Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing trực tuyến cho sản phẩm gạch men tại Công ty TNHH gạch men Bách Thành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại công nghệ thông tin ngày càng phát triển, đặc biệt là sự phát triển vượt bậc của Internet. Internet có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó tác động đến mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống. Nó giúp cho tất cả các giao dịch, thông tin liên lạc được thực hiện dễ dàng, tiết kiệm chi phí và thời gian. Đồng thời, Internet cũng mở ra nhiều thị trường kinh doanh mới, đem tới những cơ hội đầu tư kinh doanh mới đầy triển vọng, các hoạt động kinh doanh truyền thống dần dần được số hóa và sử dụng Internet như một công cụ hữu hiệu giúp doanh nghiệp tiếp cận tới khách hàng.
Từ đó, Internet đã dần trở thành công cụ quan trọng trong các chiến lược quảng cáo, truyền thông trực tuyến cho mọi sản phẩm. Và các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm gạch ốp lát nền nhà dân dụng và công nghiệp đang tăng cường sử dụng các kênh trực tuyến để quảng cáo. Các nhà marketing của các doanh nghiệp sản xuất gạch men khai thác sự hiệu quả của các công cụ marketing trực tuyến để giúp cho doanh nghiệp mình vượt qua sự khó khăn trong ngành. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Hiện nay, lĩnh vực gạch men đang đối mặt với tình trạng cung lớn hơn cầu, các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp nước ngoài như Catalan, Toko, Vitto, Tasa đã tăng công suất lên rất nhanh từ 20-40 triệu m2 gạch, gấp 1,5 lần năm trước, còn CMC cũng tăng công suất đáng kể từ 6 triệu m2 gạch lên 12 triệu m2 gạch và có thể lên đến 17 triệu m2. Đồng thời, mẫu mã, kích thước thường xuyên được thay đổi, xu hướng tăng sản xuất sản phẩm kích thước lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp luôn tìm cách phát triển mẫu mã đa dạng, nghiên cứu thị trường và sản xuất kích thước phù hợp nhu cầu. Vì thế các doanh nghiệp trong nước có quy mô vừa và nhỏ với công suất xoay quanh 10 triệu m2/năm chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng công suất toàn ngành, lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước tương đối kém và công ty TNHH gạch men Bách Thành cũng đứng trước khó khăn này. Công ty không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong nước như Đồng Tâm, Bạch Mã, Viglacera… Do đó, công ty TNHH gạch men Bách Thành luôn tìm mọi cách để nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng cao các hoạt động quảng cáo sản phẩm và Ban lãnh đạo công ty đã thấy được vai trò và hiệu quả của hoạt động marketing trực tuyến. Công ty muốn sử dụng marketing trực tuyến để tiếp cận và khai thác thị trường trong nước và nước ngoài với chi phí thấp. Và công ty đã bước đầu áp dụng hoạt động marketing trực tuyến cho các sản phẩm của công ty để nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ. Tuy nhiên, công ty TNHH gạch men Bách Thành gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai hoạt động này như:
Thứ nhất, công ty chưa xây dựng được đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực marketing trực tuyến.
Thứ hai, khi triển khai các sản phẩm mới, công ty chưa ứng dụng kịp thời các công cụ hữu hiệu như website, banner, mạng xã hội.
Thứ ba, công ty chưa khai thác hết tất cả các công cụ marketing trực tuyến hiện có cho các hoạt động xúc tiến quảng cáo, chăm sóc khách hàng.
Thứ tư, công ty chưa triển khai bộ phận IT viết bài đăng lên website nhằm tăng tần xuất tìm kiếm từ khóa cho công cụ tìm kiếm.
Thứ năm, công ty chưa đẩy mạnh hoạt động quảng cáo của công ty qua các mạng xã hội, chưa có các bài viết đặc sắc thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng.
Thứ sáu, công ty chưa chú trọng thiết kế banner để tăng mức độ nhận biết thương hiệu và quảng bá thương hiệu của mình.
Thứ bảy, công ty chưa ứng dụng email marketing để triển khai các chiến lược giá, chiến lược sản phẩm, chiến lược phân phối và chiến lược xúc tiến.
Thứ tám, công ty có sử dụng 1 vài công cụ marketing trực tuyến nhưng chưa có chiều sâu, để lộ ra nhiều điểm yếu trong việc thực hiện các công cụ marketing trực tuyến so với các đối thủ trong ngành.
Trước những khó khăn đó, tác giả chọn nghiên cứu luận văn: “Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing trực tuyến cho sản phẩm gạch men tại Công ty TNHH gạch men Bách Thành” nhằm tìm ra giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động marketing trực tuyến của công ty.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Marketing
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Đề tài nghiên cứu này thực hiện các mục tiêu sau:
Thứ nhất, đánh giá thực trạng hoạt động marketing trực tuyến tại công ty.
Thứ hai, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing trực tuyến cho sản phẩm gạch men tại công ty TNHH gạch men Bách Thành dựa trên cơ sở phân tích thực trạng và kết quả khảo sát nghiên cứu.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động marketing trực tuyến tại công ty TNHH gạch men Bách Thành.
Đối tượng khảo sát: Khách hàng và các chuyên gia của công ty TNHH gạch men Bách Thành.
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu hoạt động marketing trực tuyến đối với sản phẩm gạch men công ty TNHH gạch men Bách Thành giai đoạn 2020 đến 2023. Khu vực khảo sát tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu trong luận văn này bao gồm các phương pháp sau:
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp, thống kê và so sánh các thông tin thứ cấp được thu thập từ nguồn nội bộ của công ty TNHH gạch men Bách Thành cũng như các tài liệu chuyên ngành, sách báo, Internet, v.v để làm cơ sở lý luận và phân tích thực trạng hoạt động marketing trực tuyến của công ty.
