Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp thu hút khách du lịch nội địa đến với khu du lịch Tràng An (Ninh Bình) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Từ xa xưa trong lịch xử nhân loại, du lịch được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống kinh tế – xã hội của các nước. Bởi du lịch đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người, từ đơn thuần chỉ là đi thăm quan cho đến việc kết hợp với các mục đích khác như: Học tập – nghiên cứu, thờ cúng – tín ngưỡng, tìm kiếm thị trường, hội họp. Có thể nói rằng du lịch đã và đang có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia và đặc biệt đối với vùng có tài nguyên du lịch đặc sắc, ấn tượng và có giá trị du lịch.

Đối với kinh doanh du lịch, khách du lịch là yếu tố sống còn, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu du lịch. Chỉ của du khách là việc vỏ tiền ra để sử dụng các hàng hoá – dịch vụ, các chương trình du lịch như tham quan, ăn uống, nghỉ ngơi, quà lưu niệm…. Vì vậy chi của du khách chính là thu của ngành du lịch. Và để có nguồn thu lớn nộp vào ngân sách Nhà nước thì các doanh nghiệp du lịch. Và để có nguồn thu lớn nộp vào ngân sách Nhà nước thì các doanh nghiệp du lịch cũng như các cơ quan ban ngành du lịch cần phải quan tâm tới việc hoàn thiện, nâng cao chất lượng các loại hàng hoá, sản phẩm du lịch dịch vụ, đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng cao của du khách và để làm sao du khách sẵn sàng mở rộng ” hấu hao” trong khi đi du lịch.

Du lịch khác các ngành kinh tế khác bởi nó mang nét đặc trưng riêng – hoạt động du lịch chỉ diễn ra ở những vùng đất có cảnh quan thiên nhiên độc đáo, đặc sắc, khác lạ với vùng khác, có những di tích mang sắc thái và dấu ấn riêng. Do có sự ưu đãi của thiên nhiên mà trên lãnh thổ nước Việt Nam đã có rất nhiều địa danh nổi tiếng về du lịch như: Hà Nội, Quảng Ninh, Sa Pa, Đà Lạt…. và Ninh Bình cũng là một trong những địa danh nổi tiếng với những di tích văn hoá, lịch sử, các danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp đã tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn thu hút được khách du lịch trong và ngoài nước. Nói đến Ninh Bình là nói đến Cố Đô Hoa Lư lịch sử, khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, du bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, suối nước nóng Kênh Gà – động Vân Trình, quần thể hang động Tràng An… Chính những khu du lịch này đã đưa du lịch Ninh Bình trở thành du lịch quan trọng của địa bàn trọng điểm phía bắc, là một địa chỉ hấp dẫn, an toàn và thân thiện….. mời gọi du khách muôn phương. Với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng như vậy đã tạo nên rất nhiều sản phẩm du lịch khác nhau. Chính vì thế mà Ninh Bình đã xác định du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển của mình.

Trong số các khu du lịch được tỉnh Ninh Bình quan tâm đầu tư trở thành khu du lịch trọng điểm của tỉnh mà phải nói đến khu du lịch Tràng An, mặc du được phát triển và đưa vào khai thác chưa lâu nhưng khu du lịch đã đem lại nhiều hiệu quả to lớn, thu hút được nhiều các nhà đầu tư đến khai thác và tiến hành xây dựng, kinh doanh. Tuy nhiên trong nhiều lĩnh vực vẫn còn nhiều hạn chế như cơ sở vật chất kỹ thuật chưa nhiều, sản phẩm du lịch chưa đa dạng, các loại hình dịch vụ bổ sung còn ít…. do đó mà khách du lịch vẫn chưa muốn chọn Tràng An làm điểm dừng chân lý tưởng của mình. Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào thu hút được nhiều khách du lịch đến với Tràng An, chi dùng và các dịch vụ du lịch của khu du lịch?

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: ” Giải pháp thu hút khách du lịch đến với khu du lịch Tràng An” nhằm nghiên cứu tình hình khai thác du lịch của khu du lịch Tràng An đồng thời đưa ra một số ý kiến đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng thu hút khách đến Tràng An trong thời gian tới. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Do thời gian nghiên cứu đối tượng còn hạn chế, tài liệu tham khảo ít, trình độ người viết còn nhiều hạn chế, kinh nghiệm chưa nhiều nên không tránh khỏi những sai sót, mặt khác đây là một vấn đề rất khó đối với một sinh viên còn thiếu những cọ sát thực tế. Tuy vậy tác giả vẫn xin được mạnh dạn trình bày, đánh giá và đưa ra ý kiến từ những đúc kết trong quá trình nghiên cứu của bản thân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. Mục đích nghiên cứu

  • Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về thu hút khách du lịch đến với các khu du lịch.
  • Khảo sát, phân tích trạng thu hút khách tại du lịch Tràn An
  • Đưa ra một số giải pháp nhằm thu hút khách du lịch đến khu du lịch Tràng An trong thời gian tới.

3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

3.1. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về nội dung:

Đề tài tập trung phân tích hoạt động thu hút khách du lịch dưới góc độ tiếp cận của môn học Marketing du lịch

Phạm vi không gian

Do hạn chế về mặt thời gian cũng như về trình độ mà khoá luận chỉ tập trung nghiên cứu chủ yếu một số địa điểm chính mang tính đại diện và là nơi thu hút nhiều khách du lịch của khu du lịch Tràng An: khu du lich tâm linh chùa BáI Đính, hang động Tràng An.

Phạm vi thơì gian:

Nghiên cứu tình hình kinh doanh du lịch và thu hút khách các năm 2008- 2009

3.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn điều tra Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Để thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác và khách quan, người nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn điều tra các cá nhân, tổ chức có liên quan tới khu vực nghiên cứu. Đồng thời, phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến cho khách du lịch tại các điểm dừng chân, nghỉ ngơi trên chặng đường dể thu thập các thông tin cần thiết. Đối tượng chủ yếu là khách du lịch quốc tế, nội địa các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và người dân địa phương.

Phương pháp thu thập thông tin và xử lý dữ liệu:

Trong bất kì một công trình nghiên cứu khoa học nào, tính kế thừa luôn phải được đặt ra. Do vậy việc thu thập các tài liệu có liên quan là rất quan trọng và cần thiết. Trong quá trình nghiên cứu khoá luận, tác giả đã thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, văn hoá lịch sử, quy hoạch phát triển và một số nghiên cứu về hoạt động du lịch ở khu du lịch Tràng An cơ sở cho những phân tích đánh giá đặt ra đối với khoá luận.

Phương pháp liên ngành

Hoạt động kinh doanh du lịch là tổng hợp của tất cả các lĩnh vực kinh tế, địa lý, văn hoá, xã hội. Do đó đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức tổng hợp của nhiều lĩnh vực, vận dụng tốt các môn học chuyên ngành du lịch đề từ đó có những nhận xét đánh gái đúng đắn về các khía cạnh của lĩnh vực nghiên cứu.

4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Khu du lịch Tràng An do doanh nghiệp Xuân Trường tiến hành xây dựng từ năm 2004 gồm khu tâm linh núi chùa Bái Đính , và khu hang động Tràng An, khu dịch vụ. Dự án xây dựng khu du lịch Tràng An đã hoàn thiện giai đoạn I năm 2008 , hiện đang hoàn thiện giai đoạn 2.

Chùa Bái Đính là một khu chùa gồm chùa cổ và chùa mới đang hoàn thiện chùa cổ do thiền sư Nguyễn Minh Không phát hiện ra các hang đá và dựng chùa. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Hang động Tràng An được hình thành tử hàng triệu năm, quá trình kiến tạo địa chất đã tạo thành nhiều hang động kỳ thú.

5. Bố cục khoá luận

Khoá luận ngoài phần mở đầu, kết luận, chú thích, phụ lục, tài liệu tham khảo, được chia làm 3 chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động marketing thu hút khách du lịch đến với khu du lịch Tràng An .
  • Chương 2: Thực trạng thu hút khách du lịch đến với khu du lịch Tràng An
  • Chương 3: Một số giải pháp marketing nhằm thu hút khách du lịch ở khu du lịch Tràng An

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUÂN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN VỚI KHU DU LỊCH TRÀNG AN (NINH BÌNH)

1.1. Khái quát về du lịch và điểm đến du lịch

1.1.1. Du lịch

Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một số sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến, đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người. Về mặt kinh tế du lịch đã được coi là một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển. Du lịch được coi là một ngành công nghiệp – công nghiệp du lịch, hiện nay ngành ” công nghiệp” này chỉ đứng sau công nghiệp dầu khí và ô tô. Đối với các nước đang phát triển, du lịch được xem như là cứu cánh để vực dậy nền kinh tế yếu kém của quốc gia. Với vị thế và vai trò quan trọng đó du lịch đã và đang trở thành đối tượng nghiên cứu của đông đảo các học giả trên thế giới cả ở tầm vi mô và vĩ mô dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau với những mục đích nghiên cứu khác nhau.

Sau đây là một số quan niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ biến Du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người.

Du lịch là một hiện tượng: Du lịch được coi như một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và nhận thức của con người. Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú mục đích tìm kiếm việc làm và trong thời gian đó họ phải tiêu tiền họ đã kiếm được. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Du lịch là môt hoạt động: Theo Mill và Morrison du lịch là một hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới (một nước hay ranh giới một vùng, khu vực) để nhằm mục đích giải trí công vụ và lưu trú ở đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm. Như vậy du lịch có thể được hiểu là hoạt động của con người nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định.

