Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1. Quan điểm đảm bảo thực hiện pháp luật về lưu trữ 

3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quán triệt công tác lưu trữ Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam – Đại hội mở đầu cho thời kỳ đổi mới, lần đầu tiên Đảng ta chính thức giao nhiệm vụ cho các ngành, các cấp phải: “Tổ chức tốt công tác lưu trữ, bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ quốc gia”. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4 – 2001) đã đưa ra một nhiệm vụ cấp thiết cần phải thực hiện “hiện đại hóa công tác văn thư, lưu trữ” [31]; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng năm 2006, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra mục tiêu “bảo vệ và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ”; Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Đây là tiền đề quan trọng trong việc ban hành những văn bản pháp luật lưu trữ sau này.

Công tác lưu trữ có vai trò quan trọng đối với tất cả các vấn đề của đời sống xã hội. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ. Ngay từ những ngày đầu nước nhà giành được độc lập, Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Thông đạt số 1C/VP ngày 03/01/1946 về công tác công văn, giấy tờ, trong đó Người đã chỉ rõ “tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt về phương diện kiến thiết quốc gia”, Người yêu cầu các Bộ trưởng, Ban “chỉ thị cho nhân viên các sở phải giữ gìn công văn, tài liệu và cấm không được hủy bỏ các công văn, tài liệu ấy”, “Hồ sơ hoặc công văn không cần dùng sau này sẽ phải gửi về những Sở lưu trữ công văn thuộc Bộ Quốc gia giáo dục để tàng trữ”. Trong những năm qua, việc bảo quản và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ đã được quan tâm, chú trọng và khẳng định trong nhiều văn bản của nhà nước ta như: Nghị định 142/CP năm 1963 của Chính phủ ban hành Điều lệ về công tác công văn giấy tờ và công tác văn thư lưu trữ; Pháp lệnh bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 30/11/1982; Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia ngày 04/4/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với mục tiêu bảo vệ an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ quốc gia; Chỉ thị số 05/2007/CT-TTg ngày 02/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường bảo vệ và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ. Xác định ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của công tác lưu trữ đối với xã hội và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ngày 17/9/2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1229/QĐ-TTg về Ngày truyền thống của ngành Lưu trữ Việt Nam và lấy ngày 03/01 hàng năm là “Ngày Lưu trữ Việt Nam”.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

Đặc biệt, từ khi Luật Lưu trữ, Nghị định số 01/2013/NĐ-CP được ban hành đã khẳng định tài liệu lưu trữ là “tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ” và nhiệm vụ của công tác lưu trữ đã được ngành lưu trữ xác định là tổ chức khoa học, bảo quản an toàn tài liệu thuộc phông lưu trữ quốc gia Việt Nam và khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn thông tin tài liệu lưu trữ phục vụ cho các mục đích xây dựng và phát triển đất nước. Từ đó, hệ thống pháp luật về công tác lưu trữ dần được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý để từng bước nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý; tài liệu tại các Lưu trữ cơ quan, Lưu trữ lịch sử từng bước được phân loại, chỉnh lý, bảo vệ, bảo quản an toàn phục vụ khai thác, sử dụng có hiệu quả, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.1.2. Cần xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về quản lý lưu trữ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

PGS. TS Dương Văn Khảm đã từng nói “Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý công tác lưu trữ là một trong các biện pháp quan trọng hàng đầu trong việc quản lý nhà nước về công tác này” [27]. Nội dung này thể hiện ở chỗ văn bản quản lý nhà nước về công tác lưu trữ được sử dụng như là công cụ quản lý, điều hành các hoạt động về công tác lưu trữ của các cơ quan, đơn vị, cá nhân. Quản lý công tác lưu trữ là công việc rất khó khăn bởi thực tế trong nhiều năm qua nhận thức về tài liệu lưu trữ trong một bộ phận lớn cán bộ công chức và người lao động không được tốt, tài liệu lưu trữ bị xem nhẹ, không được coi trọng. Nguyên nhân khách quan là do công tác lưu trữ mà cụ thể là tài liệu lưu trữ là những hoạt động gián tiếp, người ta chú ý đến những công việc thực tế trước mắt hơn là những công việc không cần thiết. Nhưng nguyên nhân chủ quan là thiếu một hệ thống hoàn chỉnh các văn bản chỉ đạo công tác lưu trữ, đặc biệt là những văn bản liên quan đến chế tài của công tác này.

3.1.3. Cần nâng cao nghiệp vụ công tác lưu trữ cho đội ngũ người làm công tác lưu trữ Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

TS Nguyễn Văn Hàm khẳng định “Trong lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ, hai vấn đề phân loại tài liệu và xác định giá trị tài liệu được giới lưu trữ học đặc biệt quan tâm chú ý. Điều này thể hiện ở chỗ nhiều vấn đề đã được nghiên cứu dưới dạng các chuyên đề cụ thể như phân loại phông lưu trữ quốc gia, đến các trung tâm, các kho lưu trữ cũng như từng phông lưu trữ cụ thể; cơ sở lý luận xác định giá trị tài liệu, các loại bảng kê kèm theo chỉ dẫn bảo quản … tạo điều kiện dễ dàng cho công tác phân loại khoa học tài liệu lưu trữ, xác định giá trị để lựa chọn những tài liệu có giá trị đưa vào kho bảo quản và tiêu hủy tài liệu hết giá trị” [39].

