Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Theo dòng chảy của lịch sử Việt Nam, các vương triều phong kiến đã tồn tại rất lâu đời, qua hàng ngàn năm. Mỗi triều đại qua đi đều để lại những dấu ấn thật đặc biệt qua từng thời kỳ họ trị vì đất nước. Dù hưng thịnh hay suy vong, đó đều là những yếu tố sự thật, không thể chối cãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm trong mỗi thời đại. Việt Nam tuy chỉ là một đất nước nhỏ bé nhưng ngay từ khi ra đời đã luôn bị đế quốc phương Bắc dòm ngó, cùng với nhiều nỗi lo khác nhau. Thật là đặc biệt ở chỗ, mỗi một triều đại phong kiến của chúng ta, dường như nhà nào cũng gặp phải nạn ngoại xâm. Cũng từ đó, ý chí anh hùng quật cường của nhân dân ta được bộc lộ, đó là lòng yêu nước vô bờ bến của cả quân và dân. Lịch sử đã chỉ rõ, bằng lòng quyết tâm đánh và chiến thắng kẻ thù, được sự tin yêu, ủng hộ trong lòng dân chúng thì triều đại nào cũng đuổi được bè lũ cướp nước. Và điều này lại càng được thể hiện một cách xuất sắc ở thời đại nhà Trần. Bằng chứng xác thực nhất là sự đóng góp lớn lao của các đời vua và những danh tướng trong công cuộc gìn giữ sự thanh bình của quốc gia mà họ luôn sống với tinh thần “sinh vi tướng, tử vi thần” luôn được thế hệ sau tôn thờ.

Trong phả hệ Trần triều, Trần Quốc Tuấn được nhắc đến như một vị tướng oai hùng nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là những câu chuyện thú vị mang đậm chất giáo lí về tư cách đạo đức, làm người quân tử với đất nước, với dân tộc. Đó là tấm gương cho các triều đại về sau này, học hỏi về ông lòng trung quân ái quốc, con người tài năng bậc nhất trên mọi lĩnh vực: quân sự, y học, văn học… Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Ngày nay khi nhắc đến ông, người ta không chỉ nhớ đến một vị tướng tài trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của vương triều Trần mà còn nhận định ngay đến một vị thánh linh thiêng: đức thánh Trần – Hưng Đạo Đại Vương. Ông được coi là Thánh, là Cha trong lòng dân chúng và được thờ ở mọi miền trên khắp Tổ quốc. Các di tích trân trọng thờ ông, dù là điện thờ chính hay chỉ là thờ phối tự nhưng không thể phủ nhận sự hiện diện của ông trong đền, chùa, miếu mạo vô cùng quan trọng với nhân dân mỗi vùng.

Trong dư địa chí của Việt Nam, Hải Phòng là mảnh đất lưu giữ nhiều di tích lịch sử văn hoá có giá trị như: đền Nghè, đền Bà Đế, đình Hàng Kênh, chùa Dư Hàng…Và không thể không kể đến những di tích có thờ Trần Hưng Đạo tại đây. Các di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng vẫn còn lưu giữ được nhiều giá trị lịch sử văn hoá giúp cho thế hệ hôm nay có thể tìm hiểu kĩ hơn về thân thế và sự nghiệp của Ngài. Mỗi di tích ở Hải Phòng thờ đức thánh Trần, tuy đều có điểm chung là thờ vị anh hùng của dân tộc nhưng tại mỗi nơi lại cho người ta nhiều cảm giác khác nhau, đều để lại những ấn tượng sâu sắc.

Cũng như các di tích khác, hệ thống di tích lịch sử văn hóa thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng đã trở thành gạch nối giữa quá khứ và hiện tại có ý nghĩa to lớn trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư. Đó là những di tích thực sự có giá trị về lịch sử văn hoá, kiến trúc, mĩ thuật…Thế nhưng, tính cho đến thời điểm này, một số các di tích trong đó không nhận được sự quan tâm cần thiết đối với giá trị của mình. Hơn nữa, những di tích đó đã từng được đánh giá rất có hữu ích trong việc phát triển du lịch văn hoá của thành phố này tồn tại một vấn đề lớn là chưa được khai thác thực sự hiệu quả cho hoạt động du lịch. Bởi vậy, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng” với mục đích nhằm phát huy các giá trị của các di tích này phục vụ cho mục đích hoạt động du lịch và cũng chính bởi vì lòng tôn kính đối với Hưng Đạo Vương cùng những chiến công oanh liệt của Ngài.

Trong quá trình tìm hiểu và viết khoá luận, là một sinh viên, với vốn hiểu biết còn rất nhiều hạn chế nên trong nội dung bài viết còn có nhiều điểm thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý sửa chữa, chỉ bảo của các thầy cô và các bạn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. Mục đích nghiên cứu

Với đề tài: “Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng”, khoá luận nhằm mục đích:

  • Phác hoạ khái quát các di tích về lịch sử, kiến trúc, hiện vật, lễ hội…
  • Chỉ ra các giá trị lịch sử – văn hoá của các di tích đó.
  • Thực trạng khai thác về khía cạnh du lịch. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.
  • Đề xuất một số kiến nghị với chính quyền địa phương, và ngành du lịch cùng các ngành có liên quan ở Hải Phòng về việc khai thác giá trị lịch sử văn hoá tại các điểm di tích thờ Trần Hưng Đạo phục vụ cho phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

  • Tập trung nghiên cứu những lí luận có liên quan đến đề tài
  • Nghiên cứu các yếu tố về giá trị kiến trúc, văn hoá lịch sử, lễ hội truyền thống tại các di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu thờ Trần Hưng Đạo ở thành phố Hải Phòng.
  • Hoạt động du lịch tại Hải Phòng nói chung và các di tích thờ Trần Hưng Đạo tại đây nói riêng.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trong phạm vi một số các di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng như di tích lịch sử văn hoá chùa Vẽ, đền Phú Xá (Đông Hải, Hải An), đền Tràng Kênh (Minh Đức, Thuỷ Nguyên) và đền Thụ Khê, chùa Thiểm Khê, chùa Mai Động thuộc cụm di tích Liên Khê.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài này thuộc lĩnh vực nghiên cứu Khoa học xã hội và nhân văn cho nên được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Đây là phương pháp chủ yếu để thực hiện khoá luận này, bao gồm tổng hợp nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Trong quá trình tiến hành, tác giả đã thu thập các thông tin qua sách báo, các nguồn tin trên mạng internet, các công trình nghiên cứu khác về hoạt động du lịch tại các khu di tích thờ Trần Hưng Đạo tại Hải Phòng làm cơ sở phân tích, đánh giá trong khoá luận.

4.2 Phương pháp xã hội học Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Để những nghiên cứu có tính khách quan, tác giả đã thực hiện những phỏng vấn ngắn đối với người dân quanh các khu di tích được giới thiệu trong bài, cũng như những người có nhiệm vụ trông coi, quản lí tại điểm đó và một số những người có công việc thường xuyên tại các di tích những ngày có hội.

4.3 Phương pháp khảo sát thực địa

Tác giả đã tiếp cận trực tiếp với đối tượng nghiên cứu bằng cách thực hiện công việc quan sát tại điểm di tích, cùng với đó là thành lập những bảng hỏi khái quát dành cho một số những khách du lịch ngẫu nhiên khi họ đến tham quan di tích. Đây là phương pháp quan trọng để tiến hành nghiên cứu nhằm góp phần cho kết qủa của bài luận mang tính xác thực.

4.4 Phương pháp phân tích tổng hợp

Từ những tài liệu đã thu thập được, kết hợp với kết quả khảo sát thực địa và từ các thông tin của những người được phỏng vấn, tác giả tiến hành xử lí theo từng bước nhỏ, phân tích và đưa ra kết luận.