Du lịch dưới góc độ là khách du lịch: Một quan niệm khác xem xét khái niệm và bản chất của du lịch dưới góc độ người đi du lịch. Theo góc độ tiếp cân này hội nghị liên hiệp quốc về du lịch tại Rome (1963), thống nhất quan điểm về khách du lịch ở hai phạm vi quốc tế và nội địa. Quán triệt quan niệm của tổ chức du lịch thế giới, trong Luật du lịch Việt Nam (2005) có quy định:

Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” và khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

Du lịch dưới góc độ là một ngành kinh tế

Cùng với sự phát triển của xã hội, du lịch phát triển phổ biến và ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội, và các nhu cầu đi lại, ăn ở, giải trí… của khách trở thành một cơ hội kinh doanh. Với góc độ đó, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một hoạt động kinh tế, môt ngành kinh tế được hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người trong chuyến đi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên – đó là ngành du lịch. Hội nghị liên hiệp quốc về du lịch năm 1971 cũng đi đến thống nhất cần quan niệm rộng rãi ngành du lịch như là người đại diện cho tập hợp các hoạt động công nghiệp và thương mại cung ứng toàn bộ hoặc chủ yếu các hàng hoá và dịch vụ cho tiêu dùng của khách du lịch quốc tế và nội địa. Như vậy với tư cách là một hệ thống cung ứng các yếu tố cần thiết trong các hành trình du lịch thì du lịch được hiểu là một ngành kinh tế cung ứng các hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở kết hợp giá trị tài nguyên du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt của du khách.

Tiếp cận du lịch một cách tổng hợp. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của môn du lịch học, khái niệm du lịch phải phản ánh các mối quan hệ bản chất bên trong làm cơ sở cho việc nghiên cứu các xu hướng và các quy luật phát triển của nó. Theo du lịch học thì: Du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch.

  1. Khách du lịch: Đây là những người tìm kiếm các kinh nghiệm và sự thoả mãn về vật chất hay tinh thần khác nhau. Bản chất của du khách sẽ xác định các điểm đến du lịch lựa chọn và các hoạt động tham gia, thưởng thức.
  2. Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch: Các nhà kinh doanh coi du lịch là cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường khách du lịch .
  3. Chính quyền sở tại: Du lịch được xem như là một nhân tố thuận lợi đối với nền kinh tế trong lãnh thổ của mình. Chính quyền quan tâm đến công việc mà du lịch tạo ra ,thu nhập mà dân cư có thể kiếm được ,khói lượng ngoại tệ mà du khách quốc tế mang vào cũng như những khoản thuế nhận được từ kinh doanh du lịch và các loại thuế ,lệ phí khác từ khách du lịch .
  4. Đối với cộng đồng dân cư địa phương, du lịch được xem như là một cơ hội để tìm việc làm tạo ra thu nhập đồng thời cũng là nhân tố hấp dẫn khách du lịch bởi lòng hiếu khách và phong tục tập quán, văn hoá. Một điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là hiệu quả của sự giao lưu giữa khách quốc tế và dân cứ địa phương. Hiệu quả này có thể có lợi vừa có hại.

Tóm lại, du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận xuất phát từ tính chất phong phú của hoạt động du lịch, cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch khái niệm du lịch cũng có sự phát triển đi từ hiện tượng đến bản chất. Việc tiếp cận khái niệm du lịch dưới các góc độ cho phép chúng ta có nhận thức đúng đắn và bao quát bản chất của du lịch đồng thời làm cơ sở phân tích các vấn đề có liên quan.

1.1.2. Kinh doanh du lịch.

Kinh doanh du lịch là việc bỏ ra một số vốn ban đầu vào hoạt động trên thị trường để thu được một lượng tiền lớn hơn sau một thời gian nào đó. Theo điều 10 pháp lệnh du lịch Việt Nam thì kinh doanh du lịch là việc thực hiện một hoặc một số tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch, hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.

Trong ngành kinh doanh du lịch có 4 lĩnh vực kinh doanh. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Kinh doanh lữ hành là ngành kinh doanh các chương trình du lịch, đó là ngành kinh doanh đặc trưng, ngành xương sống của du lịch. Kinh doanh lữ hành được tổ chức thành các hãng lữ hành. Kinh doanh lữ hành bao gồm: Lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa.

Loại hình kinh doanh này chỉ dành cho khách du lịch đi theo tour, vì có nhiều đối tượng du khách khác nhau nên việc kinh doanh lữ hành phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các điểm du lịch để hình thành nên các tour tuyến khác nhau phù hợp với từng loại khách. Ngoài ra kinh doanh lữ hành phải hết sức linh động có thể thay đổi theo nhu cầu của khách, các dịch vụ trong chương trình du lịch cũng do khách quyết định.

Kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch. Đặt trong tổng thể kinh doanh du lịch, kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch là công đoạn phục vụ khách du lịch để họ hoàn thành chương trình du lịch đã lựa chọn. Đây là loại hình chỉ khách lưu trú lại mở sử dụng. Do đặc điểm kinh doanh cơ sở lưu trú là nếu không có khách thì vẫn phải chịu một chi phí nhất định do đó việc định giá các phòng nghỉ cho những giai đoạn khách nhau cũng phải rất linh động, vì vào những ngày cháy phòng thì giá cao hơn mức quy định, nếu ít khách thì giá lại giảm, như vậy mới có thể bù đắp cho những ngày không có khách nghỉ lại.

Kinh doanh vận chuyển du lịch bao gồm vận chuyển bằng máy bay, tàu hoả, tàu thuỷ, ô tô… và các phương tiện truyền thống như xe ngựa, xe đạp, xích lô, lạc đà…. ngoài ra còn phương tiện vận chuyển thông tin theo nhu cầu các khách như: điện thoại, fax….

Kinh doanh các dịch vụ khác: Ngoài các loại hình kinh doanh du lịch trên còn có một số kinh doanh khác như: Hàng hoá lưu niệm, giặt là, các dịch vụ thông tin trong du lịch….

Hoạt động kinh doanh du lịch phải dựa trên các tài nguyên du lịch, bởi tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực tế của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hoá của ngành du lịch. Ngoài ra, đối tượng phục vụ của ngành du lịch luôn di động và phức tạp. Số lượng khách du lịch cũng như số ngày lưu lại của khách luôn biến động. Nên kinh doanh du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp và phức tạp, bao gồm nhiều ngành hoạt động khác nhau như kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch, kinh doanh hàng hoá, vận tải, ăn uống, nghỉ ngơi.

1.1.3. Khái niệm và các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

1.1.3.1. Điểm đến du lịch.

Du lịch là hoạt động có hướng đích không gian. Người đi du lịch rời khỏi nơi cư trú của mình để đến nơi khác – một địa điểm cụ thể để thoả mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi. Trên phương diện địa lý điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ. Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó tuỳ theo mục đích chuyến đi của người đó.

Điểm đến du lịch (Tourism destination) là một trong những khái niệm rất rộng và đa dạng – được dùng để chỉ một địa điểm (place) có sức hút với tập du khách khác biệt cao hơn so với địa điểm cùng cấp so sánh xung quanh bởi tính đa dạng tài nguyên, chất lượng và một loạt các tiện nghi và hoạt động (trong đặc biệt quan trọng là hoạt động quảnlý và marketing) cung cấp cho du khách ; do ở đây tồn tại các yếu tố sơ cấp đặc thù (khí hậu, sinh thái, truyền thống văn hoá, các kiến thức truyền thống, loại hình vùng đất) cùmg các yếu tố thứ cấp như các khách sạn, giao thông – vận tải và các khu vui chơi giải trí và hoạt động được quy hoạch và quản lý như một hệ thống “mở” Điểm đến có thể hiểu đơn giản là các địa điểm du lịch như các công viên chủ đề, những câu lạc bộ khách sạn và các làng du lịch. Những nơi này có thể là các điểm đến cho một chuyến đi trong ngày, một kỳ nghỉ ngắn hoặc dài ngày. Ở một khía cạnh khác, thì các quốc gia, các lục địa cũng được xem xét và chào bán như là các điểm đến du lịch (Uỷ ban lữ hành Châu âu (ETC)) và hiệp hội lữ hành khu vực Thái Bình Dương (PATA) có trách nhiệm tiếp thị cho Châu âu và khu vực Thái Bình Dương như là những điểm đến du lịch.

Như vậy, các điểm đến du lịch cũng được coi là một dạng thức sản phẩm thị trường du lịch đặc biệt theo tiếp cận quản trị kinh doanh và marketing du lịch.

Nhìn chung có các điểm đến sau:

  1. Các đô thị lớn, các trung tâm
  2. Các trung tâm truyền thống được triển khai theo mục tiêu du lịch (các trung tâm tour du lịch cũng là dạng thức điểm đến này)
  3. Các khu vực nghỉ ngơi được xây dựng có chủ đích du lịch.
  4. Các quốc gia (Việt Nam, Thái Lan….)
  5. Nhóm các quốc gia (ASEAN, EU…) và lục địa (á, âu, mỹ)

Có thể phân biệt hai loại điểm đến là điểm đến cuối cùng và điểm đến trung gian. Từ góc độ địa lý, điểm đến du lịch trở thành đối tượng nghiên cứu gắn với sự chuyển động của dòng du khách cũng như ý nghĩa và sự tác động của dòng du khách đối với điểm đến. Đồng thời điểm đến là tập hợp tất cả các khía cạnh của du lịch trong một cơ cấu thống nhất bao gồm: Cầu, giao thông vận tải, cung và hoạt động marketing. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Đặc điểm chung của điểm đến

Được thẩm định về mặt văn hoá: Các du khách thường cân nhắc điểm đến có đáng kể đầu tư thời gian và tiền bạc đến viếng thăm hay không do đó có thể nói rằng điểm đến là kết quả của những thẩm định về văn hoá của khách thăm.

Tính đa dạng: Các tiện nghi ở điểm đến thường phục vụ cho cả dân cư địa phương và khách thăm quan. Tính đa dạng của điểm đến phụ thuộc vào sự phân biệt loại các tiện nghi chỉ phụ vụ khách du lịch, dân cư địa phương hay hỗn hợp cả hai đối tượng trên.

Tính bổ xung: Thực tế cho thấy hỗn hợp các yếu tố cấu thành điểm đến có mối quan hệ mật thiết với nhau ở hầu hết cá điểm đến du lịch. Chất lượng của mỗi yếu tố này và sự cung cấp dịch vụ của chúng cần có sự tương đồng với nhau một cách hợp lý.

1.1.3.2. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch.