Theo quan điểm này thì hệ thống các nguyên tắc, phương pháp, tiêu chuẩn phân loại, xác định giá trị tài liệu đã được nghiên cứu rất công phu và khoa học. Trên cơ sở đó, nhà quản lý về lưu trữ có thể xây dựng, ban hành các quy định hướng dẫn việc phân loại, xác định giá trị tài liệu lưu trữ; giúp mỗi cơ quan, tổ chức giảm sức ép là tài liệu hình thành ra ngày càng nhiều, phong phú, phức tạp mà khả năng tổ chức bảo quản thì có hạn. Mặt khác, cũng hạn chế được nhiều tài liệu có thông tin lặp lại được lưu trữ ở nhiều chỗ khác nhau trong phạm vi cùng hệ thống, tránh được tình trạng “vàng thau lẫn lộn”.

TS Nguyễn Cảnh Đương cho rằng “bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ không chỉ đòi hỏi sự mẫn cán, yêu nghề, phấn đấu quên mình của cán bộ lưu trữ mà còn đòi hỏi ở họ phải được trang bị kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành thành thạo. Bởi vì, bảo vệ, bảo quản tài liệu lưu trữ quốc gia là bảo vệ di sản của dân tộc, chỉ cần một sơ xuất nhỏ sẽ làm cho di sản bị tổn thương. Nếu sơ xuất lớn thì di sản đó sẽ bị mất vĩnh viễn mà không có gì có thể thay thế được. Bên cạnh đó, cần có sự đầu tư kinh phí lớn cho xây dựng cơ bản, trang thiết bị và trong suốt quá trình bảo quản, tổ chức sử dụng tài liệu”[40].

Theo quan điểm này thì để bảo vệ, bảo quản tài liệu lưu trữ một cách tối ưu cần phải đổi mới tư duy theo quan điểm hệ thống. Xem bảo vệ, bảo quản tài liệu lưu trữ là một quy trình thống nhất, không chỉ ưu tiên bảo quản tài liệu giấy mà còn cho tất cả các loại hình tài liệu khác, trong đó có tài liệu điện tử; không chỉ chú trọng bảo vệ, bảo quản tài liệu sau khi đã được nộp vào lưu trữ quốc gia mà còn phải chú trọng bảo quản tài liệu từ khi bắt đầu soạn thảo ở khâu văn thư và được bảo quản ở lưu trữ hiện hành. Bên cạnh đó, việc thực hiện các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật của nhà nước trong việc bảo quản tài liệu lưu trữ là yếu tố quan trọng giúp đảm bảo sự toàn vẹn tài liệu.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

Qua việc tìm hiểu, phân tích một số quan điểm của các nhà khoa học,nhận thấy từ lý luận vận dụng vào thực tế là cả một quá trình nghiên cứu tìm tòi để làm sao giữa lý luận và thực tiễn không bị vênh và cách xa nhau. Như vậy, có thể khẳng định hệ thống lý luận về lưu trữ học góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện pháp luật lưu trữ; đồng thời, khoa học về lưu trữ cũng góp phần đảm bảo việc thực hiện pháp luật về lưu trữ ở nước ta trong những năm qua.

Với những chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và quan điểm của một số nhà khoa học nghiên cứu về công tác lưu trữ nêu trên, để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lưu trữ, trong thời gian tới hoạt động lưu trữ của Bộ Tài chính cần đề ra phương hướng để thực hiện một cách hiệu quả nhất.

Một là, quán triệt nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước về công tác lưu trữ.

Hai là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ năng lực, phẩm chất; hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về công tác lưu trữ trong Bộ và quy trình nghiệp vụ lưu trữ đảm bảo hoạt động thông suốt tại các cơ quan, tổ chức thuộc Bộ.

Ba là, làm cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động có nhận thức đúng đắn hơn về vị trí, vai trò, giá trị, tầm quan trọng của công tác lưu trữ và tài liệu lưu trữ thông qua việc tuyên truyền phổ biến quán triệt luật pháp lưu trữ. Nếu toàn thể cán bộ, công chức, viên chức người lao động có sự hiểu biết về vai trò và tầm quan trọng của công tác lưu trữ, tài liệu lưu trữ sẽ giúp việc bảo vệ, bảo quản an toàn tài liệu tốt hơn.

3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về lưu trữ

Hoàn thiện quy định của Nhà nước:

Thứ nhất, Luật Lưu trữ với tính chất của luật chuyên ngành cần phải quy định về biện pháp bảo vệ quyền sở hữu tài liệu lưu trữ của tổ chức tư nhân, xử phạt vi phạm trong lĩnh vực lưu trữ, cụ thể:

  • Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu tài liệu của tổ chức tư nhân: Cần bổ sung quy định về quản lý riêng liên quan đến nội dung của quyền sở hữu tài liệu lưu trữ của tổ chức tư nhân; vai trò của Nhà nước trong việc quản lý tránh thất lạc, mất mát tài liệu có giá trị, là di sản văn hóa của dân tộc…; quy định về chính sách khuyến khích các tổ chức tư nhân chuyển giao tài liệu lưu trữ có giá trị cho các cơ quan lưu trữ của Nhà nước dưới các hình thức hiến tặng, ký gửi, chuyển nhượng (mua bán). Ngoài ra, cần phải có cơ chế khen thưởng đối với các tổ chức tư nhân có thành tích trong việc bảo vệ tài liệu lưu trữ quốc gia, hiến tặng cho cơ quan lưu trữ của Nhà nước những tài liệu có giá trị thì được khen thưởng theo quy định.
  • Bổ sung quy định về chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực lưu trữ; giải mật tài liệu lưu trữ để có cơ sở xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện nội dung này. Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