5. Bố cục

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội Dung của khoá luận được chia làm ba chương:

  • Chương 1: Một số vấn đề lí luận chung.
  • Chương 2: Giá trị văn hoá của một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.
  • Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn các giá trị văn hoá, phát triển du lịch tại một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG

1.1 Khái niệm du lịch Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hoá – xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng ở nhiều nước trên thế giới. Không giới hạn là những cuộc dã ngoại phạm vi nhỏ, các chuyến du lịch quốc tế mở ra rất nhiều sự mới mẻ thoả mãn con người không dừng lại chỉ ở nghỉ ngơi, giải trí, mà đó còn là đáp ứng nhu cầu to lớn về mặt tinh thần, cung cấp nguồn kiến thức vô hạn và các mối quan hệ giữa các dân tộc được mở rộng, làm nền tảng cơ sở vững chắc cho nền hoà bình thế giới.

Thuật ngữ “du lịch” trong ngôn ngữ nhiều nước, bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp với ý nghĩa là “đi một vòng”. Thuật ngữ này được Latinh hoá thành “tornes” và sau đó thành “tourisme” (tiếng Pháp), “tourism” (tiếng Anh)…v.v. Theo Robert Lanquar, từ “tourist” lần đầu tiên được xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1980.

Trong tiếng Việt, thuật ngữ Tourism được thông dịch qua tiếng Hán. Du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải. Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi Tourism là du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế – xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong vòng hơn 6 thập kỉ qua, kể từ khi thành lập Hiệp hội Quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO (International of Union Official Travel Organization) năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch luôn được tranh luận.

Do hoàn cảnh (thời gian và khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu khác nhau. Đúng như một chuyên gia về du lịch đã nhận định: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.

Cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó nên Hunziker và Kraff định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”.

Dưới con mắt của các nhà kinh tế, văn hoá học, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế, tuy nhiên mỗi học giả lại có những nhận định khác nhau:

Với cố gắng chỉ ra một khía cạnh kinh tế của du lịch, Picara Edmod đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai đến với túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp (trước hết trong khách sạn) và gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thảo mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí”. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Azar nhận thấy “du lịch là một hình thức di chuyển tạm thời từ vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang một nước khác, nếu không gắn với sự thay đổi lưu trú hay nơi làm việc”.

Theo Kaspar “du lịch là toàn bộ những quan hệ và hiện tượng xảy ra trong quá trình di chuyển và lưu trú của con người tại nơi không phải là nơi thường xuyên làm việc của họ”.

Trong quá trình hoạt động du lịch, thực tế chỉ ra rằng ngoài tiếp cận môi trường, phải có tiếp cận cộng đồng mới đảm bảo cho một sự phát triển lâu dài. Các tác giả Hoa Kỳ Rober W .McIntosh, Charles R .Goeldner, J. R Brent Ritchie phát biểu về du lịch như là: “Tổng hoà các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tác động qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủ nhà trong qúa trình thu hút đón tiếp khách du lịch”.

Trong cuốn “Du lịch và kinh doanh du lịch” của Trần Nhạn có viết: “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền”.

Theo luật du lịch Việt Nam (2005) giải thích: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. (Điều 4)

Như vậy, qua các định nghĩa trên có thể hình dung được sự biến đổi trong nhận thức về nội dung thuật ngữ du lịch. Khái niệm du lịch là khái niệm bao hàm nội dung kép, một mặt nó mang ý nghĩa thông thường của từ, việc đi lại liên quan đến mục đích nghỉ ngơi giải trí; mặt khác du lịch là một liên ngành liên quan đến nhiều thành phần quan trọng (khách du lịch, phương tiện giao thông, địa bàn đón khách…)

1.2 Khái niệm văn hoá

Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo có từ thuở bình minh bắt đầu xã hội loài người.

  • Ở phương Đông văn hoá theo tiếng Trung Quốc là “Văn trị, giáo hoá” tức là cách cai trị mang hình thức đẹp đẽ kết hợp với giáo hoá, bản thân từ văn là biểu thị ra bên ngoài, là vẻ đẹp do màu sắc tạo ra, nó biểu hiện thành một hệ thống các quy tắc ứng xử được xem là đẹp đẽ. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.
  • Ở phương Tây văn hoá theo phiên âm La-tinh bắt nguồn từ hai nghĩa:
  • Cultus: trồng trọt ở ngoài đồng
  • Cultusanimi: trồng trọt tinh thần, nghĩa là giáo dục con người

Con người chỉ có thể có văn hoá thông qua giáo dục dù vô thức hay có ý thức, con người không thể tự nhiên có văn hoá như tự nhiên, bản thân con người có cơ thể còn có nghĩa là giáo dục bồi dưỡng con người, tinh thần con người để có những phẩm chất tốt đẹp.

Tuy vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm Văn hoá không đơn giản và thay đổi theo thời gian. Thuật ngữ Văn hoá với nghĩa “canh tác tinh thần” được sử dụng vào thế kỷ thứ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc quản lí canh tác nông nghiệp.

Vào thế kỷ thứ XIX, thuật ngữ “Văn hoá” được những nhà nhân loại học phương tây sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng văn hoá có thể phân ra từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất và văn hoá của họ chiếm vị trí cao nhất. Bởi vì họ cho rằng bản chất của văn hoá hướng về trí lực và sự vươn lên, sự phát triển dựa vào văn minh, EB.Taylo là đại diện của họ. Theo ông “Văn hoá là toàn bộ những phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”.

Ở thế kỷ XX, khái niệm văn hoá thay đổi theo F.Boa, ý nghĩa văn hoá được quy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu cao siêu như “trí lực”, vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũng không phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận của văn hoá”. Văn hoá không xét ở mức độ thấp cao mà ở góc độ khác biệt.

A.L.Kroeber và C.L.Kluckhohn quan niệm: “Văn hoá là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, và nó là thành quả độc đáo của nhân loại khác với loại hình khác, trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra”.

Văn hoá không phải là cụ thể một cái gì cả, không phải là phong tục tập quán hay tôn giáo tín ngưỡng. Văn hoá cũng không phải là các kĩ thuật sản xuất, văn hoá cũng không phải là các hoạt động chính trị, xã hội. Văn hoá cũng không phải những vật chất thường có như ăn uống, quần áo, nhà cửa mà văn hoá chính là dấu ấn của một cộng đồng lên mọi hiện tượng tinh thần vật chất của cộng đồng đó. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và cá nhân phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”.

Theo PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ có giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”. Định nghĩa này đã nêu bật bốn đặc trưng quan trọng của văn hoá: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh.

Văn hoá là một quá trình hoạt động của con người tự do, biến đổi thế giới tự nhiên thành thế giới tự nhiên thứ hai có cấu trúc cao hơn và có dấu ấn người (có tính người). Trong qúa trình đó con người hình thành cái thiên nhiên bên trong của chính mình (cảnh quan nội tại của chính mình), đồng thời thể hiện thái độ (ứng xử) với thiên nhiên thứ nhất lẫn thiên nhiên thứ hai và ứng xử đối với chính mình.

1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá

1.3.1  Vai trò của du lịch đối với văn hoá

Du lịch là tác nhân quan trọng để thúc đẩy văn hoá phát triển, giao lưu hội nhập giữa các nền văn minh của nhân loại. Việc khai thác các giá trị văn hoá cho việc phát triển du lịch còn có ý nghĩa quan trọng là giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hoá.

a/ Tác động tích cực

Một trong những chức năng của du lịch là giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng dân cư. Khi đi du lịch, du khách luôn muốn được thâm nhập vào các hoạt động văn hoá của địa phương, tạo ra quá trình giao lưu tiếp xúc giữa các cá thể, các địa phương, các cộng đồng. Quá trình giao tiếp này là môi trường để các ảnh hưởng tích cực thâm nhập vào xã hội, cộng đồng một cách nhanh chóng, nhờ sự thâm nhập này mà các nền văn hoá có điều kiện để tiếp xúc với những cái mới, tạo nên một nền văn hoá đa dạng giàu bản sắc. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Đi du lịch, con người có điều kiện để tiếp xúc với nhau nhiều hơn giữa mối quan hệ gần gũi và cả những mối quan hệ mới lạ. Những đức tính tốt trong mỗi người như chân thành, hay giúp đỡ người khác mới có dịp được thể hiện rõ nét. Du lịch là điều kiện để mọi người xích lại gần nhau hơn. Nhờ đó có thể nói qua du lịch con người hiểu nhau hơn, tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng.

