Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tài Nguyên Du Lịch Và Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An (NINH BÌNH) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch của Khu du lịch Tràng An.

2.1.1. Vị trí địa lý

Nằm ở phía Đông tỉnh Ninh Bình với tổng diện tích là 1961 ha, Khu Du lịch Sinh thái Tràng An thuộc địa phận của 5 xã: xã Trường Yên, xã Ninh Vân, xã Ninh Hải (huyện Hoa Lư), xã Gia Sinh (huyện Gia Viễn) và phường Tân Thành xã Ninh Nhất (TP. Ninh Bình). Phía Bắc giám huyện Gia Viễn, phía Tây giáp huyện Nho quan, phía Nam giáp khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, Phía Đông giáp quốc lộ 1A và được chia làm 5 khu chức năng chính: Khu bảo tồn đặc biệt (khu Cố đô Hoa Lư), khu Trung tâm, khu hang động, khu dịch vụ du lịch, khu tâm linh núi chùa Bái Đính. Toàn khu có 47 hạng mục di tích lịch sử với nhiều hang động chạy dài khoảng 20 km theo hướng Bắc Nam.

Khu du lịch Tràng An nằm cách thủ đô Hà Nội khoảng hơn 90 km về phía Nam trên trục đường quốc lộ 1A xuyên Bắc – Nam, giáp thị xã Ninh Bình có trục đường sắt xuyên Bắc Nam, lại nằm trong vùng Sơn Nam Hạ với những cảnh quan thiên nhiên được kết hợp thi vị giữa núi, sông, rừng cùng nhiều hang động. Sự kết tinh giữa con người và thiên nhiên đã tạo nên cho khu du lịch này một môi trường văn hoá, lịch sử, cảnh quan đặc sắc và kỳ thú.

Hơn nữa, Khu du lịch Tràng An lại nằm gần các khu du lịch khác của tỉnh như: Khu Du lịch Cố đô Hoa Lư, Khu Du Lịch Sinh thái Ngập nước Vân Long, Khu Du lịch Tam Cốc – Bích Động, hồ Đông Chương, Vườn Quốc gia Cúc Phương.

Với vị trí như trên, Khu du lịch Tràng An có điều kiện thuận lợi để xây dựng các tuyến kết hợp, dài ngày và phát triển các loại hình du lịch như: Du lịch lịch sử, du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, du lịch lễ hội, tâm linh, du lịch khám phá hang động kỳ thú, du lịch leo núi mạo hiểm, du lịch vui chơi giải trí, du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh, ẩm thực, du lịch nghiên cứu khoa học lịch sử….. Và được xác định là khu du lịch trọng điểm của Du lịch Ninh Bình, sau khi xây dựng xong sẽ trở thành một khu du lịch tổng hợp có tầm cỡ quốc gia, quốc tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1.2. Điều kiện tự nhiên

  • Địa hình

Đây là một khu du lịch có địa hình chủ yếu là núi, thung lũng và hang động. Địa hình chia làm 2 vùng rõ rệt: Vùng núi (núi đá vôi, núi đất) và vùng đồng bằng. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Vùng núi: Bao gồm dải núi đất đá vôi chủ yếu nằm phía Tây Nam huyện Hoa Lư và Đông Bắc huyện Gia Viễn. Địa hình khá phức tạp, nhiều hang động, núi xem kẽ đầm lầy ruộng trũng ven núi. Đồi núi trùng điệp nhiều hình dáng.

Vùng đồng bằng: Tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ xen kẽ nhiều vùng núi tháp trũng do đó chỉ có thể canh tác 1 vụ lúa.

Hang động được coi như là tài nguyên du lịch tự nhiên vô giá của Khu du lịch Tràng An. Quần thể hang động Tràng An với những dài đá vôi, cá thung lũng và những sông ngoài đan với nhau tạo nên môt trận đồ bát quái với cửa sinh, cửa tử quanh cố đô xưa. Giáo sư Trần Quôc Vượng khi đến khảo sát cho rằng: ” Vua Đinh Tiên Hoàng lập Cố đô Hoa Lư năm 968 không phải chỉ đơn giản dựa vào dãy núi hiểm trở mà còn dựa vào hệ thống hang động Tràng An này”. Do quá trình kiến tạo địa chất các hang động đã hình thành với nhiều hình thù ảo, hoà lẫn trong một bác tranh sơn thuỷ hữu tình. Đến Tràng An du khách gần ngắm nhìn những dãy núi cao trùng điệp điệp sẽ có cảm giác nhỏ bé giữa bốn bề núi non hùng vĩ.

  • Khí hậu: Khí hậu là thành tố của môi trường tự nhiên đối với hoạt động du lịch.

Là một khu du lịch của tỉnh Ninh Bình nên Khu DLST Tràng An có khí hậu nằm trong vùng khí hậu Ninh Bình. Khí hậu Ninh Bình nói chung khá thuận lợi ích hoạt động du lịch.

Khí hậu của vùng thuộc vùng tiểu khí hậu sông Hồng, ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam và mùa đông lạnh nhưng những ảnh huởng nhiều khí hậu ven biển và rừng núi so với điều kiện trung bình của vùng vĩ tuyến. Thời tiết trong năm làm 2 mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 – 12 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.

Theo số liệu TCVN 4088 – 85 trạm Ninh Bình khí hậu của khu có đặc trưng sau:

Nhiệt độ không khí:

  • Nhiệt độ tháng năm trung bình là 23,5 0C
  • Nhiệt độ cực tiểu trung bình là 20,90C
  • Nhiệt độ cực tiểu tuyệt đối là 5,50C
  • Nhiệt độ cực đại tuyệt đối là 41,5 0C

Tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 29,30C, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,90C.

Tổng số giờ nắng trung bình nằm là 1.646 giờ, số giờ nắng trung bình mỗi tháng là 117,3 giờ, tháng 6 cao nhất là 187,4 giờ, tháng 2 thấp nhất là 23,4 giờ. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Tổng nhiệt độ năm đạt tới trị số trên 85000C, có tới 8-9 tháng trong năm có nhiệt độ trung bình trên 200C.

Độ ẩm trung bình năm của không khí là 85% Và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm: tháng 2 cao nhất là 89% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm: tháng 2 cao nhất là 89%, tháng 11 thấp nhất là 75%.

Lượng mưa trung bình năm là 1.781mm. Trung bình một năm có 125-127 ngày mưa. Lượng mưa trung bình mỗi tháng là 238,8 mm; tháng 9 cao nhất là 816 mm, tháng 1 thấp nhất là 8,5 mmm. Lượng mưa tập trung bào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10 vào chiếm từ 86 – 91% tổng lượng mưa trong năm.

Hướng gió chính thịnh hành trong năm.

  • + Mùa Đông: Hướng Bắc, Đông Bắc
  • + Mùa hè: Hướng Nam, Đông Nam.

Tốc độ trung bình: 2,3m/s, tốc độ cực đại xảy ra khi có bãi 45m/s

Các hiện tượng thời tiết đặc biệt như:

  • Bão: Do nằm trong khu vực có bão và áp thấp nhiệt đới trực tiếp đổ bộ vào. Bão thường gây mưa lớn lên toàn khu vực, thường xuyên xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 10, chủ yếu tập trung vào các tháng 7,8,9. Vào mùa mưa (tháng 7) nước dâng cao gây cản trở cho hoạt động tham quan hang động.
  • Giông: Thường xuất hiện vào mùa hạ, đôi khi kèm theo lốc.

Thuỷ văn: Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Khu DLST Tràng An nằm trong vùng hệ thống dày đặc các sông ngòi như: Sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bôi, sông Chanh, sông Sào Khê, sông Hệ Dưỡng, Sông Vân, Sông Vạc, hầu hết các sông đều đổ ra sông Hoàng Long , sông Đáy và tiểu ra biển qua cửa Đáy, cửa Vạc. Trong khu hang động Tràng An không có sông, chỉ có một số thung có lạch nhỏ dân có thể đi thuyền vào để trồng lúa, còn đa số các thung còn hoang hoá và nhiều lau cỏ mọc.

Hiện nay một số thung có lạch nhỏ trước và vùng trồng lúa của dân cư nay đã được nạo vét hút bùn thành một vùng sinh thái ngập nước thuận lợi cho việc chèo thuyền đưa du khách tham quan quần thể hang động xuyên thuỷ Tràng An.

Tuy nhiên, hạn chế thuỷ văn của vùng là vào mùa mưa bão mực nước dâng cao, còn mùa khô thì thiếu gây cản trở tới hoạt động du lịch.