Thứ hai, đối với nghị định, thông tư và các văn bản khác hướng dẫn cụ thể các quy định của Luật Lưu trữ cần bổ sung các nội dung sau:

  • Xây dựng nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực lưu trữ tài liệu. Việc ban hành nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực lưu trữ là nhu cầu cấp bách và là đòi hỏi của quá trình thực thi pháp luật trong thực tiễn. Nghị định này sẽ giúp các chủ thể tham gia hoạt động lưu trữ thực thi một cách nghiêm túc và hiệu quả các quy định pháp luật, đồng thời xác định các hành vi vi phạm hành chính, chế tài áp dụng cho những hành vi đó. Đối với các chế tài cho hành vi xâm hại đến quyền sở hữu tài liệu lưu trữ sẽ đồng thời dẫn chiếu đến các quy định về các chế tài của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự để áp dụng.
  • Xây dựng văn bản hướng dẫn cho cả nước về định mức hưởng phụ cấp ngành nghề đặc thù cho cán bộ lưu trữ; mức thu phí đối với người khai thác, sử dụng tài liệu tại các cơ quan, tổ chức.

Bên cạnh đó, khi xây dựng văn bản hướng dẫn chỉ đạo công tác lưu trữ cho cả nước, Bộ Nội vụ là cơ quan quản lý ngành lưu trữ cần dựa trên các nguyên tắc cơ bản đó là phải phù hợp, đồng bộ, toàn diện, phải thường xuyên và kịp thời tránh tình trạng chồng chéo, văn bản này trái với văn bản kia và không phù hợp với đặc thù của đối tượng điều chỉnh.

  • Hoàn thiện quy định của Bộ Tài chính: Đối với Bộ Tài chính, trước hết chỉ đạo các cơ quan, đơn vị rà soát, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoặc quy định chưa phù hợp và xây dựng, ban hành đối với các nội dung còn thiếu chưa quy định. Việc sửa đổi và ban hành phải phù hợp, thống nhất với quy định của nhà nước, cơ quan cấp trên, cụ thể: Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính
  • Văn phòng Bộ cần rà soát sớm các văn bản đã ban hành, trình Lãnh đạo Bộ Tài chính ban hành sớm các văn bản để thay thế văn bản không còn phù hợp và ban hành mới những văn bản còn thiếu như: (1) Ban hành Quy chế chỉnh lý để thay thế cho Quyết số 4270/QĐ-BTC ngày 06/12/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành quy chế chỉnh lý hồ sơ, tài liệu lưu trữ thuộc Bộ Tài chính; (2) Ban hành Quy chế hướng dẫn lập hồ sơ, giao nộp tài liệu vào lưu trữ cơ quan để thay thế cho Quyết định số 1939/QĐ-BTC ngày 12/8/2011 của Bộ Tài chính quy định công tác lập hồ sơ, danh mục và giao nộp hồ sơ vào lưu trữ hiện hành của Bộ Tài chính và các đơn vị thuộc Bộ; (3) Ban hành Bảng thời hạn bảo quản để thay thế Thông tư số 155/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu hình thành phổ biến trong hoạt động của ngành Tài chính. Ngoài ra Văn phòng Bộ cần nghiên cứu thêm tham mưu cho Lãnh đạo Bộ ban hành các văn bản quy định về kho; công tác bảo quản và khai thác; công tác giao nộp và công tác tiêu hủy; công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong lưu trữ.
  • Các Tổng cục và tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ: Yêu cầu rà soát lại toàn bộ hệ thống văn bản còn thiếu cần xây dựng và ban hành trong thời gian tới; nếu văn bản quá cũ không còn phù hợp với Luật Lưu trữ và các quy định hướng dẫn hiện hành thì cần sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt chú ý đến ban hành Quy chế công tác lưu trữ tại từng đơn vị đảm bảo yêu cầu đúng với quy định của Nhà nước và phù hợp với đặc thù của ngành (Quy chế văn thư, lưu trữ của Tổng cục dự trữ nhà nước và Ủy ban Chứng khoán nhà nước năm 2012); việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lưu trữ…

Trong công tác lưu trữ có nhiều hoạt động khác nhau và mỗi hoạt động cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể để tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan, đơn vị trong Bộ thực hiện đảm bảo quy định và thống nhất. Để triển khai được công việc trên, Bộ Tài chính cần xây dựng được quy hoạch chiến lược phát triển công tác lưu trữ của Bộ Tài chính. Trong quy hoạch chiến lược này phải đặt ra chi tiết từng vấn đề cần giải quyết trước mắt và dài hạn cho công tác lưu trữ của Bộ như: Công tác tổ chức, nhân lực; ban hành hệ thống các văn bản quản lý, chỉ đạo; nâng cấp diện tích kho tàng, trang thiết bị bảo quản tài liệu lưu trữ; ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư kinh phí…và các hoạt động nghiệp vụ trong lưu trữ. Các nhiệm vụ trong chiến lược này, nhiệm vụ nào phải được ưu tiên thực hiện trước và nhiệm vụ nào sẽ được thực hiện sau. Việc xây dựng chiến lược phát triển là rất cần thiết đối với bất kỳ một lĩnh vực nào, nó là cơ sở để chúng ta thực hiện các mục tiêu đã đặt ra. Đối với thực trạng công tác lưu trữ tại Bộ Tài chính hiện nay, thiết nghĩ đây được xem như là một giải pháp chung cần thiết để nâng cao hiệu quả quản lý về công tác lưu trữ trong tương lai.

