Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp marketing cho công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Bất động sản là một lĩnh vực giàu tiềm năng tại VN cũng như trên thế giới. Cơn sốt nhà đất năm 2007 là năm được coi là cơn sốt thứ 3 kể từ năm 1990 tới nay. Giá nhà đất tăng vọt, giá văn phòng cho thuê cũng tăng một cách phi mã khiến cho Việt Nam trở thành một điểm nóng về bất động sản trên thế giới.

Thị trường bất động sản chủ yếu là các khối nhà ở, văn phòng cho thuê và khách sạn.Với nhu cầu cao nhưng giá ở trên trời, các nhà đầu cơ ôm hàng với giá cao đồng thời giữ giá làm cho túi tiền khách hàng khó có thể đáp ứng được. Số lượng nhà xây lên nhiều nhưng độ phủ kín của các căn hộ không cao.

Với đặc thù sản phầm giá trị cao, cung và cầu hiện không cân bằng khiến marketing trong lĩnh vực bất động sản hầu như không được coi trọng cho lắm. Việc Marketing mới chỉ dừng lại trong việc sử dụng các kênh truyền thông, PR, brochure, mô hình…Với những thị trường đang lên cơn sốt, những công cụ trên được sử dụng đem lại hiệu quả tốt nhưng với một thị trường bình lặng thì Marketing lại cần thiết hơn bao giờ hết.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Hiện nay thị trường bất động sản của Việt Nam còn ở giai đoạn sơ khai, việc mua bán, giao dịch sản phẩm chưa thực sự vận hành tuân theo quy luật của nền kinh tế thị trường, theo quan hệ cung cầu một cách lành mạnh. Do sự mất cân bằng liên tục giữa cung và cầu, nhiều giai đoạn thị trường nằm trong tay người bán. Chính vì vậy doanh nghiệp bất động sản không coi trọng và đầu tư rất ít cho hoạt động nghiên cứu, dự báo để phục vụ việc Marketing sản phẩm của mình.

Vị thế thị trường bất động sản thời điểm hiện nay không còn là của người bán nữa, mà nó chuyển sang thị trường của người mua. Người mua có cơ hội tự do lựa chọn các sản phẩm phù hợp với yêu cầu của mình với mức giá rất cạnh tranh. Và thời điểm này cũng là lúc thị trường bất động sản cạnh tranh rất lớn.Chỉ có những doanh nghiệp mạnh, có năng lực về tài chính mới có khả năng đứng vững trên thị trường.Sự cạnh tranh trong lĩnh vực bất động sản trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.Để chiến thắng trong cạnh tranh các doanh nghiệp phải quan tâm đến chất lượng hoạt động Marketing của doanh nghiệp nhằm chiếm lĩnh thị trường và đặc biệt là nâng cao hình ảnh uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng.Là một trong những doanh nghiệp được đánh giá cao không chỉ với tiềm lực tài chính mà còn cả tầm nhìn chiến lược, công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng vẫn phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ ấy. Để giữ vững vị thế đứng đầu thị trường, công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng không ngừng hoàn thiện và nâng cao hoạt động Marketing cho các dự án nhà ở trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng. Là một trong những nhân viên Marketing – marketer của công ty em cũng muốn đóng góp một chút kiến thức của mình để đẩy mạnh hoạt động marketing của công ty, do đó em đã lựa chọn đề tài “Một số giải pháp Marketing cho công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng” để làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản trị kinh doanh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Marketing

2. Mục tiêu nghiên cứu:Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

  • Đánh giá thực trạng Marketing tại công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng.
  • Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing.
  • Đề xuất lựa chọn các giải pháp Marketing cho công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng.

3. Đối tượng và phm vi nghiên cu

Đối tượng nghiên cứu: hoạt động Marketing về các dự án nhà ở tại công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng.

Phạm vi nghiên cứu:

Thời gian: từ năm 2010 – 2012 tầm nhìn chiến lược tới năm 2020

Không gian: hoạt động Marketing về các dự án nhà ở tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng

4. Phương pháp nghiên cứu:Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính để tìm hiểu, xác định nhu cầu thị trường về loại sản phẩm nhà ở, từ đó đề xuất các giải pháp Marketing cho công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng.

Phương pháp thu thập số liệu:

Thu thập số liệu sơ cấp thông qua việc khảo sát điều tra bằng bảng câu hỏi. Thu thập số liệu thứ cấp từ:

  • Nguồn từ nội bộ của công ty: các số liệu thống kê, báo cáotổng kế..
  • Nguồn từ bên ngoài: sách, báo, internet…

5. Kết cu luận văn:

Luận văn ngoài lời mở đầu và kết luận, được cấu trúc thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Thực trạng Marketing tại công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Chương 3: Một số giải pháp Marketing cho công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUN

1.1.Khái nim và chức năng của Marketing Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

1.1.1. Khái nim Marketing

Thuật ngữ Marketing nghĩa là gì? Nhiều người nghĩ rằng Marketing chỉ có nghĩa là bán và quảng cáo. Và điều đó cũng chẳng có gì lạ – hàng ngày chúng ta đã bị tấn công bởi hàng khối những tiết mục quảng cáo trên truyền hình, rồi mẩu quảng cáo trên báo, thư gửi trực tiếp, cũng như những cú điện thoại chào hàng. Người ta luôn luôn cố gắng để bán cho chúng ta cái gì đó. Có vẻ như chúng ta chẳng thể nào tránh khỏi cái chết, thuế và sự bán.

Các định nghĩa Marketing đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự trao đổi lợi ích qua đó thỏa mãn các mục tiêu của cả người mua lẫn người bán dù họ là cá nhân hay là tổ chức.

Theo Ray Corey: “Marketing bao gồm mọi hoạt động mà Công ty sử dụng để thích nghi với môi trường của mình một cách sáng tạo và có lợi”.

Theo Peter Drucker: “Marketing là hết sức cơ bản đến mức độ không thể xem nó là một chức năng riêng biệt. Nó là toàn bộ công việc kinh doanh dưới góc độ kết quả cuối cùng, tức là dưới góc độ khách hàng,… Thành công trong kinh doanh không phải là do người sản xuất, mà chính là do khách hàng quyết định”.

Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ định nghĩa: “Marketing là một quá trình hoạch định và quản lý thực hiện việc đánh giá, chiêu thị và phân phối các ý tưởng, hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích tạo ra các giao dịch để thoả mãn những mục tiêu của cá nhân, của tổ chức và của xã hội”. Học viện quản lý Malaysia cho rằng: “Marketing là nghệ thuật kết hợp, vận dụng các nỗ lực thiết yếu nhằm khám phá, sáng tạo, thoả mãn và gợi lên những nhu cầu của khách hàng để tạo ra lợi nhuận”. Theo Philip Kotler – cha đẻ của Marketing hiện đại cho rằng: “Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác”.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Định nghĩa về Marketing của Philip Kotler dựa trên khái niệm cốt lői: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, Marketing và người làm Marketing.

Như vậy, có thể hiểu: “Marketing là chức năng quản lý kinh doanh của Công ty từ việc phát hiện ra nhu cầu, biến nhu cầu đóthành nhu cầu thị trường đến việc sản xuất ra các loại hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường và sử dụng các hệ thống chính sách, biện pháp, nghệ thuật ứng xử linh hoạt, hợp lý với sự biến động của thị trường để bán hàng nhanh, thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”.

1.1.2. Khái nim Marketing dch v.

Marketing dch v là phương pháp tổ chức quản lý bằng quá trình phát hiện và thích nghi tính hệ thống với những quy luật thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội… nhằm thỏa mãn nhu cầu của các thành viên tham gia đồng thời thực hiện những mục tiêu đã xác định, phù hợp với tiến trình phát triển của thực tại khách quan trong phạm vi nguồn lực kiểm soát được.

1.1.3.Vai trò và chức năng của Marketing

Vai trò ca Marketing

Marketing có vai trò là cầu nối trung gian giữa hoạt động của doanh nghiệp và thị trường, đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp hướng đến thị trường, lấy thị trường làm mục tiêu kinh doanh. Nói cách khác, Marketing có nhiệm vụ tạo ra khách hàng cho doanh nghiệp. Sử dụng Marketing trong công tác kế lập hoạch kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp thực hiện phương châm kế hoạch phải xuất phát từ thị trường.

Đây là sự khác biệt cơ bản về chất của công tác kế hoạch trong kinh tế thị trường so với công tác kế hoạch trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Trong điều kiện cạnh tranh trên thị trường gay gắt thì chỉ có doanh nghiệp nào biết hướng đến thị trường mới có khả năng tồn tại.

Chức năng của Marketing

Bộ phận Marketing phải trả lời bốn vấn đề cơ bản sau của doanh nghiệp:

  • Ai là khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp? Họ có các đặc điểm gì? Nhu cầu, mong muốn của họ như thế nào? (Hiểu rõ khách hàng)
  • Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp có tác động tích cực, tiêu cực như thế nào đến doanh nghiệp? (Hiểu rõ môi trường kinh doanh).
  • Các đối thủ nào đang cạnh tranh với doanh nghiệp? Họ mạnh yếu như thế nào so với doanh nghiệp? (Hiểu rõ đối thủ cạnh tranh)
  • Doanh nghiệp sử dụng các chiến lược Marketing hỗn hợp gì để tác động tới khách hàng? (Sản phẩm, giá cả, kênh phân phối, xúc tiến – Marketing mix). Đây là vũ khí chủ động trong tay của doanh nghiệp để “tấn công” vào thị trường mục tiêu.

Như vậy, có thể nói muốn kinh doanh thành công, doanh nghiệp phải hiểu rõ mình, hiểu rõ đối phương, hiểu rõ khách hàng, hiểu rõ thiên thời, địa lợi (hiểu rõ điều kiện, môi trường). Từ đó công ty mới có thể xây dựng chiến lược Marketing hướng tới thị trường.

1.2. Các thành phần cơ bản ca Marketing dch vLuận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Dựa vào kinh nghiệm và sự đúc kết nguyên lý marketing hiện đại, công trình nghiên cứu trong 5 năm (1999-2004), chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang đã xây dựng một mô hình quản trị marketing đơn giản nhưng xúc tích và dễ hiểu.

Hình 1.1 – Mô hình Marketing 7P1

Mô hình Marketing 7P này bao gồm 3 nấc: nấc 1 là “4P” tức 4 yếu tố cơ bản trong quản trị marketing. Đó là nhóm các giải pháp về:sản phẩm, từ ý tưởng cho đến sản xuất ra sản phẩm;nhóm kế tiếp là các giải pháp giá, từ chi phí cho đến chiết khấu phân phối và giá tiêu dùng; kế đến là các giải pháp về phân phối và bán hàng và sau cùng là các giải pháp quảng bá thương hiệu sản phẩm.

P1. Sn phm (Product)

Là thành phần cơ bản nhất trong Marketing.Đó có thể là sản phẩm hữu hình của công ty đưa ra thị trường, bao gồm chất lượng sản phẩm, hình dáng thiết kế, đặc tính, bao bì và nhãn hiệu. Sản phẩm cũng bao gồm khía cạnh vô hình như các hình thức dịch vụ giao hàng, sửa chữa, huấn luyện,…

P2. Giá (Price)

Là thành phần không kém phần quan trọng trong Marketing bao gồm: giá bán sỉ, giá bán lẻ, chiết khấu, giảm giá, tín dụng. Giá cả phải tương xứng với giá trị nhận được của khách hàng và có khả năng cạnh tranh.

P3. Phân phi ( Place)

Cũng là một thành phần chủ yếu trong Marketing.Đó là những hoạt động làm cho sản phẩm có thể tiếp cận với khách hàng mục tiêu.Công ty phải hiểu rõ, tuyển chọn và liên kết những nhà trung gian để cung cấp sản phẩm đến thị trường mục tiêu một cách có hiệu quả.