Từ góc độ cung, có thể cho rằng điểm đến là tập trung các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách. Hầu hết các điểm đến bao gồm một hạt nhân cùng các yếu tố sau:

Điểm hấp dẫn du lịch: Các điểm hấp dẫn của một điểm đến du lịch dù mang đặc điểm nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng đều gây ra động lực ban đầu cho sự thăm viếng của khách.

Giao thông đi lại: Rõ ràng giao thông và vận chuyển khách ở điểm đến sẽ làm tăng thêm chất lượng của các kinh nghiệm sự phát triển và duy trì giao thông có hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách là điểm căn bản cho sự thành công của các điểm đến. Sự sáng tạo trong việc tổ chức giao thông du lịch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tập du khách trong việc tiếp cận điểm đến và là một yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Nơi ăn nghỉ: Các dịch vụ lưu trú của điểm đến không chỉ cung cấp nơi ăn nghỉ mang tính chất mà còn tạo được cảm giác chung về sự tiếp đãi cuồng nhiệt và ấn tượng khó quên về món ăn và đặc sản địa phương.

Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ: Du khách đòi hỏi một loạt các tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại điểm đến du lịch. Bộ phận này có đặc điểm là mức độ tập trung về sở hữu thấp.

Hỗn hợp các cấu thành của điểm đến kết hợp theo nhiều cách khác nhau, tất nhiên để du khách sử dụng có hiệu quả hơn thời gian của mình, góp phần làm tăng sự hấp dẫn du khách.

Các hoạt động các yếu tố cấu thành của một điểm đến du lịch trên địa phương diện khác phương diện vật chất, đó là cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của điểm đến. Cơ sở hạ tầng biểu thị tất cả các dạng của công trình xây dựng trên hoặc dưới mặt đất cần thiết cho một khu vực dân cứ sinh sống bao gồm cả hệ thống thông tin liên lạc mở rộng ra hệ thống bên ngoài. Cở sở vật chất kỹ thuật của điểm đến bao gồm toàn bộ những tiện nghi vật chất và phương tiện kỹ thuật của điểm đến du lịch bao gồm các cơ sở lưu trú và ăn uống, các điểm hấp dẫn được xây dựng, các khu vui chơi, giải trí, các cơ sở thương mại và dịch vụ khác.

Sự phát triển của khu du lịch gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của điểm đến du lịch, các điểm du lịch cũng trải qua chu kỳ phát triển tương tự chu kỳ sống của sản phẩm đồng thời trong mỗi giai đoạn của chu kỳ sống sức chứa của khu du lịch là yếu tố quyết định sự tồn tại cũng như kéo dài của giai đoạn và là vấn đề trung tâm của phát triển du lịch bền vững ở khu vực. Vấn đề này đặc ra yêu cầu cho việc nghiên cứu và quản lý của các nhà hoạch định chiến lược trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch.

1.1.4. Kinh doanh lữ hành Nội địa

1.1.4.1. Khái niệm KDL nội địa Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Ngày nay, du lịch đã trở thành 1 hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển còn cả ở các nước đang phát triển trong đó có VN. Tuy nhiên cho đến nay nhận thức về các khái niệm cũng như nội dung DL, trong đó có nội dung KDL nội địa vẫn chưa thống nhất. Do hiệu chỉnh thời gian, khu vực khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau các định nghĩa được đưa ra cũng không giống nhau.

Việt Nam, để chuẩn hóa khải niệm KDNLNĐ và KDL quốc tế, giúp cá cơ quan quản lý Nhà nước xác định nghĩa vụ đối với Nhà nước các doanh nghiệp, lao động giúp các doanh nghiệp phân định được chiến lược kinh doanh, phạm vị thị trường khách, thống kê doanh thu từ d/l ……Khái niệm KDLNĐ, đã được quy định tại điều 34 chương 5, luật DL Việt Nam (2005) do Quốc hội khoá XI, kì họp 7 nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/06/2005. “KDLND là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi đ/l trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam” (13,72)

Như vậy theo quy định này thì KDLNĐ bao gồm cả công dân Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Việt Nam nhưng phải đảm bảo điều kiện ” đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”. Nghĩa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam di chuyển khỏi nơi ở thường xuyên của họ tại các địa phương nằm trong lãnh thổ Việt Nam và các thời gian rảnh rỗi đến nơi DL cũng là các địa phương nằm trong lãnh thổ Việt Nam để thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết phục hồi sức khoẻ xây dựng hay tăng cường tình cảm của con người với nhau hoặc với tự nhiên, thư giãn giải trí hoặc thể hiện mình kèm theo việc tiêu thụ giá trị tinh thần vật chất và các dịch vụ do các cơ sở của ngành du lịch cung ứng.

Những đặc trưng cơ bản này dùng để phân biệt với KDL quốc tế, là những người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch ( khách Inbound ) và cư dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam đi ra nước ngoài du lịch ( out bound).

1.1.4.2. Đặc điểm của KDL nội địa

  • Đặc điểm về quy mô và cơ cấu khách

Một đặc điểm dễ phân biệt tên của KDLNĐ với KDL đó là quy mô và sản lượng KDLNĐ luôn lớn hơn. Đã có thể nói rõ điều đó khi quan sát bảng số liệu sau: Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến đặc điểm này trước hết phải kể đến là: Phần lớn KDLNĐ là những người dân bản địa , nông dân Việt Nam; số KDLNĐ là người nước ngoài và thường trú tại Việt Nam rất ít nên nếu như khoảng cách địa lí là yếu tố cản trở quá trình du lịch của khách du lịch Quốc tế thì lại là điều kiện thuận lợi đối với khách du lịch nội địa.

Thu nhập của người dân đang ngày càng nâng cao, tạo điều kiện nâng cao cuộc sồng;

Đồng thời nhận thức về du lịch trong xã hội ngày càng nâng cao và được cải thiện

Những năm gần đây, người lao động Việt Nam được hưởng chế độ nghỉ 2 ngày cuối tuần, cùng cới những ngày nghỉ lễ theo quy định đã làm cho quỹ thời gian nhàn rỗi của họ dài hơn,vì vậy là điều kiện thuận lợi cơ bản thuận tiện chuyến đi du lịch….

Một yếu tố nữa cũng góp phần quan trọng cần phải đề cập đó là truyền thống chảy hội với hàng trăm lễ hội văn hoá lớn nhỏ trên khắp mọi miền đất nước có sức hấp dẫn khách du lịch cả về tâm linh, giá trị lịch sử và giải trí…… là những động cơ làm nảy sinh nhu cầu du lịch.

Đặc điểm về nhu cầu khách du lịch nội địa:

Cầu du lịch là cầu về sản phẩm du lịch,nghĩa là cầu của những người di chuyển tới và lưu trú ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích là đi du lịch.

Cầu du lịch mang tính tổng hợp, trong đó mỗi nhà cung ứng sản phẩm du lịch chỉ đáp ứng được một hay vài nhu cầu của khách du lịch bởi vì trong quá trình du lịch các nhu cầu của khách mới được khơi dậy

Ngày nay khi nghiên cứu nhu cầu của khách du lịch nội địa và quốc tế,các học giả đều nhận thấy một điều: hầu hết các dịch vụ đều cần thiết ngang nhau để thoả mãn nhu cầu phát sinh trong chuyến hành trình và lưu lại của khách.

Những nhu cầu của khách du lịch có thể tạm chia thành 4 nhóm cơ bản sau:

  1. Nhu cầu vật chất
  2. Nhu cầu ăn uống và lưu trú.
  3. Nhu cầu cảm thụ cái đẹp và giải trí.
  4. Nhu cầu khác. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Trong đó nhu cầu 1 và nhu cầu 2 là những nhu cầu thiết yếu, là điều kiện tiền đề để thoả mãn nhu cầu 3. Nhu cầu 3 là nhu cầu đặc trưng của du lịch. Nhu cầu 4 là nhu cầu phát sinh tuỳ thuộc vào thói quen tiêu dùng, mục đích chuyến đi của khách du lịch.

Tuy nhiên đặc điểm của từng nhóm nhu cầu ở khách du lịch nội địa lại không hoàn toàn giống với khách du lịch quốc tế.

Nhu cầu vận chuyển.

Nhu cầu vận chuyển được thoả mãn là tiền đề cho sự phát sinh hàng loạt nhu cầu mới. Đối tượng để thoả mãn nhu cầu này là khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế điều đó:

  • Khoảng cách
  • Mục đích chuyến đi
  • Khả năng thanh toán
  • Thói quen tiêu dùng
  • Xác xuất an toàn của phương tiện
  • Uy tín
  • Nhãn hiệu
  • Chất lượng
  • Sự thuận tiện và tình trạng sức khoẻ của khách.

Đặc điểm khác nhau giữa khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế về nhu cầu vận chuyển chủ yếu thực hiện ở sự lựa chọn phương tiện vận chuyển:

Đối với khách du lịch nội địa: Thì phương tiện vận chuyển cho chuyến đi nhiều là ô tô. Vì ô tô là phương tiện thông dụng phổ biến và chiếm ưu thế hơn so với các phương tiện khác. Đặc điểm cơ bản của phương tiện này là giá cả rẻ hợp với thu nhập của khách, dễ dàng tiếp cận với đặc điểm du lịch (phù hợp với điều kiện giao thông trong nước Việt Nam).

Loại phương tiện thứ hai cũng được khách du lịch lựa chọn nhiều là tàu hoả. Ưu điểm của tàu hoả là chi phí vận chuyển thấp, hành trình bằng tàu hoả không hao tốn nhiều sức khoẻ của khách du lịch, tiết kiệm được thời gian đi lại, vì có thể thực hiện vào hành trình ban đêm. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Ngày nay, nhìn chung thu nhập của người dân đã có nhiều thay đổi, nhiều người đã lựa chọn máy bay làm phương tiện vận chuyển cho chuyến đi du lịch của mình. Tuy nhiên do giá vé quá cao, khả năng tiếp cận của điểm du lịch còn hạn chế nên máy bay vẫn chưa là phương tiện vận chuyển phổ biến trong cuộc sống du lịch của khách du lịch nội địa. Với khách du lịch quốc tế: Do khoảng cách từ nơi ở thường xuyên đến nơi du lịch của khách du lịch quốc tế lớn, khả năng chi trả cao hơn nên họ thường sử dụng phương tiện vận chuyển hàng không khi đi du lịch. Số khách du lịch ở Việt Nam bằng đường hàng không năm 2008 chiếm 72% so với đường bộ là 22% và đường thuỷ là 5%.