Nghiên cứu định tính thực hiện dưới hình thức một cuộc thảo luận nhóm giữa các chuyên viên đang làm việc tại công ty và các khách hàng của công ty nhằm đưa ra các thang đo cho từng chiến lược marketing đồng thời thảo luận nhóm nhằm phát triển các thang đo các thuộc tính của các công cụ marketing trực tuyến.
Nghiên cứu định lượng thực hiện thông qua Bảng câu hỏi khảo sát để thu thập dữ liệu định lượng.
Đối với các chiến lược marketing, tác giả khảo sát 15 chuyên gia trong công ty để đánh giá các chiến lược marketing của công ty đang sử dụng.
Đối với các công cụ marketing trực tuyến, tác giả thực hiện khảo sát 320 khách hàng để xem đánh giá của khách hàng về các công cụ marketing trực tuyến mà công ty đang sử dụng. Tác giả dùng phần mềm SPSS-20 để phân tích dữ liệu đã thu thập được. Sau khi có kết quả khảo sát các công cụ marketing trực tuyến, tác giả tiến hành thảo luận nhóm Ban lãnh đạo của công ty TNHH Gạch men Bách Thành để đánh giá kết quả khảo sát với tình hình thực tiễn tại công ty.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn công ty TNHH Gạch men Bách Thành và kết quả khảo sát tác giả đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing trực tuyến tại công ty TNHH Gạch men Bách Thành và sau đó tiếp tục lấy ý kiến của Ban lãnh đạo công ty về tính khả thi của các giải pháp tác giả đưa ra.
5. Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
5.1. Ý nghĩa về mặt khoa học
Nghiên cứu góp phần vào việc khái quát hóa lý thuyết về marketing trực tuyến và chiến lược marketing trực tuyến.
5.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Nghiên cứu ứng dụng công cụ công nghệ thông tin mới, khoa học mới vào hoạt động marketing trực tuyến trong lĩnh vực gạch men nhằm giúp các công ty trong ngành tiết kiệm chi phí hơn nữa, loại bỏ được trở ngại về không gian và thời gian. Đồng thời, công ty sẽ xây dựng được các cơ sở dữ liệu thông tin phong phú nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu thị trường, quản lý thông tin khách hàng. Đề tài là cơ sở khoa học giúp công ty TNHH gạch men Bách Thành hoàn thiện hoạt động marketing trực tuyến cho sản phẩm gạch men tại công ty.
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về marketing trực tuyến.
Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing trực tuyến của sản phẩm gạch men tại Công ty TNHH gạch men Bách Thành.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing trực tuyến của sản phẩm gạch men tại Công ty TNHH gạch men Bách Thành.
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING TRỰC TUYẾN.
1.1. Khái niệm về marketing trực tuyến. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Hiện nay, khái niệm marketing trực tuyến dần dần trở thành khái niệm quen thuộc của các nhà nghiên cứu marketing. Để hiểu rõ khái niệm về “Marketing trực tuyến”, tác giả xin đưa ra một số khái niệm sau:
Theo Philip Kotler (2007): “Marketing trực tuyến là quá trình lập kế hoạch về 4Ps – Sản phẩm, Giá, Phân phối và Xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ, và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân – dựa trên các phương tiện điện tử và Internet”.
Theo Business Link “Marketing trực tuyến là một phần của hoạt động marketing, chịu trách nhiệm lên kế hoạch, định giá, phân phối và xúc tiến kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ trực tuyến” (Business, 2009).
Theo Nguyễn Văn Thoa “E-markeing là hoạt động marketing cho sản phẩm và dịch vụ thông qua Internet. Đối với doanh nghiệp, Marketing trực tuyến là quá trình phát triển và quảng bá doanh nghiệp bằng việc sử dụng các phương tiện trực tuyến” (Nguyễn Văn Thoan, 2009).
Theo Calvin Jones và Damian Ryan “E-marketing là hoạt động marketing cho sản phẩm và dịch vụ bằng cách sử dụng các công cụ sẵn có của mạng Internet để tiếp cận với người sử dụng Internet” (Jones & Ryan, 2009).
Tóm lại, marketing trực tuyến đơn giản được hiểu là cách thức tiếp thị vận dụng các tính năng của Internet nhằm mục đích cuối cùng là phân phối được sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ đến thị trường tiêu thụ. Các quy tắc cơ bản của tiếp thị điện tử cũng giống như tiếp thị trong môi trường kinh doanh truyền thống. Hoạt động tiếp thị vẫn theo trình tự Sản phẩm – Giá thành – Xúc tiến thương mại – Thị trường tiêu thụ.
1.2. Đặc điểm của marketing trực tuyến.
Thứ nhất, marketing trực tuyến không giới hạn về không gian. Trong môi trường Internet, mọi khó khăn về địa lý đã được xóa bỏ hoàn toàn. Do đó, doanh nghiệp có thể quảng bá thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của mình đến tất cả các khách hàng ở mọi nên trên thế giới miễn là có Internet với chi phí thấp hơn so với các phương pháp tiếp cận truyền thống. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Thứ hai, marketing trực tuyến không giới hạn về thời gian, marketing trực tuyến có khả năng hoạt động liên tục tại mọi thời điểm, khai thác triệt để thời gian 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần, 365 ngày trong một năm, hoàn toàn không có khái niệm thời gian chết. Do đó, doanh nghiệp có thể thực hiện việc quảng bá thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của mình vào bất cứ thời gian nào trong ngày không giới hạn thời gian đó có phải là thời gian làm việc hay không.
