khách hàng cá nhân, do Công ty tham gia chương trình bình ổn thị trường nên bán mức giá chung đã đăng ký trước với Ủy ban nhân dân thành phố.

Bảng 2.5: Bảng giá một số SPTS của công ty Vissan thời điểm 30/06/2014

Sau đây là ý kiến khảo sát người tiêu dùng về thành phầm giá cả:

Bảng 2.6: Giá trị trung bình ý kiến đánh giá của người tiêu dùng về thành phần giá cả của SPTS Công ty Vissan

Điều tra khảo sát của tác giả, T7-8/2014 Kết quả của One sample T-test cho thấy: Người tiêu cho rằng công ty vẫn chưa chứng minh được giá cả SPTS của mình phù hợp chất lượng và có thể cạnh tranh được với đối thủ.

Bảng 2.7: Giá trị trung bình mức độ ảnh hưởng của các thành phần giá cả đến quyết định mua SPTS của người tiêu dùng

Kết quả của One sample T-test cho thấy: Người tiêu dùng rất chú trọng yếu tố giá cả đối với SPTS.

2.2.4.3. Yếu tố phân phối trong hoạt động Marketing sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Từ khi đi vào hoạt động, ngành hàng tươi sống là ngành hàng chủ lực xuyên suốt của Công ty Vissan với chiến lược kinh doanh đánh mạnh vào thị trường truyền thống (kênh GT) là các quầy sạp ở chợ truyền thống tại địa bàn TP.HCM thông qua các mậu dịch viên. Từ năm 2005, nhận biết được thị trường tiềm năng trong kênh MT (hệ thống các siêu thị), Công ty Vissan đã chủ động liên kết với Co.op Mart, BigC, Metro để cố gắng đưa nhiều SPTS đến tay người tiêu dùng một cách thuận tiện hơn.

CÔNG TY VISSAN

16 chi nhánh

Siêu thị, cửa hàng tiện lợi

Cửa hàng GTSP của công ty

Người tiêu dùng

Kênh Cấp 0                                       Kênh Cấp 1                                       Kênh Cấp 2

Hình 2.10: Cấu trúc kênh phân phối SPTS của Công ty Vissan

Hiện nay, hệ thống phân phối SPTS của Công ty có thể được mô tả như sau:

Loại kênh phân phối đầu tiên (kênh phân phối cấp 0): Đây là kênh phân phối bán hàng trực tiếp thông qua cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty và văn phòng công ty. Hiện nay, Công ty có gần 100 cửa hàng tập trung ở nội và ngoại thành TP.HCM. Khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kênh này chiếm khoảng 35% khối lượng sản phẩm của công ty.

Loại kênh phân phối thứ 2 (kênh phân phối cấp I): Với loại kênh này, Công ty sẽ được phân phối bằng cách đi từ nhà sản xuất, qua bán lẻ đến người tiêu dùng.

Đây là loại kênh rất quan trọng trong kênh phân phối của Công ty. Hệ thống bán lẻ của Công ty là một mạng lưới rộng khắp, các siêu thị, cửa hàng tiện lợi (Satrafood…) thường mua theo hợp đồng. Khối lượng sản phẩm tiêu thụ trong kênh này chiếm khoảng 40% khối lượng sản phẩm của công ty.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Loại kênh phân phối thứ 3 (kênh phân phối cấp II): Đây là loại kênh tiêu thụ khoảng 25% khối lượng sản phẩm của Công ty. Qua kênh này, hàng hóa được đưa tới các đại lý hay nhà bán buôn, sau đó qua nhà bán lẻ trước khi đến tay người tiêu dùng. Công ty đang sở hữu 16 chi nhánh trực thuộc các địa bàn quận, huyện TP.HCM có chức năng như các nhà bán sỉ tươi sống của công ty.

Tỷ lệ sản lượng sản phẩm tươi sống bán ra theo kênh phân phối

Hình 2.11: Tỷ lệ sản lượng tươi sống bán ra theo kênh phân phối

Phòng thị trường Công ty Vissan cung cấp số liệu 6 tháng 2014 Ta thấy kênh cấp I bán ra tại các siêu thị chiếm tỷ trọng cao nhất (40%) trong tổng số kênh phân phối đối với sản phẩm tươi sống.