P4. Xúc tiến (Promotion)

 

Xúc tiến gồm nhiều hoạt động để thông đạt và thúc đẩy sản phẩm đến thị trường mục tiêu. Công ty phải thiết lập những chương trình như: quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, Marketing trực tiếp. Công ty cũng phải tuyển mộ, huấn luyện và động viên đội ngũ bán hàng.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Ở cấp độ 2 (nấc 2), chúng ta quan tâm đến hai nhóm giải pháp lột tả tinh thần cơ bản của quản trị: đó là yếu tố con người và yếu tố hệ thống.

P5. Con người (people)

Chiến lược nhân sự ở mỗi công ty cần phải được nhìn nhận dưới góc độ Marketing. Ngày càng có nhiều các phương pháp tiếp thị định hướng con người. Nói theo ngôn ngữ brand marketing thì mỗi cá nhân và gia đình nhân viên cũng được “gắn nhãn” với thương hiệu chung của doanh nghiệp cũng như các thương hiệu sản phẩm mà họ đang nỗ lực gầy dựng từng ngày ở mọi nơi mọi lúc.

P6. Quy trình (process)

Doanh nghiệp phát triển luôn đặt những quy trình quản trị (điển hình là ISO:9001) làm hệ thống quản trị làm nến tảng để thể chế hóa bộ máy làm việc, giúp luật hóa trách nhiệm cá nhân hay nói đúng hơn là “minh bạch hóa” vai trò và phạm vi trách nhiệm của từng người để cá nhân thấy rõ nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong một tập thể quản trị. Ở cấp độ 3 (nấc 3), chúng ta tìm hiểu vai trò của tư tưởng, triết lý, văn hóa trong một tổ chức, hay cụ thể là trong một doanh nghiệp.

P7. Triết lý (philosophy)

Các giải pháp ở cấp độ này thể hiện bởi sứ mệnh hay tầm nhìn của doanh nghiệp, của thương hiệu; văn hóa, những thói quen ứng xử và chuẩn giá trị trong doanh nghiệp, cũng như giữa thương hiệu ứng xử trước cộng đồng; tư tưởng, tầm nhìn và giá trị của tổ chức cũng cần phải được thông đạt một cách hiệu quả đến với toàn thể cá nhân trực thuộc và kể cả đối với cộng đồng trong đó dĩ nhiên là có khách hàng, người tiêu dùng, đối tác, người thân của họ, hay nói rộng hơn là của toàn xã hội.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên thị trường chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố. Những sự tác động này có ảnh hưởng đến hoạt động Marketing của doanh nghiệp các góc độ khác nhau.

Môi trường nội bộ

Kinh tế

Môi trường vi mô

Tự nhiên công nghệ

Hình 1.2 – Các yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp2

1.3.1. Các yếu t bên ngoài

1.3.1.1.Các yếu tvĩLuận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Môi trường kinh tế

Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động Marketing của doanh nghiệp. Bởi vậy, chúng cũng là một trong những yếu tố đáng quan tâm trong quátrình quản trị maketing của doanh nghiệp. Các nhà hoạch định chiến lược Marketing cần phải biết đánh giá tình trạng nền kinh tế thương mại trong thời gian trước mắt và lâu dài.

Trong điều kiện của Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực bất động sản nói riêng, các yếu tố kinh tế nổi bật mà các nhà kinh doanh phải thường xuyên quan tâm phân tích là:

Đồng Thị Thanh Phương và cộng sự, 2008. Giáo trình Qun tr Doanh nghip. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thống kê, trang 33

Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Kinh tế phát triển với tốc độ cao phản ánh tốc độ phát triển cao của thị trường, do đósẽ góp phần làm giảm áp lực cạnh tranh.Sức mua tổng thể của thị trường cao tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh doanh của doanh nghiệp.

Triển vọng GDP dài hạn tính trên đầu người, kết cấu tiết kiệm và nợ, kết cấu chi tiêu, tình trạng việc làm và thu nhập của dân cư… cũng phản ánh được tốc độ tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng đến thị trường bất động sản.

Lãi suất

Lãi suất đặc biệt quan trọng và nó gắn với chính sách tiền tệ của một quốc gia.Đối với thị trường bất động sản, chính sách tiền tệ và lãi suất có tầm ảnh hưởng rất lớn. Một minh chứng rất lớn đó là thị trường bất động sản năm 2008-2009, khi chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, lãi suất theo đó tăng cao, ngân hàng không cho vay tiêu dùng… Chính điều này đã dẫn đến thị trường bất động sản đóng băng một thời gian dài.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Tỷ lệ lạm phát

Lạm phát là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tính chất ổn định hay bất ổn của nền kinh tế quốc dân. Lạm phát cao phản ánh mức cung tiền tệ lớn, do đólàm tăng mức cầu và kích thích kinh doanh phát triển. Nhưng lạm phát cao đến mức không kiểm soát được sẽ làm rối loạn các tiêu chuẩn tính toán, làm tăng lãi suất tín dụng và gây rủi ro lớn cho đầu tư dài hạn.Trong trường hợp này mức lạm phát cao sẽ là nguy cơ cho kinh doanh. Do đó, sẽ là thuận lợi nhất khi lạm phát ở giới hạn có thể kiểm soát được.

Thuế

Chính sách thuế cũng là một trong những yếu tố kinh tế mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng quan tâm. Nhìn chung thuế cao sẽ bất lợi cho kinh doanh, thuế thấp sẽ khuyến khích kinh doanh. Trong điều kiện của Việt Nam các doanh nghiệp ngoài việc quan tâm tới mức thuế suất, còn quan tâm tới cả tính ổn định của thuế suất.Thuế suất bất ổn định sẽ gây khó khăn cho các dự kiến chiến lược kinh doanh dài hạn của các doanh nghiệp. Các sắc thuế chủ yếu mà doanh nghiệp cần quan tâm là: thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu…

Khi phân tích các yếu tố nêu trên, nhà quản trị đã có cái nhìn tổng quan về các yếu tố kinh tế tác động đến Marketing cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tùy theo từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của doanh nghiệp, nhà quản trị có thể phân tích chính sách và cán cân thương mại quốc tế, chi tiêu của Chính phủ, vấn đề kiểm soát giá của Chính phủ để có tầm nhìn tổng quát hơn.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Môi trường chính tr và pháp lut

Chính trị và luật pháp có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động Marketing cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính phủ với vai trò điều tiết vĩ mô – ngày càng có những biện pháp và hình thức can thiệp vào đời sống kinh tế xã hội. Về khía cạnh này, nhà quản trị cần phân tích các yếu tố sau đây nhằm đảm bảo có thể đưa ra những giải pháp Marketing hiệu quả:

Sự ổn định của chính trị

Chính trị phản ánh một hệ thống lãnh đạo chính trị và đường lối xây dựng đất nước do hệ thống đóđưa ra và thực hiện.