Thứ ba, marketing trực tuyến có tính tương tác cao. Bởi vì thông qua internet nhà cung cấp và khách hàng trao đổi thông tin kịp thời và nhanh chóng. Từ đó, nó giúp cho các nhà cung cấp điều chỉnh kịp thời các chính sách và đặc tính sản phẩm của công ty để phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng. Mặt khác, nhờ có tính tương tác cao, công ty có thể tiếp xúc với khách hàng mới. Thông qua việc cung cấp những thông tin, ý tưởng và tình huống tương tác mà nhân viên marketing có thể khiến cho từng cá nhân khách hàng quan tâm hơn đến các sản phẩm của mình.
Thứ tư, thông qua hoạt động marketing trực tuyến, các nhà cung cấp có thể lựa chọn khách hàng mục tiêu và tiềm năng mà mình muốn hướng tới. Đồng thời, thông qua công cụ này, họ cũng biết được nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của từng đối tượng khách hàng để họ có chiến lược tiếp cận phù hợp.
Thứ năm, marketing trực tuyến giúp người tiêu dùng ngày càng có thêm nhiều lựa chọn với sản phẩm. Trước đây, khi người tiêu dùng muốn mua một món hàng nào đó họ phải đến nơi bán sản phẩm đó để mua nhưng từ khi có internet thì việc mua sắm đã trở nên dễ dàng hơn. Họ chỉ cần ở nhà, ngồi trước máy vi tính có kết nối internet là có thể thực hiện việc mua sắm như tại các cửa hàng thật. Do đó, người tiêu dùng ít tốn thời gian và chi phí đi mua hàng. Ngoài ra, họ cũng có thể xem nhiều cửa hàng ảo trên mạng để lựa chọn những sản phẩm mà mình ưu thích.
Thứ sáu, marketing trực tuyến có thể lưu trữ dữ liệu chứa hồ sơ cá nhân của từng khách hàng và quá trình mua sắm trong quá khứ. Từ cơ sở dữ liệu này, công ty có thể thực hiện các marketing chào hàng. Ngoài ra, công nghệ phần mềm còn cho phép công ty ngay lập tức định dạng người truy cập vào một website. Việc sử dụng bộ nhớ để lưu trữ dữ liệu là một lợi thế lớn khi công ty sử dụng nó để nghiên cứu kỹ từng khách hàng khi họ truy cập vào website của công ty.
Thứ bảy, marketing trực tuyến thực hiện thông qua cổng kết nối và khả năng truy cập. Cổng kết nối là một website đa dịch vụ có chức năng phục vụ như một cổng kết cho các website khác. Còn khả năng truy cập là khả năng lấy được thông tin có sẵn trên mạng internet. Khả năng truy cập thể hiện gia tăng sự cạnh tranh thu hút sự chú ý của người sử dụng internet. Do đó, marketing trực tuyến phải sáng tạo và đổi mới nhiều hơn để thu hút người truy cập vào website của mình.
Thứ tám, marketing trực tuyến mang tính số hóa – khả năng biểu diễn một sản phẩm hoặc một số lợi ích của nó dưới dạng các đơn vị thông tin kỹ thuật số. Sự số hóa có nghĩa là internet có thể được dùng để phân phối, cải thiện và bán những đặc điểm bên ngoài của bản thân sản phẩm.
1.3. Lợi ích của marketing trực tuyến. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
1.3.1. Đối với các doanh nghiệp.
Thứ nhất, thông qua internet các doanh nghiệp rút ngắn khoảng cách: Vị trí địa lý không còn là một vấn đề quan trọng. Các đối tác có thể gặp nhau qua không gian máy tính mà không cần biết đối tác ở gần hay ở xa. Các doanh nghiệp có thể làm ăn ở mọi lúc, mọi nơi thông qua các trang web trên mạng internet.
Thứ hai, thông qua internet doanh nghiệp có thể thực hiện tiếp thị toàn cầu: Internet là một phương tiện hữu hiệu để các nhà hoạt động marketing tiếp cận với các thị trường khách hàng trên toàn thế giới. Doanh nghiệp có thể trao đổi trực tiếp với khách hàng quốc tế cũng như khách hàng trong nước. Điều mà các phương tiện marketing thông thường khác hầu như không thể thực hiện được.
Thứ ba, thông qua internet doanh nghiệp có thể công bố thông tin vào bất cứ thời gian nào: doanh nghiệp hoàn toàn có thể thay đổi tin tức mới cho website của mình trong vài giây đồng hồ, những thông tin mới nhất sẽ được cập nhật và sẽ được chuyển tới những người mong đợi mà không phải qua bất kỳ người đưa tin nào.
Thứ tư, thông qua internet doanh nghiệp phục vụ khách hàng hiệu quả: Công nghệ internet sẽ mang lại khả năng phục vụ nhiều khách hàng mà không cần phải có đội ngũ nhân viên nhiều. Tất cả các yêu cầu của khách hàng, cơ sở dữ liệu, tìm kiếm các thông tin về dịch vụ điều có thể thực hiện một cách đơn giản qua website.
Thứ năm, thông qua internet doanh nghiệp có thể thu hút sự quan tâm của công chúng: với các thông tin được giới thiệu trong website của doanh nghiệp, bất kỳ người sử dụng internet nào cũng có thể truy cập vào website để tìm hiểu doanh nghiệp và có thể trở thành khách hàng tiềm năng. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Thứ sáu, thông qua Internet doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm sinh động: Internet mở ra cho doanh nghiệp nhiều cách thức để giới thiệu sản phẩm thật sinh động bằng hình ảnh, âm thanh, các đoạn phim ngắn. Điều này sẽ làm cho các khách hàng tiềm năng đến với doanh nghiệp nhiều hơn.