3.2.2. Tăng cường tổ chức thực hiện pháp luật về lưu trữ Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

  • Về thu thập tài liệu lưu trữ:
  • Lập hồ sơ và quản lý hồ sơ, tài liệu tại lưu trữ cơ quan:

Tăng cường sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo các đơn vị để đưa công tác lập hồ sơ hiện hành và giao nộp tài liệu vào lưu trữ cơ quan đi vào nề nếp. Thực tế cho thấy nếu lãnh đạo đơn vị quan tâm đến công tác văn thư, lưu trữ thì chất lượng lập hồ sơ, giao nộp tài liệu sẽ thực hiện ngăn nắp, khoa học, đúng quy định.

Cần nâng cao ý thức trách nhiệm đối với mỗi cán bộ, công chức chuyên môn về tầm quan trọng của công tác lập hồ sơ hiện hành và giao nộp tài liệu vào lưu trữ cơ quan. Khi cán bộ hiểu rõ trách nhiệm của mình sẽ nghiêm chỉnh thực hiện quy định của Nhà nước, của Bộ từ đó chất lượng lập hồ sơ công việc sẽ tốt và công tác giao nộp sẽ hoàn thiện hơn.

Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn công tác lập hồ sơ hiện hành, giao nộp vào lưu trữ cơ quan Bộ để khích lệ những đơn vị làm tốt và chỉ ra những hạn chế để chấn chỉnh, khắc phục kịp thời đối với những đơn vị còn yếu kém.

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức cho toàn thể cán bộ công chức trong toàn ngành về công tác lập hồ sơ và giao nộp tài liệu vào lưu trữ cơ quan, qua đó giúp toàn thể cán bộ công chức, viên chức, người lao động nắm được trách nhiệm mà pháp luật quy định và vai trò của công tác này, từ đó sẽ từng bước đưa công tác này vào nề nếp.

Đưa tiêu chí lập hồ sơ việc và giao nộp hồ sơ tài liệu lưu trữ vào lưu trữ cơ quan là một tiêu chí để bình xét thi đua hằng năm, là tiêu chí đánh giá phân loại cán bộ công chức hằng năm, là nhiệm vụ chính trị bắt buộc tại tất cả các cơ quan trong Bộ.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lập hồ sơ điện tử, xây dựng quy định về lập hồ sơ điện tử, cần phải có quy định bắt buộc mỗi cán bộ chuyên viên khi xử lý công việc phải lập hồ sơ trên mạng, hồ sơ điện tử phải đầy đủ như hồ sơ giấy.

Cần tăng cường sự phối hợp giữa cán bộ chuyên môn và cán bộ lưu trữ, đơn vị chuyên môn và lưu trữ cơ quan để việc giao nộp, thu thập thuận tiện, đúng quy trình, quy định.

Các đơn vị trong Bộ cần bố trí kho, giá để thu thập dứt điểm toàn bộ tài liệu đang tồn đọng tại các phòng ban, chuyên môn của mỗi đơn vị vào kho lưu trữ như: Tại cơ quan Bộ Tài chính thu thập dứt điểm khối tài liệu tồn đọng tại các Vụ, Cục, Phòng, ban khoảng 1.200 mét; các Tổng cục khoảng 1.100 mét, các tổ chức sự nghiệp khoảng 500 mét. Việc giao nộp phải thực hiện theo đúng quy định của Bộ Tài chính.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

  • Chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu:

Tất cả các đơn vị trong Bộ cần thống kê lại toàn bộ số lượng tài liệu cần chỉnh lý, xác định rõ số lượng tài liệu hành chính, tài liệu chuyên môn nghiệp vụ, chứng từ kế toán để xây dựng dự toán cho phù hợp và đưa ra lộ trình thực hiện. Công tác chỉnh lý tài liệu lưu trữ thực hiện theo quy định tại Điều 8, Điều 9, Quyết định 2449/QĐ-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành quy chế công tác lưu trữ của Bộ Tài chính và các văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan đến công tác chỉnh lý.

Đối với các đơn vị thuê dịch vụ chỉnh lý tài liệu lưu trữ, phải lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật. Khi xây dựng hồ sơ mời thầu phải thực hiện theo đúng quy định, tuyệt đối không đưa các tiêu chí nhằm giới hạn nhà thầu để tạo điều kiện cho những đơn vị không có đủ năng lực, kinh nghiệm trong công tác chỉnh lý. Khi triển khai hợp đồng chỉnh lý tài liệu lưu trữ phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ, bảo đảm chất lượng công việc theo quy định thì mới được nghiệm thu, thanh lý. Nếu đơn vị không có cán bộ lưu trữ hoặc có nhưng không được đào tạo đúng chuyên ngành hoặc chưa đủ kinh nghiệm để giám sát thì cần thuê tư vấn giám sát chất lượng chỉnh lý tài liệu lưu trữ.