Bảng 2.8: Sản lượng và doanh thu SPTS theo kênh phân phối

Sau đây là ý kiến khảo sát người tiêu dùng về thành phần phân phối:

Bảng 2.9: Giá trị trung bình ý kiến đánh giá của người tiêu dùng về thành phần phân phối của SPTS Công ty Vissan

Kết quả của One sample T-test cho thấy: Người tiêu dùng không đồng ý với các phát biểu về thành phần phân phối nêu trêu.

Bảng 2.10: Giá trị trung bình mức độ ảnh hưởng của các thành phần phân phối đến quyết định mua SPTS của người tiêu dùng

Kết quả của One sample T-test cho thấy: Người tiêu dùng cũng khá chú trọng đến địa điểm mua sắm của mình phải thuận tiện.

2.2.4.4. Yếu tố xúc tiến hỗn hợp trong hoạt động Marketing sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

  • Quảng cáo: Công ty chưa thật sự dành ngân sách cho chiến lược quảng cáo và tiếp thị. Mặc dù, từ năm 2010 đến nay, Công ty cũng cố gắng giới thiệu SPTS thông qua giới thiệu về thương hiệu Vissan trên TV và qua các bài báo nhưng đó chỉ là những thông tin chung về thị trường thịt tươi sống chứ không phải giới thiệu sản phẩm của Công ty. Công ty chỉ quảng cáo sản phẩm trên Website của mình (Vissan.com.vn) mà cũng chưa liên kết với các trang mạng khác.
  • Tuyên truyền và quan hệ công chúng: Đây là hình thức chiêu thị được công ty sử dụng một cách thường xuyên và đã tạo một hiệu rất tốt để khắc sâu hình ảnh thương hiệu của Vissan gắn liền với sản phẩm sạch, an toàn, hình ảnh của một công ty có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. Ví dụ, tham gia các chương trình từ thiện được quảng cáo trên TV, ban lãnh đạo công ty tham gia phát biểu trong chương trình “kiến thức tiêu dùng” do các đài truyền hình phát sóng, phát biểu những thông tin về thực phẩm trong các cuộc phỏng vấn trên các mặt báo, tài trợ và làm ban giám khảo cho Giải thưởng tài năng Lương Văn Can… Hàng năm công ty chi trên 7.5 tỷ đồng cho các hoạt động này.
  • Khuyến mãi: Việc thực hiện các chính sách nhằm kích thích tiêu thụ chỉ được áp dụng nhân những ngày lễ của đất nước như tết nguyên đán, trung thu… hình thức kích thích là giảm giá trực tiếp trên từng kg sản lượng bán ra, số lượng tiêu thụ trong những ngày này tăng lên một cách đáng kể.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản
  • Bán hàng cá nhân: SPTS đã quá quen thuộc với người tiêu dùng nên Công ty không dùng các hình thức bán hàng trực tiếp để giới thiệu về sản phẩm của mình.
  • Marketing trực tiếp: Đối với khách hàng là tổ chức, công ty thường thông báo các chính sách chiết khấu thông qua thư chào hàng và điện thoại để giải thích rõ hơn về các chính sách của mình. Điều này thường áp dụng đối với các bạn hàng lâu năm. Tuy nhiên, đối với khách hàng cá nhân, công ty chỉ thông báo đến họ thông qua các bảng giá được treo tại hệ thống phân phối của công ty.

Bảng 2.11: Chi phí thực hiện của các công cụ xúc tiến hỗn hợp và doanh thu SPTS mang lại tương ứng

Công ty chi khá nhiều tiền cho khuyến mãi và tiếp đến là tuyên truyền và quan hệ công chúng đã mang lại hiệu quả về mặt doanh thu.