Thứ bảy, thông qua internet cho phép doanh nghiệp tiếp nhận thông tin phản hồi từ phía khách hàng: với website, doanh nghiệp có thể phản hồi thông tin về phía khách hàng ngay lập tức khi họ ghé thăm website của doanh nghiệp. Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều thời gian và tiền bạc để hoạch định các chiến lược quảng cáo và kinh doanh trên cơ sở những thông tin nắm bắt được từ phía khách hàng.
Thứ tám, thông qua internet doanh nghiệp thử nghiệm sản phẩm mới trên thị trường: Khi tung một sản phẩm mới ra thị trường, doanh nghiệp phải quảng cáo và giới thiệu sản phẩm đó. Nếu doanh nghiệp quảng cáo và giới thiệu sản phẩm mới trên website, họ có thể tiếp cận được những khách hàng truy cập vào website và thu nhận ngay thông tin phản hồi từ khách hàng.
1.3.2. Đối với người tiêu dùng.
Thứ nhất, thông qua internet giúp người tiêu dùng mua sắm với hình thức mới qua các cửa hàng “ảo” trên mạng, hình thức này cung cấp khả năng lựa chọn các mặt hàng phong phú hơn nhiều so với cách thức mua hàng truyền thống, từ đó biết được nhiều sản phẩm để so sánh và lựa chọn sản phẩm phù hợp với mình.
Thứ hai, thông qua internet người tiêu dùng tiết kiệm được thời gian và chi phí: họ chỉ cần ngồi nhà lên mạng và có thể xem được các sản phẩm mà họ cần với đầy đủ các thông tin cần thiết như đi đến cửa hàng.
1.4. Các nội dung marketing trực tuyến.
1.4.1. Nghiên cứu thị trường.
1.4.1.1. Cách thức nghiên cứu thị trường qua mạng internet.
Theo Hiệp hội marketing Hoa Kỳ thì nghiên cứu thị trường là chức năng liên kết giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng và cộng đồng thông qua thông tin.
Nghiên cứu thị trường là công tác nhận dạng, lựa chọn, thu thập, phân tích và phổ biến thông tin với mục đích hỗ trợ việc ra quyết định có liên quan đến sự xác định và xử lý những vấn đề và cơ hội trong marketing (Malhotra, 1996). Tác giả xin trình bày một số cách thức nghiên cứu thị trường phổ biến sau:
Phỏng vấn nhóm khách hàng: tiến hành qua mạng, tránh được các nhược điểm của các phỏng vấn truyền thống (phụ thuộc vào người điều khiển, mặt đối mặt mất sự tự do đưa ra ý kiến, …). Chúng ta sử dụng phương thức này với thời gian tiến hành linh hoạt hơn, địa điểm tiến hành trực tuyến nên linh hoạt, thuận tiện thành lập nhóm. Tuy nhiên, thực hiện theo phương thức này thì tiến độ chậm, khó theo dõi tính chân thực do không trực tiếp đối mặt và yêu cầu có sự hỗ trợ mạnh mẽ về thiết bị kỹ thuật.
Phỏng vấn các chuyên gia: tiến hành qua mạng, tập trung được nhiều câu hỏi từ phỏng vấn viên và người theo dõi, có thể kết hợp để phỏng vấn được thông tin chi tiết.
Điều tra bằng bảng câu hỏi qua mạng: nhanh, chính xác, tiết kiệm công sức nhập dữ liệu, phạm vi điều tra rộng, nhưng mức độ phản hồi thấp nếu không có các biện pháp hỗ trợ.
Ngoài ra, nghiên cứu thị trường còn có các phương pháp như: phương pháp quan sát và nghiên cứu thực nghiệm online.
1.4.1.2. Phân khúc thị trường. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Phân khúc thị trường là chia cắt một thị trường lớn không đồng nhất ra nhiều nhóm khách hàng tương đối đồng nhất trên cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, về tính cách hay hành vi (Nguyễn Đông Phong, 2001).
Theo quan điểm của Philip Kotler – cha đẻ của ngành marketing thì phân khúc thị trường tức là phân chia thị trường thành những nhóm người mua hàng có những đặc điểm và hành vi tương tự như nhau để có thể sử dụng các chính sách marketing tương đối thống nhất trong các đoạn thị trường. Thông thường công ty ít có khả năng đáp ứng tất cả nhu cầu khác nhau, nên nếu tập trung vào một hoặc một số nhóm thì sẽ có khả năng thỏa mãn nhu cầu tốt hơn. Nhiệm vụ của người tiếp thị là xác định số lượng, bản chất của phân khúc thị trường thích hợp và quyết định phân khúc mục tiêu.
1.4.1.3. Thị trường mục tiêu.
Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu hoặc mong muốn mà doanh nghiệp quyết định đáp ứng.
Thị trường mục tiêu là thị trường mà tại đó doanh nghiệp có khả năng thoả mãn nhu cầu tốt nhất. Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao hơn các doanh nghiệp khác trên thị trường này, có ít đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, có khả năng đáp ứng các mục tiêu về doanh số, lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp.
Thị trường mục tiêu của một số công ty thương mại điện tử có thể giống hoặc khác với thị trường mục tiêu của các công ty truyền thống. Một doanh nghiệp có thể có một hay nhiều thị trường mục tiêu. Việc lựa chọn các đoạn thị trường mục tiêu cần tính đến các yếu tố sau đây: Khả năng tài chính của doanh nghiệp, đặc điểm về sản phẩm, chu kỳ sống của sản phẩm, mức độ đồng nhất của thị trường.
1.4.2. Chiến lược Marketing trực tuyến (4Ps). Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Chiến lược marketing trực tuyến bao gồm: chiến lược sản phẩm (Product), chiến lược giá (Price), chiến lược phân phối (Place) và chiến lược xúc tiến (Promotion).