Nhu cầu ăn uống và lưu trú:

Nhu cầu ăn uống và lưu trú là nhu cầu cấp thiết để sinh tồn con người trong cuộc sống đời thường. Nhưng cũng là những nhu cầu này, trong hành trình du lịch thì không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của du khách mà còn đòi hỏi thoả mãn những nhu cầu tâm lí khác với khi họ ở nơi ở thường xuyên.

Mức độ thoả mãn nhu cầu ăn uống và lưu trú của khu du lịch nói chung và khu du lịch NĐ nói riêng chịu sự chi phối của những yếu tố sau:

  • Khả năng thanh toán của khách
  • Hình thức di du lịch
  • Thời gian hành trình và lưu lại
  • Mục đích chính cần thoả mãn trong chuyến đi
  • Giá cả, chất lượng phục vụ của doanh nghiệp
  • Lối sống
  • Các đặc điểm có người của khách
  • Khẩu vị ăn uống

Tâm lý nói chung của khu du lịch về nhu cầu ăn uống là lưu trú đều biển hiện rõ nhất ở tính kiêu kì và hưởng thụ có nghĩa là họ muốn thay đổi, chờ đón và mong đợi sự thoải mái, tốt đẹp, khi đến điểm du lịch nào đó họ được chiêm ngưỡng những cái mới mẻ, được thoải mái với những con người văn minh lịch sự trong ngành du lịch và từ đó, làm cho họ hết mệt mỏi, thư giãn tinh thần, sảng khoái, vui vẻ các ấm ức căng thẳng trong con người họ được giải thoát. Sự mong đợi này nếu không được thoả mãn thì niềm hy vọng hưởng thụ sẽ biến thành nỗi thất vọng, tiếc công tiếc của…

Những năm qua, nói chung ăn uống lưu trú của khu du lịch NĐ cũng ngày càng gia tăng và đa dạng hơn, theo dự báo số buồng phòng khách sạn phục vụ du lịch đến năm 2010 của cả nước trong ” Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 – 2010 (Tổng cục du lịch), nhu cầu buồng phòng của khu du lịch được thể hiện bảng 2:

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của khách du lịch và quá trình ra quyết định mua của khách du lịch.

1.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình ra quyết định mua của khách du lịch.

Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi của con người được phân chia thành 4 nhóm chính. Những yếu tố văn hoá, những yếu tố mang tính chất xã hội, những yếu tố mang tính chất cá nhân và những yếu tố tâm lý. Phần lớn các yếu tố này không chịu sự kiểm soát của các nhà hoạt động thị trường, nhiệm vụ của họ là phải nghiên cứu và theo dõi những yếu tố trên để hiểu biết hành vi của người tiêu dùng nói chung và khách du lịch nói riêng.

1.2.1.1. Những yếu tố thuộc về văn hoá. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Văn hoá: là một hệ thống những giá trị, đức tin, truyền thống và các chuẩn mực hành vi.

Văn hoá là nguyên nhân đầu tiên, cơ bản quyết định nhu cầu và hành vi của khách du lịch mạnh hơn bất kỳ một lập luận lôgic nào khác. Những điều cơ bản về giá trị, sư cảm thụ, sự ưa thích tác phong, thói quen, cách cư xử mà chúng ta quan sát được qua việc khách mua các sản phẩm du lịch đều chứa đưng bản sắc của văn hoá.

Văn hoá bao gồm nền văn hoá và nhánh văn hoá.

  • Nền văn hoá là sự pha trộn của niềm tin, giá trị, thói quen, tập quán, truyền thống và hình thức cư xử của một nhóm người là yếu tố quyết định nhất đến hành vi mong muốn của một người.
  • Trong một nền văn hoá có rất nhiều nhánh văn hoá hợp thành như: Các nhóm tôn giáo, phong tục, tập quán, các nhóm chủng tộc, các vùng địa lý….
  • Tầng lớp xã hội gồm có những người cũng tầng lớp xã hội thường có khuynh hướng hành động giống nhau hơn là hai tầng lớp khác nhau. Con người có được xem có địa vị thấp hay cao vì theo tầng lớp xã hội của họ (học vấn, nghề nghiệp, chính trị…). Các cá nhân có thể di chuyển từ tầng lớp này sang tầng lớp khác trong cuộc đời của mình.

1.2.1.2. Những yếu tố mang tính chất xã hội.

Ngoài yếu tố văn hoá, hành vi của người tiêu dùng còn được quy định bởi những yếu tố mang tính chất xã hội như: Các nhóm tham khảo, vai trò xã hội và những quy chế chuẩn mực xã hội.

Nhóm tham khảo: là những nhóm mà một cá nhân xem xét (như một sự tham khảo) khi hình thành thái độ và quan điểm của người đó.

Ảnh hưởng của nhóm xã hội tới hành vi mua của khách du lịch – một cá nhân thường thông qua dư luận xã hội của nhóm. Những ý kiến quan niệm của những người trong nhóm đánh giá về các sự kiện, dịch vụ…. luôn là những thông tin tham khảo đối với quyết định của một cá nhân. Cá nhân nào càng hoà đồng với cộng đồng của mình thì ảnh hưởng của dư luận nhóm càng lớn.

Đối với những người làm marketing, nhiệm vụ của họ là phải cố gắng phát hiện tất cả những nhóm khách du lịch tiêu biểu ở đoạn thị trưòng mục tiêu và phân chia họ thành 3 nhóm tuỳ thuộc vào mức độ ảnh hưởng với hành vi mua của khách du lịch là một cá nhân. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Nhóm 1: Là nhóm gây ảnh hưởng đến hành vi và phong cách sống mới của khách du lịch – một cá nhân

Nhóm 2: Là nhóm gây tác động đến cá nhân khách du lịch và quan niệm của họ về bản thân mình.

Nhóm 3: Bao gồm những khách du lịch tạo ra những ảnh hưởng có tính áp bức buộc cá nhân thành viên phải tuân theo.

  • Gia đình

Gia đình của khách du lịch – người mua được coi là yếu tố có ảnh hưởng mạnh, thậm trí được coi trọng hơn các yếu tố khác ảnh hưởng tới hành vi mua. Do sự biến động của nhu cầu về sẩn phẩm du lịch luôn gắn với sự hình thành và biến động của gia đình, những quyết định mua sản phẩm du lịch của khách du lịch luôn chịu ảnh hưởng của các cá nhân khác trong gia đình.

Điều mà nhà marketing quan tâm nhất khi nghiên cứu gia đình kết hôn là vai trò ảnh hưởng tương đối của người vợ, người chồng, con cái đến việc mua các sản phẩm du lịch và dịch vụ cụ thể.

Vai trò và ảnh hưởng của vợ chồng thay đổi tuỳ thuộc vào loại sản phẩm du lịch, vai trò và địa vị họ nắm giữ trong gia đình, trình độ hiểu biết và kinh nghiệm về sản phẩm du lịch khác nhau. Những hiểu biết về vai trò và ảnh hưởng tương đối của các thành viên trong gia đình là đặc biệt quan trọng trong việc soạn thảo các nỗ lực marketing.

1.2.1.3. Các yếu tố thuộc về bản thân

Các quyết định mua sản phẩm du lịch luôn chịu ảnh hưởng lớn của những yếu tố thuộc về bản thân họ như: tuổi tác, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống, cá tính và những quan điểm về chính bản thân.

  • Tuổi tác và giai đoạn trong đời sống cá nhân.

Khách du lịch thay đổi các sản phẩm du lịch mà họ mua qua các giai đoạn trong cuộc đời họ. Bởi vì, sự khác biệt về nhu cầu, thu nhập, tài sản, nợ nần, chi tiêu gắn chặt với tuổi tác và đường đời. Nhưng người làm marketing khi xác định thị trường mua dựa vào việc phân phối chia khách hàng thành những nhóm theo các giai đoạn của chu kỳ đời sống gia đình, để phát triển chính sách sản phẩm và chính sách marketing khác cho phù hợp.

  • b, Nghề nghiệp. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Nghề nghiệp có ảnh hưởng nhất định đến tính chất của sản phẩm du lịch và dịch vụ được lựa chọn. Sự lựa chọn các sản phẩm du lịch và dịch vụ của một công nhân khác với một vị giám đốc điều hành của công ty nơi họ cùng làm việc.

Các nhà làm marketing cần cố gắng để nhận biết khách hàng theo nhóm nghề nghiệp khác nhau và cần thiết phải có sự quan tâm thích đáng về những sản phẩm du lịch và dịch vụ mà khách du lịch trong mỗi nhóm yêu cầu.

  • Tình hình kinh tế.

Cơ hội thị trường của khách du lịch thuộc vào hai yếu tố: Khả năng tài chính của họ và hệ thống giá cả của sản phẩm du lịch và dịch vụ. Vì vậy tình trạng kinh tế bao gồm: Thu nhập, phần tiết kiệm, khả năng đi vay và những quan điểm về chi tiêu – tích luỹ…. của khách du lịch có ảnh hưỏng rất lớn đến sản phẩm du lịch và các dịch vụ mà họ lựa chọn và mua các sản đó.

  • Lối sống

Lối sống của một con người nói chung và các khách du lịch nói riêng được thể hiện qua hành động, sự quan tâm và quan điểm về những gì thuộc về xung quanh. Lối sống gắn rất chặt với nguồn gốc xã hội, nhánh văn hoá và nghề nghiệp, nhóm xã hội, tình trạng kinh tế và hoàn cảnh gia đình. Sự lựa chọn sản phẩm du lịch và dịch vụ của khách du lịch thể hiện lối sống của họ.

Với những người làm marketing, khi soạn thảo những chiến lược marketing đặc biệt là chiến lược quảng cáo cần phải khám phá được mối liên quan giữa sản phẩm du lịch, dịch vụ với lối sống.

  • Cá tính và quan niệm về bản thân.