Những chuyến du lịch, tham quan tại các di tích lịch sử, các công trình văn hoá có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Khi tiếp xúc trực tiếp các thành tựu văn hoá của dân tộc, được sự giải thích cặn kẽ của các hướng dẫn viên, du khách sẽ cảm nhận được giá trị to lớn của các di tích mà ngày thường họ không để ý tới, góp phần làm tăng thêm giá trị của mỗi công trình.

Một trong những ý nghĩa của du lịch là góp phần cho việc phục hồi và phát triển truyền thống văn hoá của dân tộc. Nhu cầu về nâng cao nhận thức văn hoá trong chuyến đi của du khách thúc đẩy các nhà cung ứng chú ý, yểm trợ cho việc khôi phục phát triển các di tích, lễ hội, sản phẩm làng nghề.

Du lịch góp phần quảng bá giới thiệu hình ảnh, giá trị truyền thống của văn hoá của một đất nước ra thế giới bên ngoài, là sợi dây vô hình gắn kết các giá trị của các nền văn hoá với nhau.

Cũng chính nhờ du lịch, cuộc sống cộng đồng trở nên sôi động hơn, các nền văn hoá có điều kiện hoà nhập với nhau, làm cho đời sống tinh thần của con người trở nên phong phú hơn.

b/ Tác động tiêu cực

Bản chất của hoạt động du lịch là giao lưu tiếp xúc giữa các cá thể, giữa các cộng đồng có thế giới quan không phải luôn luôn đồng nhất. Quá trình giao tiếp này cũng là môi trường để các ảnh hưởng tiêu cực thâm nhập vào xã hội một cách nhanh chóng: nạn mại dâm, nghiện hút, cờ bạc…

Khi đi du lịch, du khách luôn muốn được thâm nhập và các hoạt động văn hoá của địa phương. Song nhiều khi sự thâm nhập với mục đích chính đáng bị lạm dụng và sự thâm nhập biến thành sự xâm hại.

Để thoả mãn nhu cầu của du khách, vì lợi ích kinh tế to lớn trước mắt nên các hoạt động văn hoá truyền thống được trình diễn một cách thiếu tự nhiên hoặc chuyên nghiệp hoặc mang ra làm trò cười cho du khách. Nhiều trường hợp do thiếu hiểu biết về nguồn gốc, ý nghĩa của các hành vi lễ hội, người ta giải thích một cách sai lệch hoặc thậm chí là bậy bạ. Giá trị truyền thống dần dần bị lu mờ do sự lạm dụng văn hoá vì mục đích kinh tế. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Do chạy theo số lượng, không ít mặt hàng truyền thống được chế tác lại để làm hàng lưu niệm cho du khách, sản xuất cẩu thả đã làm méo mó giá trị chân thực của truyền thống, làm sai lệch hình ảnh của một nền văn hoá bản địa.

Một trong những xu hướng thường thấy ở các nước nghèo đón khách ở các quốc gia giàu có, là người dân bản xứ, đặc biệt là giới trẻ ngày càng có biểu hiện chối bỏ truyền thống và thay đổi cách sống theo mốt du khách. Do có cách nhận thức khác nhau về đạo đức, một số du khách không thấy những hành động, cử chỉ, cách ăn mặc…của mình là không phù hợp với văn hoá truyền thống của cư dân nơi đến du lịch.

Sự có mặt quá nhiều của các du khách tại địa phương đã ảnh hưởng đến tâm lý người dân địa phương, làm cho không ít người khó chịu bởi những hành vi và cách biểu hiện tình cảm khác lạ của các du khách.

Khai thác quá mức các giá trị văn hoá đang là nguyên nhân làm cho các di tích bị xuống cấp trầm trọng và có nguy cơ bị biến mất khỏi nền văn hoá xã hội hiện đại.

Hoạt động du lịch với những đặc thù riêng của nó dễ làm biến dạng các lễ hội truyền thống. Dù lễ hội truyền thống có tính cởi mở thì nó vẫn có những hạn chế nhất định về điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội cổ truyền, vốn chỉ phù hợp với một khuôn mẫu và không gian bản địa. Trong khi đó, hoạt động du lịch mang tính liên nghành, liên vùng, xã hội hoá cao sẽ dễ làm mất sự cân bằng, dẫn tới sự phá vỡ các khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong quá trình diễn ra lễ hội.

Hiện tượng thương mại hoá, các hoạt động lừa đảo, gây tâm lý lo lắng cho du khách, làm giảm lượng khách đến lễ hội lần sau. Du khách đến lễ hội đông kéo theo nhiều nhu cầu khác nhau, tạo ra sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu, dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái tự nhiên và môi trường sinh thái nhân văn. Bản sắc vùng miền có nguy cơ bị mờ do kết quả của sự giao thoa văn hoá thiếu lành mạnh, không thể tránh khỏi đem đến từ phía một bộ phận du khách.

Những tác động tiêu cực trên nằm trong những biến động không ngừng. Vì tương lai phát triển du lịch bền vững, vì các giá trị văn hoá truyền thống của nhân loại, ngành du lịch nói chung, người làm du lịch nói riêng phải tự đặt cho mình trách nhiệm góp phần thúc đẩy những mối quan hệ, tình cảm tốt đẹp, những hành vi ứng xử với môi trường văn hoá thân thiện hơn, khai thác các giá trị văn hoá phải luôn gắn với trùng tu, tôn tạo.

1.3.2  Vai trò của văn hoá đối với sự phát triển du lịch Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Các đối tượng văn hoá được coi là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn. Nếu như tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn du khách bởi sự hoang sơ, độc đáo và hiếm hoi của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn thu hút khách bởi tính phong phú, đa dạng, độc đáo và tính truyền thống cũng như tính địa phương của nó. Các đối tượng văn hoá – tài nguyên du lịch nhân văn, là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hoá phong phú. Mặt khác, nhận thức văn hoá còn là yếu tố thúc đẩy động cơ du lịch của du khách. Như vậy xét dưới góc độ thị trường vừa là yếu tố cung vùa góp phần hình thành yếu tố cầu của hệ thống du lịch.

Tài nguyên du lịch nói chung, tài nguyên du lịch nhân văn nói riêng luôn được xem là tiền đề phát triển du lịch, thực tế cho thấy tài nguyên du lịch nhân văn càng phong phú càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động càng cao.

Văn hoá là nguồn lực nhân văn quan trọng, có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của du lịch và là nguồn nội sinh để du lịch phát triển phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại đồng thời tạo ra những sản phẩm du lịch có tính đặc thù, cụ thể là:

Văn hoá là động cơ, là mục đích của chuyến đi, là mục tiêu khám phá của con người. Đặc biệt trong xu thế hội nhập hiện nay, nhu cầu du lịch của con người ngày một tăng cao, họ muốn tìm hiểu khám phá những nền văn minh của nhân loại, khám phá những nét văn hoá mới thì vai trò của văn hoá ngày nay càng được thể hiện đậm nét.

Môi trường thiên nhiên, môi trường văn hoá và nhân văn có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển du lịch, yếu tố cơ bản để tạo nên sự phong phú về loại hình và sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch bao giờ cũng là sự tập hợp của nhiều yếu tố, trong đó văn hoá đóng vai trò hết sức quan trọng bởi nó làm thoả mãn được nhu cầu tìm hiểu của du khách.