1.4.2.1. Chiến lược sản phẩm.
Một sản phẩm luôn gồm có những đặc điểm và thuộc tính hữu hình cũng như vô hình. Những thuộc tính phổ biến của sản phẩm bao gồm các yếu tố sau: Hình thức, kiểu mẫu, thương hiệu, chất liệu, an toàn, bảo hành, chất lượng, phục vụ. Khi sáng tạo ra một sản phẩm, nhà thiết kế chú ý và nhận thức 3 cấp độ của sản phẩm để đáp ứng mong muốn của người mua và phân biệt được sản phẩm của mình với các sản phẩm cạnh tranh khác. Dưới đây 3 cấp độ cấu thành một sản phẩm mới hoàn chỉnh:
Thứ nhất, các yếu tố là bản chất cốt lõi của sản phẩm đó là những lợi ích cơ bản, những giá trị mà người mua có thể nhận được từ việc sử dụng sản phẩm. Trong marketing trực tuyến, sản phẩm cốt lõi là việc trao đổi thông tin thuận tiện, nhanh chóng và mang tính toàn cầu, khả năng quảng bá, đàm phán, giao dịch, trao đổi trên khắp thế giới, cập nhật thông tin hàng ngày và trao đổi các thông số hóa. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Thứ hai, các yếu tố hữu hình của sản phẩm, hay được gọi là sản phẩm hiện thực đối với người tiêu dùng. Đây chính là tập hợp các yếu tố cấu thành nên thực thể sản phẩm như các đặc tính sử dụng, chỉ tiêu chất lượng, kiểu dáng, màu sắc, vật liệu chế tạo, bao gói, thương hiệu…. Trong marketing trực tuyến, sản phẩm hiện thực qua email, website, catalogue điện tử, game online, các diễn đàn để chia sẻ các phần mềm, các mô hình kinh doanh điện tử.
Thứ ba, khía cạnh mở rộng của sản phẩm hay còn được được gọi là sản phẩm hoàn chỉnh – đó là toàn bộ các dịch vụ đi kèm với sản phẩm. Trong marketing trực tuyến, sản phẩm bổ sung là các dịch vụ sau bán hàng, chương trình đào tạo kiến thức phổ biến điện tử, các dịch vụ ngân hàng điện tử.
1.4.2.2. Chiến lược giá.
Đối với môi trường internet, chính sách giá chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
Yếu tố thứ nhất – Tính minh bạch của thông tin: vì mức giá có thể được công bố công khai trên mạng, khách hàng có thể tiếp cận nhiều nguồn thông tin hơn để đánh giá về lợi ích và chi phí đối với các quyết định mua hàng của họ. Vì vậy, tính cạnh tranh về giá của các công ty rất cao trong môi trường internet.
Yếu tố thứ hai – Mức độ phân tán về giá của các sản phẩm trong thương mại điện tử là không quá lớn: tùy vào chiến lược kinh doanh của mỗi công ty mà họ sẽ có mức định giá khác nhau, tuy nhiên độ chênh lệch giá so với các đối thủ cạnh tranh là không quá lớn.
Yếu tố thứ ba – Mức độ co giãn của cầu theo giá trong thương mại điện tử là khá cao: với một sản phẩm cùng loại, bán ở trên cửa hàng mạng khác nhau, nếu giá ở cửa hàng mạng nào nhỏ hơn vài chục ngàn đồng cũng có thể thu hút lượng lớn khách hàng đến với mình.
Chính sách giá trong marketing trực tuyến được đưa ra dựa vào việc kết hợp các yếu tố: giá thành, phần ưu đãi, các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ đi kèm, chính sách bảo hành, chính sách hoàn lại tiền khi có vấn đề về sản phẩm, các điều khoản về đặt hàng.
1.4.2.3. Chiến lược phân phối. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Chiến lược phân phối là quá trình tổ chức các hoạt động liên quan đến việc điều hành và vận chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp, đến người tiêu dùng nhằm tiêu thụ được nhanh, với nhiều chi phí thấp nhất (Nguyễn Đông Phong, 2001).
Chiến lược phân phối có vai trò quan trọng trong hoạt động marketing trực tuyến. Chiến lược phân phối tốt sẽ là một công cụ quan trọng để sản phẩm xâm nhập nhanh vào thị trường xa và mới lạ. Ngược lại, nếu chiến lược phân phối không hợp lý thì tốn kém nhiều chi phí, kết quả tiêu thụ không cao hoặc lỡ mất cơ hội bán hàng.
Các hoạt động phân phối trực tuyến bao gồm các hoạt động sau: Sử dụng các kênh trung gian nào để phân phối hàng trên mạng; Xử lý đơn hàng và quy trình bán hàng trực tuyến; Hình thức thanh toán, cách thức giao hàng, vận chuyển trên mạng; Tư vấn và hỗ trợ bán hàng trên mạng. Trong hoạt động marketing trực tuyến, hoạt động phân phối diễn ra theo 2 hình thức sau: Thứ nhất, đối với các hàng hóa số hóa được: phân phối được thực hiện hoàn hảo qua mạng. Thứ hai, đối với hàng hóa hữu hình: internet được sử dụng để hỗ trợ và nâng cao hiệu quả, tăng khả năng kiểm soát hàng hóa trong quá trình phân phối.
1.4.2.4. Chiến lược xúc tiến.
Xúc tiến là nỗ lực của doanh nghiệp nhằm thiết lập kênh thông tin và thuyết phục khách hàng mua hàng hóa và dịch vụ của họ (Nguyễn Đông Phong, 2001).
Mục đích của xúc tiến là thông báo, thuyết phục và nhắc nhở khách hàng mục tiêu về doanh nghiệp hoặc về sản phẩm của doanh nghiệp.