Theo philip Kotler: Cá tính là những đặc tính tâm lý nổi bật của mỗi con người tạo ra thế ứng xử (những phản ứng đáp lại) có tính ổn định và nhất quán đối với môi trường xung quanh.

Cá tính thường được mô tả bằng đặc tính vốn có của cá thể như: Tính tự tin, tính thận trọng, tính tự lập, tính khiêm nhường, tính hiếu thắng, tính ngăn nắp… cá tính và thói quen buộc lộ trong hành vi mua các sản phẩm du lịch và dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ. Khi lựa chọn các sản phẩm du lịch và dịch vụ những khách hàng thận trọng luôn tìm kiếm thông tin và họ chỉ ra quyết định mua sản du lịch và dịch vụ một khi họ nhận thấy thông tin đã đầy đủ.

1.2.1.4. Những yếu tố thuộc về tâm lý Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

  • Động cơ

Động cơ là nhu cầu đã trở nên thiết đến mức độ buộc con người phải hành động để thoả mãn nó.

Về bản chất động cơ là đông lực thúc đẩy con người hành động để thoả mãn một nhu cầu hay ước muốn nào đó về vật chất hoặc về tinh thần hoặc cả hai. Cơ sở hình thành động cơ chính là nhu cầu hay mục đích của hành động mua.

Với những người làm marketing trong du lịch, mọi nỗ lực của họ chỉ có hiệu quả nếu họ nắm bắt đúng nhu cầu thành động cơ là một công việc khó khăn.

  • Nhận thức (tri giác)

Nhận thức là khả năng tư duy của con người. Nó có thể được định nghĩa là một quá trình thông qua đó một cá nhân lựa chọn, tổ chức và giải thích các thông tin để tạo nên một bức tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh.

Nhận thức không chỉ phụ thuộc vào đặc tính của tác nhân kích thích mà còn tuỳ thuộc vào mối tương quan giữa các nhân kích thích với môi trường xung quanh và bản thân của cá thể.

Sự hấp dẫn của một sản phẩm du lịch mới không chỉ do kích thích của sản phẩm đó tới các giác quan của khách hàng mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: Sản phẩm du lịch mới được giới thiệu và quảng cáo như thế nào? Có được nhiều người biết đến không?

Khách du lịch có thể nhận thức khác nhau về cùng một sản phẩm du lịch, dịch vụ cho 3 tiến trình của cảm nhận: sự chú ý chọn lọc, sự bóp méo và sự khắc hoạ.

  • Sự hiểu biết (kinh nghiệm) Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Sự hiểu biết diễn tả những thay đổi trong hành vi của một con người phát sinh từ kinh nghiệm.

Sự hiểu biết hay kinh nghiệm giúp khách du lịch khả năng khái quát hoá và sự phân biệt trong việc tiếp xúc với các sản phẩm du lịch tương tự nhau.

Đối với các doanh nghiệp du lịch mà sản phẩm du lịch của họ đã có những ghi nhận tốt trong của sự hiểu biết của khách hàng, cần phải duy trì và củng cố những cặp nhu cầu – sản phẩm du lịch cho phù hợp với các động cơ của khách du lịch – người mua, đồng thời với việc tổ chức các hoạt động marketing để hỗ trợ và phát triển những hiểu biết của khách hàng theo xu hướng tích cực.

  • d, Niềm tin

Niềm tin là sự nhận định chứa đựng một yếu tố cụ thể mà người ta có được về một cái gì đó, Các doanh nghiệp du lịch cần quan tâm đặc biệt đến niềm tin của khách hàng đối với những sản phẩm du lịch và dịch vụ cụ thể, để thiết kế ra những sản phẩm du lịch đáp ứng được niềm tin của họ.

1.2.2. Quá trình thông qua quyết định mua của khách du lịch

1.2.2.1. Xác lập nhu cầu.

Bước khởi đầu của tiến trình mua của khách du lịch về sự nhận biết về sự nhu cầu chưa được thoả mãn của khách du lịch người mua các sản phẩm du lịch. Nhu cầu du lịch phát sinh bởi nhiều yếu tố kích thích như sản phẩm du lịch mới, loại dịch vụ mới, trò vui chơi giải trí… ở giai đoạn này nhiệm vụ của các nhà marketing trong du lịch là xác định xem có những loại nhu cầu về du lịch nào được phát sinh?

Một nhu cầu về du lịch mới được nảy sinh cần có những sản phẩm du lịch mới để đáp ứng. Đó chính là nguồn ý tưởng quan trọng hình thành những sản phẩm du lịch mới và triển khai các chương trình marketing một cách hiệu quả để thúc đẩy nhu cầu về du lịch trở thành động cơ.

1.2.2.2. Tìm kiếm thông tin

Khi sự thôi thúc của nhu cầu về du lịch đủ mạnh, khách du lịch có thể tìm kiếm thông tin thoả mãn nhu cầu và ước muốn của mình. Cường độ của việc tìm kiếm thông tin về du lịch cao hay thấp, tích cực hay ôn hoà tuỳ thuộc vào sức mạnh của sự thôi thúc, khối lượng thông tin về du lịch mà người mua – khách du lịch có sẵn ban đầu… Khi tìm kiếm những thông tin về du lịch khách hàng có thể sử dụng những nguồn thông tin cá nhân, nguồn thông tin thương mại, nguồn thông tin đại chúng, nguồn thông tin kinh nghiệm. Mức độ ảnh hưởng của những thông tin về du lịch này thay đổi tuỳ theo loại hình du lịch mà đặc tính của khách hàng. Nhờ kết quả của việc thu thập thông tin về du lịch mà khách hàng có thể biết được đặc tính của từng sản phẩm du lịch. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Trong bước này các nhà marketing cần quan tâm và lý giải cụ thể.

  • Có những nguồn thông tin nào mà khách du lịch có thể tiếp cận để thu thập những thông tin về du lịch liên quan.
  • Nguồn tin nào gây ảnh hưởng quan trọng tới việc tiếp nhận sản phẩm du lịch mới của người mua – khách du lịch.
  • Những loại thông điệp và kênh phân phối nào là phù hợp để khách du lịch dễ dàng và thuận lợi trong việc sử lý thông tin về du lịch mà họ cần.

1.2.2.3. Khảo sát, kiểm tra, đánh giá giá trị và giá cả của sản phẩm du lịch

Vấn đề quan trọng nhất mà những người làm marketing trong du lịch cần phải kiểm soát trong giai đoạn này là: Quan điểm và thái độ của khách du lịch. Hay nói một cách cụ thể hơn là tiêu chuẩn về niềm tin của khách du lịch trong việc đánh giá các sản phẩm du lịch có khả năng cạnh tranh nhau. Một điều khó khăn là trong các tình huống mua các sản phẩm du lịch, tiến trình đánh giá các phương án của khách du lịch diễn ra không đơn giản và đơn nhất.

1.2.2.4. Quyết định mua

Kết thúc giai đoạn đánh giá các phương án, khách du lịch đã có một sản phẩm du lịch lựa chọn rất kĩ ý định mua thường dành cho những sản phẩm du lịch không phải là chỉ bảo đáng tin cậy cho quyết định mau cuối cùng. Bởi vì từ định mua sản phẩm du lịch đến quyết định mua sản phẩm du lịch còn chịu sự chi phối của những yếu tố kìm hãm.

1.2.2.5. Khai thác sử dụng các sản phẩm sau khi mua

Sự hài lòng hoặc không hài lòng sau khi mua và sử dụng sản phẩm du lịch sẽ ảnh hưởng tới hành vi mua tiếp theo của khách du lịch. Sự hài lòng và bất mãn của khách du lịch sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của họ khi có nhu cầu mua sản phẩm du lịch và khi họ truyền bá thông tin về sản phẩm du lịch đó cho người khác.

Với các nhà làm marketing du lịch những đánh giá sau khi sử dụng các sản phẩm du lịch của khách hàng trước hết cần phải được coi là những thành công hoặc chưa thành công về những nỗ lực marketing của mình.

1.3. Hoạt động marketing nhằm thu hút khách du lịch. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

1.3.1. Marketing du lịch

1.3.1.1. Khái niệm Marketing

Marketing hiện đại bao gồm những ý đồ trọn vẹn bao trùm toàn bộ quá trình sản xuất trong đó nhấn mạnh đến khâu tiêu thụ với quan điểm là: Chỉ bán cái mà thị trường cần chứ không bán cái mà doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra, coi trọng công tác tiếp cận nghiên cứu thị trường, phản ứng linh hoạt với sự biến đổi của thị trường bằng khoa học và nghệ thuật kinh doanh.

Có thể hiểu rằng, marketing là chức năng quản lý công ty về tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra nhu cầu thị trường và biến sức mua của người tiêu dùng thành sức mua thực sự về một mặt hàng hoặc một dịch vụ cụ thể đến việc đưa hàng hoá dịch vụ đó đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty thu lợi nhuận cao nhất.

Tổ chức du lịch thế giới (WTO) định nghĩa về marketing du lịch như sau: Đó là một triết lý quản trị mà nhờ nghiên cứu, dự đoán, tuyển chọn lựa trên nhu cầu của du khách để có thể đem sản phẩm du lịch ra thị trường sao cho phù hợp với mục đích, thu nhiều lợi nhuận của tổ chức đó.

Như vậy theo quan điểm này, marketing là hệ thống những nghiên cứu và lên kế hoạch xác lập cho doanh nghiệp một triết lý điều hành và toàn bộ chiến thuật và sách lược. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Để định nghĩa marketing du lịch ta dựa trên cơ sở 6 nguyên tắc sau:

  • Thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Tiêu điểm cơ bản của marketing là tập trung vào nhu cầu của khách hàng và từ đó tìm mọi biện pháp để thoả mãn chúng.
  • Bản chất liên tục của marketing. Marketing là một hoạt động quản lý liên tục chứ không phải là quyết định một lần là xong.
  • Sự tiếp nối trong marketing. Marketing là một tiến trình gồm nhiều bước tiếp nối nhau.
  • Nghiên cứu marketing đóng vai trò then chốt.
  • Sự phụ thuộc lẫn nhau của các công ty lữ hành và khách sạn
  • Một cố gắng sâu rộng và của nhiều bộ phận trong công ty.