Sau đây là ý kiến khảo sát người tiêu dùng về thành phần xúc tiến hỗn hợp:

Bảng 2.12: Giá trị trung bình ý kiến đánh giá của người tiêu dùng về thành phần xúc tiến hỗn hợp của SPTS Công ty Vissan

Kết quả của One sample T-test cho thấy: Người tiêu dùng không đồng ý với các ý kiến về thành phần xúc tiến hỗn hợp của Công ty Vissan.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Bảng 2.13: Giá trị trung bình mức độ ảnh hưởng của các thành phần xúc tiến hỗn hợp đến quyết định mua SPTS của người tiêu dùng

Điều tra khảo sát của tác giả, T7-8/2014 Kết quả của One sample T-test cho thấy: Người tiêu dùng sẽ mua SPTS vì thương hiệu nổi tiếng, đây là lợi thế rất lớn đối với công ty Vissan, còn chương trình khuyến mãi và quảng cáo hấp dẫn không kích thích họ.

2.2.4.5. So sánh sự khác biệt về giá trị trung bình:

Trong phần khảo sát, để so sánh sự khác biệt giữa giá trị trung bình về các thành phần Marketing – mix của Công ty Vissan theo giới tính, độ tuổi, thu nhập và nghề nghiệp, tác giả dùng kiểm định t-test và phân tích ANOVA một nhân tố

  • Về giới tính: Với kết quả kiểm định t-test ở độ tin cậy 95%, tất cả các giá trị p-value đều lớn hơn 0.05. Ta kết luận rằng không có sự khác biệt giữa nam và nữ về các ý kiến đánh giá của người tiêu dùng đối với các thành phần Marketing mix của Công ty Vissan.
  • Về độ tuổi: Với kết quả của bảng phân tích ANOVA ở độ tin cậy 95%, tất cả các giá trị p-value đều lớn hơn 0.05. Ta kết luận rằng không có sự khác biệt về độ tuổi trong các ý kiến đánh giá của người tiêu dùng đối với các thành phần Marketing – mix của Công ty Vissan.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản
  • Về thu nhập: với kết quả của bảng phân tích ANOVA ở độ tin cậy 95%, hầu hết các giá trị p-value đều lớn hơn 0.05. Ta kết luận rằng hầu hết không có sự khác biệt về thu nhập trong các ý kiến đánh giá của người tiêu dùng đối với các thành phần Marketing – mix của Công ty Vissan. Ngoại trừ “Thái độ phục vụ của nhân viên Vissan vui vẻ, ân cần”, giá trị p-value = 0.044< 0,05. Tuy nhiên khi chạy kiểm định Post Hoc Tests, giá trị p-value đều lớn hơn 0.05, như vậy sự khác biệt trên không rõ rệt.
  • Về nghề nghiệp: với kết quả của bảng phân tích ANOVA ở độ tin cậy 95%, hầu hết các giá trị p-value đều lớn hơn 0.05. Ta kết luận rằng hầu hết không có sự khác biệt về nghề nghiệp trong các ý kiến đánh giá của người tiêu dùng đối với các thành phần Marketing – mix của Công ty Vissan. Tuy nhiên, kết quả vẫn còn tồn tại các đánh giá có giá trị p-value nhỏ hơn 0,05 bao gồm:
  • SPTS VISSAN tươi, ngon
  • Quầy SPTS VISSAN trong chợ truyền thống dễ thấy
  • Nơi bán SPTS VISSAN sạch sẽ

Vì vậy ta kiểm định Post Hoc Tests cho các thành phần này:

Kết quả chỉ ra rằng không có sự khác biệt đáng kể với độ tin cậy 95% giữa những ngành nghề khác nhau đối với đánh giá “SPTS VISSAN tươi, ngon”, những người nhân viên văn phòng đánh giá thấp hơn so với những lao động ở những nghề “khác” đối với phát biểu “Quầy SPTS VISSAN trong chợ truyền thống dễ thấy” và phát biểu “Nơi bán SPTS VISSAN sạch sẽ”.

Tóm lại, đối với các thành phần Marketing – mix SPTS của Công ty Vissan thì đa phần không có sự khác biệt về ý kiến đánh giá của những người tiêu dùng có giới tính, độ tuổi, thu nhập và nghề nghiệp khác nhau do SPTS là những mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống, mọi người đều sử dụng nên có mức độ đánh giá gần như nhau. Riêng đối với khác biệt ở một số đánh giá như kết quả kiểm định ở phần trên, tác giả sẽ có ý kiến cụ thể trong phần giải pháp.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Tương tự, tiếp theo tác giả so sánh sự khác biệt giữa giá trị trung bình về các thành phần Marketing – mix nói chung theo giới tính, độ tuổi, thu nhập và nghề nghiệp bằng kiểm định t-test và phân tích ANOVA một nhân tố.