Xúc tiến trong marketing trực tuyến bao gồm 4 nội dung cơ bản sau: Quảng cáo trực tuyến, các chương trình khuyến mãi trực tuyến, quan hệ công chúng điện tử, xúc tiến bán hàng trên mạng.
Hoạt động hỗ trợ xúc tiến trong kinh doanh trực tuyến là cách thức dùng các phương tiện trực tuyến để giới thiệu, chào mời, cung cấp thông tin về sản phẩm, hàng hóa hoặc dịch vụ của nhà phân phối đối với người tiêu dùng. Thông qua các công cụ của marketing trực tuyến: website, email, banner, mạng xã hội, công cụ tìm kiếm,…
1.4.3. Các công cụ của marketing trực tuyến. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Các công cụ marketing trực tuyến bao gồm 5 công cụ chính sau: thư điện tử, website, công cụ tìm kiếm, mạng truyền thông xã hội, banner quảng cáo trực tuyến.
1.4.3.1. Thư điện tử.
“Email marketing là một hình thức mà người làm marketing sử dụng email, sách điện tử hay catalogue điện tử để gửi đến cho khách hàng, thúc đẩy và đưa khách hàng đến quyết định thực hiện việc mua các sản phẩm của họ” (Business Link, 2008).
Email là cách tốt nhất để giao dịch với khách hàng. Chi phí thấp và không mang tính xâm nhập đột ngột như marketing qua điện thoại. Doanh nghiệp có thể gửi thông điệp đến hàng ngàn người khác nhau, ở bất kỳ nơi đâu, trong thời gian nhanh nhất.
Email marketing giúp doanh nghiệp tiết kiệm rất nhiều thời gian trong việc truyền tải thông tin nhanh chóng và đến đúng đối tượng khách hàng. Danh sách thư gửi và địa chỉ khách hàng được quản lý hoàn toàn tự động. Chi phí cho hoạt động email marketing là rất thấp nhưng tạo ra lợi ích lớn đem lại những đơn đặt hàng bất ngờ. Có thể đo lường mức độ hiệu quả so với các hoạt động marketing truyền thống.
Với Email marketing, có thể thấy chính xác bao nhiêu người đã mở email và họ đã nhấp vào liên kết hay không. Điều này giúp doanh nghiệp tiếp cận với các khách hàng tiềm năng và giữ liên lạc với các khách hàng hiện tại. Ngoài ra, Email marketing còn giúp doanh nghiệp có thể hỗ trợ, giải đáp những thắc mắc và góp ý của khách hàng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất.
Có 2 hình thức Email marketing cơ bản: Thứ nhất, Email marketing cho phép hay được sự cho phép của người nhận, đây là hình thức hiệu quả nhất. Thứ hai, Email marketing không nhận được sự cho phép của người nhận.
Các lợi ích khi sử dụng Email marketing:
Việc sử dụng email marketing sẽ tiết kiệm cho doanh nghiệp rất nhiều thời gian trong việc gửi thư. Doanh nghiệp gửi thư theo cách thông thường thì doanh nghiệp sẽ mất nhiều thời gian trong việc viết thư cũng như thời gian gửi các bức thư đó. Email marketing khắc phục được nhược điểm này của cách gửi thư thông thường.
Hơn nữa, với các doanh nghiệp thực hiện việc quản lý danh sách khách hàng tốt thì doanh nghiệp có thể thư đúng phân đoạn thị trường thậm chí đến từng cá nhân, cũng với email marketing, các doanh nghiệp chăm sóc duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng trong hoạt động xúc tiến kinh doanh. Việc sử dụng dịch vụ này sẽ giúp doanh nghiệp rút giảm được chi phí cho hoạt động quảng cáo so với cách truyền thống.
1.4.3.2. Website. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
“Hoạt động website marketing là một loạt các kỹ thuật nhằm nâng cao mức độ phổ biến của website hoặc nhằm quảng cáo cho website” (Moran and Hunt, 2008).
Website là công cụ giới thiệu sản phẩm trực tuyến. Các thông tin về sản phẩm (hình ảnh, chất lượng, các tính năng, giá cả,…) được hiển thị 24 giờ trong cả 365 ngày trong năm sẵn sàng phục vụ người tiêu dùng. Khách hàng có thể đặt hàng các sản phẩm, dịch vụ và thanh toán trực tiếp trên mạng.
Một website được thiết kế để xây dựng sự tín nhiệm của khách hàng và bổ sung các kênh bán hàng khác, hơn là bán sản phẩm của công ty một cách trực tiếp.
Web là một “môi trường” rất hiệu quả, cung cấp nhiều cơ hội thu hút sự chú ý, quan tâm của khách hàng đến công ty và sản phẩm của công ty thông qua các chương trình quảng cáo.
Mặt khác, website cũng là công cụ thu thập thông tin khách hàng và là nơi trao đổi thông tin trực tiếp giữa nhân viên với khách hàng thông qua các hoạt động hỗ trợ trực tuyến. Một website hiệu quả với khách hàng là phải đáp ứng đủ các nhu cầu thông tin mong muốn của khách hàng tại mọi thời điểm và mọi trang của website.
1.4.3.3. Công cụ tìm kiếm.
Marketing trên công cụ tìm kiếm được viết tắt là SEM (Search Engine Marketing). SEM là 1 hình thức marketing online, áp dụng vào các công cụ tìm kiếm như Google, Bing, Yahoo… Khi mà con người online ngày càng nhiều thì hành vi của người mua hàng cũng thay đổi theo, họ online nhiều hơn đồng thời với nhu cầu tìm kiếm nhiều hơn. Khi có sự quan tâm, thích thú đến một mặt hàng nào đó họ sẽ tìm kiếm và đây là thời điểm, vị trí để làm SEM. SEM được chia làm 2 loại: SEO và PPC.