Theo TS. Morrison: Marketing là một quá trình liên tục, nối tiếp nhau qua đó các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn và lữ hành lập kế hoạch, nghiên cứu, thực hiện, kiểm soát và đánh giá các hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng và những mục tiêu của công ty. Để đạt được hiệu quả cao nhất marketing đòi hỏi sự cố gắng của mọi người trong một công ty, và những hoạt động của các công ty bổ trợ cũng có thể có ít nhiều hiệu quả.

1.3.1.2. Những khác biệt của Marketing du lịch.

Thời gian tiếp xúc với các dịch vụ ngắn hơn. Khách hàng tiếp xúc với và có thể dùng hàng tuần, hàng tháng, hàng năm hầu hết sản phẩm hàng hoá và dịch vụ khi mua hàng. Đối với ngành du lịch thì ngược lại, ít thời gian để tạo được ấn tượng cho khách, ngành du lịch không có sự bảo hành đối với sản phẩm về mặt chất lượng.

Hấp dẫn mua dựa trên khía cạnh tình cảm nhiều hơn, Do đặc điểm của ngành du lịch liên quan đến con người, luôn có sự tiếp xúc giữa người với người luôn diễn ra. Những cảm xúc và tình cảm cá nhân nảy sinh từ những giao tiếp phụ vụ và chúng có tác động là hành vi mua sau này. Mặt khác, một số người muốn mua sản phẩm cho xứng với cái tôi của họ.

Chú trọng hơn trong việc quản lý ” bằng chứng” sản phẩm hàng hoá về cơ bản là một vật thể hữu hình, nhưng một dịch vụ bản chất là sự thực hiện. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Khách hàng không thể nhìn thấy, lấy mẫu hoặc tự đánh giá cá dịch vụ vì tính chất vô hình của chúng nhưng họ có thể lấy được nhiều yếu tố hữu hình liên quan đến những dịch vụ đó. Tác động kết hợp của những dấu vết hữu hình tác động quyết định mua hàng. Bằng chứng vật chất: môi trường vật chất, giá cả, truyền thông, khách hàng.

Nhấn mạnh hơn về hình tượng và tầm cỡ. Do tính chất vô hình của dịch vụ và khách mua dịch vụ hầu hết vì lý do tình cảm, các tổ chức cần bỏ ra nhiều nỗ lực trong việc tạo ra những liên kết về tinh thần như mong muốn.

Đa dạng và nhiều loại kênh phân phối hơn: Không có hệ thống phân phối vật chất cho các dịch vụ lữ hành và khách sạn. Ngành chúng ta có môt hệ thống đặc trưng các trung gian môi giới về lữ hành, gồm các đại lý lữ hành và các công ty cùng đưa ra các chương trình du lịch trọn gói. Những trung gian này được khách hàng nhìn nhận như là các chuyên gia và tiếp thu những lời khuyên của họ một cách nghiêm túc những trung gian sẽ xác định cái gì khách sẽ mua.

Sự phụ thuộc nhiều hơn vào các tổ chức bổ trợ. Một dịch vụ du lịch có thể rất tổng hợp như vậy sẽ có nhiều tổ chức khác nhau cung cấp những kinh nghiệm về dịch vụ du lịch. Khách du lịch đánh giá tổng thể chất lượng những kinh nghiệm của họ dựa trên hiệu quả thực hiện của mỗi tổ chức, đơn vị liên quan.

  • Việc sao chép dịch vụ dễ dàng hơn. Do có sự tham gia của khách hàng vào quá trình cung cấp dịch vụ. Dịch vụ dễ bị sao chép.
  • Chú ý hơn vào việc khuyến mại ngoài thời kỳ cao điểm.

Sản phẩm hàng hoá được khuyến mại nhiều khi nhu cầu cao. Khuyến mại ngoài thời điểm vì:

  • Việc quyết định đi du lịch là một thời gian dài, do vậy quảng cáo cần phải vào đúng thời kỳ khách hàng lên kế hoạch.
  • Do khả năng cung ứng thường là cố định.
  • Có áp lực phải sử dụng công suất sẵn có trong các thời kỳ thấp điểm, do tính không lưu khu của sản phẩm.

1.3.2. Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu

1.3.2.1. Phân đoạn thị trường Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Thị trường khách sạn và du lịch: Là nơi diễn ra các hoạt động mua bán và các dịch vụ hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu lưu trú, ăn uống, và các dịch vụ bổ xung phù hợp với các khả năng thanh toán của du khách.

Thị trường mục tiêu là một phân đoạn thị trường được doanh nghiệp chọn để tập trung nỗ lực marketing nào đó.

Phân đoạn thị trường là chia toàn bộ thị trường của dịch vụ nào đó thành nhóm (các phân đoạn)

Một doanh nghiệp không thể thu hút được tất cả các khách hàng và không thể thường xuyên làm vừa lòng khách hàng mà chỉ làm vừa lòng một nhóm nhỏ đôi khi một nhóm lớn khách hàng. Nên việc phân đoạn thị trường giúp cho các nhà quản lý phải hướng theo trương trình marketing nào đó, tức là lựa chọn được thị trường mục tiêu một cách hợp lý.

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu các tiêu thức cụ thể doanh nghiệp chia toàn bộ thị trường thành những nhóm nhỏ gọi là đoạn thị trường có điểm khác nhau về đặc điểm, có nhu cầu nhưng lại tương đối đồng nhất. Việc phân đoạn thị trường là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định và thực hiện chính sách marketing phù hợp nhằm khai thác đối đa thị trường. Tuy nhiên, việc sử dụng tiêu thức khác nhau sẽ nhận được kết quả phân đoạn khác nhau. Việc phân đoạn thị trường phải đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Việc phân chia phù hợp với các biện pháp mà doanh nghiệp có thể thực hiện các tiêu thức chủ yếu để phân đoạn thị trường.
  • Việc phân chia thị trường giúp cho các doanh nghiệp nắm được các đặc tính nhu cầu và quy mô của từng đoạn phải đủ lớn để doanh nghiệp tập trung khai thác.
  • Việc phân đoạn thị trường thì doanh nghiệp phải đảm bảo mỗi đoạn phải có nhu cầu đồng nhất và càng khác giữa các đoạn càng tốt.
  • Việc phân đoạn thị trường để giúp cho doanh nghiệp tự tin hơn trong việc tiếp cận với thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp còn phải áp dụng những chiến lược marketing để bảo vệ và phát triển thị trường đó.

Sau khi phân đoạn thị trường nhà quản trị marketing xác định đặc điểm của từng đoạn thị trường để làm cơ sở lựa chọn cho thị trường mục tiêu.

1.3.2.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu.

Bao gồm việc đánh giá mức độ hấp dẫn của từng đoạn thị trường và lựa chọn một hay một số đoạn để xâm nhập các đoạn này được gọi là đoạn thị trường mục tiêu. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Mức độ hấp dẫn về cơ cấu của đoạn thị trường được đánh giá ở mức độ phù hợp mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp và thế mạnh của doanh nghiệp. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào mục tiêu và nguồn tài chính của doanh nghiệp, để khi mà doanh nghiệp tấn công vào thị trường nhất định thì mục tiêu đó còn phù hợp với mục tiêu chung của doanh nghiệp đã đề ra và doanh nghiệp có đủ nguồn lực để đầu tư hay không?

Thông thường các doanh nghiệp lựa chọn thị trường hấp dẫn nhất để xâm nhập sau một thời gian nếu thành công sẽ mở rộng chiếm lĩnh đoạn thị trường khác.

Khi quyết định lựa chọn thị trường mục tiêu cần phải tính đến ba yếu tố:

  • Giai đoạn của chu kỳ sống của sản phẩm.
  • Mức độ đồng nhất giữa sản phẩm và thị trường.
  • Phải chú ý đến chiến lược marketing và đối thủ cạnh tranh.

1.3.3. Các chính sách marketing nhằm thu hút khách du lịch.

1.3.3.1. Chính sách sản phẩm trong việc thu hút khách du lịch.

Sản phẩm theo quan điểm marketing là sản phẩm gắn liền với nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng trên thị trường. Nó bao gồm các yếu tố vật chất (đặc tính lý, hoá) và những yếu tố phi vật chất (tên gọi, biểu tượng).

Chính sách sản phẩm có vai trò quan trọng nhất đối với việc thu hút khách du lịch của doanh nghiệp kinh doanh khách sạn và du lịch. Cạnh tranh càng trở nên gay gắt thì vai trò của chính sách sản phẩm càng trở lên quan trọng. Không có chính sách sản phẩm thì chính sách giá, chính sách phân phối, xúc tiến, quảng cáo cũng không có lý do gì để tồn tại. Nếu doanh nghiệp đưa ra chính sách sản phẩm sai lầm là đưa ra thị trường loại dịch vụ không có nhu cầu hoặc rất ít các nhu cầu thì dù có giá trị thấp, quảng cáo hấp dẫn tới mức nào thì cũng không có ý nghĩa gì hết.

Nội dung của chính sách sản phẩm.

Nội dung: Quy định kích thước của hỗn hợp sản phẩm (chiều dài, chiều rộng, chiều sâu), vòng đời của sản phẩm, việc phát triển sản phẩm mới. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Hỗn hợp sản phẩm: Là tập hợp tất cả các nhóm chủng loại sản phẩm và các sản phẩm dịch vụ cụ thể mà doanh nghiệp chào bán trên thị trường.

Chủng loại sản phẩm: là nhóm các loại sản phẩm có liên hệ mật thiết với nhau có thể là giống nhau về chức năng hoặc cùng thoả mãn một bậc nhu cầu hoặc cùng sử dụng một kênh phân phối.

  • Chiều rộng của tập hợp sản suất là tổng số sản phẩm trong doanh mục sản phẩm của doanh nghiệp.
  • Chiều sâu của tập hợp các sản phẩm là tổng số sản phẩm của mỗi chủng loại sản phẩm (số sản phẩm trung bình của các chủng loại)
  • Chiều dài của tập hợp sản phẩm chính là tổng số sản phẩm trong danh mục sản phẩm của doanh nghiệp.
  • Mức độ hài hoà tương thích giữa các sản phẩm của các chủng loại khác nhau, xét theo mức độ sử dụng cuối cùng hay cùng một kênh phân phối hay từ những yếu tố sản xuất giống nhau.