Để khắc phục những hạn chế thuỷ văn đã có dự án xây dưng các trạm bơm, cụm cống và đập nhằm mục tiêu nước từ khu hang động ra các con sông vào mùa mưa; lấy nước từ sông cấp vào hệ thống giao thông thuỷ vào mùa khô và giữ nước cho hệ thống giao thông này.

Tài nguyên sinh vật

Khu DL Tràng An còn bao bọc cả một khu rừng nguyên sinh có hệ sinh thái đa dạng, phong phú, lưu giữ gần như nguyên vẹn hệ sinh thái trên núi đá vôi các hoạt động thực vật đặc trưng rất nhiều lợi chi phát triển loại hình du lịch sinh thái.

Hệ thực vật: Có các thảm thực vật xanh như: dây leo, cây bụi, phong lan, một số cây cổ thụ (như: si, thị, sung….). Toàn khu DLST Tràng An còn lưu giữ nhiều loại cây quý hiếm như: Chò Chỉ,Đinh, Nghiến, Trai, Lộc Vừng, Săng đá,…

Hệ động vật: Có nhiều loại động vật quý hiếm như: Sáo, vẹt, cò, khướu, khỉ, khỉ đuôi dài rắn, tê tê, rùa, tắc kè, trăn, đặc biệt là loài vượn yếm trắng – một loài có tên trong sách đỏ thế giới, phượng hoàng đất – biểu trưng cho sự thịnh vượng, cho những điều tốt đẹp. Vì vậy, thật may nắm nếu trong hành trình tham gia thám hiểm quần thể xuyên thuỷ động Tràng An du khách bắt gặp phượng hoàng đất.

Với tài nguyên sinh vật đa dạng, phong phú và còn gần như là nguyên vẹn, được đánh giá là khá đặc trưng rất thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái, khám phá, nghiên cứu, tìm hiểu.

Các điểm thắng cảnh Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Điều lý thú khu Tràng An đó có là du khách bị choáng ngợp trước vẻ hùng vĩ của những dãy núi hùng vĩ cao ngấy, được hoà mình vào cái mát lạnh không kém phần kỳ ảo của quần thể xuyên thuỷ động Tràng An

Quần thể xuyên thuỷ động Tràng An:

Là một sinh thái lý tưởng. Trong khu có khoảng 50 hang động trong số gần 100 hang động nước, được nối với nhau bởi gần 3 thung (bây giờ gần 30 bờ nước) kéo dài 20km. Hang dài nhất có tên Địa Linh dài 1500m, gần 20 hang có chiều dài từ 200 – 400m. Mỗi hang động đều có một vẻ đẹp riêng như: hang Ba Giọt, hang Địa Linh, hang Tối (có chiều dài 315m), hang Sáng, hang A0 Trai (giữa hang A0 Trai, lòng hang phình ra gần 30m), hang Láng, hang Vồng (có cây si cổ thụ rễ chùm cả miệng hang nên còn gọi là hang Si), hang Nấu Rượu, hang Cơm (có truyền thuyết rằng xa xưa có một khổng lồ nấu rượu ở đây, mang rượu và cơm ra núi ngồi ăn), hang Sính, hang Thuốc, hang Cá, hang Chanh, hang Seo. hang Sơn Dương…. Nhiều hang nhũ đá từ cao chảy dài, xếp chồng lên nhau từng lớp, từng lớp, mềm mại, óng ánh, tạo nên những kỳ quan sinh động khiến cho trí tưởng tượng của mỗi người thêm phong phú.

Trong quần thể xuyên thuỷ động Tràng An có đến 30 thung, đi qua các hang là vào các thung. Thung lớn nhất là thung Bậc Đài có chiều rộng > 366.000m2 (rộng nhất là thung Đền Trần (241.600m2)), thung nhỏ nhất là thung Sáng (15.400m2). Mỗi thung là một bức tranh thuỷ mặc khác nhau về núi và nước. Nước hồ in bóng núi, bóng mây, vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, kỳ ảo huyền diệu.

Điều kỳ diệu là các thung đều được thông với nhau bởi các động xuyên thuỷ có độ dài, ngắn khác nhau. Đó là những mạch ngầm của nước, để núi non gắn bó, tương hỗ, hoà quyện với nhau thân thiện như người với người nối vòng tay lớn. Núi giăng thành luỹ bao bọc xung quanh hồ nước ở giữa có gò, đảo. Mỗi ngọn núi, quả núi mang một hình dáng riêng, khác nhau và cùng với mây trời cây cỏ đã tạo nên một quần thể xuyên thuỷ động độc đảo, nguyên cơ chẳng nơi nào có được.

2.1.3. Điều kiện kinh tế – xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn

2.1.3.1. Điều kiện kinh tế xã hội

Đặc điểm dân cư: Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Khu DL Tràng An thuộc phần lớn địa phận dân cư của phần lớn huyện Hoa Lư (chủ yếu là xã Trường Yên) và một phần dân cư huyện Nho Quan, vùng đất này ngoài người Kinh còn là nơi cư trú khá lâu đời của người Mường – một tộc người có các phong tục tập quán sinh hoạt, truyền thống văn hoá mang nét đặc trưng của cộng đồng dân tộc mường của Việt Nam. Sự hoà huyết giữa 2 dòng máu Kinh – Mường đã tạo nên con người Hoa Lư ngày nay thuần nông chất phát, hiền hậu, thật thà, hiếu khách, giàu truyền thống thu hút lại khéo tay đã làm nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ đặc sắc thu hút khách du lịch và ngoài nước: nghề thêu ren, nghề đục đá. Tuy nhiên, điều kiện sinh hoạt của họ còn nhiều khó khăn. Trình độ trí thấp, toàn huyện Hoa Lư có khoảng 16 xã thì đến năm 2003 mới phổ cập 100% hết trung học cơ sở (Nguồn: phòng Văn hoá và Thông tin huyện Hoa Lư – Báo cáo Tổng kết năm 2003 ) .

Đặc điểm kinh tế

Trước khi có hoạt động du lịch thu nhập chính của người dân nơi đây là từ nông nghiệp lúa nước. Toàn huyện Hoa Lư năm 2005 có khoảng 34.702 người có 20.718 người làm nông, lâm nghiệp, chiếm xấp xỉ 60% (nguồn: Phòng Thống kê Huyện Hoa Lư). Tuy nhiên do diện tích đất ở đây bị che chắn bởi các dãy núi vậy nên đất nông nghiệp ở đây không màu mỡ lại nằm trong vùng đất trũng dưới chân núi nên dễ bị úng lụt vào mùa mư làm cho sản xuất nông nghiệp không cao.

Ngoài nông nghiệp ra người dân còn có nghề thêu rèn truyền thống, nghề làm đá nhưng chỉ mang tính chất riêng lẻ từng hộ gia đình, quy tụ trong một làng.

Một số người dân kiếm sống bằng kết hợp với nghề chăm nuôi dê trên núi, kiếm củi, săn bắt thú….Như vậy nền kinh tế của người dân gắn liền với nghề nghiệp.

Đặc điểm văn hoá xã hội

Trong những năm gần đây đời sống của người dân đã có nhiều khởi sắc nhưng còn rất nhiều khó khăn. Lực lượng lao động là người già và trẻ em vẫn còn chiếm một tỷ lệ trong đội ngũ lao động dân cư ở đây. Thu nhập của người dân thấp, ngoài mùa đông nông vụ ra thì họ là thuê kiếm mướn, lên rừng kiếm củi, nuôi thả dê núi.

Các giá trị lịch sử văn hoá: Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Khu DL Tràng An được hình thành trên một vùng đất lịch sử, giàu truyền thống văn hoá. Vùng đất xa xưa từng là kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ năm 968 đến 1010. Vì vậy, vùng đất này có rất nhiều di tích lịch sử văn hoá tôn giáo…

Toàn Khu Du lịch Sinh thái Tràng An có 47 hạng mục di tích lịch sử văn hoá.

  • Các di chỉ khảo cổ học.