SEO (Search Engine Optimization): Là phương pháp tối ưu hóa website với công cụ tìm kiếm, giúp làm tăng thứ hạng website qua cách xây dựng cấu trúc website, biên tập nội dung đưa vào website, xây dựng liên kết…
PPC (Pay Per Click): Là hình thức quảng cáo website trên công cụ tìm kiếm và trả phí cho mỗi lần nhấp chuột. Còn gọi là Quảng cáo Google Adwords. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Cả SEO và PPC đều có chung mục đích là thu hút lượng truy cập từ công cụ tìm kiếm Google thông qua những từ khóa tìm kiếm thông tin sản phẩm dịch vụ mà bạn cung cấp. SEM được xem là công cụ marketing online hiệu quả nhất, rất có giá trị trên Internet cùng với quảng cáo trên mạng xã hội.
Ngoài ra, công ty còn có thể sử dụng Pay per Inclusion (PPI): giúp cho website mới xây dựng và mới đưa vào hoạt động dễ dàng có thể được các tìm kiếm và ghi nhận sự tồn tại của website trong cơ sở dữ liệu.
Video Search Marketing (VSM): Đây là hình thức quảng cáo thông qua đoạn phim ngắn được đưa lên website được tối ưu để có thể tìm kiếm được. Hiện nay, với hàng triệu lượt người xem hàng ngày trên Youtube thì Youtube đang là một trong những người đứng đầu về dịch vụ này.
1.4.3.4. Truyền thông xã hội.
Truyền thông xã hội là một xu hướng truyền thông mới khác hẳn với truyền thông đại chúng trước đây. Việc thay đổi mô hình truyền thông đã dẫn đến sự ra đời của một hình thức marketing mới: Marketing bằng truyền thông xã hội.
Truyền thông qua mạng xã hội khai thác và tìm kiếm trên Facebook, Youtube, Google +, LinkedIn, Blog, Forum… những cơ hội marketing trực tuyến hiệu quả nhất, với sức mạnh lan tỏa và tương tác mạnh của truyền thông xã hội giúp thông điệp tiếp thị của doanh nghiệp đến với cộng đồng một cách nhanh chóng, từ một người truyền ra mười người, từ mười người có thể truyền ra cả trăm cả nghìn người. Nó tương tự như marketing truyền miệng trong truyền thông truyền thống. Tận dụng được điều này, doanh nghiệp của bạn sẽ nhanh chóng có thêm nguồn khách hàng khổng lồ mới và sản phẩm của bạn sẽ được quảng bá rộng rãi, giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, từ đó gia tăng mức độ nhận biết thương hiệu, kết nối với khách hàng, đồng thời giữ vững và phát triển thương hiệu của bạn trên thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay.
Tối ưu hóa truyền thông xã hội – Social Media Optimization (SMO): giúp cộng đồng mạng tìm thấy nội dung cần truyền tải dễ dàng nhất trên các trang mạng xã hội và những trang chia sẻ thông tin. Thực hiện dễ dàng bằng cách nhúng các nút dẫn trên site muốn chia sẻ như “Digg this” hay “Tweet it” hoặc đặt các đường link từ Facebook, Linked In, … đến các website này. Giúp tăng một cách đáng kể lượng truy cập vào trang web doanh nghiệp thông qua tính lan truyền trong thế giới mạng.
Marketing qua blog và diễn đàn: sau khi xác định được đối tượng khách hàng tham gia vào blog, cần phải làm sao để những thông tin đó không bị coi là spam hay vi phạm các nội quy blog và diễn đàn.
1.4.3.5. Banner quảng cáo trực tuyến. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Quảng cáo banner là một hình thức quảng cáo online trên các website. Trên mỗi website đặt các vị trí với kích thước phù hợp để giới thiệu các thông điệp, hình ảnh, đoạn phim… về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp tại các vị trí, nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng đến sản phẩm dịch vụ đó, khi khách hàng quan tâm khách hàng sẽ nhấp chuột vào banner quảng cáo, qua link liên kết banner sẽ dẫn khách hàng đến website của doanh nghiệp với đầy đủ các thông tin về sản phẩm, dịch vụ khách hàng quan tâm. Các hình thức quảng cáo banner bao gồm:
Quảng cáo banner truyền thống: Là hình thức quảng cáo banner thông dụng nhất, có dạng hình chữ nhật, chứa những thông điệp quảng ngắn bao gồm cả chữ và ảnh (GIF, JPEG, Flash), có khả năng kết nối đến một trang hay một website khác. Quảng cáo banner truyền thống là một hình thức quảng cáo phổ biến được nhiều người lựa chọn bởi vì thời gian tải nhanh, dễ thiết kế và thay đổi, dễ chèn vào website.
Quảng cáo In-line: Hình thức quảng cáo này được định dạng trong một cột ở phía dưới bên trái hoặc bên phải của một trang web. Cũng như “quảng cáo banner” truyền thống, quảng cáo in-line có thể được hiển thị dưới dạng một đồ họa và chứa một đường link, hay có thể chỉ là một đoạn chữ với những đường siêu liên kết nổi bật với những phông màu hay đường viền.
Quảng cáo Pop-up: Phiên bản quảng cáo dưới dạng này sẽ bật ra một cửa sổ web khi khách hàng truy cập website hoặc khi nhấp chuột vào 1 đường link trên web.
Có 2 phương pháp thường sử dụng để quảng cáo thông qua banner như sau:
Trao đổi banner: Phương thức này phù hợp đối với các tổ chức phi lợi nhuận vì các tổ chức có quan hệ cạnh tranh sẽ không trao đổi banner với nhau.