  • Về giới tính: Qua kiểm định t-test, ta phát hiện: Đối với “Sản phẩm tươi, ngon” và “Nơi bán sản phẩm sạch sẽ”: Nam bị ảnh hưởng ít hơn nữ, còn các thành phần khác không có sự khác biệt giữa nam và nữ.
  • Về độ tuổi: Với độ tin cậy 95%, kết quả phân tích ANOVA chỉ ra những người có độ tuổi khác nhau bị ảnh hưởng khác nhau đối với “Quảng cáo hấp dẫn”, còn các thành phần khác không có sự khác biệt về độ tuổi. Qua kiểm định Post Hoc Tests, ta thấy những người có độ tuổi từ 20 đến 35 bị ảnh hưởng bởi “quảng cáo hấp dẫn” nhiều hơn những người trên 45 tuổi.
  • Về thu nhập: Kết quả phân tích ANOVA cho thấy không có sự khác biệt giữa những người có mức thu nhập khác nhau về mức độ ảnh hưởng của các thành phần Marketing – mix đối với người tiêu dùng.

Về nghề nghiệp: Tương tự không có sự khác biệt giữa những người có nghề nghiệp về mức độ ảnh hưởng của các thành phần Marketing – mix đối với người tiêu dùng.

Trên đây là mô tả chi tiết về các hoạt động Marketing mà công ty đang áp dụng, ta thấy vẫn còn những tồn tại buộc công ty phải giải quyết để hoàn thiện công tác Marketing của mình. Phần tiếp theo sẽ nói đến ảnh hưởng của các hoạt động đó đến sự nhận biết của người tiêu dùng hiện nay như thế nào.

2.3. Thực trạng các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hoạt động Marketing sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan 

2.3.1. Các yếu tố môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động Marketing sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

2.3.1.1. Yếu tố dân số

Nhu cầu đối với các SPTS như thịt gia súc, gia cầm, thủy cầm và rau, củ, quả là những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho người dân vẫn tăng lên gắng liền mức tăng dân số. Hiện dân số Việt Nam đứng thứ 13 trên thế giới với 90 triệu dân (năm 2013), và tại TP.HCM là là 7.9 triệu. GDP bình quân đầu người khoảng 1960 USD vào năm 2013. Bên cạnh đó, đời sống vật chất, trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao nên mức cầu về thực phẩm này cũng tăng theo, đa dạng sẽ tạo động lực kích thích phát triển ngành công nghiệp thực phẩm.

2.3.1.2. Yếu tố kinh tế

Với sức mua thị trường thấp trong năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế yếu. Ngoài ra, việc chính phủ kiểm soát chặt chẽ hơn vấn đề nợ xấu của các ngân hàng làm cho các ngân hàng càng dè dặt hơn trong khâu cho vay, dẫn tới gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, thu nhập của người lao động bị ảnh hưởng dẫn đến việc tiết kiệm chi tiêu. Đó là một vòng luẩn quẩn mà nền kinh tế nước đã phải đối mặt. Tuy nhiên, theo dự báo của các chuyên gia kinh tế tình hình sức mua sẽ có tiến triển tích cực từ đầu năm sau.

2.3.1.3. Yếu tố tự nhiên Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Môi trường tự nhiên ở Việt Nam từ trước đến nay rất thích hợp để trồng trọt và chăn nuôi. Việc không phải nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào có chi phí cao như heo hơi mà trong nước có thể đáp ứng là một điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp thực phẩm.

2.3.1.4. Yếu tố công nghệ

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy cầm cộng với sự phát triển công nghệ giết mổ đã góp phần tích cực tăng sản lượng và chất lượng thực phẩm cung cấp cho thị trường. Do đó, với môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, lợi thế cạnh tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết ứng dụng công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của khách hàng.