Có thể nói văn hoá dân tộc là tài sản vô giá, cốt lõi của một dân tộc, là cơ sở để tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hoá. Đối với sản phẩm du lịch, văn hoá tuy không phải là thành tố duy nhất song việc sử dụng bản sắc vắn hoá vào trong từng sản phẩm du lịch đã phần nào tạo nên cốt cách văn hoá riêng hoàn toàn không thể pha trộn được.

Tài nguyên du lịch nhân văn là yếu tố cơ bản để hình thành các sản phẩm du lịch, sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch nhân văn đã tạo nên sự đa dạng và phong phú của sản phẩm du lịch. Các sản phẩm văn hoá như tranh vẽ, điêu khắc, tượng nặn…tạo nên một động lực thúc đẩy quan trọng của du lịch: tranh Đông Hồ, tranh lụa là sản phẩm du khách rất ưa thích

Tài nguyên du lịch càng độc đáo, đặc sắc thì giá trị sản phẩm du lịch và độ thu hút khách đến càng cao. Để làm vui lòng khách, người ta làm để bán hoặc tặng làm kỉ niệm các đồ vật có ấn tượng, hình ảnh gợi nhớ nơi đến du lịch, tại các làng nghề truyền thống thì các đồ vật, sản phẩm du lịch lại càng có ý nghĩa nhiều hơn. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Trình diễn dân ca và các loại hình văn hoá nghệ thuật truyền thống cũng như hiện đại cũng là một biểu hiện của văn hoá. Thực tế ở một số nước âm nhạc là nguồn chủ yếu để mua vui và làm hài lòng du khách trong các cơ sở lưu trú. Đặc biệt, các khách sạn, nhà nghỉ tại nơi nghỉ mát cũng có thể mang lại cơ hội cho khách thưởng thức âm nhạc một cách tốt nhất. Các chương trình giải trí buổi tối như hoà nhạc, ghi âm và hệ thống tái bản âm thanh đều tăng thêm khía cạnh nghệ thuật đang tồn tại của quốc gia đó. Hoà nhạc, diễu hành và các lễ hội được du khách rất hoan nghênh. Các băng hình, đĩa nhạc mà khách có thể mua là phương tiện rất hiệu qủa nhằm duy trì, gìn giữ nền văn hoá của một địa phương.

Chất lượng tài nguyên du lịch nhân văn là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả hoạt động du lịch. Trình diễn dân ca và các loại hình nghệ thuật truyền thống cũng như hiện đại là một biểu hiện của văn hoá tạo nên sức hút lôi cuốn, sôi động, và mạnh mẽ của một nền văn hoá đối với du khách. Các hình thức và chương trình tiến hành đầy màu sắc, trang phục cổ truyền dân tộc, âm nhạc, điệu nhảy và trình độ nghệ thuật đã tăng thêm sức hấp dẫn với du khách, làm tăng thêm giá trị của tài nguyên du lịch.

Nền nông nghiệp của một khu vực cũng là mối quan tâm của du khách. Mô hình du lịch nông thôn làm cho du khách hoà mình vào cuộc sống của người nông dân vừa giúp cho du khách hiểu thêm về bản chất một nền văn hoá, vừa giúp những người nông dân mở mang nhận thức một cách trực tiếp. Những hệ thống nông nghiệp điển hình là những điểm hấp dẫn đối với những người dân muốn đi thăm một khu nông nghiệp đặc trưng. Việc học hỏi kinh nghiệm canh tác trong chuyến đi có thể làm thay đổi tác phong, thái độ trong cư xử lao động. Điều này cũng có thể được coi là một ảnh hưởng tích cực của du lịch đến văn hoá nói chung.

Những hoạt động các trường đại học, trung học, tiểu học cũng như các trường tư và hình thức tổ chức đào tạo, hướng nghiệp…là những đặc trưng của nền văn hoá khu vực đó và có thể sử dụng ở mức đáng kể như những trung tâm thu hút du khách.

Các trung tâm đào tạo đại học thường tạo ra những cơ hội thu hút các học viên từ những vùng khác nhau trong nước đó hay từ những nước khác trên thế giới. Điều này khuyến khích việc đi lại. Các hội nghị kinh doanh quốc tế của tập đoàn công nghiệp cũng như các tổ chức giáo dục đào tạo và khoa học thường được tổ chức ở các trường đại học hoặc các viện giáo dục đào tạo khác. Nhiều hội thảo quốc gia và quốc tế được các trường đại học hoặc các viện nghiên cứu khởi xướng và tổ chức thu hút hàng ngàn người tham gia và có tiếng vang rất lớn. Hội thảo Việt Nam học tổ chức tháng 07 năm 1998 là một ví dụ điển hình.

Các nguồn tài nguyên đều rất quan trọng với việc phát triển du lịch vì thế cần cụ thể hoá các mục tiêu, chiến lược bằng việc đầu tư xây dựng, tôn tạo, các tài nguyên du lịch đặc sắc của các địa phương, nghiên cứu ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của xã hội.

Để vừa khai thác các giá trị văn hoá phục vụ cho phát triển du lịch vừa bảo tồn và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống, đòi hỏi các cấp chính quyền có phương hướng chiến lược đúng đắn, các nhà làm du lịch phải hiểu và tôn trọng những giá trị đích thực của tài nguyên để phát triển du lịch một cách bền vững.

1.4 Tài nguyên du lịch Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

1.4.1  Quan niệm về tài nguyên du lịch

Theo Điều 4 – Luật Du lịch Việt Nam: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử – văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.

Du lịch là một trong những ngành kinh tế có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch các loại với chất lượng cao, có sức hấp dẫn khách du lịch lớn và mức độ kết hợp các loại tài nguyên phong phú thì sức hút khách du lịch càng mạnh.

Tài nguyên có sự ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hoá các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch. Đồng thời tài nguyên du lịch cũng chịu sự chi phối gián tiếp của các nhân tố kinh tế – xã hội: phương thức sản xuất và tính chất của quan hệ sản xuất, trình độ phát triển kinh tế – xã hội và cơ cấu, khối lượng nhu cầu du lịch.

Về thực chất, tài nguyên du lịch là tổng thể các yếu tố tự nhiên, văn hoá – lịch sử đã bị biến đổi ở nhiều mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch.

Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, bởi vì những thay đổi cơ cấu và lượng nhu cầu đã lôi cuốn vào hoạt động du lịch những thành phần mới mang tính chất tự nhiên cũng như tính chất văn hoá – lịch sử. Khái niệm “Tài nguyên du lịch” là một phạm trù động, vì nó thay đổi tuỳ thuộc vào sự tiến bộ của kỹ thuật, sự cần thiết về kinh tế, tính hợp lý và mức độ nghiên cứu. Khi đánh giá tài nguyên xác định hướng khai thác các tài nguyên du lịch cần tính đến những đổi thay trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh tế, kĩ thuật khai thác các loại tài nguyên du lịch mới.

1.4.2  Phân loại tài nguyên du lịch Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Tài nguyên du lịch vốn rất phong phú và đa dạng, song vẫn có thể phân chia thành hai loại đó là: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

1.4.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Thiên nhiên là môi trường sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất. Thiên nhiên bao quanh gồm các yếu tố và các thành phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên và các quá trình biến đổi của chúng, tạo nên các điều kiện tự nhiên thường xuyên tác động đến sự sống và hoạt động của con người.

Chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch tự nhiên. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như các điều kiện lịch sử – văn hoá, kinh tế – xã hội và chúng thường được khai thác đồng thời với các tài nguyên du lịch nhân văn.

Khi tìm hiểu, nghiên cứu về tài nguyên du lịch tự nhiên, người ta thường nghiên cứu từng thành phần của tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên và các hiện tượng đặc sắc của tự nhiên.