Thuê chỗ đặt banner: doanh nghiệp sẽ tìm website thu hút được lượng người xem lớn và phù hợp với thị trường mục tiêu của mình để thuê chỗ đặt banner. Các hãng quảng cáo có thể cung cấp dịch vụ trọn gói từ thiết kế quảng cáo, thiết kế banner đến tìm các website phù hợp để đặt banner.
Quảng cáo bằng banner dễ đo lường kết quả, đánh đúng vào mục tiêu đối tượng cần quảng cáo, dễ nhận được phản hồi từ phía người tiêu dùng. Quảng cáo bằng banner giúp tạo ra sự nhận biết về thương hiệu, tăng số lượng truy cập của website. Tỷ lệ nhấp chuột/số lần hiển thị của quảng cáo là một thông số đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của một chiến dịch quảng cáo.
1.5. Các mô hình kinh doanh thương mại điện tử Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Trong kinh doanh thương mại điện tử thường có 4 mô hình kinh doanh sau:
Thứ nhất, mô hình B2B (business-to-business hay B2B e-commerce): tức doanh nghiệp đến doanh nghiệp. Thương mại điện tử B2B là loại hình là mô hình bán sỉ chiếm tỉ trọng lớn nhất trên internet. Người bán và người mua đều là doanh nghiệp, người mua mua về để sử dụng phục vụ sản xuất – kinh doanh chứ không phải để tiêu dùng. Ví dụ như mối quan hệ mua bán giữa siêu thị với nhà sản xuất, hay nhà sản xuất mua nguyên vật liệu để sản xuất. Phần lớn các doanh nghiệp thực hiện giao dịch trực tuyến với hình thức này. Trong thế giới trực tuyến, B2B là đã lớn hơn nhiều so với B2C. Mô hình này được các tập đoàn lớn sử dụng như Guinness, Coca-Cola và Heinz.
Thứ hai, mô hình B2C (Business-to-Consumer) tức doanh nghiệp đến người tiêu dùng. Thương mại điện tử B2C là loại giao dịch trong đó khách hàng của doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến là người tiêu dùng cuối cùng và mua hàng với mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân hay cho người thân. Hiện nay có rất nhiều website thương mại điện tử dạng B2C như: www.thegioididong.com, www.lazada.vn,…
Thứ ba, mô hình C2B (Consumer-to-Business) tức từ cá nhân đến doanh nghiệp. Thương mại điện tử C2B là mô hình giao dịch giữa cá nhân và doanh nghiệp, cá nhân sẽ định giá bán của sản phẩm hay dịch vụ mà họ bán cho doanh nghiệp. Ví dụ: lao động bán thời gian, thuê chuyên gia tự do, thuê cá nhân tư vấn, giảng dạy… Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
Thứ tư, mô hình C2C (Consumer-to-Consumer) tức giữa các cá nhân. Thương mại điện tử C2C là mô hình buôn bán giữa các cá nhân, phổ biến nhất là đấu giá bán những món hàng không dùng đến, hay buôn bán nhỏ giữa người bán là cá nhân và người mua mua để tiêu dùng cho mình hay cho người thân. Ở Việt Nam có một số website như www.enbac.com, www.vatgia.com,…
Bảng 1.1 : Bảng tổng hợp mô hình kinh doanh thương mại điện tử
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đưa ra các khái niệm về marketing trực tuyến khác nhau, sau đó đưa ra khái niệm chung về marketing trực tuyến. Marketing trực tuyến có các đặc điểm cơ bản như không giới hạn về không gian, thời gian, có tính tương tác cao, các nhà cung cấp có thể lựa chọn khách hàng mục tiêu và tiềm năng mà mình muốn hướng tới, giúp người tiêu dùng ngày càng có thêm nhiều lựa chọn với sản phẩm. Marketing trực tuyến thực hiện thông qua cổng kết nối và khả năng truy cập, có thể lưu trữ dữ liệu chứa hồ sơ cá nhân của từng khách hàng trong quá trình mua sắm trong quá khứ và mang tính số hóa.
Tác giả phân tích các lợi ích do marketing trực tuyến mang lại cho doanh nghiệp như thông qua internet các doanh nghiệp rút ngắn khoảng cách, thực hiện tiếp thị toàn cầu, công bố thông tin vào bất cứ thời gian nào, phục vụ khách hàng hiệu quả, thu hút sự quan tâm của công chúng, giới thiệu sản phẩm sinh động, tiếp nhận thông tin phản hồi từ phía khách hàng và thử nghiệp sản phẩm mới trên thị trường.
Lợi ích đối với người tiêu dùng là tiếp cận được nhiều sản phẩm để so sánh và lựa chọn sản phẩm phù hợp với mình, tiết kiệm được thời gian và được lựa chọn các mặt hàng phong phú hơn nhiều so với cách thức mua hàng truyền thống.
Đồng thời tác giả khái quát các nội dung marketing trực tuyến về nghiên cứu thị trường, chiến lược marketing trực tuyến 4Ps bao gồm chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược xúc tiến và khái quát các công cụ của marketing trực tuyến như thư điện tử, website, công cụ tìm kiếm, truyền thông xã hội và banner quảng cáo trực tuyến.
Cuối cùng tác giả trình bày các mô hình kinh doanh thương mại điện tử như B2B, B2C, C2B và B2B.
Từ các cơ sở lý thuyết đã đề cập nêu trên sẽ làm cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động marketing trực tuyến của sản phẩm gạch tại công ty TNHH Gạch Men Bách Thành ở chương 2. Luận văn: Hoạt động marketing trực tuyến tại Cty Bách Thành
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Khái quát về Công ty TNHH gạch men Bách Thành