2.3.1.5. Yếu tố chính trị và luật pháp Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Tình hình chính trị của Việt Nam ổn định mặc dù có những biến động ở Biển Đông nhưng chính phủ Việt Nam luôn có những giải pháp đối phó, xử lý kịp thời và hợp lý, vận động tuyên truyền nhân dân cả nước chung tay góp sức bảo vệ chủ quyền đất nước. Mặt khác vẫn tiếp tục duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường.

Tuy nhiên, hệ thống pháp luật còn thiếu các quy định hướng dẫn cụ thể, chưa khả thi, thiếu tính thực tế. Thủ tục hành chính rườm rà, quy định chồng chéo giữa các văn bản, phân công trách nhiệm quản lý không rõ ràng, thường xuyên thay đổi những qui định đã làm cản trở đến hoạt động của doanh nghiệp thức thi hành pháp luật chưa tốt, đặc biệt tình trạng sử dụng hóa chất bừa bãi trong SPTS và chế biến, tình trạng giết mổ gia súc, gia cầm bệnh để cung cấp cho thị trường.

2.3.1.6. Yếu tố văn hóa

Trong xu thế công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đời sống xã hội đang từng bước hình thành lối sống công nghiệp. Người tiêu dùng quan tâm hơn về thực phẩm chất lượng cao và an toàn vệ sinh.

Một điều cần lưu ý, đối với các SPTS người Việt Nam thường có thói quen cầm nắm, quan sát, lựa chọn các sản phẩm trực tiếp tại các quầy, sạp hoặc cửa hàng. 2.3.2. Các yếu tố môi trường vi mô ảnh hưởng đến hoạt động Marketing sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan

2.3.2.1. Môi trường bên trong công ty Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Khi Phòng thị trường xây dựng các kế hoạch Marketing phải luôn tham khảo kiến của các Phòng ban khác để phối hợp thực hiện, trong đó 3 phòng ảnh hưởng nhiều nhất là Phòng Tài chính – Kế toán để duyệt ngân sách, tìm kiếm nguồn tài trợ và 2 phòng kinh doanh thực phẩm chế biến và tươi sống để đưa ra các chính sách phù hợp với thị trường. Tuy nhiên, hiện nay sự phối hợp giữa các phòng ban chưa tốt dẫn đến những kế hoạch chưa mang tính khả thi.

2.3.2.2. Nhà cung ứng

Để ổn định về chất lượng và số lượng, Công ty triển khai hình thức hợp đồng mua sản phẩm gia súc, rau củ quả trực tiếp với người sản xuất, không mua qua thương lái nguồn gốc không rõ ràng. Công ty ký hợp đồng liên kết đầu tư có chọn lọc đối với một số hộ sản xuất và vùng nguyên liệu ổn định như các trại và hộ dân tập trung tại các tỉnh thành lân cận như Long An, Đồng Nai, Củ Chi, Tiền Giang…

Tuy nhiên, khi tình hình dịch bệnh xảy ra đối với heo, Công ty sẽ bị áp lực đe dọa về giá vì người nông dân không chăn nuôi nữa, nguồn nguyên liệu trở nên khan hiếm nên giá thu mua sẽ tăng.

Ngoài nguồn nguyên liệu trên, Công ty còn chủ động tham gia vào lĩnh vực chăn nuôi (xí nghiệp Chăn Nuôi Gò Sao trực thuộc Công ty Vissan) nhằm đảm bảo đầu vào luôn có nguồn nguyên liệu ổn định về số lượng và chất lượng, giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường..

2.3.2.3. Các trung gian Marketing Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

  • Trung gian phân phối: các SPTS bán trực tiếp cho người tiêu dùng qua các cửa hàng của mình, đồng thời thông qua trung gian phân phối là các đơn vị trực thuộc. Các trung gian này thuộc nội bộ nên công ty có thể dễ dàng triển khai thực hiện các chính sách Marketing.
  • Tổ chức cung cấp dịch vụ lưu thông sản phẩm: hiện nay, do công suất giết mổ khá lớn, các SPTS có thể bán ngay ra thị trường hoặc đem cấp đông thành các sản phẩm đông lạnh. Công ty cũng thuê ngoài một số kho lạnh để lưu giữ hàng hóa, sản phẩm.
  • Tổ chức cung cấp dịch vụ Marketing: đó là công ty nghiên cứu thị trường Nielsen.
  • Tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính – Marketing: do là một công ty lớn, có uy tín nên công ty luôn được các tổ chức tín dụng cho vay với lãi suất ưu đãi và các điều kiện vay khá tốt.