Việc phát lộ ra hệ thống hang động Tràng An trong quần thẻ Cố đô Hoa Lư có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Sự kiện này xảy ra đồng thời ‘với việc phát lộ ra Hoàn thành Thăng Long, đồng thời đã khẳng định sự đúng đắn của việc định đô của vua Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư thời kỳ đầu của một nhà nước phong kiến tập quyền. Đó là căn cứ quan trọng để vua khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc trên cơ sở sức mạnh của dân tộc. Đây là gạch nối giữa Hoa Lư va Thăng Long, làm cho nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước nói chung đều có sự hồi tưởng lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra ở kinh thành Hoa Lư và những sự nối tiếp ở kinh thành Long Long cho đến Hà Nội hôm nay. Tại các hang động trong quần thể xuyên thuỷ động Tràng An còn lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử của một kinh đô với ba triều đại kế tiếp: Đinh, Tiền, Lê, Lý. Có khu vực với rất nhiều phế tích quan trọng khẳng định nơi đó từng là nơi sinh hoạt của các phân quyền ngày xưa ở thế kỷ XIV dưới thời nhà Trần như: nồi gồm, các bát đĩa cổ. Điều đặc biệt là các phế tích này rất giống cá phế tích thấy ở Hoàng thành Thăng Long.

Năm 2007 các nhà khảo cổ học đầu ngành của nước Anh và các nhà khoa học Việt Nam đã có những chuyến khảo sát Hang Báng – một trong những hang động thuộc khu DL Tràng An, đã phát hiện những công vụ chặt bằng đá cuội thuộc thời kỳ văn hoá Sơn Vi, những mảnh gốm thuộc thời kỳ Văn hoá Đa. Có thể nói, đây là những tư liệu quý để các nhà khoa học tìm hiểu về thời đại đồ đá cũ, về đời sống của người nguyên thuỷ, về môi trường, quá trình biến đổi tự nhiên trong quá khứ, tìm hiểu về các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Đồng thời, những phát hiện, tìm hiểu về các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Đồng thời, những phát hiện này sẽ là tiền đề quan trọng để tình Ninh Bình có hướng khoanh vùng bảo vệ, quy hoạch và đầu tư lớn cho Khu DL Tràng An.

  • Giá trị văn hoá Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Quần thể xuyên thuỷ động Tràng An không chỉ giá trị về sinh thái tự nhiên, về giá trị cổ học mà còn chứa đựng nhiều yếu tố văn hoá. Mỗi hang động mang một cái tên, không biết từ bao giờ tiền nhân nào đã đặt tên cho các hang động rất gợi cảm như: hang Seo Lớn, hang Si, hang Ao Trai, hang Nấu Rượu, thung Láng, thung Mây, thung Khống, núi Vua, núi Chúa, núi Ông Trang…. Mỗi hang động lại gắn với một truyền thuyết, quan niệm mang đậm tính văn hoá. Hang nâúy Rượu và hang Cơm có truyền thuyết xa xưa có ông khổng lồ nấu rượu và cơm ở đây, mang rượu và cơm ra núi ngồi ăn. Nơi đây xưa cổ nhân đã vào đây để lấy nước nấu rượu tiến vua. Hay theo cư dân địa phương nếu vào hang Ba Giọt, du khách hứng lấy ba giọt nước trong lòng bàn tay thì sự nghiệp sẽ công thành danh toai, hưng tiếp ba giọt nữa để uống thì tình yêu sẽ thuỷ chung vẹn toàn.

Các hiện vật tìm thấy tại đây không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá tri về nghệ thuật, kiến trúc, tôn giáo, là hiện tượng sống động, thể hiện ý chí quật cường, lòng tự hào, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử.

  • Các di tích lịch sử – văn hoá

Tràng an còn là vùng đất chứa đựng nhiều di tích lịch sử, văn hoá với Cố đô Hoa Lư, Đền Trần, Phủ Khổng, hồ Đàm Thị, chùa Bái Đính.

Ngay trong quần thể xuyên thuỷ động xen với khung cảnh thiên nhiên, nằm trong các thung là những ngôi đền, phủ cổ kính tĩnh mịch mang đạm giá trị nghệ thuật kiến trúc.

Tới thung Đền Trần, sau khi xuống thuyền, leo hàng trăm bậc đá, sẽ tới một ngôi đền cổ kính, được làm bằng đá xanh nguyên khối, hoa văn tinh xảo, với nghệ thuật chạm lộng và chạm khắc bong kênh, thông phong 8 phân đến 10 phân trên các cột đá. Đền Trần (Đền Nội Lâm) thuộc sơn phận thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Theo văn bia, được xây dựng từ lâu và để thờ Đức Thánh Trần Quý Minh (một vị tướng của Vua Hùng) và hoàng phi quý nương (phu nhân của thần Quý Minh). Đầu thế kỷ XX, đền được di dời từ phía Đông thung sang phía Tây Bắc như ngày nay. Đến Nội Lâm không chỉ là nơi tôn nghiêm thờ thần mà còn là điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Từ đền Trần, qua hang Seo Lớn, Seo Bé, hang Sơn Dương là tới Phủ Khống, một công trình lịch sử – văn hoá. Ngoài lối kiến trúc rất riêng tựa lưng vào núi vững chắc, phủ Khống còn là bằng chứng của sư trung thần. Tương truyền sau khi vua Đinh bị sát hại 7 vị tướng trong triều cũng tự sát để giữ trọn khí tiết của nhà vua. Một vị tướng trấn giữ Phủ Khống vô cùng cảm kích trước nghĩa thế của 7 vị trung thần liền lập bát nhang thờ cúng. Sau khu vị tướng này mất nhân dân trong vùng đã trồng cây thị ngay trước cửa phủ để tưởng hớ công lao, nghĩa khí của các bậc trung thần.

Khu tâm linh núi chùa Bái Đính: Người xưa khẳng định ” Nào Dịch Lộng, nào Thiên Tôn, Bàn Long, Bích Động còn kém đây”, đó là hang động ở núi Bái Đính thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Chùa Bái Đính toạ lạc trên búi Bái Đính, đây là một ngọn núi đứng độc lập, cao đến hơn 200m, có diện tích khoảng gần 150.000m2, quay hướng đông, có dáng vòng cung hai bên khép lại tựa tay ngai tạo thành một thung ở dưới rộng khoảng 3 ha gọi là thung Chùa. Nhìn theo một góc khác, núi lại trông giống như một người khổng lồ ngồi quay lưng ra biển, hai chân duổi về phía Tây Bắc và Tây Nam. Núi Bái Đính hiện còn giữ được nét nguyên sơ của núi rừng xa xưa, cây cối tươi tốt, có nhiều cây cao to bao phủ núi non, xanh mướt một màu dịu mát.

Tương truyền, xưa kia Thiền sư Nguyễn Minh Không (1065 – 1141) khi đến đây tìm cây thuốc đã phát hiện ra động này và từ đó biến làm động thờ phật.

Đối diện với động Sáng thờ Phật là tối thờ Liễu Hạnh – bà Chúa Thượng Ngàn. Động Tối cao và rộng hơn gồm 7 hang. Hang giữa rộng nhất là nơi thờ và chúa Thượng Ngàn, tượng được sơn son thiếp vàng.

Hiện nay khu núi chùa Bái Đính được quy hoạch 390 ha. Với vị trí ” đắc địa” tựa lưng vào núi, mặt trước quay ra hồ, xa xa là dòng Hoàng Long uốn lượn trông như bức tranh thuỷ mạc, đây được xác định là diểm nhãn quan trọng như khu du lịch Tràng An. Tại đây đã xây dựng những ngôi chùa.

Đến thăm chùa Bái Đính du khách được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoành tráng của điện Tam Thế nơi đặt 3 pho tượng Tam Thế bằng đồng, mỗi pho nặng 50 tấn. Chùa Pháp Chủ là nơi đặt tượng Thích Ca Mâu Ni bằng đồng nguyên khối nặng 100 tấn. Trong khu còn có hành lang La Hán gồm 500 pho tượng La Hán bằng đá cao từ 2-2,5m và gác chuông nơi đặt 2 quả chuông mỗi quả nặng 27 tấn và một quả nặng 36 tấn (chuông chùa to nhất), giếng Ngọc lớn nhất. Trong tương lai, khu tâm linh núi chùa Bái Đính là công viên văn hoá và Học viện Phật giáo, trung tâm phật giáo lớn của quốc gia và khu vực. Đây còn thể hiện tính độc đáo hiếm có của một khu du lịch văn hoá tâm linh, là một trong những điểm nhấn của Khu DL Tràng An.

Các lễ hội

Các lễ hội cũng là tài nguyên du lịch rất quan trọng của khu DL Tràng An cần được chú trọng đầu tư phát triển. Do được xây dựng trong một không gian văn hoá lại trên một mảnh đất có truyền thống hàng nghìn năm – Cố đô Hoa Lư nên toàn khu Tràng An có nhiều lễ hội gắn với các di tích lịch sử văn hoá và danh thắng.