Sự ổn định hay bất ổn định của chính trị ảnh hưởng trực tiếp tới kinh doanh và các quyết định Marketing nói riêng và các quyết định khác về tài chính, nhân sự… nói chung của doanh nghiệp.

Các chính sách kinh tế- xã hội

Đường lối hay chiến lược phát triển kinh tế – xã hội sẽ được cụ thể hóa hơn qua các chính sách phát triển kinh tế -xã hội đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân hay đối với từng lĩnh vực cụ thể. Chính sách thể hiện tư tưởng khuyến khích ưu tiên hay hạn chế về một phương diện nào đótrong đời sống kinh tế – xã hội đối với mỗi quốc gia. Vì vậy chính sách sẽ trực tiếp phản ánh cơ hội hay đe dọa đối với các quyết định Marketing. Ở Việt Nam, các chính sách liên quan đến một lĩnh vực hay một địa phương cósức sống ngắn hơn vì hay bị thay đổi theo thực tiễn phát triển. Các nhà Marketing cần chủ động theo dõi sự diễn biến của các chính sách bao gồm cảcác chính sách liên quan đến kinh doanh và tiêu dùng.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Hệ thống luật pháp

Luật pháp là hệ thống những quy tắc để điều chỉnh các hành vi trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Biểu hiện tập trung tư tưởng của luật pháp là khẳng định những cái được phép và cái không được phép, nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh, chủ thể pháp nhân, chủ thể xã hội…Vì vậy, luật pháp phản ánh rõ những cơ hội hay đe dọa trong hoạt động Marketing đối với doanh nghiệp. Trong vận hành Marketing các doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ sự biến đổi của môi trường luật pháp để có thể ứng phó kịp thời là rất quan trọng.

May mắn là ở Việt Nam, cơ quan lập pháp (Quốc Hội) có nhiều quan tâm trong việc xây dựng các văn bản luật điều chỉnh lĩnh vực kinh tế (trong đócólĩnh vực kinh doanh bất động sản), dù chưa thật hoàn chỉnh, ổn định lâu dài, phải thay đổi bổsung nhiều qua quá trình thực hiện.

Môi trường văn hóa xã hi

Tại mỗi nước mức độ ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của các yếu tố văn hóa xã hội cũng khác nhau.Nhưng các yếu tố thuộc môi trường này rất cần được xem xét. Trong lĩnh vực quản trị Marketing, văn hoáxã hội có thể ảnh hưởng đến các quyết định mang tính chiến lược như lựa chọn lĩnh vực và mặt hàng kinh doanh, hoặc ảnh hưởng đến những quyết định chiến lược của từng mặt Marketing – Mix: lựa chọn nhãn hiệu, màu sắc, kiểu dáng, thay đổi kênh phân phối, thay đổi giá bán hoặc các thông điệp xúc tiến… Những khía cạnh cơ bản của môi trường văn hóa xã hội ảnh hưởng tới các quyết định Marketing bao gồm:Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Văn hóa

Giá trị cuộc sống là một khái niệm rộng mà khoa học về quản lý khai thác các khía cạnh khác nhau. Với quản trị Marketing các khía cạnh đáng chú ý như: Những cái gì có giá trị, có ý nghĩa trong cuộc sống? Cuộc sống vật chất hay cuộc sống tinh thần? Sức khoẻ, tri thức, sự giàu sang, cuộc sống tiện nghi… được nhận thức như thế nào? Những quan niệm này đôi khi tạo thành một xu hướng tiêu dùng và mở ra những cơ hội đầy hấp dẫn trong hoạt động Marketing.

Theo nghĩa rộng hơn, văn hóa còn bao gồm cả hành vi xử sự với nhau trong giao tiếp và quan hệ xã hội, trong việc bảo vệ truyền thống và duy trì tập quán, văn hóa nói lên những xu hướng lâu dài về sự chú trọng đến người khác, sự thỏa mãn tức thời…Những khía cạnhđó đôi khi tạo ra những cơ hội kinh doanh khá hấp dẫn, nhưng đồng thời không ít trường hợp gây ra phiền toái cho các nhà hoạt động Marketing.

Xã hội

Ngoài văn hóa, các nhà quản trị Marketing còn cần thiết phải quan tâm tới những cơ hội và thách thức do những biến đổi xã hội gây ra như: tỷ lệ tăng dân số, cơ cấu dân số, xu hướng dịch chuyển dân số, mật độ dân số…

Những biến đổi về dân số xã hội thường có liên quan chặt chẽ đến quy mô và đặc tính nhu cầu. Nói chung những biến đổi về dân số diễn ra chậm chạp và do đónóthường gây ra đột biến cho những quyết định Marketing ngắn hạn, nhưng lại dễ làm cho các nhà quản trị Marketing “sao nhãng” đến nó và dễ gặp thất bại trong định hướng dài hạn. Trong những thông số trên, cơ cấu dân số là thông số có ý nghĩa quyết định đến đặc tính nhu cầu.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Cơ cấu dân số cần được xét trên nhiều phương diện khác nhau như: cơ cấu giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tham gia hay không tham gia các nhóm xã hội, gia đình… Hiện trạng và những biến đổi cóliên quan đến từng phương diện trong cơ cấu dân số đều là cơ sở tốt cho các quyết định trong quản trị Marketing.

Môi trường t nhiên và công ngh

Đối với các nhà quản trị Marketing môi trường tự nhiên và công nghệ liên quan trực tiếp đến sự sống còn của doanh nghiệp.