  • Giao nộp tài liệu vào Lưu trữ lịch sử:

Các cơ quan, đơn vị trong Bộ thuộc nguồn nộp lưu vào Lưu trữ lịch sử cần rà soát lại khối tài liệu đã chỉnh lý để thực hiện việc giao nộp vào lưu trữ lịch sử sớm nhất. Còn đối với khối tài liệu chưa chỉnh lý, sau khi chỉnh lý cũng phải thực hiện ngay việc giao nộp đối với những hồ sơ có giá trị vĩnh viễn. Việc giao nộp vào lưu trữ lịch sử phải được thực hiện theo đúng quy trình và trình tự thủ tục theo quy định tại Luật Lưu trữ và Thông tư số 16/2014/TT-BNV ngày 20/11/2014 của Bộ Nội vụ hướng dẫn giao nộp tài liệu lưu trữ vào Lưu trữ lịch sử các cấp, Quyết định số 2449/QĐ-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính về quy chế công tác lưu trữ của Bộ Tài chính.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

Các phòng ban chuyên môn khi tiến hành giao nộp vào Lưu trữ cơ quan phải giao nộp tài liệu đầy đủ và trọn vẹn, không được giữ những tài liệu có giá trị quan trọng, vì nếu giữ lại tài liệu quan trọng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn tài liệu giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ lịch sử.

  • Về bảo quản tài liệu lưu trữ, hủy tài liệu hết giá trị
  • Bảo quản tài liệu lưu trữ:

Bảo quản an toàn hồ sơ, tài liệu là nhiệm vụ, điều kiện cơ bản để thực hiện các mục đích của công tác lưu trữ. Bởi lẽ, nếu tài liệu lưu trữ không được bảo quản an toàn thì sẽ không thể tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả. Bảo quản an toàn tài liệu bao gồm bảo quản không hư hỏng, mất mát tài liệu và bảo quản an toàn thông tin trong tài liệu.

Đối với các đơn vị còn thiếu kho và các trang thiết bị bảo quản cần bố trí, kho giá và các thiết bị để bảo quản tài liệu được an toàn để tránh tình trạng mất, thất lạc hồ sơ theo đúng Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Còn đối với cơ quan, đơn vị khi xây dựng kho mới phải đáp ứng theo đúng quy định của Thông tư số 09/2007/TT-BNV ngày 26/11/2007 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về kho lưu trữ chuyên dụng. Thực hiện vệ sinh tổng thể kho và tài liệu theo quy định tại Thông tư số 15/2011/TT-BNV ngày 11/11/2011 của Bộ Nội vụ về vệ sinh kho bảo quản tài liệu lưu trữ và vệ sinh tài liệu lưu trữ. Ngoài ra phải đảm bảo tiết kiệm không lãng phí và hiệu quả. Định kỳ hằng năm thực hiện khử trùng, mối mọt, côn trùng, đặc biệt là chuột và mối phá hoại tài liệu. Tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy theo hướng dẫn của Công văn số 203/VTLTNN-TCCB ngày 23/3/2010 của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

  • Hủy tài liệu hết giá trị:

Các đơn vị cần rà soát lại toàn bộ số tài liệu đã chỉnh lý đến hạn tiêu hủy; đối với khối tài liệu sắp chỉnh lý, sau khi chỉnh lý trên cơ sở danh mục tài liệu hết giá trị được lập, phải thực hiện tiêu hủy để giải phóng kho giá tiếp nhận tài liệu mới và tiết kiệm được các thiết bị bảo quản. Tài liệu trước khi tiêu hủy cần xác định giá trị chính xác để không hủy nhầm những tài liệu có giá trị hoặc còn thời hạn.

Công tác tiêu hủy của các đơn vị phải thực hiện theo đúng quy định, quy trình thực hiện của Luật Lưu trữ, Công văn số 879/VTLTNN-NVĐP ngày 19/12/2006 của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước về hướng dẫn tổ chức tiêu hủy tài liệu hết giá trị, Điều 15 của Quyết định số 2449/QĐ-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính về quy chế công tác lưu trữ của Bộ Tài chính và quy định khác về công tác tiêu hủy tài liệu lưu trữ.

  • Về sử dụng tài liệu lưu trữ

Các đơn vị trong Bộ cần xây dựng công cụ tra cứu khoa học cho các khối tài liệu đang được bảo quản trong kho lưu trữ để thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng tài liệu. Bố trí, tổ chức tài liệu trong kho lưu trữ phải khoa học, ngăn lắp để đạt mục tiêu dễ tìm, dễ lấy và dễ thấy. Tài liệu thu về phải được chỉnh lý và đưa lên giá phục vụ khai thác, sử dụng, vì nếu như tài liệu bó gói, không chỉnh lý sẽ không có công cụ thể khai thác và tài liệu sẽ rất khó tra tìm để đáp ứng nhu cầu.

Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành quy định về phí khai thác và sử dụng tài liệu để các Bộ, ngành, địa phương nói chung và Bộ Tài chính nói riêng để có cơ sở thực hiện.

Các đơn vị cần đẩy mạnh công tác thu thập tài liệu vào lưu trữ cơ quan theo quy định để tài liệu sắp xếp và phục vụ kịp thời cho nhu cầu khai thác của cơ quan.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

  • Về ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lưu trữ

Ngày 03/01/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 01/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lưu trữ, trong đó dành cả Chương II của Nghị định để quy định về quản lý tài liệu lưu trữ điện tử. Ngày 01/7/2014, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; ngày 14 tháng 10 năm 2015, Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, đây là cơ sở có tính tiền đề để Lưu trữ Việt Nam bước vào kỉ nguyên mới – Cách mạng công nghiệp số (4.0). Do đó, việc ứng dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ của ngành Văn thư – Lưu trữ là một nhiệm vụ quan trọng và thiết thực, gắn liền với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Trong đó, cần có sự nỗ lực và cam kết của Chính phủ trong công tác chỉ đạo việc quản lý tài liệu điện tử nói chung và lập hồ sơ điện tử nói riêng trong quá trình xây dựng và áp dụng Chính phủ điện tử, đồng thời cần giao các cơ quan có thẩm quyền xây dựng các văn bản quy định bắt buộc thực hiện quản lý tài liệu, hồ sơ điện tử.