  • Lễ hội đền Đinh – Lê (Lễ hội Trường Yên tổ chức ngày mùng 10 đến 13 tháng 3 (âm lịch) hàng năm tại xã Trường Yên.
  • Lễ hội Thái Vi tổ chức từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 3 âm lịch hàng năm tại thôn Văn Lâm xã Ninh Hải huyện Hoa Lư.
  • Lễ hội núi chùa Bái Đính được tổ chức hàng năm vào ngày mồng 6 tháng giêng âm lịch thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn.

2.1.3.2. Những tài nguyên du lịch nhân văn khác. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

  • Láng nghề truyền thống.

Khu DL Tràng An bao gồm địa phận 6 xã thuộc 3 huyện cho nên có nhiều làng truyền thống, nhưng nổi bật nhất có ý nghĩa với việc phát triển loại hình du lịch cộng đồng nhất là làng nghề thêu ở thông Văn Lâm xã Ninh Hải huyện Hoa Lư. Đây là làng nghề truyền thống có từ lâu đời, từ thời lý – Trần mà bà Trần Thị Dung (tức Linh từ Quốc Mẫu) vợ Thái sư Trần Thủ Độ đời Trần được coi là tổ nghề. Nghề này đến nay có trên 700 năm. Hiện nay ở thôn Văn Lâm, gia đình nào có có nhiều loại khung thêu, mỗi hộ có ít nhất một tay kim. Bằng những sợi chỉ mảnh mai, với những miếng vải rộng, hẹp, đủ mọi màu sắc, với đôi bàn tay khéo léo, người thêu ren đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật. Đường nét thêu ren rất tinh xảo, uyển chuyển, mềm mại, thanh tú, nhưng lại sống động, mịn màng như những nét vẽ. Sản phẩm thêu ren rất phong phú : ga trải giường, rèm cửa, gối, khăn bàn, tranh ảnh…

Từ thôn mà lan rộng ra các làng xã bên, các sản phẩm thêu đã và đang có mặt tren khắp các thị trường trong cả nước và thế giới. Hiện nay nghề theo đang được phát triển mạnh nhằm tạo ra một khối lượng hàng hoá lớn cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đồng thời cũng là mặt hàng phục vụ khách du lịch tại khu DL Tràng An.

Nghề chạm khắc đá cổ truyền Ninh Vân. Từ những hòn đá sủ sì, qua bàn tay của người thợ đã thành những tác phẩm nghệ thuận hoàn hảo. Sản phẩm đá gồm các loại: tượng, chim thú, bể cảnh, bia thống, chậu hoa, bàn ghế, sập, hương án, ngai, cầu, cổng, ngưỡng cửa, xà nhà…. Tất cả đều được chạm khắc tinh tế, sốn động, đường nét tao nhã, uyển chuyển, mền mại, bởi đôi bàn tay khéo léo và khối óc của các nghệ nhân.

  • Ẩm thực Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Tái dê Hoa Lư: Huỵên Hoa Lư có những dãy núi đá vôi nên nghề nuôi dê Hoa Lư rất phát triển. Người ta bắt dê núi về làm lông, thui vàng, mổ ra ướp hương nhu hoặc lá cúc tần hơn chục phút, rồi lọc lấy thịt (để cả da) đem nhúng vào nước sôi cho chín tái, sau đó thải nhỏ, mỏng đều. Lấy vừng đã rang giã dập, sả thái nhỏ, lá chanh, gừng, ớt tươi thái nhỏ, nước chanh, bột ngọt đổ vào thịt dê tái đã thái, tất cả trộn đều là thành tái dê. Tái dê phải ăn kèm với lá súng, chuối xanh, khế, lá mơ và không thể thiếu tương gừng để chấm, nếu có thêm chén rượu Lai Thành để uống thì quả là điều thú vị.

Nhất hưởng thiêm kim (cơm cháy): Cơm cháy được làm từ cơm đã nấu chín, dàn mỏng và thành hình tròn, để cho nguội và khô, rồi bỏ vào chảo dầu rán cho đến khi giòn vàng lấy bẻ thành từng tảng nhỏ đẻ vào bát to. Thịt vò thăn thái lát, trộn đều, xào cho chín, rồi đổ vào bát cơm cháy. Cơm cháy kêu xèo xèo, bốc khói, toả mùi thơm. Nhai cơm cháy giòn tơi, chứa nhiều hương vi của món ăn thập cẩm nóng sốt, đậm đà, không bao giờ quên được.

Ngoài ra còn có đặc sản nem dê Nội Lâm khá đặc sắc của vùng.

2.1.4. Đánh giá chung về tài nguyên du lịch của khu Du lịch Sinh thái Tràng An.

Qua nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tài nguyên du lịch khu DL Tràng An trên cơ sở so sánh với các địa phương phụ cận, các điểm và các khu du lịch và trong toàn tỉnh có thể thấy những điểm chính của tài nguyên du lịch khu Tràng An bao gồm:

Tài nguyên du lịch khá đa dạng, phong phú. Toàn khu nằm trong rừng sinh thái tự nhiên văn hoá. Địa hình đa dạng có sự kết hợp với các yếu tố tự nhiên khác. Đồng thời lại nổi trội nằm trên một vùng đất ” Cố đô” của nước Đại Việt đã tạo cho khu sự nổi trội về tính đa dang và phong phú của tài nguyên du lịch được thể hiện trong cả nhóm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.

Khu có nhiều loại tài nguyên du lịch đặc sắc, độc đáo có khả năng khai thác cao để phát triển sản phẩm du lịch hấp dẫn có khả năng cạnh tranh cao không chỉ trong vùng mà còn có tầm vóc quốc gia và quốc tế với phong cảnh núi rừng hang động kết hợp còn hầu như là nguyên sơ tạo cho du khách một cảm giác mới lạ thích thú tham quan, đan xen là những giá trị văn hoá của các di tích lịch sử. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

  • Do vị trí ưu đãi nên khả năng khai thác các giá trị tài nguyên du lịch của khu rất thuận lợi.

Khu DL Tràng An hầu như còn rất mới mẻ, hoang sơ, khá nguyên vẹn, môi trường sinh thái trong lành, dân cư thật thà, nhiệt tình và rất hiếu khách chưa bị ảnh hưởng của hoạt động du lịch. Tuy nhiên, do đặc điểm về tự nhiên và nhân văn nên khá nhạy cảm và dễ dàng bị ” tổn thương” nên cần có biện pháp để giữ gìn và phát triển bền vững.

Có thể nói, tài nguyên thiên nhiên ở đây được hình thành bởi đặc điểm tổng hợp của các yếu tố địa chất địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật và hệ động vật khá đặc sắc. Sự có mặt có các yếu tố naỳ cùng nguồn tài nguyên nhân văn xen kẽ rất thuận lợi để phát triển cả loại hình du lịch sinh thái tự nhiên lẫn du lịch sinh thái nhân văn. Và đó cũng là lý do của sự cần thiết xây dựng mô hình du lịch sinh thái cộng đồng nhằm bảo vệ môi trường tài nguyên cùng các giá trị văn hoá lịch sử của khu du lịch.

Với nguồn tài nguyên du lịch đã nói, Khu du lịch Tràng An sau khi xây dựng xong sẽ trở thành một khu du lịch mang tầm cỡ quốc gia, quốc tế. Nơi đây có tổng hợp các loại hình du lịch: du lịch khám phá, du lịch văn hoá, du lịch lễ hội – tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch khám phá hang động, du lịch leo núi, du lịch ẩm thực, du lịch bơi thuyền, du lịch câu cá, du lịch nghiên cứu khoa học… trong đó đặc trưng cơ bản nhất vẫn là du lịch lịch sử, du lịch văn hoá, du lịch sinh thái.

2.1.5. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật

2.1.5.1. Cơ sở hạ tầng

Hệ thống giao thông vận tải.

Khu DL Tràng An nằm trên trục đường Quốc lộ 1A xuyên Bắc Nam, lại giáp thị xã Ninh Bình có trục đường sắt xuyên Bắc Nam. Đây là tuyến giao thông chủ đạo trong giao lưu kinh tế – xã hội giữa Ninh Bình với các tỉnh phía Bắc cũng như phía Nam. Hệ thống giao thông vận tải đã đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách qua Ninh Bình ngày càng lớn. Đồng thời, là điều kiện thuận lợi với quá trình khai thác và phát triển du lịch tại khu DL Tràng An.