Sự ảnh hưởng của môi trường tự nhiên tới các quyết định Marketing phản ánh qua các hiện tượng chủ yếu như: nguồn cung cấp nguyên liệu và năng lượng ngày càng khan hiếm và cạn kiệt, mức độ ô nhiễm gia tăng.

Sự ảnh hưởng của hai hiện tượng trên tới các quyết định Marketing của các doanh nghiệp có thể thông qua con đường trực tiếp tới từng yếu tố Marketing hay gián tiếp qua các nhóm áp lực xã hội và chính quyền.

Đặc biệt, môi trường tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với lĩnh vực bất động sản. Yếu tố khí hậu, vị tríđịa lý,… tác động rất lớn đến giá trị của bất động sản. Nó là yếu tố then chốt trong việc quyết định giá bán của một dự án bất động sản.

Bên cạnh các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên, các yếu tố thuộc môi trường công nghệ cũng cóảnh hưởng lớn tới hoạt động Marketing của các doanh nghiệp. Môi trường công nghệ cho thấy có sự biến chuyển theo nhịp gia tốc của kỹ thuật học, những sự đổi mới vô hạn, kinh phí nghiên cứu cao… Các yếu tố thuộc môi trường công nghệ cũng cóthể ảnh hưởng hai mặt tới các quyết định Marketing: vừa tạo ra cơ hội, nhưng đồng thời cũng hình thành những nguy cơ lớn đe dọa doanh nghiệp.

Các nhà quản trị phải nắm bắt những yếu tố này của môi trường tự nhiên công nghệ nhằm có những quyết định mang tính chiến lược trong ngắn cũng như dài hạn.

1.3.1.2.Các yếu t vi mô Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Các nhân tố thuộc môi trường vi mô bao gồm khách hàng,các đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp, các trung gian Marketing, giới công chúng. Các nhân tố này ảnh hưởng đến các quyết định Marketing của các doanh nghiệp trong một ngành.

Khách hàng

Nền tảng cốt lõi của mọi quyết định Marketing dựa trên sự hiểu biết hành vi và nhu cầu của khách hàng. Đây cũng là thách thức lớn nhất đối với các nhà quản trị

Marketing.

Điều quan trọng nhất của mục tiêu thiết lập chiến lược Marketing là phải xác định được những xu hướng biến đổi tiêu dùng của khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng đang tạo ra cơ hội và đe dọa gì đối với doanh nghiệp. Vì mục tiêu xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch hàng năm, việc nghiên cứu sức mua của khách hàng có ý nghĩa lớn. Tuy nhiên, xét trên tổng thể các nhà quản trị Marketing phải thường xuyên quan tâm cảnhững xu hướng biến đổi trong tiêu dùng của khách hàng và năng lực mua sắm của họ.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Đối th cnh tranh trong ngành

Cạnh tranh theo quan điểm “Năm yếu tố cạnh tranh” của Michael E. Porter: nhà cung cấp, khách hàng, sản phẩm thay thế, đối thủ cạnh tranh, đối thủ tiềm ẩn. Điều này được mô tả khá rõ trong mô hình dưới đây:

NHỮNG CÔNG TY CÓ KHẢ NĂNG GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG

Mối đe doạ từ các công ty mới gia nhập

NHÀ CUNG CẤP

Sức mạnh mặc cả của nhà cung ứng

NHỮNG CÔNG TY CÙNG MỘT NGÀNH NGHỀ CẠNH TRANH VỚI NHAU CẠNH TRANH, ĐỐI ĐẦU GIỮA CÁC CÔNG TY ĐANG HOẠT ĐỘNG

Sức mạnh mặc cả của người mua

NGƯỜI MUA

Mối đe doạ của sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế

SẢN PHẨM HOẶC DỊCH VỤ THAY THẾ

Hình 1.3 – Những yếu tố tác động đến tình hình cạnh tranh trong một ngành

Năm yếu tố cạnh tranh trên cùng nhau quyết định mức độ căng thẳng của cạnh tranh và khảnăng kiếm lợi nhuận của một ngành.Yếu tố nào cótác động mạnh nhất sẽ giữ nắm quyền kiểm soát và đóng vai trò then chốt trong hình thành chiến lược.

Michael E. Porter, Chiến lược cnh tranh.Dịch từ tiếng Anh.Người dịch Nguyễn Ngọc Toàn, 2009. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Có 6 rào cản chính của việc gia nhập ngành:

  • Tăng hiệu quả kinh tế do quy mô lớn: chênh lệch về quy mô
  • Dị biệt hóa sản phẩm: sự trung thành của khách hàng cao
  • Yêu cầu về vốn: yêu cầu vốn lớn
  • Phí tổn chuyển đổi: khó khăn trong sự thay đổi nhà cung cấp và quy trình cũ
  • Tiếp cận với các kênh phân phối: chi phí cho việc thiết lập mới kênh phân phối
  • Những bất lợi về giá cả (bất chấp quy mô): thay đổi công nghệ, khó khăn tiếp cận nhà cung cấp, vị trí bất lợi, khoản hỗ trợ của chính phủ cho đơn vị đi đầu, kinh nghiệm…

Sn phm thay thế

Những sản phẩm thay thế làm giảm mức lợi nhuận tiềm ẩn của ngành nghề bằng cách áp đặt một mức trần đối với những mức giá mà những doanh nghiệp trong ngành nghề ấy có thể đưa ra trong phạm vi cóthu được lợi nhuận. Các sản phẩm thay thế đưa ra một mức giá càng thấp thì cái mức trần ấy càng khó phá vỡ.

Nhà cungng

Nhóm này có thể tác động một lực mặc cảđối với các bên tham gia trong ngành nghề bằng biện pháp đe dọa nâng giá hoặc giảm chất lượng nguồn cung.

Một số nhóm nhà cung ứng sẽ có sức mạnh mặc cảnếu những điều kiện sau xảy ra:

  • Nhóm này do vài doanh nghiệp thống trị.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng
  • Nhóm này không bị buộc phải “giành giật” với những sản phẩm thay thế khác có thể đem bán trong ngành nghề ấ
  • Ngành ấy không là khách hàng quan trọng của nhóm những nhà cung ứng này.
  • Sản phẩm của nhà cung ứng là sản phẩm đầu vào quan trọng đối với người mua.