2.3.2.4. Khách hàng

Mạng lưới phân phối của VISSAN phát triển rộng khắp trong toàn quốc từ thành phố đến các tỉnh. Với thương hiệu mạnh, uy tín về chất lượng sản phẩm kết hợp các chính sách về giá cả, chiết khấu, khuyến mãi hợp lý đã làm cho khách hàng của Công ty như các siêu thị, các đại lý, các tiểu thương, v.v… và người tiêu dùng tin tưởng vào sản phẩm của Công ty và họ thường mua với số lượng lớn. Tuy nhiên, những năm gần đây, ngoài thương hiệu Vissan, khách hàng còn đứng trước nhiều sự lựa chọn từ hệ thống tư thương và các Công ty trong nước cũng như nước ngoài cũng gây những áp lực đối với Công ty:

Các siêu thị, đại lý… luôn muốn đáp ứng đủ hàng nhanh, thời gian thanh toán kéo dài, đổi lại hàng bị hỏng, có chính sách chiết khấu, hoa hồng phù hợp. Điều này đã gây áp lực về mặt tài chính, uy tín thương hiệu và đầu ra của Công ty.

Đời sống vật chất ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của người tiêu dùng trở nên phong phú và đa dạng. Người tiêu dùng đòi hỏi ngoài chất lượng sản phẩm cao còn phải có giá cả cạnh tranh và dịch vụ tốt hơn. Họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm có chất lượng cao, vượt trội. Đây chính là áp lực đối với Công ty trong việc sản xuất ra các sản phẩm phải đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

2.3.2.5. Đối thủ cạnh tranh 

Hiện nay, Công ty Vissan đang đứng trước môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và phải đối đầu với nhiều đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước. Mỗi mặt hàng kinh doanh của Công ty có những đối thủ cạnh tranh khác nhau, riêng đối với SPTS, Công ty có các đối thủ cạnh tranh chính sau: nhóm tư thương (hệ thống thương lái), Công ty TNHH Chăn Nuôi Charoen Porphand Việt Nam (Công ty CP).

Nhóm tư thương (hệ thống các thương lái): kinh doanh thịt heo tươi sống:

Đây là đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Công ty Vissan, họ giết mổ heo tại các lò mổ thủ công (có phép hoặc không có phép) ở thành phố và ở các tỉnh lân cận giáp ranh thành phố(Long An, Đồng Nai, Bình Dương). So với Công ty Vissan, hệ thống các thương lái tư nhân có một số điểm mạnh và điểm yếu sau:

Điểm mạnh:

Sự tồn tại của các lò giết mổ thủ công trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân cận đã tạo điều kiện cho hệ thống thương lái kinh doanh thịt heo bên vì giá gia công giết mổ tại các lò mổ thủ công thấp hơn so với giá gia công tại VISSAN.

Hệ thống thu mua của các thương lái sẵn sàng đi vào những vùng sâu, vùng xa của người chăn nuôi để mua heo hơi kể cả heo bệnh.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Phương thức mua của họ rất linh hoạt, họ sẵn sàng ứng tiền trước, đặt cọc cho người chăn nuôi khi cần.

Giá bán của họ rất linh động, được quyết định rất nhanh, đặc biệt là những lúc dội chợ.

Điểm yếu:

Sản phẩm thịt heo bên của họ chưa đảm bảo yêu cầu về vệ sinh thực phẩm. Hiện nay Nhà nước cũng đã tiến hành nhiều biện pháp để hạn chế các thực phẩm kém vệ sinh đã tạo áp lực không nhỏ cho các tư thương.