Trong số các thành phần của tự nhiên, có một số thành phần chính có tác động trực tiếp và thường xuyên đối với các hoạt động du lịch và trong số các thành phần này cũng chỉ có một yếu tố nhất định được khai thác như nguồn tài nguyên du lịch. Các thành phần tự nhiên tạo nên tài nguyên du lịch tự nhiên thường là địa hình, khí hậu, thuỷ văn và sinh vật.

1.4.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đều được coi là những sản phẩm văn hoá.

Như vậy, tài nguyên du lịch nhân văn cũng được hiểu là những tài nguyên văn hoá. Tuy nhiên, không phải sản phẩm văn hoá nào cũng đều là những tài nguyên du lịch nhân văn, chỉ những sản phẩm văn hoá nào có giá trị phục vụ du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Tài nguyên du lịch nhân văn được phân chia làm hai loại là:

a/ Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

Là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác.

b/ Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học bao gồm: di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, là gương mặt lịch sử, là nhân chứng của các thời đại.

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể ở nước ta phong phú, đa dạng, đặc sắc, mang các giá trị lịch sử văn hoá, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của đất nước, gồm: di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử, các công trình đương đại. Trong đó, các di tích kiến trúc nghệ thuật như chùa, đình, đền, nhà thờ, miếu, nhà cổ, lăng tẩm, cung điện chiếm số lượng lớn, lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật văn hoá có giá trị, là những điểm tham quan, nghiên cứu hấp dẫn du khách.

Trong phạm vi đề tài của mình, tác giả xin trình bày một số điểm nổi bật trong các thành phần và yếu tố của tài nguyên du lịch nhân văn, có liên quan trực tiếp đến đề tài. Bao gồm:

  • Các di tích lịch sử – văn hoá Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Các di tích lịch sử – văn hoá được coi là một trong những nguồn tài nguyên du lịch quan trọng, là nguồn lực để phát triển và mở rộng hoạt động du lịch. Nó là tài sản văn hoá quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hoá của mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật ở mỗi quốc gia.

Di tích lịch sử – văn hoá có khả năng rất lớn, góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi đất nước.

Giá trị đặc biệt của di tích được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, mỗi khía cạnh là những mảng màu giúp cho du khách “sắp xếp, lắp ghép” để tạo ra khối tổng hoà chung trong một không gian du lịch địa phương, vùng, lãnh thổ và cao hơn là quốc gia và quốc tế. Mỗi di tích đều mang tính độc lập về các giá trị (hiện chỉ khai thác điểm) nhưng nó lại có sức kết nối kì lạ khi được lắp ghép vào các tour du lịch chuyên đề.

Theo luật di sản văn hoá: “Di tích lịch sử – văn hoá là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại”. Sự tồn tại của các di tích lịch sử văn hoá là hết sức quan trọng, bởi nó trở thành cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Giá trị của nó là nền tảng vững chắc giúp cho các thế hệ sau vững bước trên con đường hội nhập. Di tích càng có niên đại cao càng có giá trị về lịch sử văn hoá.

Di tích lịch sử văn hoá chứa đựng nhiều nội dung lịch sử khác nhau. Mỗi di tích có một nội dung, giá trị văn hoá, lượng thông tin riêng biệt khác nhau. Cần phải phân biệt các loại di tích khác nhau để xác định tên gọi đúng với nội dung của nó và khai thác, sử dụng và bảo vệ di tích một cách có hiệu quả.

Việc xếp hạng di tích là tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động bảo vệ, khai thác, sử dụng di tích, tạo quyền bất khả xâm phạm cho các di tích. Trên cơ sở đó có kế hoạch đầu tư, phát huy cao độ những giá trị tốt đẹp trong xã hội hiện đại.

  • Tiêu chuẩn xếp hạng các di tích lịch sử – văn hoá ở Việt Nam

Là những động sản và bất động sản có giá trị lịch sử – văn hoá, khoa học, nghệ thuật, những công trình mang tính chất sáng tạo trên nhiều lĩnh vực của xã hội từ văn hoá vật chất đến văn hoá tinh thần.

Các di tích được xếp hạng phải là chứng tích cho một nền văn minh riêng biệt. Phải là những công trình vật dụng có giá trị xuất sắc mang tính chất tiêu biểu hoặc là đỉnh cao của từng mặt sinh hoạt xã hội của một thời đại.

Những di tích có liên quan đến những sự kiện lịch sử và quá trình phát triển văn hoá – xã hội. Là chứng tích những mốc lịch sử, chiến công hiển hách, những thành tích lớn có tác dụng thúc đẩy lịch sử, chuyển biến một giai đoạn lịch sử, cách mạng hay sự chuyển biến lớn hình thái xã hội.

Các danh lam thắng cảnh phải có giá trị nổi tiếng Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Một số loại di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu:

  • Đình

Đình là ngôi nhà chung của cộng đồng làng xã Việt Nam, khi nói đến làng người Việt là nói tới cây đa, giếng nước, sân đình. Đình có từ lâu, lúc đầu như các quán, miếu qua đường, tới thế kỷ thứ XVI, đình phát triển nhiều. Thế kỷ XVII là sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc đình. Những đình nổi tiếng được xây dựng trong thời kì này là đình Lỗ Hạnh (1576), đình Tây Đằng (thế kỷ XVI), đình Bảng (1736)… v.v. Nơi dựng đình thường ở giữa làng, trên một khu đất cao, thế đất hẹp, có long mạch.

  • Một số kiểu kiến trúc phổ biến của đình:

Kiểu kiến trúc chữ “Nhất” là kết cấu một toà đình có 5 gian hoặc 7 gian và 2 chái. Kết cấu này thường thấy ở các ngôi đình thời Mạc. Đến thế kỷ XVII, người ta đưa Thành Hoàng vào thờ ở các đình thì xuất hiện các tục hậu Thần, kết cấu chữ “Nhất” bị phá vỡ và phát triển thành các kiểu kiến trúc như sau:

  • Cấu trúc chữ “Nhị” gồm phần đại đình cộng với phần hậu cung.
  • Cấu trúc chữ “Đinh” hay còn gọi là hình chuôi vồ, bao gồm phần đại đình và phần hậu cung.
  • Cấu trúc chữ “Công” gồm phần đại đình, hậu cung và toà ống muống nối giữa hai phần này.

Sân đình cách mặt đất 0,6m – 0,8m; thường có thứ bậc (Tiền tế, phương đình) để quy định thứ bậc ngồi trong đình.

Kiến trúc của đình thể hiện giá trị nghệ thuật điêu khắc cao hơn hẳn so với các loại hình kiến trúc khác, là nguồn liệu để nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam, đời sống hàng ngày cũng như tâm hồn của người nông dân Việt Nam.

Điêu khắc ở đình làng qua mỗi thời kỳ, mỗi triều đại Lê – Trịnh – Nguyễn đều có một kiểu kiến trúc gắn với điêu khắc khác nhau. Nét khác biệt chủ yếu là thể hiện trong các môtíp trang trí, rõ nhất là hình con rồng và vị trí các hoạt cảnh dân gian.