Theo quy hoạch dự án xây dựng 11 tuyến đường chính. Huyết mạch chính về giao thông là tuyến đường núi Kỳ Lân chùa Bái Đinh có tổng chiều dài là 1600 m. Ngoài ra, còn có hệ thống đường xương cá (tuyến nhánh), cá quen đu bộ qua núi. Tổng chiều dài là 39,44 km. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Bên cạnh hệ thống giao thông đường bộ còn có hệ thống giao thông đường thuỷ bao gồm:

  • Nạo vét, tẩy rửa và làm sạch 48 hang động (tổng chiều dài là 12.224m), nạo vét các thung lũng đó có 12 thung lớn tạo tành 12 đảo (bán đảo) văn hoá, sinh thái.
  • Hệ thống bến bãi gồm có bến thuyền, nhà chờ….
  • Điều chỉnh các cầu để thuận lợi hơn cho giao thông thủy cụ thể là cầu Bàn Long là 18m, cầu vùng Quao là 8m.

Hiện nay một số tuyến đường vẫn còn trong dự án, một số tuyến đã được hoàn thành trong giai đoạn I đáp ứng được nhu cầu du lịch của du khách.

Hệ thống cung cấp điện.

Mạng lưới điện trong khu DL Tràng An do nhà máy điện Ninh Bình và 4 trạm điện phân phối.

Hiện tại, đã xây dựng được hệ thống đèn chiếu sáng phối khu công cộng cây xanh với hệ thống đèn cao áp công suất 150v và hệ thống cốt thép cao 9-11m. ở một số hang động có đèn chiếu sáng phục vụ du khách vào thăm quan. Tại khu núi chùa Bái Đính về cơ bản đã hoàn thành hệ thống chiếu sáng tại cá điện thờ nhà thờ, trên đường giao thông chính, bãi đỗ xe.

Hệ thống cấp thoát nước và vệ sinh môi trường.

Hệ thống cấp nước: xây dựng các trạm bơm cấp nước (trạm Trường Yên, trạm cầu Đen, trạm thung Khống, trạm thung Nấu rượu). Tại khung hang động để phục vụ cho du khách đi tham quan bằng thuyền được thuận lợi dễ dàng theo dự án quy hoạch sẽ có 3 trạm bơm (trạm bơm Lò Đá, trạm bơm áng Mương, trạm bơm khu vực hồ Đàm Thị, cụm cống, đập Bậc Đài).

  • Hệ thống thoát nước thải sinh hoạt gồm 2950 ống thoát nước với chiều dài 32.500m, 1 trạm xử lý nước thải.
  • Hệ thống thu gom rác thải: các thùng rác tại các điểm du lịch, chất thải rắn được thu gom tại khu vực tập trung rác nằm trong khu cây xanh phía cầu Vụng Quao. Hàng ngày công ty vệ sinh môi trường sẽ vận chuyển đến khu xử lý tại Tam Điệp

2.1.5.2. Cơ sở vật chất kỹ thật. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Cơ sở vật chất kỹ thuật của khu DL Tràng An nhìn chung chưa có, chưa đáp ứng được nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống, giải trí của khách du lịch khu đến tha, quan. Hiện đã có nhiều dự án xây dựng khách sạn, nhà hàng đang được triển khai.

Theo dự án quy hoạch, thì cơ sở vật chất kỹ thuật của khu DLST Tràng An bao gồm trong 2 phân khu: khu trung tâm và khu du dịch vụ du lịch. Khu trung tâm là khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có vị trí thuận tiện. Không gian kiến trúc nhà nghỉ được kết hợp hài hoà với cảnh quan tự nhiên cụ thể. Khu nhà nghỉ được bố trí ở phía Bắc trục đường chính (đường từ phía núi Kỳ Lân dẫn vào núi chùa Bái Đính), đây là khu nhà nghỉ cao cấp. Mật độ xây dựng =100%, tầng cao trung bình không quá 2 tầng. Về kiến trúc khu nhà nghỉ này được thiết kế cơ bản kiểu dáng biệt thự với trang thiết bị cao cấp, được bố trí cả khu đón tiếp và các khu công trình phục vụ đảm bảo sinh hoạt nghỉ ngơi cho khách du lịch thoải mái hài hoà và thuận lợi cho khách dạo chơi bách bộ trong khu vực tượng đài cũng như đi du thuyền qua các hang động.

Khu dịch vụ du lịch là khu vực được quy hoạch chia lô dành cho các nhà đầu tư, khai thác hoặc thuê đất để kinh doanh.

Bên cạnh các khu nghỉ ngơi ăn uống, khu vực dành cho nhu cầu vui chơi giải trí cũng nằm trong dự án và đang được triển khai.

Mặc dù chưa được hoàn thành song nếu khách du lịch đến khu DL Tràng An vẫn có thể lưu lại dài ngày tại các cơ sở lưu trú ăn uống trong địa bàn tỉnh Ninh Bình hoặc các huyện lân cận như Hoa Lư, Gia Viễn. Với vị trí thuận lợi, nằm trên trục đường xuyên Bắc – Nam, cách thành phố Ninh Bình 7 km (Khu hang động Tràng An), 17 km (khu tâm linh Bái Đính) nên rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch của khu. Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, nếu như năm 1992, toàn tỉnh có duy nhất khách sạn Hoa Lư với 33 phòng nghỉ. Đến nay, lực lượng lưu trú của ngành Du lịch Ninh Bình đã đạt 82 cơ sở lưu trú với 1.157 buồng, trong đó có 7 cơ sở với 270 buồng đã được thẩm định đạt tiêu chuẩn 2 sao và 2 cơ sở với 32 buồng đạt tiêu chuẩn 1 sao. Công suất sử dụng khách sạn bình quân đạt khoảng 47%/năm. Quy mô xây dựng hầu hết là vừa và nhỏ chưa đồng bộ (nguồn: Báo cáo quy hoạch tổng thể Ninh Bình 2007 – 2015), Sở Du lịch Ninh Bình.

Hệ thống cơ sở ăn uống đa dạng. Bên cạnh các cơ sở ăn uống trong các khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ phải kể đến các quán đặc sản tư nhân đã đáp ứng được nhu cầu ăn uống của du khách.

Vấn đề đầu tư: Tính đến 31/12/2006, ngành du lịch Ninh Bình đã đầu tư 421,453 tỷ đồng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch bằng 15% tổng mức vốn đầu tư đã duyệt trong đó bao gồm đầu tư phát triển cả cơ sở hạ tầng khu Du lịch Tràng An. Vốn đầu tư được duyệt là 2.572,243 tỷ đồng, đến ngày 31/12/2006 đã thực hiện được 290,744 tỷ đồng. Hiện đang hoàn thiện tuyến đường trục chính từ TP Ninh Bình đi Bái Đính (Nguồn: Phòng dự án, Sở Du lịch Ninh Bình).

2.1.6. Đánh giá chung về cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Nhìn chung, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch của khu DL Tràng An chưa hoàn thành vẫn còn trong quá trình dự án. Bước đầu mới chỉ đáp ứng được nhu cầu du lịch tham quan hang động, khu tâm linh núi chùa Bái Đính ở giai đoạn 2 của dự án. Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện tại chưa có, khách du lịch có nhu cầu nghỉ lại phải sử dụng dịch vụ ở một số khu vực lân cận xung quanh Khu DL Tràng An,chất lượng không cao, công suất sử dụng phòng cùng như doanh thu còn thấp.

Cho đến nay đã có nhiều dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng – cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch của khu.

2.2.Thực trạng hoạt động Marketing nhằm thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

2.2.1. Thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch tại khu du lịch Tràng An.

Khu du lịch Tràng An gồm khu tâm linh chùa Bái Đính và khu hang động Tràng An khu chùa Bái Đính hiện đang trong quá trình hoàn thiện còn khu hang động Tràng An đã đưa vào kinh doanh đó là ngày 8/4/2008 tổ chức bán vẽ và đã đạt được kết quả khả quan, thể hiện qua bảng sau:

Bảng: Kết quả kinh doanh du lịch tại hang động Tràng An năm 2008

Qua bảng số liệu ta thấy số lượng khách của khu du lịch Tràng An tăng dần từ 9960 lượt (tháng 4) lên 11282 lượt (tháng 6) tức là tưng 1,13 lần. Nguyên nhân số lượng khách tăng là do khu du lịch mới gây tò mò với khách. Hơn nữa thời tiết vào các tháng này thuận lợi cho khách đi du lịch vào các hang động.