Không có khả năng đáp ứng nhanh một số lượng lớn thịt heo bên cho nhu cầu thị trường vào những thời điểm cần thiết (các Lễ, Tết).

Khách hàng của họ thường không thỏa mãn do bị ép giá, cân gian lận, v.v…

Công ty TNHH Chăn Nuôi Charoen Pokphand Việt Nam (Công ty CP):

Công ty TNHH Chăn Nuôi Charoen Pokphand Việt Nam là một thành viên của Tập đoàn CP Group của Thái Lan. Lĩnh vực hoạt động của CP là thức ăn chăn nuôi và thủy sản, chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi gia công heo, kinh doanh SPCB, SPTS và giết mổ gia cầm. Thị phần của CP chủ yếu ở TP.HCM và các tỉnh như Đồng Nai, Cần Thơ, Nha Trang, v.v….

Điểm mạnh:

Khả năng cạnh tranh về giá: giá rẻ hơn so với VISSAN do có lợi thế về chăn nuôi, chi phí giết mổ thấp.

Nguồn nguyên liệu: thực hiện chính sách chuồng trại an toàn, chăn nuôi khép kín nên nguồn nguyên liệu được ổn định, chất lượng cao.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Được sự hỗ trợ của từ Tập Đoàn CP Group Thái Lan nên ổn định về tài chính.

Kênh phân phối thị trường nội địa: hệ thống phân phối sản phẩm tập trung ở TP.HCM và các tỉnh Đồng Nai, Cần Thơ, Nha Trang, Bình Thuận, v.v… Từ năm 2006 đến nay, CP mở các cửa hàng CP Fresh Mart và sẽ được nhân rộng ra khắp các hệ thống CP theo phương châm “Tủ lạnh của gia đình bạn”.

Điểm yếu:

Thương hiệu: mức độ nhận biết thương hiệu hiện tại chưa cao.

Hoạt động Marketing: CP hoạt động Marketing chưa thật sử hiệu quả.

Đối thủ tìm ẩn mới

Khả năng xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới, có tiềm lực mạnh là rất lớn. Do ngành kinh doanh thực phẩm là ngành nghề phổ biến, nhu cầu thị trường đang còn mở rộng, sản xuất trong nước hiện nay chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Mặt khác, với chính sách mở cửa, khuyến khích đầu tư nước ngoài của Nhà nước ngày càng thông thoáng sẽ thu hút thêm các Công ty nước ngoài đầu tư vào thị trường đầy tiềm năng này. Vì vậy mối đe dọa của Vissan không chỉ là các Công ty trong nước mà còn các Công ty nước ngoài, các tập đoàn thực phẩm sẽ gia nhập vào ngành này càng nhiều.

2.4. Đánh giá chung thực trạng hoạt động Marketing sản phẩm tươi sống của Công ty Vissan Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

Qua những phân tích cụ thể như trên, ta thấy hoạt động Marketing cho SPTS của công ty Vissan có những điểm mạnh cụ thể cần phát huy cũng như các điểm yếu cần phải khắc phục để hoàn thiện hơn trước những cơ hội, đe dọa của thị trường hiện nay:

2.4.1. Điểm mạnh

Nguồn nhân lực ổn định và phát triển.

  • Sức khỏe tài chính tốt, nguồn lực tài chính dồi dào, được hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp
  • Công ty bán hàng tươi sống với giá bình ổn sẽ lấy được niềm tin của người tiêu dùng, đời sống của người dân ổn định góp phần ổn định an sinh xã hội vì hiện nay tại TP.HCM, Công ty chiếm thị phần lớn trong ngành hàng SPTS.

Về sản phẩm:Bộ phận nghiên cứu thị trường phát huy hiệu quả được thể hiện thông qua:

  • Tích cực bổ sung thêm các sản phẩm từ Bò Úc để phục vụ người tiêu dùng
  • Nhãn hiệu và bao bì của các sản phẩm đông lạnh phản ánh tốt hình ảnh công ty
  • Hệ thống vận chuyển tốt nên luôn cung cấp đủ lượng hàng hóa cho kênh phân phối của mình.

Về giá cả: Định giá đi đôi với chất lượng.