Vòng đời của sản phẩm:

Vòng đời của sản phẩm được đặc trưng bởi các dạng cơ bản với bốn giai đoạn chủ yếu: Triển khai, tăng trưởng giai đoạn chín muồi và suy thoái. Vòng đời sản phẩm biểu thị những giai đoạn khác nhau trong lịch sử tồn tại sản phẩm trên thị trường. Tương ứng với mối giai đoạn là các vấn đề và cơ hội kinh doanh mà các doanh nghiệp cần biết để quyết định khối lượng sản xuất hay cung ứng vì ở mỗi giai đoạn của vòng đời sản phẩm có mức độ tiêu thụ trên thị trường khác nhau.

Việc nghiên cứu vòng đời sản phẩm có thể giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn giai đoạn tham gia vào thị trường. Họ không nhất thiết phải tham gia vào cả 4 giai đoạn vòng đời sản phẩm. Tuy nhiên không phải dễ dàng mà doanh nghiệp chỉ nhảy vào thị trường lại chắc ăn và rút ra lúc suy thoái vì đối thủ cạnh tranh của họ không chịu làm vật hy sinh ngồi nhìn người khách kinh doanh thắng lợi ngay trước mắt mình.

Một khu nghỉ mát đang thời thịnh vượng có thể tiếp nhận thêm một số khách sạn, một số đơn vị cung ứng du lịch khác làm cho tính cạnh tranh tăng lên. Nói chung vòng đời của sản phẩm ăn uống – khách sạn – du lịch tương đối dài so với các sản phẩm khác do tính khác biệt của nó. Người ta không dễ dàng nghĩ ra các món ăn mới để đưa ra thị trường để chấp nhận được, cũng không phải dễ dàng thay đổi khách sạn, cách trang trí trong nhà hàng trong một thời gian ngắn như người ta thường thay đổi mẫu mã của các sản phẩm khác. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

  • Phát triển sản phẩm mới.

Phát triển sản phẩm mới là yêu câù tất yếu đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi (mỗi sản phẩm đều có vòng đời nhất định) sản phẩm của chúng ta cùng kinh doanh luôn đổi mới để thích nghi với nhu cầu của khách hàng.

  • Việc phát triển sản phẩm mới trải qua những bước sau:
  • Xây dựng chiến lược sản phẩm mới
  • Phát sinh lý tưởng
  • Thiết kế và đánh giá
  • Phân tích khả năng thương mại (nghiên cứu tính khả thi)
  • Phát triển sản phẩm mới
  • Kiểm tra

Thương mại hoá toàn bộ sản phẩm

Ngày nay sản phẩm mới được xếp vào một trong 10 bí quyết tiêu thụ sản phẩm.

Chính sách sản phẩm trong việc thu hút khách hàng.

Sản phẩm của doanh nghiệp phải thoả mãn tốt nhất khách hàng hiện tại. Doanh nghiệp phải khuyết khích khách hàng mua sản phẩm dịch vụ của mình nhiều hơn. Với sản phẩm của doanh nghiệp phải làm marketing mạnh, tạo cho khách sự yên tâm tìn tưởng lần sau sẽ quay lại với doanh nghiệp và mua sản phẩm nhiều lần, khối lượng lại lớn hơn. Với sản phẩm mới của doanh nghiệp phải cho khách hàng hiện tại dùng thử và cho họ nhận xét. Như vậy, doanh nghiệp mới có thể duy trì và phát triển thị trường hiện tại.

Ngoài sự duy trì và phát triển thị trường hiện tại doanh nghiệp cần tung sản phẩm của mình ra thị trường để thu hút khách hàng tiềm năng (phát triển thị trường) thông qua một số công cụ rất hữu hiệu đó là sự rỉ tai. Bởi vì bản chất của dịch vụ là vô hình nên khách hàng không thể đánh giá được chất lượng dịch vụ mà mình đã được tiêu dùng trước khi mua. Chính vì thế, lời nhận xét của những người thân, những người đã từng tiêu dùng dịch vụ là rất quan trọng, họ có thể coi đó là những lời nhận xét khách quan nhất. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Chúng ta có thể hiểu sự rỉ tai là việc chuyền đi những những thông tin tốt hay xấu về dịch vụ mà một doanh nghiệp đưa ra theo chuỗi trình bày:

  • Khách hàng -> Nhân vật A
  • Nhân vật B  -> nhân vật C
  • Nhân vật D

Đầu tiên, một khách hàng của doanh nghiệp tiêu dùng dịch vụ và đi nói về dịch vụ với gia đình, bạn hay người quen, hay nhân vật A hay B. Nói chung, khách hàng chỉ nói theo sáng kiến của mình, về một dịch vụ mởi mẻ và độc đáo. Anh ta chỉ nhớ đến nó và nói về nó về dịch vụ này rất khác các dịch vụ khác và vì anh ta rất thoả mãn hay thất vọng. Khách hàng của chúng ta sẽ miêu tả, nói tốt hay xấu, cho biết tên, địa chỉ …. Nhân vật B đến lượt anh ta cũng chuyển các thông tin về dịch vụ cho các nhân vật C và D, cũng theo cơ chế trên, chỉ có một điều chắc chắn là người ta chứng kiến một sự đơn giản hơn, một sự châm biến tích cực hay tiêu cực về tình hình thực tế.

Nhiều khi quá trình rỉ tai này có thể bị đảo ngược, sáng kiến yêu cầu thông tin thuộc về nhân vật A, B, C hay D, trước khi mua dịch vụ đó, tích cực đi tìm điều đó cho biết dịch vụ này. Trong trường hợp sáng kiến không như cũ, quá trình và kết quả vẫn hệt như trường hợp trước. Nếu việc rỉ tai là tích cực thì hiện tượng sẽ dẫn tới một kế quả rất quan trọng về marketing làm cho những người không phải là khách hàng muốn tới mua dịch vụ và trái lại nếu có tiêu cực sẽ bị tiếp nhận sự căm ghét, khi ấy rất khó thay đổi.

Vì sự rỉ tai có ảnh hưởng rất lớn đến sử dụng chính sách, sản phẩm của doanh nghiệp trong thu hút khách, nên doanh nghiệp cần chú ý đến công cụ này để duy trì phát triển thị trường hiện tại và mở rộng thị trường.

1.3.3.2. Chính sách giá trong việc thu hút khách du lịch Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Sản phẩm du lịch được sản suất ra để bán. Muốn bán được nhiều và nhanh thì ngay sau khi xây dựng chiếm được sản phẩm, xác định mặt hàng kinh doanh thì doanh nghiệp phải xác định chính sách giá.

Mục đích của chính sách giá là định hướng cho người tiêu thụ. Chính sách giá có mối quan hệ mật thiết với chính sách sản phẩm. Nó phối hợp chặt chẽ chính sách với thị trường, là đòn bẩy có ý thức đối với thị trường. Nếu thiếu 1 chính sách giá đúng đắn thì dù chính sách sản phẩm có xây dựng chính sách đến đâu cũng không mang lại hiệu quả. Chính sách giá sai lầm sẽ mất đi lợi nhuận cho doanh nghiệp (nếu giá quá rẻ) hoặc sẽ làm mật uy tín với khách hàng (nếu giá quá cao) khi đấy sẽ đẩy doanh nghiệp vào tình thế bất ổn định về tài chính

Mức giá sản phẩm là tổng các giới hạn do người tiêu dùng xác định nhằm đổi lấy lợi ích mà sản phẩm đó đem lại.

Giá dịch vụ có những đặc điểm sau:

Giá cả là tính phi vật chất của dịch vụ: Dịch vụ có bản chất là vô hình, khách hàng khó hiểu vì sao giá cả của dịch vụ lại như vậy. Khi khách hàng nếu dùng các dịch vụ thì thường không biết lý do của mức giá và thông thường coi nó là quá cao.

Điều này càng được nhấn mạnh khi các doanh nghiệp không có công cụ hay đơn vị gì để biện minh cho mức giá cả đã đưa ra. Bởi vì, kết quả bao giờ cũng có trong tâm trí và vô ý thức của khách hàng, một hoài nghi về sự thật thà của người cung cấp dịch vụ, điều này mang đến sự ngập ngừng nào đó trong mối quan hệ giữa hai bên.

Những sự chờ đợi không phải trả tiền: Nếu khách hàng không tìm được những lý do thoả mãn biện minh được những mức giá dịch vụ, có thể đẩy sự suy luận xa hơn, nói rằng dịch vụ có thể và đáng phải không lấy tiền, ít nhất nếu không phải trả tiền thì cũng không có cảm tưởng là minh ăn cắp vì chẳng mang đi cái gì cả.

Quan hệ giá chất lượng: Khi người tiêu dùng mua một dịch vụ thì trước khi mua khách hàng chưa biết chất lượng của dịch vụ đó ra sao. Như vậy, giá tiền của dịch vụ đó đóng vai trò chỉ số cho điều mà khách hàng đã tìm thấy. Ngoài ra khách hàng không được thử dịch vụ trước khi mua nên giá tiền sẽ là yếu tố thông tin khách quan duy nhất mà khách hàng có được. Như vậy, quan hệ hoàn toàn được chấp nhận đắt hơn thì dịch vụ phải tốt hơn. Tuy nhiên, điều này còn một số hạn chế về kinh nghiệm trước kia của khách hàng, sự hiểu biết của khách hàng về doanh nghiệp, về giá của doanh nghiệp cạnh tranh…

Quan hệ chất lượng giá tiền: Khi khách hàng đã tiêu dùng các dịch vụ mà họ đã bỏ tiền ra mua, họ sẽ đánh giá chất lượng, dịch vụ mà họ đã được cung cấp với số tiền mà họ đã phải trả. Tỷ lệ chất lượng giá tiền là một yếu tố quan trọng trong sự quyết định của khách hàng có quay lại doanh nghiệp hay không? Vì điều này nó khuyến khích sự trung thành.