Số lượng khách giảm dần vào các tháng 7 và 8,9 từ 11282 lượt xuống còn 2370 lượt tức là giảm 4,76 lần. Nguyên nhân là do các tháng này là các tháng mùa mưa các hang động bị ngập nước không kinh doanh được.

Các tháng cuối năm số lượng khách tăng dần từ 2370 lượt lên 6370 lượt tức là tăng 2,688 lần. Nguyên nhân là vì các hang lại hoạt động bình thường do đã hết mùa mưa nhưng do thời tiết là mùa đông lạnh nên du khách cũng ít đến.

Tương tự như số lượng khách doanh thu cũng tưng dần từ tháng 4 (là 59730 triệu đồng) lên tháng 6 là 676920 triệu đồng. Tháng 7,8 và tháng 9 giảm mạnh do mùa lụt không kinh doanh được. Các tháng cuối năm có tăng nhưng tăng nhẹ từ 142200 triệu đồng lên 283380 triệu đồng. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Bảng: Kết quả kinh doanh của khu du lịch Tràng An năm 2009

Qua bảng số liệu ta thấy từ tháng 1 đến tháng 4 số lượng khách tăng lên mạnh từ 11920 lên 45801 lượt tức là tăng 2,7 lần đặc biệt là nguyên nhân là do từ sau tết tức là tháng 2 số lượng khách tăng mạnh. Du khách một mặt đi lễ đầu năm ở chùa Bái Đính sau đó sang hang động Tràng An. Hơn nữa thời tiết các tháng này khá thuận lợi cho kinh doanh du lịch tại đây.

Từ tháng tư đến tháng 6 số lượng khách giảm dần, nguyên nhân là do trong các tháng này số ngày nghỉ giảm dần. Tuy nhiên từ 45801 lượt xuống 35181 lượt tức là giảm 1,3 lần.

Tuy nhiên số lượng khách cũng vẫn cao: 3.1602 lượt.

Doanh thu cũng tăng và giảm, giống số lượng khách. Từ 715200 triệu đồng lên 2748060 triệu đồng tức là tăng 3,4 lần. Tháng 4,5,6 giảm dần từ 2748060 triệu đồng xuống còn 2110860 triệu đồng tức là giảm 1,3 lần.

Doanh thu của năm 2009 là trong các tháng 4,5,6 cao hơn các tháng 4,5,6 của năm 2008 là do năm 2008 chỉ có 70 thuyền trong khi năm 2009 tăng lên 400 thuyền. Năm 2008 doanh thu là tháng 4 là 59760 triệu đồng, tháng 4 năm 2009 là 2748060 triệu đồng tức là tăng 2688300 triệu đồng.

Tháng 6 năm 2008 số lượng khách so với số lượng khách cung kỳ năm 2009 tăng 3,12 lần. Doanh thu năm 2008 thì doanh thu năm 2009 cũng tăng lên 3,1 lần.

Như vậy có thể thấy việc kinh doanh của khu du lịch Tràng An rất có hiệu quả.

2.2.2. Hoạt động phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu

Với tiền năng du lịch sẵn có bao gồm các tiềm năng về tự nhiên và các yếu tố tâm linh, trong những năm gần đây thì khách du lịch chủ yếu của khu du lịch Tràng An vẫn là khách nội địa – khách du lịch tiềm năng của khu du lịch, qua các năm thì lượng khách này vẫn tiếp tục tăng. Tuy nhiên ở đây, việc phân đoạn thị trường chủ yếu là phân đoạn theo đối tượng khách là nội địa và quốc tế để có thể phục vụ tốt nhất các dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Ban quản lý khu du lịch trong quá trình đưa các dịch vụ vào khai thác và hoạt động cũng đã tính đến nhu cầu, mong muốn, tâm lý và khả năng chi trả của các đối tượng khách sao cho có thể đáp ứng chủ yếu khách hàng tiềm năng tại khu du lịch này. Hiện nay khu du lịch đã đưa các dịch vụ đặc sắc các loại hình du lịch phong phú vào khai thác phục vụ đối tượng chính như du lịch tâm linh, du lịch Sinh thái bằng các phương tiện vận chuyển đường thuỷ và đường bộ là xe ôm, thuyền tôn và 1 số phương tiện khác theo nhu cầu của du khách mà chủ yếu là những du khách là người nước ngoài.

Khu lịch Tràng An là khu du lịch tâm linh kết hợp với sinh thái vì vậy khách du lịch tới đây không chỉ với mục đích đi lễ chùa mà còn mục đích nghiên cứu tìm hiểu về địa chất, hệ thống hang động các loài động vật, thực vật. Vì vây khu du lịch cũng chia thị trường khách thành khách du lịch đơn thuần và khách du lịch công vụ – nghiên cứu tìm hiểu. Đối tượng khách công vụ chủ yếu là các nhà khoa học, giáo viên các trường đại học sinh viên, học sinh về đây nghiên cứu tìm hiểu.

Với lí do trên tiêu thức phân đoạn theo quốc tịch là tiêu thức quan trọng nhất của khu du lịch Tràng An ngoài ra còn phân đoạn thị trường theo các tiêu thức như: Tâm lý khách và hành vi tiêu dùng.

Cũng từ đó ta có thể thấy đươc thị trường mục tiêu của khu du lịch vẫn là khác nội địa mà chủ yếu là khách du lịch đi lễ chùa. Đây là thị trường mục tiêu để khu du lịch hướng tói, từ đó có định hướng để phát triển du lịch theo đúng thị trường khách mục tiêu.

2.2.3. Các chính sách marketing nhằm thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Trong bối cảnh cả nước thực hiện chương trình hành động quốc gia về du lịch nhằm mục đích đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước thì hoạt động kinh doanh du lịch có hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng. Trong đó công việc nghiên cứu thị trường để tìm hiểu nhu cầu thị hiếu của du khách để đưa ra được một chính sách marketing thích hợp đã được các doanh nghiệp vận dụng một cách linh hoạt, đem lại những kết quả khả quan cho các doanh nghiệp.

Trong xu hướng phát triển của cả nước khu du lịch Tràng An cũng đã và đang từng bước áp dụng các công cụ của chính sách Marketing trong việc thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến với khu du lịch.

2.2.3.1. Chính sách sản phẩm Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Sản phẩm của các khu du lịch, các điểm du lịch chính là các tài nguyên du lịch và các dịch vụ như: Tham quan, đi lại, lưu trú, ăn uống và các chương trình du lịch tại khu du lịch. Một khu du lịch phát triển hay không thu hút được nhiều du khách hay ít khách là phụ thuộc rất lớn vào số lượng, chất lượng và tính độc đáo của các dịch vụ du lịch.

Mỗi một dịch vụ và chương trình du lịch của khu du lịch đều phải dựa trên sự nghiên cứu khách hàng mục tiêu xem xét các dịch vụ đó có phù hợp với nhu cầu, sở thích, mong muốn… của khách hàng hay không?

Dịch vụ vận chuyển khách của khu du lịch trong năm qua đã được đầu tư quy mô chuyển nghiệp và tạo nên được nét độc đáo cho khu du lịch cụ thể khi xây dựng bến thuyền để phục vụ du khách, ban quản lý khu du lịch đã nghiên cứu rất kỹ, điều kiện tự nhiên của khu du lịch nhằm đảm bảo môi trường tự nhiên bền vững phát triển mà không làm ảnh hưởng tới môi trường tự nhiên xung quanh. Hiện nay ở bến thuyền Tràng An có khoảng gần 100 chiếc thuyền chuyên phục vụ du khách mỗi thuyền có khả năng chở khoảng 6 khách.

Ở khu chùa Bái Đính có đội xe ôm là những người dân trong vùng rất nhiệt tình phục vụ khách đi du lịch tâm linh.

Dịch vụ vui chơi, giải trí, mua sắm tại khu du lịch còn nghèo, thiếu các khu vui chơi giải trí tổng hợp, thiếu các gian hàng bán hàng lưu niệm có quy mô và mặt hàng thiếu sự đa dạng. Tại khu du lịch Tràng An, các mặt hàng bày bán không có tính đăc trưng.

Khu du lịch Tràng An đang tiến hành xây dựng nhiều khu vui chơi giải trí như sân gôn, các loại hình du lịch mạo hiểm như leo núi.

Những chính sách sản phẩm này đã đem lại những hiệu quả kinh doanh đáng kể, thu hút được rất nhiều du khách tới đây. Các dịch vụ này không những đảm bảo về chất lượng, giá thành mà còn đáp ứng được nhu cầu mà khách mong muốn. Còn các chương trình du lịch cũng phải đảm bảo được tính logic về không gian, thời gian, phương tiện vận chuyển và tính hấp dẫn du khách tại các điểm du lịch.