  • Tích cực đẩy mạnh sản lượng bán ra khi giá cả biến động giảm bằng các hình thức chiết khấu, giảm giá cho khách hàng
  • Về phân phối: Kênh phân phối rộng và đa dạng trên thị trường TP.HCM
  • Về xúc tiến hỗn hợp Tuyên truyền và quan hệ công chúng: tận dụng triệt để
  • Khuyến mãi: phát huy tốt
  • Marketing trực tiếp: thực hiện tốt đối với khách hàng tổ chức

2.4.2. Điểm yếu Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

  • Việc tổ chức cơ cấu phòng thị trường chưa hợp lý để thực hiện các hoạt động Marketing tổng hợp.
  • Các báo cáo phục vụ việc ghi chép nội bộ cũng như các tình báo tiếp thị chưa phát huy được hiệu quả, không cung cấp các thông tin đầy đủ và kịp thời làm ảnh hưởng đến các quyết định Marketing.

Về sản phẩm:

  • Nguồn nguyên liệu sạch ngày càng khan hiếm, qui trình giết mổ chưa tự động hóa khiến công ty khó đảm bảo chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
  • Chưa phục vụ khách hàng tốt tại các điểm bán hàng
  • Mức độ đánh giá về thành phần sản phẩm theo khảo sát không tốt.
  • Về giá cả:Giá cao hơn so với các đối thủ
  • Chưa chứng minh cho người tiêu dùng thấy giá cả của Vissan phù hợp chất lượng.
  • Về phân phối:
  • Do phụ thuộc rất lớn vào các khách hàng tổ chức như hệ thống siêu thị, Công ty đã phải chiết khấu một khoảng rất lớn trong khi giá cả không được thay đổi đã ảnh hưởng nhiều đến kết quả kinh doanh của Công ty.
  • Chỉ triển khai hệ thống phân phối tại TP.HCM chưa triển khai sang các tỉnh lân cận
  • Mức độ đánh giá về thành phần phân phối theo khảo sát không tốt.
  • Về xúc tiến hỗn hợp:Các hình thức quảng cáo trên Website chưa thật sự hiệu quả
  • Các hình thức Marketing trực tiếp chưa tiếp cận được người tiêu dùng trực tiếp sử dụng sản phẩm
  • Mức độ đánh giá về thành phần xúc tiến hỗn hợp theo khảo sát không tốt.
  • Chưa dành ngân sách đúng mức để thực hiện các hoạt động Marketing
  • Sự phối hợp của các phòng ban chưa tốt

2.4.3. Cơ hội Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

  • Dân số tăng chứng tỏ tiềm năng thị trường rất lớn.
  • Dự báo sức mua thị trường được cải thiện.
  • Nguồn nguyên liệu heo hơi được cung cấp trong nước.
  • Sự phát triển của khoa học và công nghệ.
  • Người tiêu dùng quan tâm hơn về thực phẩm chất lượng cao và an toàn vệ sinh.

2.4.4. Đe dọa 

  • Giá cả nguyên liệu heo hơi biến động mạnh.
  • Nguồn nguyên liệu sạch ngày càng khan hiếm
  • Sức ép cạnh tranh từ các đối thủ trong nước và nước ngoài
  • Nền kinh tế nhiều thử thách.
  • Rào cản từ hệ thống quy định pháp luật.
  • Ý thức thi hành pháp luật không cao, sử dụng hóa chất bừa bãi trong chăn nuôi, sản xuất.

Tình trạng dịch bệnh xảy ra thường xuyên.

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Qua thực trạng đánh giá các hoạt động Marketing – mix cho SPTS của Công ty Vissan và kết quả của cuộc khảo sát thực tế về ý kiến của người tiêu dùng đối với các thành phần Marketing – mix của SPTS Công ty, ta thấy các hoạt động Marketing vẫn còn phải một số hạn chế nhất định và đã không tạo hiệu quả tốt trong sự nhận biết của người tiêu dùng. Do đó, công ty cần có các giải pháp cụ thể để khắc phục.Luận văn: Thực trạng Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Giải pháp Marketing của Công ty Kỹ Nghệ Súc Sản

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x