Nội dung chính sách giá nhằm thu hút khách du lịch. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Chính sách giá nhằm thu hút khách du lịch với tư cách là một bộ phận của chiến lược kinh doanh nên nó cũng nhằm phục vụ cho mục tiêu của chiến lượng. Mục tiêu của chính sách giá không được mây thuẫn với mục tiêu chiến lược tổng quát.

Chính sách giá của doanh nghiệp du lịch đều nhằm vào mục tiêu bán cho được các dịch vụ đã được sản xuất ra hoặc đã có sẵn. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp du lịch bán được các dịch vụ với số lượng lớn lại có những mục tiêu cụ thể khác nhau. Mục tiêu thứ nhất có liên quan đến hiệu quả kinh tế mà biểu hiện cụ thể là bán hàng nhằm tối đa hoá lợi nhuận hoặc duy trì mức lợi nhuận đã đạt được.

Mục tiêu thứ 2 của chính sách giá nhằm củng cố vị trí của doanh nghiệp du lịch trên thị trường. Mục tiêu này có thể biểu hiện ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào tương quan thế lực giữa các doanh nghiệp trên thị trường.

1.3.3.3 Chính sách phân phối

Phân phối chính sách là việc đưa đến tay người tiêu dùng những sản phẩm mà họ có nhu cầu ở những thời điểm, ở chất lượng, ở vị trí, ở chủng loại và đúng với mong muốn của họ.

Phân phối là phương hướng thực hiện các biện pháp, thủ thuật nhằm đưa ra sản phẩm du lịch đến tay khách hàng cuối cùng với yêu cầu khách đưa ra.

Chính sách phân phối có vai trò quan trọng đối với khách du lịch là giúp họ tiết kiệm được thời gian và chi phí có được những thông tin chính xác hơn về sản phẩm, khi đó cũng làm giảm những vấn đề còn nghi ngờ của họ.

Đối với các kênh phân phối mà có sử dụng trung gian phân phối đồng nghĩa với việc các nhà cung ứng, phải từ bỏ một số quyền kiểm soát nào đó đối với sản phẩm của mình nhưng đổi lại có những lợi ích, như là họ sẽ bán được nhiều sản phẩm hơn và chuyển một phần rủi ro cho các trung gian giảm được các chi phí cho quảng cáo, khuếch trương và tập trung vào củng cố các chính sách khách. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

  • Chính sách phân phối có mối liên hệ chặt chẽ với chính sách sản phẩm và chính sách giá.
  • Xác định mục tiêu của chính sách phân phối .
  • Đó chính là đảm bảo bán được nhiều sản phẩm du lịch với chất lượng tốt,chi phí thấp nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao.
  • Căn cứ xây dựng chính sách phân phối.
  • Phân phối thực chất là việc đưa các sản phẩm du lịch đến với khách hàng. Do vậy, khi xây dựng chiến lược phân phối cần phải căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm du lịch và đặc điểm của khách hàng.
  • Xác định kênh phân phối.

Nội dung cuối cùng của chiến lược phân phối là việc lựa chọn các kênh phân phối. Và đặc biệt là trong quá trình kinh doanh du lịch các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn kênh phân phối là:

  • Thị trường: dạng thị trường, cơ cấu của khách hàng, đặc biệt về điều kiện địa lý của khu dân cư, cơ cấu về nhu cầu và các sản phẩm du lịch mà khách hàng yêu cầu được phục.
  • Sản phẩm: Giá trị của đơn vị sản phẩm du lịch, số lượng, đặc biệt của sản phẩm du lịch.
  • Những người phân phối: Khả nang của người phân phối đối với doanh nghiệp du lịch, thái độ của họ đối với chính sách của doanh nghiệp, chi phí dành cho người phân phối.
  • Những người phân phối: Khả năng của người phân phối đối với doanh nghiệp du lịch, thái độ của họ đối với chính sách của doanh nghiệp, chi phí dành cho người phân phối.
  • Doanh nghiệp: Nguồn tài chính của doanh nghiệp, kinh nghiệm của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến thái độ của chu trình phân phối. Đặc điểm doanh nghiệp, điều kiện lựa chọn đối với các kênh phân phối ,sự kiểm tra của doanh nghiệp đối với cấc người phân phối ,các dịch vụ đặt ra đối với người phân phối .

1.3.3.4. Chính sách xúc tiến hỗn hợp.

Xúc tiến trong marketing là xúc tiến bán hàng và nó được thể hiện khi các chính sách sản phẩm, giá cả và phân phối đã khẳng định, đã triển khai thực hiện. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Xúc tiến bán hàng là nhằm tác động vào tâm lý người mua, nó có tác dụng lớn đối với các doanh nghiệp du lịch, để cho doanh nghiệp này nắm bắt được nhu cầu của khách du lịch một cách cụ thể hơn.

Một định nghĩa về xúc tiến bán hàng do hội các đại lý quảng cáo mỹ sử dụng là „„Bất kỳ hay toàn bộ các hoạt độn gkhông kể các phương tiện thông tin tại chúng dẫn đến bán có hiệu quả, có năng suất và có lợi nhuận các sản phẩm du lịch và dịch vụ‟‟

Công cụ chủ yếu của xúc tiến hỗn hợp.

Quảng cáo (Advertising): là sử dụng những phương tiện thông tin đại chúng để truyền tin về sản phẩm hoặc cho người trung gian hoặc cho người tiêu dùng cuối cùng trong một thời gian và không nhất định. Quảng cáo là phương tiện bán hàng và hỗ trợ đắc lực cho cạnh tranh. Đối với kinh doanh du lịch nói chung thì các phương được sử dụng để quảng cáo là thông tin đại chúng, sách hướng dẫn du lịch, tập gấp, tờ rơi, panô, mạng internet (chưa phổ biến ).

Khuyến mại: khích lệ người mua trong một thời gian ngắn. Chính sách để thực hiện khi khuyến khích khách hàng mua các sản phẩm du lịch khi trái vụ, cạnh tranh đang diễn ra gay gắt, tung sản phẩm ra thị trường.

  • Tuyên truyền: kích thích nhu cầu mang tính chất phi hàng hoá ( như tài trợ hoạt động thể thao, từ thiện )
  • Chào hàng ,bán hàng cá nhân :giới thiệu bằng miệng tới một nhóm khách hàng cá nhân ngoài những nội dung trên, chính sách xúc tiến hỗn hợp còn có một số công cụ khác .
  • Cơ sở vật chất :Vì bản chất của dịch vụ du lịch là vô hình ,mà khách phải mua trước rồi mới biết chất lượng của dịch vụ .Cho nên ,khách chỉ có thể đánh giá chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận của mình ,nhìn vào những gì gọi là vật chất để đánh giá.
  • khách hàng :Dịch vụ phải có sự tham gia của khách hàng .Có hai điều biện minh cho sự tham gia này ,một là về kinh tế , một là về marketing
  • Nhân viên tiếp xúc :Là người có thể gây thiện cảm với khách hàng chỉ dẫn cho khách nhiệt tình ,nhìn vào sự lịch thiệp của nhân viên trong giao tiếp cũng đóng vai trò quan trọng không nhỏ trong việc quyết định mua dịch vụ của khách .

1.3.3.5 Yếu tố con người và nâng cao chất lượng phục vụ. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

Ngành khách sạn – du lịch là ngành dịch vụ nên tỷ lệ nhân viên trực tiếp chiếm đa số . Vì vậy ,chất lượng phục vụ thuộc vào trình độ những nhân viên này hay nói cách khác , trong kinh doanh dịch vụ yếu tố con người đóng vai trò vô cùng quan trọng và đây cũng là nhân tố chủ yếu trong marketing –mix, vì yếu tố này giữ vai trò khác nhau trong vịêc tác động tới nhiệm vụ của marketing và giao tiếp với khách hàng .

Vai trò nhân tố con người :các nhà quản trị xếp đội ngũ lao động thành 4 nhóm. -Nhóm có liên lạc thường xuyên và đều đặn của khách hàng: Họ là những người trực tiếp phục vụ khách hàng .Nên họ có liên quan hết sức chặt chẽ đến hoạt động marketing và hiểu được chiến lược marketing của doanh nghiệp ,họ được đào tạo và có động cơ để phục tốt khách hàng .

Nhóm những người ở các vị trí tuy không liên quan trực tiếp đến họat động, marketing nhưng họ vẫn thường xuyên tiếp xúc với khách hàng .Họ có vai trò quan trọng trong việc cung ứng dịch vụ có chất lượng ,nên họ hiểu được các chiến lược marketing, họ phải được đào tạo để phát triển các kỹ năng giao tiếp với khách hàng .

Nhóm những người hoạt động marketing chuyên nghiệp họ phải được đào tạo kiến thức chuyên sâu về marketing .

Nhóm những người thực hiện nhiệm vụ khác nhau ở trong doanh nghiệp, họ không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng đồng thời họ không trực tiếp làm marketing. Nên họ cũng phải được huấn luyện để họ nhận thức đúng tầm quan trọng của việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng nội bộ, khách hàng bên ngoài.

Vậy nhân tố con người là một nhân tố quan trọng trong marketing – mix. Những doanh nghiệp làm marketing theo định hướng khách hàng đều hiểu rằng khách hàng có vị trí vô cùng quan trọng , nhưng để làm thoả mãn khách hàng.

TIỂU KẾT CHƯƠNG I:

Trong chương I của đề tài đã tập trung làm rõ những lý luận cơ bản về hoạt động marketing nhằm thu hút khách du lịch bao gồm: Du lịch và điểm đến du lịch; Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi và quá trình ra quyết định mua của khách du lịch; Những cơ sở lý thuyết của hoạt động marketing nhằm thu hút khách du lịch.

Đây là những tiền đề lý luận hết sức quan trọng để chúng tôi tiến hành khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng thu hút khách du lịch đến với khu du lịch ở chương 2 và đưa ra các giải pháp , kiến nghị thu hút khách ở chương 3. Khóa luận: Thu hút khách du lịch nội địa đến với KDL Tràng An.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng thu hút khách tại khu du lịch Tràng An

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x