2.2.3.2. Chính sách giá Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Giá sản phẩm là một trong những tiêu thức thường xuyên và quan trọng trong chính sách marketing của bất cứ doanh nghiệp nào cũng như tại các điểm du lịch. việc định giá cho các sản phẩm du lịch của các khu du lịch cũng có nghĩa lớn trong việc kinh doanh, duy trì và bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch cũng như các dịch vụ của khu vực. Do vậy giá cũng ảnh hưởng của khu vực. Do vậy với giá cũng ảnh hưởng tương đối tới việc các sản phẩm bán ra nhiều hay ít. Việc định giá cho các sản phẩm phải dựa trên thị trường khách chủ yếu, đồng thời phải đảm bảo được chất lượng và số lượng các sản phẩm mà du khách sẽ được tiêu dùng.

Chính vì thế mà khu du lịch Tràng An cũng rất quan tâm đến chính sách giá trong hoạt động Marketing của mình sao cho vừa đảm bảo phục vụ được đông đảo lượng khách tới đây, với phương châm “mọi du khách đều có khả năng tiêu dùng các sản phẩm tại khu du lịch” đồng thời cũng phải đảm bảo được nguồn thu cho khu du lịch.

Các chính sách giá của dịch vụ ở đây cũng không có sự phân chia cụ thể theo từng loại du khách, một số loại dịch vụ không có bảng giá cụ thể, mà chủ yếu là do sự thoả thuận giữa du khách với nguồn cung cấp dịch vụ hay giữa các đơn vị lữ hành với khu du lịch.

Các chính sách giá của dịch vụ ở đây cũng không có sự phân chia cụ thể theo từng loại du khách, một số loại dịch vụ không có bảng giá cụ thể mà chủ yếu là do sự thoả thuận giữa du khách với người cung cấp dịch vụ hay giữa các đơn vị lữ hành với khu du lịch.

Du khách là khách du lịch nội địa, hay khách quốc tế đều áp dụng với chính sách một giá. Khách đi hang động Tràng An vé thuyền là 60.000đồng/khách, khu Chùa Bái Đính chưa bán vé. Các dịch vụ khác như xe ôm lên chùa Bái Đính do sự thoả thuận giữa khách với các chủ xe. Giá xe ôm phụ thuộc vào các điểm mà khách muốn đến . Xe ôm từ dưới Tam quan nội của chùa Bái Đính lên chùa cổ là 30.000đồng/khách từ tháp chuông lên chùa pháp chủ là 15.000đồng/khách.

Tuy vậy tại các cơ sở lưu trú thì giá phòng và giá các dịch vụ khác ở khu gần khu du lịch Tràng An lại có sự phân chia theo các đối tượng khách du lịch là quốc tế và nội địa tương đối cụ thể nhằm phục vụ và đáp ứng được mọi đối tượng khách du lịch.

Đó là các khách sạn ở trong thành phố Ninh Bình như Biani, Thuỳ Anh, Hoàng Hải,

Bảng số liệu : Giá phòng khách sạn ở Ninh Bình Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Như vậy giá phòng đối với khách du lịch nội địa là không cao, khá hợp lý có khả năng đáp ứng được mọi nhu cầu du lịch và khả năng chi dùng của du khách. Tuy nhiên khu du lịch chưa có các chính sách giảm giá các dịch vụ vào các dịp lễ hội, các sự kiện quan trọng để khuyến khích khách du lịch nội địa. Do vậy ban quản lý khu du lịch cần nghiên cứu và áp dụng các chính sách giá hợp lý và đa dạng với từng đối tượng khách để có thể thu hút du khách mọi miền, mọi đất nước.

2.2.3.3. Chính sách xúc tiến hỗn hợp

Chính sách chương trình hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch Việt Nam 2010 đã được Tổng cục Du lịch, Sở thương mại – Du lịch triển khai đồng bộ trên cả nước. Đây là định hướng vô cùng quan trọng cho công tác xúc tiến phát triển du lịch Ninh Bình nói chung và cụ thể cho khu du lịch Tràng An nói riêng. Chương trình xúc tiến phải được tiến hành đồng bộ trên nhiều hình thức và theo các nội dung chính như sau: Tuyên truyền quảng bá du lịch, xúc tiến phát triển du lịch.

Hiện nay Ninh Bình có trang Wed giới thiệu về các điểm du lịch trong tỉnh trong đó có khu du lịch Tràng An và các dịch vụ để khách du lịch Tràng An, và các dịch vụ để khách du lịch lựa chọn cho mình. Ngoài ra hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch được ngành quan tâm tập trung chỉ đạo, tích cực tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu và khu du lịch Tràng An trên các phương tiện thông tin đại chúng như Đài truyền hình Trung ương và địa phương xuất bản các cuốn sách về chùa Bái Đính.

2.2.3.4. Vấn đề con người trong phục vụ du lịch.

Trong quá trình hoạt động của các khu du lịch cũng như của bất cứ hoạt động du lịch nào thì vấn đề con người có vai trò quan trọng và không thể tách rời trong quá trình hoạt động. Chất lượng phục vụ khách hàng phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ của những nhà quản lý du lịch, của những người trực tiếp phục vụ du khách trong quá trình du lịch. Vì vậy mà khu du lịch Tràng An đã tiến hành tổ chức các lớp học bồi dưỡng kiến thức du lịch cộng đồng cho những người dân để học hiểu và làm đúng theo định hướng mà tỉnh đề ra. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Mặt khác thái độ phục vụ của người làm du lịch cũng là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên văn minh tại các điểm du lịch. Để nâng cao ý thức phục vụ văn minh thì ban quản lý khu du lịch đã đề ra chủ trương nội dung chung cho tất cả những người tham gia phục vụ du khách bao gồm: những người chèo thuyền, người chở xe ôm, bán hàng lưu niệm…. quy định mọi người phải cam kết giữa văn minh lịch sự tại nơi du lịch, không được chèo kéo du khách mua hàng, không được gợi ý du khách cho tiền bồi dưỡng, gây khó chịu cho du khách. Phải luôn có thái độ vui vẻ phục vụ hoà nhã, phục vụ chu đáo làm hài lòng du khách.

Đồng thời việc tổ chức các đội thuyền nan được đánh số, cũng là một trong những chính sách về con người đảm bảo cho mọi người tham gia vào hoạt động của khu du lịch theo bộ phận, không tự do hoạt động gây nên hiện tượng tranh giành khách làm mất ổn định trật tự tại khu du lịch.

Tuy nhiên, tại khu du lịch Tràng An số hướng dẫn viên được đào tạo cơ bản hầu như không có mà chủ yếu là những người dân đã được học qua một số lớp sơ cấp do địa phương cư đề phục vụ du khách nên chất lượng các hướng dẫn viên tại đây không cao.

Nói chung khu du lịch rất quan tâm đến vấn đề con người trong việc thu hút khách hàng nhưng vẫn không tránh khỏi những sai sót khi phục vụ khách hàng. Bởi vậy việc tổ chức đào tạp nguồn nhân lực phục vụ du khách đang được tỉnh Ninh Bình và các địa phương coi trọng đưa thành mục tiêu phát triển du lịch trong tương lai.

2.3. Đánh giá nhận xét về hoạt động marketing nhằm thu hút khách của khu du lịch.

Để thu hút khách đến với khu du lịch ngày càng đông và hiệu quả, ban quản lý khu du lịch đã thực hiện những chính sách Marketing cơ bản tuy đã thu được một số những kết quả bước đầu, nhưng cũng không tránh khỏi những nhược điểm những bất cập trong quá trình thực hiện các chính sách.

2.3.1. Ưu điểm Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Khu du lịch Tràng An hiện tại do doanh nghiệp xuân Trường xây dựng quản lý. Doanh nghiệp này đã tạo điều kiện cho người dân nơi đây có công ăn việc làm và thu nhập đáng kể. Người dân được tổ chức lại thành các đội sản xuất, đội dịch vụ, phục vụ du lịch như: Đội thuyền, đội xe, khu bán hàng lưu niệm… Trước đây khi dự án được tiến hành, đất nông nghiệp được thu hồi và đưa vào xây dựng các công trình du lịch, hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật…. đời sống của người dân gặp khó khăn do mất đất. Nhưng việc tổ chức người dân lại thành lập thể đoàn hội, hoạt động có quy chế và điều lệ riêng, đã góp phần giải quyết những khó khăn, đưa cuộc sống người dân cải thiện và ổn định hơn.