Các trung gian Marketing

Các trung gian Marketing tham gia vào quá trình tiêu thụ hàng hóa, cung cấp các dịch vụ khác phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.Họ bao gồm các cơ sở phương tiện trong phân phối, các cơ sở dịch vụ tiếp thị và các trung gian tài chính.

Tùy từng quyết định Marketing mà doanh nghiệp cần phân tích đối tượng nào và tìm kiếm thông tin gì. Chẳng hạn, khi quyết định về phương thức vận chuyển hàng hóa với yêu cầu nhanh, an toàn, chi phí rẻ, thì các nhà quản trị Marketing của doanh nghiệp cần phải phân tích các doanh nghiệp vận tải và thu thập những thông tin có liên quan tới 3 mục tiêu trên như: tốc độ, điều kiện bảo quản, xếp dỡ hàng hóa, mức giá cước và khả năng ép giá…

Gii công chúng

Giới công chúng bao gồm tất cảcác lực lượng quyền lực, các tổchức mang tính xã hội và nghề nghiệp, các cơ quan thông tin và ngôn luận có thể tác động đến quá trình ra quyết định Marketing của doanh nghiệp. Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng tồn tại và hoạt động trong một môi trường áp lực khác nhau của giới công chúng. Các nhà quản trị Marketing trước hết cần phải xác định có bao nhiêu lực lượng thuộc môi trường này có thể gây ra những ảnh hưởng tới các quyết định Marketing của doanh nghiệp, cách thức và cường độ gây áp lực của mỗi lực lượng? Ngoài việc gây áp lực, các lực lượng này có thể hỗ trợ gì cho kinh doanh của doanh nghiệp?

1.3.2. Các yếu t bên trong Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Theo báo cáo tháng 12/2008, thời điểm thị trường bất động sản tại TP.HCM đóng băng, VietRees – doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, định giá, nghiên cứu thị trường bất động sản có nêu ra trong “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các doanhnghiệp bất động sản Việt Nam”: Để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp bất động sản phải chúý đến những yếu tố sau:

  • Chất lượng sản phẩm và dịch vụ
  • Sự đa dạng của dịch vụ cung cấp
  • Nguồn nhân lực
  • Khảnăng phát triển thị trường
  • Thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp bất động sản
  • Năng lực tài chính
  • Năng lực tổchức và quản trị doanh nghiệp bất động sản
  • Hệ thống thông tin bất động sản
  • Trình độ sử dụng công nghệ thông tin

Tất cả những yếu tố này được tóm tắt cụ thể như sau:

1.3.3.1. Tài chính Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Đây là một yếu tố quan trọng quyết định khảnăng sản xuất cũng như là chỉ tiêu hàng đầu để đánh giáquy mô của doanh nghiệp.Bất cứ một hoạt động đầu tư mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu hay phân phối, quảng cáo đều phải được tính toán dựa trên thực trạng tài chính của doanh nghiệp.

Để đánh giákhảnăng tài chính của doanh nghiệp người ta tiến hành đánh giámột số điểm sau: khảnăng huy động vốn ngắn hạn và trung hạn, tỷ lệ giữa vốn vay và vốn tự có, chi phí trung bình so với toàn ngành và so với đối thủ cạnh tranh, những thế mạnh về thuế, tỷ lệ lợi nhuận so với vốn đầu tư,…

Tóm lại, nếu doanh nghiệp có thế mạnh về phương diện tài chính thì doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao.

1.3.3.2. Công ngh

Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với một công nghệ tiên tiến phù hợp với quy mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên rất nhiều.

Khi nghiên cứu về khảnăng, công nghệ của một doanh nghiệp cần đánh giánhững điểm sau: việc bố trívà khai thác các phương tiện, trang thiết bị; trình độ công nghệ; năng lực nghiên cứu và triển khai; các biện pháp bảo vệ bản quyền.

1.3.3.3. Nhân s và h thng qun lý Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Đây chính là đội ngũ những người tạo ra sản phẩm một cách trực tiếp và gián tiếp. Chính họ là những người quyết định cạnh tranh như thế nào, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở mức nào và phương thức cạnh tranh là gì.

Để đánh giá về nhân sự và bộ máy quản lý cần phải đánh giánhững điểm sau: Khảnăng và thái độ của bộ máy lãnh đạo; trình độ tay nghề và tư cách đạo đức của người lao động; các biện pháp và chính sách kích thích; kinh nghiệm của cán bộ, công nhân viên; nhận thức của các thành viên trong doanh nghiệp về giá trị văn hoácủa doanh nghiệp; các mối quan hệ chức năng và nghề nghiệp; điểm mạnh và tính hiệu quảcủa cơ cấu tổchức quản lý; uy tín và thể diện của doanh nghiệp; tổchức hệ thống thông tin giao tiếp; hệ thống kiểm soát tổchức chung; bầu không khí và nền nếp của tổchức; sử dụng các phương pháp và kỹ thuật hiện đại trong việc soạn thảo các quyết định; khảnăng phối hợp giữa các tổchức thành viên và chức năng; năng lực và phẩm chất cán bộ quản lý.

1.3.3.4. Văn hoá kinh doanh.

Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp.

Văn hoá doanh nghiệp giúp nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình làm.Văn hoá doanh nghiệp còn tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp giữa các nhân viên và một môi trường làm việc thoải mái, lành mạnh.Văn hoá doanh nghiệp phù hợp giúp nhân viên có cảm giác mình làm công việc có ý nghĩa hãnh diện vì là một thành viên của doanh nghiệp

Văn hoá doanh nghiệp là keo gắn kết các thành viên của doanh nghiệp.Nó giúp các thành viên thống nhất về cách hiểu vấn đề, đánh giá, lựa chọn và định hướng hành động. Khi ta phải đối mặt với xu hướng xung đột lẫn nhau thì văn hoá chính là yếu tố giúp mọi người hoà nhập và thống nhất.