Thời gian tới, Bộ Tài chính cần triển khai thực hiện các giải pháp:

Một là, trên cơ sở hệ thống văn bản pháp luật về quản lý văn bản, tài liệu điện tử, Bộ cần xây dựng văn bản hướng dẫn phù hợp với cơ quan mình như: Lập hồ sơ và quản lý hồ sơ điện tử; xác định giá trị tài liệu điện tử; tính toàn vẹn của tài liệu điện tử; xây dựng khung phân loại hồ sơ, mã hồ sơ…

Hai là, sửa đổi, bổ sung Quy chế công tác văn thư, lưu trữ để đảm bảo tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý và lưu trữ hồ sơ điện tử, đáp ứng được yêu cầu đặt ra của việc quản lý thông tin, tài liệu lưu trữ điện tử trong bối cảnh Chính phủ điện tử và cải cách hành chính nhà nước, đồng thời đáp ứng nhu cầu cung cấp những thông tin có giá trị phục vụ công tác chuyên môn và nghiên cứu lịch sử đối với các thế hệ trong tương lai.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

Ba là, số hóa tài liệu lưu trữ: Trên cơ sở khối lượng các Phông tài liệu lưu trữ hiện đang bảo quản tại kho lưu trữ các cơ quan, đơn vị, cần ưu tiên xác định số hóa khối tài liệu thường xuyên đưa ra phục vụ khai thác; khối hồ sơ, tài liệu bảo quản vĩnh viễn đã đến hạn nộp lưu về kho lưu trữ lịch sử để vừa đáp ứng nhu cầu khai thác, vừa đảm bảo hạn chế đưa tài liệu ra khỏi kho, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi sử dụng tài liệu khi đã nộp lưu về kho lưu trữ lịch sử.

Bên cạnh đó, để ứng dụng thành công công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin hiện nay đã được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và nó đem lại hiệu quả rất cao. Đối với công tác lưu trữ việc ứng dụng tin học sẽ công nghệ thông tin

3.3. Điều kiện đảm bảo thực hiện các giải pháp

Để những giải pháp nêu trên đi vào thực tiễn rất cần sự đồng thuận, chia sẻ kịp thời của nhà nước, các cấp, các ngành, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị; sự chung tay, góp sức và sự đánh giá, ghi nhận khách quan của cả tập thể, sự cố gắng của mọi cá nhân không xem nhẹ công tác lưu trữ và phủ nhận những đóng góp của đội ngũ những người làm lưu trữ để công tác lưu trữ ngày càng có vị trí xứng đáng và phát huy được tầm quan trọng vốn có.

3.3.1. Về phía nhà nước Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

  • Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động lưu trữ truyền thống (lưu trữ tài liệu giấy): Việc củng cố công tác lưu trữ truyền thống trong thời điểm hiện tại là một nhiệm vụ mặc nhiên, và là một yêu cầu của pháp luật về công tác lưu trữ. Điều đó có tác dụng không chỉ giải quyết những nhiệm vụ khi mà lưu trữ điện tử chưa chính thức hình thành. Đồng thời, đó cũng là nền tảng để từng bước hoàn chỉnh cơ sở lí luận và thực tiễn hình thành và phát triển lưu trữ điện tử phù hợp với thời công nghiệp số đang có những tác động làm thay đổi đời sống xã hội.
  • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương thức phát huy giá trị tài liệu lưu trữ: Khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin thời hiện đại đã và sẽ có nhiều tác động làm thay đổi đời sống xã hội, có tác động nhiều đến các hoạt động quản lí và nghiệp vụ hành chính trong đó có công lưu trữ. Trong Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Internet vạn vật kết nối (Internet of thing – IoT) được coi là cốt lõi sẽ tạo ra bước đột phá trong lĩnh vực thu thập, phân tích và xử lí dữ liệu – lĩnh vực liên quan trực tiếp đến hoạt động lưu trữ. Do đó, việc ứng dụng hiệu quả các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ của ngành lưu trữ là một nhiệm vụ và sẽ tạo nên một phương cách hoạt động mới với: Văn bản điện tử, văn bản số hóa, hồ sơ điện tử có giá trị pháp lí, đảm bảo tính chứng cứ, được chuyển giao, xử lí và lập hồ sơ điện tử trên mạng diện rộng; tổ chức quản lí, truy xuất, khai thác tài liệu lưu trữ điện tử hiệu quả cao hơn với những phần mềm có độ thông minh cao hơn, hiệu quả hơn, nhiều tiện ích hơn.
  • Xây dựng hoàn chỉnh khung pháp lí và hướng dẫn nghiệp vụ, sẵn sàng cho lưu trữ điện tử: Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp lý của lưu trữ truyền thống thì Nhà nước cần hoàn chỉnh cơ sở pháp lí cho một hình thái mới là lưu trữ tài liệu điện tử như: Quy định quản lí văn bản và hồ sơ điện tử; xác định các chức năng, tiện ích, thông tin “đầu ra – đầu vào” và khả năng quản lí, truy xuất, bảo mật tài liệu lưu trữ điện tử để xây dựng phần mềm quản lí tài liệu lưu trữ (cả tài liệu giấy và tài liệu điện tử) thông minh hơn để hoạt động nghiệp vụ lưu trữ điện tử hiệu quả hơn lưu trữ truyền thống; xây dựng các quy trình và văn bản hướng dẫn nghiệp vụ (thu thập, tổ chức quản lí, bảo quản, khai thác – sử dụng) tài liệu lưu trữ điện tử kịp thời để các văn bản đã ban hành như Luật Lưu trữ, Nghị định số 01/2013/NĐ-CP, Thông tư quản lí văn bản và hồ sơ điện tử thực sự đi và cuộc sống; tổ chức thu thập, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia tài liệu lưu trữ điện tử từ Lưu trữ lịch sử ở các ngành, địa phương và tại các Trung tâm Lưu trữ quốc gia; tổ chức khai thác hiệu quả tài liệu lưu trữ điện tử phục vụ các yêu cầu của mọi đối tượng trong xã hội nhanh chóng và hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo thực hiện nghiêm các quy định chung của pháp luật lưu trữ.
  • Nhà nước đổi mới phương pháp, nội dung đào tạo nhân lực cho ngành lưu trữ: Nhà nước cần tập trung hướng tới đổi mới phương pháp, nội dung đào tạo; gắn đào tạo với thực tiễn ngành và xu thế phát triển của khoa học công nghệ; nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực lưu trữ; tạo môi trường khuyến khích công chức, viên chức, người lao động tự học, tự trang bị kỹ năng và nâng cao trình độ nghiệp vụ, đồng thời có chính sách trọng dụng, khai thác chất xám nhằm kích thích khả năng sáng tạo, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ của công chức, viên chức, người lao động. Trong đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực giữ vai trò then chốt, quyết định và phải đẩy mạnh đổi mới theo hướng tiếp nhận và ngày càng tiệm cận với khoa học công nghệ; tăng cường khả năng kết nối, chia sẻ giữa cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và đơn vị sử dụng; mở rộng, làm phong phú hình thức, mô hình đào tạo nhằm phù hợp với nhu cầu, trình độ và linh hoạt với điều kiện làm việc, sinh hoạt của viên chức, người lao động trong mỗi cơ quan, tổ chức.