Từ lâu, ngôi đình làng đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt. Giá trị của ngôi đình làng không những được người dân Việt Nam ngợi ca và tự hào mà ngay cả người nước ngoài cũng đánh giá rất cao loại hình kiến trúc dân gian này. Có thể nói, đình làng Việt là một công trình kiến trúc cổ tiêu biểu, một đặc trưng nổi bật của văn hoá làng xã, ngôi nhà công cộng của làng xã với ba chức năng cơ bản: hành chính, tôn giáo và văn hoá. Về chức năng hành chính, đình làng chính là trụ sở hành chính của làng thời kỳ quân chủ, là nơi giải quyết các công việc của làng như thu thuế, phạt vạ, xử kiện. Về chức năng tôn giáo, đình là nơi thờ thần của làng, được gọi chung là Thành Hoàng. Về chức năng văn hoá, đình là nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt văn hoá của cả làng mà đỉnh cao là lễ hội. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Ngôi đình là kết tinh của tinh thần cộng đồng làng xã (thể hiện ở quan niệm hướng đình, các thành viên cùng tham gia tổ chức và thưởng thức hội…). Đình phản ánh khát vọng của người nông dân thoát khỏi ràng buộc của Nhà nước phong kiến (thể hiện ở điêu khắc dân gian như các hoạ tiết người cưỡi rồng, trai gái ôm nhau tình tự…)

  • Đền, miếu, nghè, am, quán

Các tên gọi này thường không có sự nhất quán giữa các làng song nhìn chung đây là nơi thần linh, thành hoàng trú ngụ vì nhiều lí do khác nhau như: là nơi sinh, nơi hoá thân của thần, nơi thần dừng chân, nơi đóng doanh trại của thần, nơi bày chiến trận của thần…

Đền thờ thánh hoặc những nhân vật lịch sử đã được thần thánh hoá. Đền có nhiều dạng. Loại hình to lớn cả về mặt bằng lẫn ý nghĩa, có thể kể đến Đền Hùng, đền Gióng, đền Vua Đinh Vua Lê, đền Lý Bát Đế, đền Kiếp Bạc, rồi các đền thờ thần dân dã, cũng có khi đền gắn với việc thờ các thần linh hoặc những nhân vật của địa phương được thiêng hoá. Đền có lịch sử phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, đây là một loại di tích lịch sử – văn hoá có lịch sử phát triển lâu đời nhất ở nước ta.

Đền có các mảng điêu khắc, các nhang án, đồ tế tự, tượng, hoành phi thường được sơn son thếp vàng có gía trị thẩm mĩ và nghệ thuật, các công trình kiến trúc thường gắn liền với các truyền thuyết, các lễ hội để tôn vinh các thần điện hoặc danh nhân, các anh hùng dân tộc. Đền trong làng Việt còn là nơi thờ Mẫu gắn với tục thờ nữ thần, hệ trọng trong quan niệm của dân làng.

Miếu thường là các ngôi đền nhỏ như miếu Thổ Địa, miếu cô, miếu cậu… Trong một số trường hợp cụ thể có thể thấy, miếu là một kiến trúc khá lớn. Đôi khi chiếm một diện tích mặt bằng rất đáng kể, ví như Văn Miếu, Võ Miếu (Miếu hiệu có ở đất Việt từ thế kỷ thứ XI).

  • Chùa

Cùng với sự du nhập của phật giáo vào Việt Nam từ buổi đầu công nguyên. Các ngôi chùa dần dần mọc lên trên đất nước, cho đến lúc mỗi làng có một ngôi chùa.

Chùa không chỉ là nơi các nhà sư tu hành, các tín đồ phật giáo tới làm lễ, mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá làng xã qua nhiều đời. Và đối với một số chùa những ngày lễ hội còn thu hút cả khách thập phương từ những miền xa đến.

“Đất vua, chùa làng” – có hiểu được những điều này mới hiểu được cấu trúc xã hội – văn hoá của dân tộc Việt Nam trong bề dày lịch sử. Tìm hiểu những ngôi chùa, rõ ràng không phải chỉ hiểu Phật giáo Việt Nam, mà còn là hiểu nhiều mặt của tri thức Việt Nam, văn hoá Việt Nam. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Chùa là một công trình kiến trúc dành cho việc thờ Phật. Không có một kiểu mẫu chung cho hàng ngàn ngôi chùa được xây dựng trong nhiều thế kỉ qua, trên lãnh thổ cả nước từ Bắc vào Nam. Mỗi thời đại có phong cách riêng, mỗi địa phương lại tuỳ theo điều kiện địa lí, thế đất và do nhiều lí do riêng mà đưa ra một kiểu kiến trúc phù hợp.

Điểm nổi bật của chùa Việt bao giờ cũng có xu hướng gần dân, ngoài một số chùa được dựng ở địa điểm có thắng cảnh thiên nhiên thì hầu như chùa nào cũng gắn liền với làng xóm. Tín đồ của đạo Phật chủ yếu là nông dân vì thế chùa cũng phản ánh rõ nét tư duy nông nghiệp. Từ đó có thể thấy được chùa là trung tâm văn hoá của làng. Thần linh trong chùa cũng như ở nhiều di tích khác còn rất gần gũi với đời, chỉ biết các ngài ở trên, còn ở trên đâu thì người Việt không cần biết đến, các ngài chưa phải là đấng cao vĩnh viễn. Vì thế mặt kiến trúc tôn giáo của người Việt chưa có vươn theo chiều cao. Mặt khác chùa Việt lại thường dàn trải theo mặt bằng với nhiều đơn nguyên kiến trúc. Hiện tượng này được nghĩ tới xuất phát từ việc mở rộng đất đai trong kinh tế nông nghiệp xưa. Theo quan niệm cổ truyền, chùa bao giờ cũng được dựng ở mảnh đất thu được khí thiêng của trời đất, thường phải hội tụ được các đặc điểm như sau: đất cao tươi nhuận (cây cối tốt lành, chim khôn vui hót), có dòng chảy hoặc ao hồ trước mặt, tiền diện quay về hướng Nam – đó là hướng bát nhã (trí tuệ) vì đạo Phật cho rằng có MINH (hiểu biết) mới xóa bỏ được tội lỗi (sự ngu dốt).

Đặc điểm của chùa Việt: về kiến trúc mặt bằng, thì mở ra khuôn viên chùa đầu tiên phải qua Tam Quan – tức cổng chùa, song nó đã mang ý nghĩa cao siêu hơn về Phật đạo. Cửa chùa thường có 3 lối vào, là một kiến trúc riêng cũng có khi lại là một toà nhà 3 gian 2 chái hay có thể là một gác chuông vuông 2 tầng 8 mái. Tam quan gồm:

  • Không quan: “không” là bản thể cốt lõi, là cội nguồn – “quan” là lối nhìn nhận thức…Suy cho cùng là nhận thức về cội nguồn chung của muôn loài, muôn vật.
  • Giả quan: nhận thức về quy luật vô thường (không tồn tại vĩnh viễn) của muôn loài muôn vật, mọi pháp đều biến hoá giả tạo.
  • Trung quan: cách nhận thức chân chính, hoà hợp, chẳng phân hai, không lệ thuộc vào bất kể một nhận thức, sự kiện nào. Là con đường của đạo dẫn đến giải thoát.

Qua Tam Quan, con đường gọi là nhất chính đạo dẫn vào thế giới Phật. Mở đầu của hệ thống chùa chính là toà tiền đường – nơi đây các phật tử ngồi tụng kinh, thiền niệm để “rèn tâm kiến tính”. Chỉ có chùa mới có tiền đường, còn ở đình và đền thường gọi là Tiền tế hoặc Tiền bái.

Gian thờ Phật: nằm chính diện, thuộc gian giữa, thường hay mở lui về phía sau tạo cho kiến trúc chùa mang kết cấu chữ Đinh, hay chữ Công. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Thượng điện: do cửa chùa luôn mở rộng với chúng sinh nên nơi thờ không bao giờ bị che chắn.

Bao quanh hai bên chùa nhiều khi còn có hai dãy hành lang và phía sau là nhà hậu. Toà nhà hậu thường là nơi thờ mẫu, thờ những người có công với chùa đồng thời cũng là nơi ở cho tăng ni, nhà khách và nhà bếp…ngoài ra hầu như chùa nào cũng có tháp, số tầng tháp thường lẻ.