1.4. Đặc điểm Marketing ca doanh nghip bất động sn.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Bất động sản có đặc thù là sản phẩm có giá trị lớn, thời gian tạo lập lâu và cung phản ứng rất chậm so với cầu. Hiện nay thị trường bất động sản của Việt Nam còn ở giai đoạn sơ khai, việc mua bán, giao dịch sản phẩm chưa thực sự vận hành tuân theo quy luật của nền kinh tế thị trường, theo quan hệ cung cầu một cách lành mạnh. Do sự mất cân bằng liên tục giữa cung và cầu, nhiều giai đoạn thị trường nằm trong tay người bán. Chính vì vậy doanh nghiệp bất động sản không coi trọng và đầu tư rất ít cho hoạt động nghiên cứu, dự báo để phục vụ việc marketing sản phẩm của mình.

Để hoạt động marketing được quan tâm đúng mức và mang lại hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp bất động sản cần chú ý đến:

Đưa ra các sản phẩm bất động sản phù hợp

Nhờ các hoạt động marketing các quyết định trong đầu tư, kinh doanh bất động sản có cơ sở vững chắc hơn, doanh nghiệp có điều kiện và thông tin đầy đủ hơn để thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng. Marketing xác định rõ nên đầu tư bất động sản gì, ở phân khúc nào, số lượng bao nhiêu, có đặc điểm như thế nào. Bất động sản là loại hàng hóa có giá trị lớn, để tạo lập đòi hỏi việc huy động rất nhiều nguồn lực của doanh nghiệp, xã hội và cả người dân. Sẽ là một sự lãng phí rất lớn khi doanh nghiệp tốn nhiều tiền của vào việc sản xuất ra các sản phẩm mà người tiêu dùng không muốn trong khi có rất nhiều sản phẩm mà khác họ rất muốn cần được thỏa mãn.

Ổn định giá bất động sản.

Giá bất động sản tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh hiện đang ở mức cao ngất ngưởng, nằm ngoài khả năng của người dân lao động. Lãi suất ngân hàng còn khá cao và có thể thay đổi bất kỳ lúc nào khiến cho khách hàng phải cân nhắc thật kỹ trước quyết định mua nhà. Để có thể lấy lại lòng tin của khách hàng góp phần đẩy nhanh việc tiêu thụ được sản phẩm, các doanh nghiệp cần đưa ra các mức giá thật, tránh tình trạng chạy theo bong bóng bất động sản. Khi thị trường “hot”, các doanh nghiệp đẩy giá bất động sản lên cao còn khi thị trường xuống thì hạ giá bất động sản xuống thậm chí tới 50%gây hoang mang cho người tiêu dùng.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Thay đổi cách thức tiếp cận khách hàng và phân phối để đạt hiệu quả nhất.

Các doanh nghiệp bất động sản cần nhận thức rõ về mục tiêu chiến lược của mình và cách thức đạt tới mục tiêu bằng cách nào. Để đạt được điều này, doanh nghiệp cần phải sử dụng hai hệ thống: Hệ thống lập kế hoạch chiến lược và hệ thống lập kế hoạch marketing. Kế hoạch marketing là một bộ phận của kế hoạch tổng thể của doanh nghiệp bất động sản. Do vậy, để xây dựng một kế hoạch marketing có hiệu quả, trước hết các nhà quản lý phải xây dựng kế hoạch chiến lược cho toàn bộ các nỗ lực chung của doanh nghiệp. Tiếp đến là xây dựng kế hoạch chiến lược cho các lĩnh vực chức năng khác nhau trong doanh nghiệp, trong đó có chức năng marketing.

Xây dựng quy trình marketing dự án phù hợp

Marketing bất động sản có những đặc trưng khác biệt với marketing các loại hàng hóa thông thường. Mỗi doanh nghiệp trong từng phân khúc bất động sản khác nhau đều nên xây dựng cho mình một quy trình marketing phù hợp với thế mạnh và nguồn lực của mình. Quy trình chính là một loạt những quy định, hướng dẫn khá chi tiếp giúp các bộ phận liên quan thực hiện theo một trình tự thống nhất. Một quy trình tốt sẽ giúp xây dựng các tài liệu phục vụ hoạt động marketing một cách hệ thống, giúp ban lãnh đạo kiểm soát được chi tiết việc thực hiện công việc marketing, xây dựng và chuẩn hóa dòng thông tin trong dự án…

Chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực marketing

Đối với Marketing nói chung và marketing bất động sản nói riêng vẫn là một trong những ngành hấp dẫn trong tuyển dụng nhân sự, song nhân lực đã qua đào tạo chuyên ngành bất động sản hiện còn đặc biệt ít (chỉ đáp ứng khoảng 1% nhu cầu về số lượng). Hầu hết những người đang hoạt động trong lĩnh vực này hoặc chưa được đào tạo cơ bản về bất động sản, hoặc có kinh nghiệm marketing nhưng lại không có kiến thức về bất động sản. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực marketing bất động sản, doanh nghiệp cần:

1.5. Các công c hình thành và đề xut gii pháp Marketing Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

1.5.1. Ma trn đánh giá các yếu t bên ngoài EFE 

Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài cho phép các nhà chiến lược tóm tắt và đánh giá các thông tin kinh tế, xã hội, văn hoá, nhân khẩu, địa lý, chính trị, chính phủ, luật pháp, công nghệ và cạnh tranh. Có 5 bước trong việc phát triển một ma trận đánh giá yếu tố bên ngoài:

Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành công như đã nhận diện trong quá trình kiểm tra các yếu tố từ bên ngoài; bao gồm tổng số từ đến 20 yếu tố bao gồm cả những vận hội và mối đe doạ ảnh hưởng đến công ty và ngành kinh doanh của công ty này.

Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng) cho mỗi yếu tố. Sự phân loại này cho thấy tầm quan trọng tương ứng của yếu tố đó đối với sự thành công của ngành kinh doanh của công ty.Các cơ hội thường có mức phân loại cao hơn mối đe doạ.Tuy nhiên, mối đe doạ cũng có thể nhận được mức phân loại cao nếu nó đặc biệt nghiêm trọng hay mang tính đe doạ.Mức phân loại thích hợp có thể được xác định bằng cách so sánh những nhà cạnh tranh thành công với những nhà cạnh tranh không thành công hoặc bằng cách thảo luận về yếu tố này và đạt được sự nhất trí của nhóm. Tổng số các mức phân loại được ấn định cho các nhân tố này phải bằng 1,0.

Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố quyết định sự thành công để cho thấy cách thức mà các chiến lược hiện tại của công ty phản ứng với yếu tố này. Trong đó, 4 là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung bìnhvà 1 là phản ứng ít. Các mức này dựa trên hiệu quả của chiến lược ở công ty. Như vậy, sự phân loại này dựa trên công ty trong khi đó, mức phân loại ở bước 2 dựa theo ngành.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Bước 4: Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với loại của nó để xác định số điểm về tầm quan trọng.

Bước 5: Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi biến số để xác định tổng số điểm quan trọng cho tổ chức.

Bất kể số các cơ hội chủ yếu và mối đe doạ được bao gồm trong ma trận đánh giá các nhân tố bên ngoài, tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một tổ chức có thể có là 4,0 và thấp nhất là 1,0. Tổng số điểm quan trọng trung bình là 2,5. Tổng số điểm quan trọng là 4 cho thấy rằng tổ chức đang phản ứng rất tốt với các cơ hội và mối đe doạ hiện tại trong môi trường của họ.Nói cách khác, các chiến lược của công ty tận dụng có hiệu quả các cơ hội hiện có và tối thiểu hoá các ảnh hưởng tiêu cực có thể có của các mối đe doạ bên ngoài.Tổng số điểm là 1 cho thấy rằng những chiến lược mà công ty đề ra không tận dụng được các cơ hội hoặc tránh được các mối đe doạ bên ngoài.

1.5.1.Ma trận đánh giá các yếu t bên trong IFE

Công cụ hình thành chiến lược này tóm tắt và đánh giá những mặt mạnh và yếu quan trọng của các bộ phận kinh doanh chức năng, và nó cũng cung cấp cơ sở để xác định và đánh giá mối quan hệ giữa các bộ phận này.Để phát triển một ma trận IFE thì nhận xét trực giác là cần thiết.Vì vậy, về mặt hình thức của phương pháp khoa học phải được diễn dịch để cho thấy rằng đây là kỹ thuật hiệu quả nhất. Ma trận IFE có thể được phát triển theo 5 bước:

Bước 1: Liệt kê các yếu tố thành công then chốt. Sử dụng tất cả từ 10 đến 20 yếu tố bên trong, bao gồm cả những điểm mạnh và điểm yếu.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Bước 2: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng) cho mỗi yếu tố. Tầm quan trọng được ấn định cho mỗi yếu tố nhất định cho thấy tầm quan trọng tương đối của yếu tố đó đối với sự thành công của công ty trong ngành. Không kể yếu tố chủ yếu đó là điểm mạnh hay điểm yếu bên trong, các yếu tố được xem là có ảnh hưởng lớn nhất đối với thành quả hoạt động của tổ chức phải được cho là có tầm quan trọng nhất. Tổng cộng của tất cả các mực độ quan trọng này phải bẳng 1,0.

Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố sẽ biểu thị yếu tố đó có đại diện cho điểm yếu lớn nhất (phân loại bằng 1), điểm yếu nhỏ nhất (phân loại bằng 2), điểm mạnh nhỏ nhất (phân loại bằng 3), điểm mạnh lớn nhất (phân loại bằng 4) không. Như vậy, sự phân loại này dựa trên cơ sở công ty trong khi đó, mức độ quan trọng ở bước 2 dựa trên cơ sở ngành.

Bước 4: Nhân mỗi mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với loại của nó để xác định số điểm quan trọng cho mỗi biến số.

Bước 5: Cộng tất cả số điểm quan trọng cho mỗi biến số để xác định số điểm quan trọng tổng cộng của tổ chức.

Không kể ma trận IFE có bao nhiêu yếu tố, số điểm quan trọng có thể được phân loại từ thấp nhất là 1,0 cho đến cao nhất là 4,0 và số điểm trung bình là 2,5. Số điểm quan trọng tổng cộng thấp hơn 2,5 cho thấy công ty yếu về nội bộ, và số điểm cao hơn 2,5 cho thấy công ty mạnh về nội bộ.

1.5.1. Ma trn kết hp SWOT Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

Phương pháp này là phân tích những mặt mạnh (S- Strengths), những mặt yếu(W- Weaknesses), các cơ hội (O- Opportunities) và các nguy cơ (T- Threats), cáchphối hợp các mặt đó để xác định, lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp chodoanh nghiệp.

Thực chất của phân tích SWOT là để soạn thảo chiến lược, cần chú ý đếnnhững dự báo thay đổi của ngoại cảnh và thay đổi bên trong của doanh nghiệp.

Hình 1.4 Ma trận SWO

Kết luận chương 1

Có thể kết luận như sau: để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chúng ta tiến hành sử dụng các giải pháp Marketing – một chức năng đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp.Marketing là một tập hợp các quá trình kinh tế và xã hội điều phối một cách có hiệu quả kết cấu tổ chức và kết cấu dòng phân phối các hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế, từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng xã hội nhằm thực hiện cung cầu và đáp ứng các mục tiêu của toàn bộ chế độ kinh tế xã hội.Marketing trong thế kỷ 21 không còn bó hẹp trong công thức 4P truyền thống nữa mà đã và đang mở rộng ra thêm 3P thành Công thức 7P.Những nỗ lực Marketing sẽ được tiếp thêm nhiều năng lực và đánh bại các đối thủ cạnh tranh với công thức mới này.

Để có các giải pháp Marketing đúng đắn, hiệu quả, chúng ta tiến hành phân tích các yếu tố chiến lược Marketing và các công cụ thực hiện chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của đề tài.

Fred R.David, Khái lun v qun tr chiến lược.Dịch từ tiếng Anh.Người dịch Trương Công Minh, Trần Tuấn Thac, Trần Thị Tương Như, 2006. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống Kê.Luận văn: Hoạt động marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Thực trạng marketing cho Cty Liên doanh Phú Mỹ Hưng

 

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x