3.3.2. Về phía Bộ Tài chính Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

  • Xây dựng đội ngũ: Công tác lưu trữ là một hoạt động mang tính khoa học, đòi hỏi Bộ Tài chính phải có một đội ngũ cán bộ có phẩm chất, tư tưởng vững vàng, đặc biệt phải có trình độ chuyên môn, có kiến thức lý luận, nắm vững và biết vận dụng các quy định của pháp luật về lưu trữ vào thực tiễn, đồng thời phải thành thạo kỹ năng thực hành các khâu nghiệp vụ của công tác lưu trữ và các kỹ năng khác của người cán bộ, công chức là điều kiện then chốt để thực hiện các giải pháp.
  • Kiểm tra thường xuyên: Kiểm tra là chức năng thường xuyên và thiết yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, đảm bảo cho việc thực thi các quy định của nhà nước về lưu trữ tại Bộ Tài chính. Bên cạnh đó, để tạo ra sự răn đe, Bộ cần xử lý hậu kiểm tra thường xuyên để từ đó tiến hành áp dụng các biện pháp theo thẩm quyền phù hợp với mục đích nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và tăng cường trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác chỉ đạo, điều hành việc thực hiện pháp luật lưu trữ tại các cơ quan, đơn vị Bộ Tài chính. Để làm được điều này, hoạt động kiểm tra phải được thực hiện trên những nguyên tắc nhất định và theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ với một đội ngũ cán bộ, công chức lưu trữ tinh thông nghề nghiệp với tinh thần trách nhiệm cao.
  • Tổ chức tốt công tác lưu trữ tại các cơ quan thuộc Bộ: Các Cục thuộc Bộ, các đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ cần có kế hoạch xây dựng tổ chức lưu trữ độc lập; rà soát, bố trí ít nhất 01 cán bộ chuyên trách công tác lưu trữ cho đơn vị. Cán bộ lưu trữ đảm bảo đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiệp vụ để thực hiện công tác lưu trữ một cách độc lập, đúng quy định và thống nhất. Từ đó, các đơn vị chủ động xây dựng kế hoạch, phân bổ kinh phí phù hợp để tiến hành chỉnh lý tài liệu, giao nộp vào lưu trữ lịch sử và loại hủy những tài liệu đã hết giá trị.
  • Thay đổi nhận thức: Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, những văn bản điện tử sẽ được lưu hành, những văn phòng không giấy sẽ hình thành… và công việc tại bộ phận văn thư, lưu trữ sẽ giảm tải nhưng không vì thế mà những người làm văn thư, lưu trữ sẽ mất đi vai trò, vị trí trong mỗi cơ quan, tổ chức vì tất cả các văn bản đi, đến dưới hình thức nào cũng phải tập trung về một đầu mối là bộ phận văn thư; tài liệu lưu trữ giấy hay tài liệu điện tử đều được quản lý thống nhất bởi bộ phận lưu trữ. Qua đó để chúng ta thấy rằng, văn thư, lưu trữ là một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức và đó là công việc của cả tập thể chứ không riêng một cá nhân nào. Để đưa công tác này đi vào nề nếp và đạt được những bước tiến dài, rất cần sự thay đổi nhận thức của không ít người, đặc biệt là cấp lãnh đạo các cơ quan, tổ chức, cần lắm sự chung tay, góp sức và sự đánh giá, ghi nhận khách quan của cả tập thể.
  • Xây dựng hệ thống quản lý tài liệu điện tử: Hệ thống quản lý tài liệu điện tử tại Bộ Tài chính phải bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật để tài liệu lưu trữ điện tử có tính xác thực, toàn vẹn, nhất quán, an toàn thông tin, có khả năng truy cập ngay từ khi tài liệu được tạo lập. Đối với tài liệu lưu trữ điện tử hình thành từ việc số hóa tài liệu lưu trữ trên các vật mang tin khác phải đáp ứng các tiêu chuẩn dữ thông tin đầu vào, sử dụng chữ ký số đối với tài liệu số hóa. Đối với hồ sơ điện tử sau khi giao nộp vào Lưu trữ cơ quan phải kiểm tra tính xác thực, tính toàn vẹn và khả năng truy cập của hồ sơ. Đồng thời, nội dung, cấu trúc và bối cảnh hình thành của hồ sơ phải đảm bảo và được bảo vệ để không bị hư hỏng hoặc hủy hoại, sửa chữa hay bị mất dữ liệu.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