  • Lăng

Trong quan niệm văn hoá tâm linh của người Việt, ngôi mộ có ý nghĩa rất quan trọng. Dân gian có câu: “Sống về mồ mả không ai sống về cả bát cơm”; thậm chí đối với dân ta câu mắng chửi nặng nề nhất cũng là “đào mả tổ” của nhau lên. Ngôi mộ là nơi an nghỉ cuối cùng của một con người về với cõi vĩnh hằng. Song cao hơn mộ đó là lăng. Lăng có thể nói, đó là sự phát triển kiến trúc bậc cao của một ngôi mộ. Tuy nhiên, lăng thường gắn với nơi an nghỉ cuối cùng của tầng lớp vua, quan đầu triều trong lịch sử phong kiến. Trong lịch sử Việt Nam, kiến trúc lăng mộ tiêu biểu và đặc trưng nhất là kiến trúc lăng tẩm Huế. Theo quan niệm “tức vị trị lăng” nên lăng được xây dựng ngay khi vua còn đang tại vị. Lăng tẩm được thiết kế xây dựng tuân theo nguyên tắc “phong thuỷ”. Vị trí xây lăng phải hội tụ đủ các yếu tố sơn tiền, thuỷ tụ, tiền án, hậu trẩm, tả thanh long, hữu bạch hổ. Đồng thời, lăng tẩm cũng phải có sự kết hợp hài hoà, đan xen với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng, duyên dáng nhưng phải tráng lệ.

Tựu chung, di tích lịch sử – văn hoá là không gian thiêng liêng cho nhân dân trong những dịp sinh hoạt lễ hội truyền thống, lễ hội tôn giáo, là nơi nhân dân tôn kính thực hiện các nghi thức, lễ thức bày tỏ lòng biết ơn và tâm nguyện của mình. Tất cả các di tích này đều mang đến cho con người những thông điệp quá khứ. Khi du khách đến các di tích lịch sử – văn hoá, không đơn thuần là để tham quan, để cầu nguyện cho tâm hồn thanh thản mà còn là để tìm hiểu và thoả mãn nhu cầu hiểu biết của mình. Chính vì vậy, các di tích lịch sử – văn hoá đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với du lịch. Đây là tài nguyên quý giá giúp cho du lịch của địa phương và của đất nước ngày càng phát triển ổn định và bền vững.

  • Lễ hội

Trong các dạng của tài nguyên nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên có giá trị phục vụ du lịch rất lớn: “Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu hoạt động tập thể của quần chúng sau những ngày lao động mệt nhọc, hoặc là một dịp để con người hướng tới các sự kiện lịch sử trọng đại, ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được”.

Lễ hội của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ là hội làng, ngày hội cố kết cộng đồng, biểu dương các giá trị của đời sống tâm linh, đời sống xẫ hội và văn hoá cộng đồng. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Với cộng đồng làng xã, lễ hội không chỉ là môi trường cộng cảm văn hoá mà còn là môi trường nhập thân và trao truyền văn hoá giữa các thế hệ để không những đảm bảo sự cộng cảm văn hoá của các thành viên mà còn đảm bảo sự nhất quán và thống nhất văn hoá cộng đồng giữa thế hệ này với thế hệ khác.

Lễ và hội là một tổng thể không thể chia tách.

  • Lễ; theo từ điển tiếng Việt “Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó”. Như thế, Lễ là phần tín ngưỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con người, là phần đạo nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và đảm bảo nền nếp, trật tự cho hội được hoàn thiện hơn.
  • Hội là phần tập hợp vui chơi bằng nhiều hoạt động giải trí cộng đồng, là đời sống văn hoá thường nhật, phần đời của mỗi con người, của cộng đồng. Hội diễn ra tại một thời điểm nhất định, vào những dịp kỉ niệm một sự kiện xã hội hay tự nhiên nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng tới dự lễ hội. Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định nhất định của lễ, có lễ mới có hội.

Như vậy, lễ hội là một sinh hoạt văn hoá dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân diễn ra trong những chu kì không gian, thời gian nhất định để làm những nghi thức về nhân vật được sùng bái, để thể hiện những ước vọng, để vui chơi trong tinh thần cộng mệnh và cộng cảm.

  • Cấu trúc của lễ hội:

Lễ trong khái niệm và lễ trong tên gọi vừa mang tính nghi thức vừa mang tính quy ước. Theo từ điển tiếng Việt, “lễ” được hiểu là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỉ niệm một sự kiện, một sự việc có ý nghĩa nào đó. Các nghi thức của lễ toát lên sự cầu mong phù trợ của các thần đối với con người, vì vậy nó luôn luôn chứa đựng những yếu tố linh thiêng, huyền bí và lễ chính là phần đạo của con người.

Lễ ở trong hội không đơn lẻ. Nó là một hệ thống liên kết, có trật tự cùng hỗ trợ nhau, thường gồm: Lễ rước nước, lễ mộc dục, tế gia quan, rước – đám rước, tế đại tế, lễ túc trực, lễ hèm.

Hệ thống lễ trong lễ hội có tính ổn định cao. Sự gia giảm, xê dịch rất hạn chế và có phạm vi của nó. Chẳng hạn, từng làng có thể cử hành lễ đại tế to hay nhỏ tuỳ theo khả năng của làng mình nhưng không thể đưa lễ đại tế lên trước lễ mộc dục, cũng không thể đọc khánh chúc trước đại tế…v.v. Đó là quy định khá chặt chẽ.

Hội chính là sự hoạt động có nhiều người tham gia tại địa điểm và cùng có những thoả mãn chung. Trong từ điển nêu lên, hội là những cuộc vui được tổ chức chung cho những người dự, theo phong tục tập quán hoặc nhân những dịp đặc biệt.

Lễ và hội là 2 hoạt động trong lễ hội, nó có mối quan hệ tương hỗ với nhau và nó cùng tồn tại trong một sự thống nhất. Hai yếu tố lễ và hội có lúc tách rời nhau dễ nhận biết, dễ quan sát: một bên là thiêng – một bên là tục, một bên là đạo – một bên là đời, một bên tưởng như là một và một bên có cả cộng đồng. Tuy nhiên lễ và hội có lúc đã thâm nhập vào nhau khá chặt chẽ.

Lễ và hội là hai yếu tố chính tạo nên hội làng. Sự đậm nhạt giữa chúng tuỳ thuộc vào đặc điểm từng nơi và tính chất từng loại hội. Trong các lễ hội ở nước ta, phần lễ thường giữ vai trò quan trọng và là nội dung chính của lễ hội. Song cũng có một số lễ hội thì phần hội lại sôi nổi hơn, giữ vai trò quan trọng hơn phần lễ như lễ hội Lim ở Bắc Ninh, lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn, lễ hội hát lượn của người Tày… Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

  • Thời gian và không gian lễ hội
  • Thời gian

Các lễ hội không phải diễn ra quanh năm. Thời gian lễ hội diễn ra chủ yếu trong hai mùa chính đó là mùa xuân và mùa thu, người ta thường gọi là “xuân thu nhị kỳ”. Đây là 2 mùa có không khí mát mẻ, đồng thời cũng là thời kỳ nhàn rỗi, chuẩn bị cho một mùa sản xuất và làm việc mới. Lễ hội có thể có những loại hội kéo dài hàng tháng hoặc từ ngày này sang ngày khác như hội hát quan họ vùng Hà Bắc, có những hội diễn ra suốt một tuần như hội Đồng Kỵ (Tiên Sơn, Hà Bắc), cũng có những hội chỉ mở một ngày như hội Lệ Mật (Gia Lâm, Hà Nội)

  • Không gian

Về không gian gọi là hội làng nhưng không nhất thiết diễn ra trong địa hạt của từng làng, do dân làng đó tham dự. Hội làng có khi lan rộng ra cả tổng (Hội Dóng), hàng phủ (Hội Lim)

Địa điểm mở hội phần lớn là ở đình – nơi trung tâm sinh hoạt của làng xã nhưng cũng có khi mở tại đền, tại chùa hoặc tại một gò đống, bến bãi ngay cạnh làng hay liên làng do các làng thờ chung một vị thành hoàng nên mở hội kết chạ để rước ngài từ làng này sang làng kia.