Hoạt động du lịch cũng góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho nhiều người dân địa phương và khu vực, đóng góp tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo của địa phương. Số lượng thanh niên sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học đã được chính quyền xã, huyện đầu tư cho đi học các lớp quản lý du lịch các lớp nghiệp vụ du lịch để về phục vụ du lịch tại khu du lịch. Do đó tạo điều kiện cho những thanh niên này có cơ hội xây dựng quê hương, hướng tới cuộc sống tươi đẹp hơn, đồng thời có thể tránh xa các tệ nạn xã hội, các hoạt động không lành mạnh.

Góp phần giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng và văn minh thôn xóm.

Trong quá trình thực hiện các chính sách nhằm thu hút khách du lịch để tăng hiệu quả kinh doanh như các chính sách xúc tiến hỗn hợp quảng cáo, tuyên truyền, thì đồng thời cũng thu hút được rất nhiều các nhà đầu tư đến đây xây dựng phát triển, các doanh nghiệp xây dựng các khách sạn, nhà hàng, biệt thự, các mô hình du lịch mới, góp phần làm hoạt động du lịch, ở đây ngày càng sôi động, phát triển.

Bên cạnh đó thì hình ảnh của khu du lịch cũng được quảng bá và giới thiệu rộng rãi trong khu vực, trong nước và nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người biết đến du lịch Tràng An hơn.

Đồng thời, người dân nhờ đó cũng có cơ hội mở thêm nhiều nghề phụ nâng cao chất lượng cuộc sống, có điều kiện giao lưu với bên ngoài, mở mang tầm hiểu biết, tư tưởng tiến bộ hơn, con người năng động sáng tạo hơn trong lao động và sản xuất.

Đặc biệt khi hoạt động du lịch phát triển thì các tài nguyên du lịch càng được quan tâm và bảo vệ. Các điểm du lịch văn hoá được quan tâm giữ gìn những giá trị lịch sử, những tinh hoa văn hoá, đồng thời góp phần tôn tạo lại những di tích lịch sử đang dần suy thoái theo thời gian các tài nguyên tự nhiên được chính quyền có các biện pháp bảo tồn tự nhiên sinh học.

Mặt khác, doanh thu từ du lịch đóng góp một phần quan trọng vào việc xây dựng các công trình phục vụ người dân như cơ sở vật chất kỹ thuật, các công trình giao thông, nhà văn hoá, trạm y tế… tạo thuận lợi cho người dân sinh hoạt và giao lưu các vùng lân cận. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

2.3.2. Nhược điểm và bài học kinh nghiệm.

Việc tổ chức phục vụ còn rất thủ công. chưa có hệ thống nhà chờ để giới thiệu cho khách du lịch trước khi vào tham quan.

Các dịch vụ ở đây còn rất đơn điệu, dịch vụ hàng hoá chưa có nhiều, trên thuyền chưa có dịch vụ phục vụ khách như áo mưa phòng khi trời mưa,

Việc bảo vệ an toàn cho khách cũng chưa được chú ý như là ở khu hang động Tràng An mức nước lên xuống rất nguy hiểm nhưng ở khu hang động này chưa triển khai việc nghiên cứu mức nước cắm biển báo để báo hiệu cho khách du lịch biết. đây là một hạn chế của khu du lịch. Trên thuyền chưa có phao an toàn đề phòng tai nạn xảy ra.

Khu du lịch còn chưa có hướng dẫn viên điểm để phục vụ cho khách du lịch tìm hiểu về khu du lịch.

Khu du lịch Tràng An ngoài khu du lịch sinh thái là các hang động chính vì vậy mọi hoạt động diễn ra trong khu vực này phải đảm bảo có tính bền vững. Tuy nhiên trong quá trình diễn ra các hoạt động Marketing nhằm thu hút khách du lịch đã không tránh khỏi những khó khăn và những ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội.

Khi du lịch đi vào hoạt động thì ít nhiều có tác động xấu tới môi trường cảnh quan thiên nhiên, khi lượng khách du lịch lớn đến tham quan, nghiên cứu làm cho nhũ đá bị huỷ hoại các hoạt động thực vật bị ảnh hưởng.

Tuy nhiên ở khu du lịch Tràng An các chính sách giá không phân theo từng đối tượng khách cụ thể mà một số dịch vụ lại áp dụng chung chung, trong khi đó khả năng chi trả của khách quốc tế cao hơn nhiều so với khách địa, mặt khác gây tâm lý e ngại không an tâm khi lựa chọn các chương trình du lịch do sợ bị chèn ép giá. Trong quá trình thoả thuận với người cung cấp phương tiện. Do vậy chưa thực sự thu hút được khách nội địa tới tham quan và tiêu dùng các dịch vụ tại khu du lịch.

Bên cạnh đó, mặt dù tiềm năng du lịch ở đây rất lớn nhưng khu du lịch ở đây rất lớn nhưng khu du lịch vẫn chưa khai thác hết khả năng thực sự của khu du lịch, các sản phẩm du lịch chưa đa dạng như chủ yếu là du lịch sinh thái và du lịch tâm linh.

Các hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch đã được tiến hành với nhiều các chính sách nhưng khi áp dụng vào thực tế khu du lịch thì chưa đạt được những kết quả như mong muốn, số lượng khách nội địa vẫn ít và khả năng chi dùng của họ khi đến đây chưa nhiều. Nguyên nhân chủ yếu do dich vụ ở đây chưa phong phú đa dạng.

Vì vậy, qua những ưu và nhược điểm những thuận lợi và khó khăn mà khu du lịch phải trong qúa trình thực hiện các chính sách Marketing, thì ban quản lý cần rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm thúc đẩy các ưu điểm và hạn chế các nhược điểm nhằm đưa du lịch Tràng An phát triển và thu hút được nhiều du khách tới đây.

Các hoạt động du lịch cũng như bất kỳ một hoạt động nào cũng cần lấy dân làm gốc, dựa vào dân để xây dựng du lịch bền vững và phát triển. Dân là nguồn lao động trực tiếp và gián tiếp tham gia vào quá trình phục vụ du lịch, phục vụ khách du lịch tại điểm du lịch. Du lịch phát triển phải tạo điều kiện cải thiện phát triển cuộc sống của người dân, ngược lại khi cuộc sống của người dân đảm bảo thì họ mới yên tâm làm du lịch. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

Các chính sách du lịch đưa ra cần phải đứng trên quan điểm, phát triển du lịch nhưng cần phải bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường bởi các nguồn tài nguyên là điều kiện quan trọng để du lịch hoạt động, quyết định vòng đời của sẩn phẩm. Có bảo vệ được tài nguyên, bảo vệ môi trường tự nhiên thì các hoạt động du lịch mới được phát triển nhanh và bền vững, do đó sẽ thu hút được khách du lịch nhiều hơn.

Cần nghiên cứu và kịp thời nằm bắt các nhu cầu, mong muốn được tốt hơn các hoạt động du lịch mang nét bản sắc văn hóa địa phương, từ đó xây dựng các chương trình du lịch đặc sắc dựa trên những nhu cầu và tâm lý khách, từ đó thu hút nhiều du khách đến với điểm du lịch.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Từ những hệ thống các vấn đề lý luận về hoạt động Marketing thu hút khách du lịch đến với khu du lịch đã được xác lập ở chương 1, trong những chương 2 tôi đã tiến hành giới thiệu tổng quát về khu du lịch Tràng An, phân tích kết quả hoạt động marketing du lịch trên địa bàn trên các phương diện kết quả kinh nghiệm, thực trạng thị trường và lựa chọn thị trường khách mục tiêu, tiếp đến tôi đã phân tích nội dung cơ bản của chương là đánh giá các chính sách marketing nhằm thu hút khách du lịch đang áp dụng tại khu du lịch Tràng An trên cơ sở các chính sách cơ bản tạo lập và thực tế đang diễn ra để từ đó rút ra những kết luận về những ưu điểm và nhược điểm trong quá trình hoạt động, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm hạn chế những khó khăn và bất cập, đồng thời tiếp tục phát huy những lợi thế và ưu điểm đã có được trong thời gian tiến hành các chính sách đó. Đây là những luận cứ thực tế hết sức quan trọng giúp tôi đưa ra các hướng giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút khách du lịch đến với khu du lịch khách du lịch đến với khu du lịch Tràng An trong chương 3. Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp thu hút khách tại khu du lịch Tràng An

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x