Tiểu kết chương 3

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu cứu lý luận về thực hiện pháp luật lưu trữ trong Chương I và thực trạng thực hiện pháp luật lưu trữ tại Bộ Tài chính trong Chương II, tại Chương III này, tác giả đã nghiên cứu quan điểm của Đảng và Nhà nước về về công tác lưu trữ, đồng thời đưa ra các giải pháp và một số điều kiện thực hiện giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác lưu trữ tại Bộ Tài chính trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.

Về các giải pháp đối với việc thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính, tác giả nêu 05 nội dung chính như sau: (1) Hoàn thiện văn bản, lập kế hoạch chính sách về lưu trữ; (2) thu thập tài liệu lưu trữ (gồm: Lập hồ sơ và giao nộp hồ sơ vào Lưu trữ cơ quan, chỉnh lý, xác định giá trị tài liệu, giao nộp hồ sơ vào Lưu trữ lịch sử); (3) bảo quản, hủy tài liệu hết giá trị; (4) sử dụng tài liệu lưu trữ; (5) ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác lưu trữ.

Từ kết quả nghiên cứu định hướng, tác giả đã đưa ra các điều kiện đảm bảo để thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính. Các giải pháp và điều kiện thực hiện mà luận văn đề cập đến đều xuất phát từ tình hình thực trạng thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính. Đối với mỗi giải pháp, tác giả đã đi sâu phân tích những nội dung cơ bản của từng giải pháp. Hy vọng rằng, với việc thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp như đã nêu trên, trong thời gian tới, công tác thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính sẽ có những chuyển biến tích cực, các quy định của pháp luật về lưu trữ được thi hành một cách nghiêm túc, triệt để, đồng thời thông qua hoạt động thực hiện pháp luật về lưu trữ, những hạn chế, bất cập của Luật Lưu trữ và các quy định hiện hành cũng được hoàn thiện một cách kịp thời.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

KẾT LUẬN

Công tác lưu trữ có vai trò rất quan trọng và ý nghĩa trong hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức và trong đời sống xã hội. Việc đánh giá thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật về lưu trữ nói riêng là điều hết sức cần thiết, đảm bảo tính toàn diện, thống nhất, phù hợp, khả thi và hiệu quả của hệ thống pháp luật. Trên thực tế, công tác lưu trữ trong bộ máy các cấp cũng ngày càng được quan tâm. Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về công tác lưu trữ ngày càng hoàn thiện kể từ sau khi Luật Lưu trữ có hiệu lực năm 2012 đã cơ bản đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính nhà nước và nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác lưu trữ. Tuy nhiên, qua các số liệu, kết quả đạt được của ngành lưu trữ cũng như đánh giá những mặt hạn chế của công tác này cho thấy, dù có nhiều bước phát triển nhưng hệ thống pháp lý về công tác lưu trữ chưa thực sự là công cụ sắc bén để tổ chức thực hiện tốt nhất công tác lưu trữ trong cơ quan nhà nước.

Việc ban hành luật là rất quan trọng nhưng quan trọng hơn là phải làm cho pháp luật phát huy tác dụng tích cực trong cuộc sống. Thực hiện pháp luật là khâu quan trọng để luật, các văn bản quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống. Nó phải được thể hiện dưới các hình thức thông qua các quy định chặt chẽ của pháp luật. Thực hiện pháp luật đạt hiệu quả là góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, ổn định tình hình chính trị của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Thực hiện pháp luật là quá trình phức tạp, phải được nhận thức đúng, tiến hành đồng bộ là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay.

Hy vọng, với kết quả nghiên cứu thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính, học viên mong muốn góp công sức nhỏ bé của mình vào quá trình hoàn thiện hơn việc tổ chức thực hiện công tác lưu trữ tại cơ quan, đơn vị ngày càng tốt hơn, đáp ứng tốt nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu được nhanh chóng, hiệu quả; chấm dứt tình trạng tài liệu lưu trữ bị tồn đọng, bó gói, tích đống không được sắp xếp, chỉnh lý và có nguy cơ bị hủy hoại theo thời gian. Đồng thời, đó sẽ là tiền đề quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển sự nghiệp lưu trữ theo hướng hiện đại hóa, từng bước số hoá tài liệu lưu trữ, đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và phục vụ nhu cầu quản lý của các cấp lãnh đạo trong tương lai.Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Lý luận pháp luật về lưu trữ tại Bộ Tài chính

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x