  • Chức năng của lễ hội
  • Phản ánh và bảo lưu truyền thống văn hoá lịch sử dân tộc
  • Tuyên truyền và giáo dục góp phần làm cho lễ hội là gạch nối giữa hiện tại và quá khứ
  • Hưởng thụ và giải trí

1.5 Tín ngưỡng thờ nhân thần của người Việt

Tín ngưỡng sùng bái con người bắt nguồn từ quan niệm con người bao gồm cả phần vật chất (thể xác) và phần tinh thần (thường được gọi là phần linh hồn). Do không hiểu được “sức sống” của các linh hồn đó mà con người nguyên thuỷ đã thần thánh hoá nó bằng những khái niệm trừu tượng. Từ đó sinh ra tục lệ thờ cúng chính bản thân con người khi đã được trừu tượng hoá, thần thánh hoá. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Quá trình trừu tượng hoá đó theo trình tự từ xác đến vía, từ vía đến tinh, từ tinh đến khí và từ khí đến thần. Vì thế, không ai thờ những người đang sống mà chỉ thờ những người đã chết: thờ cái tinh linh và cái thần của con người. Thực ra, các Nhân thần được thờ cúng không chỉ dành riêng cho các vị anh hùng có công với dân với nước mà kể cả các vị tổ nghề, người khai phá vùng đất mới và cả những người chết vào giờ thiêng.

Trong số các vị Nhân thần có cả những người bình thường. Đó là các bậc tổ tiên của các gia đình, dòng họ có công sinh thành, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình họ. Trong phạm vi gia đình, họ là những người đáng tôn kính và luôn được nhớ ơn. Đây là lí do cơ bản để thờ cúng tổ tiên. Trong gia đình có việc gì lớn như dựng vợ gả chồng, làm nhà mới, đỗ đạt…đều phải báo trình tổ tiên biết cùng mừng và chứng giám. Sau đó, việc cúng tổ tiên để nhằm cầu mong sự phù hộ của tổ tiên là lí do thứ hai trong các dịp này.

Cũng như vậy, việc thờ cúng các vị Nhân thần chủ yếu là vì tấm lòng biết ơn – lâu nay ít người nghĩ đến lí do cơ bản này, mà chỉ chú ý tới việc thờ cúng để mong sự phù hộ độ trì của các vị Nhân thần đã được tôn vinh thành “Thánh” này. Cái đạo lý “uống nước nhớ nguồn” đã ăn sâu vào tâm trí của các dân tộc và trở thành những yếu tố văn hoá tâm linh của mọi người, mọi nhà mà dân gian gọi là “Đạo Ông Bà” hay “Đạo Nhà” (Nguyễn Đình Chiểu). Đạo nhà ở đây không hẳn chỉ là thờ cúng tổ tiên mà còn là sự biết ơn nói chung đối với các bậc tiền bối đã có công với mọi người, mọi nhà.

Với quan niệm như vậy, lực lượng Nhân tuần được thờ cúng trong các dịp lễ tết là vô cùng phong phú, đa dạng. Có những vị nổi tiếng mang tầm cỡ quốc gia như Đức Thánh Trần, Hai Bà Trưng…Nhưng, cũng có những vị chỉ dân một, hai làng biết họ như các vị Thành Hoàng hay chỉ trong phạm vi gia đình, dòng họ như các vị tổ tiên. Tuy nhiên, tất cả các vị đó đều được thờ cúng một cách trang trọng thành kính nhất. Có thể phân loại các lực lượng Nhân thần như sau:

  • Các vị tổ tiên:

Đây là các vị Nhân thần đầu tiên được gia đình hay dòng họ thờ cúng, họ đã có công sinh thành, lập nên các gia đình, dòng họ, thậm chí nhiều nơi, nhiều vị lập nên các bản làng, thôn xóm. Trong xã hội một số dân tộc thiểu số như người H’mông, người Dao, người Thái, người La Chí, người Hà Nhì…các bậc tổ tiên đã trở thành biểu tượng cố kết cộng đồng và thường là niềm tự hào của gia đình, dòng họ. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

Vị trí vai trò của quan trọng của việc thờ cúng tổ tiên đã trở thành “Đạo” (Đạo thờ cúng tổ tiên) một tín ngưỡng quan trọng, phổ biến nhất là sức mạnh tâm linh của các dân tộc nước ta. Trong xã hội các dân tộc thiểu số có thể không có những tôn giáo nào khác, nhưng không có dân tộc nào không có tục thờ cúng tổ tiên. Đây là chỗ dựa tinh thần quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của các dân tộc thiểu số. Tuy sự thờ cúng tổ tiên ở vùng các dân tộc thiểu số có thể có những nghi thức, nghi lễ khác nhau, nhưng nội dung và vai trò của nó đều giống nhau. Cho nên, có thể nói rằng, tổ tiên là các vị Nhân thần quan trọng nhất được thờ cúng ở các dân tộc thiểu số.

  • Các vị thần Thành Hoàng

Bên cạnh các vị Nhân thần được các gia đình, dòng họ thờ cúng trên đây, trong xã hội các dân tộc, đặc biệt là người Kinh còn có các vị thần Thành Hoàng.

Cho đến nay, không có làng nào (nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ) lại không có thần Thành Hoàng riêng của mình. Đây là các vị Nhân thần được vua sắc phong vì đã có công khai thiên lập địa, xây dựng, phát triển hay truyền dạy những phong tục tập quán tốt đẹp cho dân làng. Thành Hoàng là vị thần được tôn thờ chính trong đình làng Việt Nam. Vị thần này dù có hay không có họ tên lai lịch, dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ tế trên cõi thiêng của làng & đều mang tính chất chung là hộ quốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó.

TIỂU KẾT

Trong chiến lược kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn bởi những chức năng và ý nghĩa kinh tế – xã hội mà nó mang lại. Đặc biệt hướng phát triển du lịch văn hoá đang thu hút nhiều đối tượng khách du lịch khác nhau. Đây cũng là hướng phát triển hiệu qủa của ngành du lịch Việt Nam hiện nay. Việt Nam là nước giàu tiềm năng về tài nguyên du lịch. Bên cạnh tài nguyên tự nhiên, phong tục tập quán tín ngưỡng, hệ thống các quần thể di tích lịch sử văn hoá, các công trình kiến trúc lịch sử đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của cộng đồng người Việt đồng thời cũng là tài nguyên quý giá cho sự phát triển du lịch Việt Nam.

Trong thực tế, những tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức trực tiếp và rõ ràng hơn so với tài nguyên du lịch tự nhiên. Mục đích tiếp cận ban đầu của tài nguyên nhân văn bao giờ cũng mang tính nhận thức. Vì vậy, các yếu tố văn hoá Việt được khai thác rất nhiều để phục vụ cho phát triển du lịch Việt Nam. Những di tích lịch sử văn hoá, các công trình kiến trúc, các sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng… phản ánh văn hoá của cộng đồng dân cư người Việt được khai thác cho du lịch thông qua đó văn hoá của cả khách du lịch và dân cư địa phương được trau dồi và nâng cao, tạo khả năng mở mang hiểu biết lẫn nhau, mở mang hiểu biết về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán, tín ngưỡng…Đồng thời làm giàu và phong phú thêm khả năng thẩm mĩ khi được tham quan các kho tàng mĩ thuật của đất nước. Bên cạnh đó hoạt động du lịch văn hoá còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc, có ý nghĩa lớn đối với khai thác, bảo tồn các di sản văn hoá dân tộc và phát triển môi trường thiên nhiên xã hội. Khóa luận: Tìm hiểu một số di tích thờ Trần Hưng Đạo ở Hải Phòng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giá trị văn hoá của một số di tích thờ trần hưng đạo

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x