Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về các biện pháp phòng vệ thương mại tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1 Pháp luật hiện hành về các biện pháp phòng vệ thương mại

2.1.1. Pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá

Ngày 29 tháng 04 năm 2004, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu. Văn bản pháp luật này chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 10 năm 2004. Có thể khẳng định, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng nhập khẩu được coi là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh một cách khá toàn diện về vấn đề này. Ngoài Pháp lệnh chống bán phá giá, trong hệ thống các văn bản pháp luật về vấn đề này còn có Nghị định 90/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 07 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam; Nghị định 04/2005/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 về việc thành lập và quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ; Nghị định 06/2005/NĐ-CP ngày 09 tháng 1 năm 2006 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh –Bộ công thương; Thông tư số 106/2005/TT-BTC về việc hướng dẫn thu nộp thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và các khoản đảm bảo thanh toán thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp.

Về nội dung, pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam quy định về các vấn đề sau:

Một là, đặt ra các căn cứ pháp lý để xác định việc hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bán phá giá; xác định thiệt hại đáng kể hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; và mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại; Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Hai là, xây dựng thủ tục điều tra và xử lý vụ việc chống bán phá giá: bao gồm các quy định về quá trình điều tra, áp dụng thuế chống bán phá giá như: thời hạn điều tra, nội dung hồ sơ khiếu nại, việc thu thập, xử lý và sử dụng các thông tin, quyền tố tụng của các bên liên quan, việc áp dụng biện pháp tạm thời, biện pháp chống bán phá giá chính thức, thủ tục rà soát quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá…;

Ba là, tổ chức hệ thống cơ quan thực thi pháp luật chống bán phá giá bao gồm cơ quan điều tra và Hội đồng xử lý vụ việc. Trong nội dung này, pháp luật tập trung quy định về việc thành lập , thẩm quyền, chức năng, cơ cấu tổ chức của cơ quan điều tra vụ việc chống bán phá giá, Hội đồng xử lý vụ việc và các quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương để xử lý vụ việc.

Theo đó, pháp luật Việt Nam ghi nhận các biện pháp chống bán phá giá bao gồm : (i) Các biện pháp cam kết điều chỉnh giá bán hoặc cam kết tự nguyện hạn chế khối lượng, số lượng và giá trị hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam; và (ii) Áp dụng thuế chống phá giá tạm thời hoặc áp dụng thuế chống phá giá chính thức.

Về hình thức, phần lớn nội dung của pháp luật chống bán phá giá bao gồm các quy định về trình tự, thủ tục điều tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá (gọi tắt là thủ tục điều tra, xử lý vụ việc).

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.1.1 Thủ tục điều tra vụ việc chống bán phá giá

Về việc ra quyết định điều tra theo pháp lệnh chống bán phá giá số 20/2004, được quy định như sau:

Điều 8 Pháp lệnh chống bán phá giá quy định hai trường hợp để cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra vụ việc là: (i) điều tra theo yêu cầu của ngành sản xuất trong nước; và (ii) điều tra theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương.

  • Điều tra theo yêu cầu của ngành sản xuất trong nước

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, khi có yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền chỉ ra quyết định điều tra nếu thỏa mãn hai điều kiện sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Điều kiện 1: người yêu cầu phải là tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước, bao gồm các tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất hàng hóa nội địa (gọi tắt là DN trong nước) hoặc đại diện của họ [1, Điểm a k1 đ 8]

Có thể nhận thấy, cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam về đối tượng có quyền nộp hồ sơ yêu cầu tương tự với pháp luật của WTO. Tuy nhiên, ADA còn ghi nhận khả năng mở rộng đối tượng yêu cầu bằng quy định các nước thành viên nhận thức được rằng tại lãnh thổ của một số thành viên nhất định, nhân công của các nhà sản xuất trong nước làm các sản phẩm tương tự hoặc đại diện của các nhân công này có thể tự nộp đơn yêu cầu hoặc ủng hộ đơn yêu cầu điều tra [13, ghi chú số 14 đ 5.4]. Trong khi đó, pháp lệnh chống bán phá giá chỉ quy định tổ chức công đoàn hoặc các tổ chức khác đại diện cho quyền lợi của người lao động trong ngành sản xuất trong nước tham gia vào vụ việc chống bán phá giá với tư cách là người liên quan mà chưa cho phép họ được quyền nộp hồ sơ yêu cầu. [1 , k 7 đ 11] [2, đ 17].

Theo đó, người nộp hồ sơ yêu cầu phải đại diện cho ngành sản xuất trong nước. Tư cách đại diện được cấu thành khi đáp ứng đủ hai yêu cầu:

Một là, khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá do người yêu cầu sản xuất hoặc đại diện chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá tương tự của ngành sản xuất trong nước (còn gọi là quy tắc 25%). Quy tắc này được tính toán theo tỷ trọng sản lượng (khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa) của một DN hoặc tổng sản lượng của nhiều DN tham gia liên danh nộp đơn trên tổng sản lượng của toàn ngành.

Hai là, khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hoá do họ sản xuất hoặc đại diện và của các DN trong nước ủng hộ việc nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá phải lớn hơn khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá tương tự của các DN trong nước phản đối yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá (còn gọi là quy tắc 50%). Quy tắc 50% được tính toán trên tổng sản lượng của các DN bày tỏ quan điểm về đơn yêu cầu (bao gồm các DN phản đối và ủng hộ đơn yêu cầu). Một khi sản lượng của các DN nộp hồ sơ và các DN ủng hộ lớn hơn sản lượng của các DN phản đối đơn kiện thì quy tắc này được thỏa mãn và ngược lại. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Điều kiện 2: Hồ sơ yêu cầu phải hợp lệ. Theo pháp luật Việt Nam và WTO, một hồ sơ yêu cầu được coi là hợp lệ khi chúng bao gồm các lập luận và các bằng chứng về sự cần thiết phải điều tra và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu; các bằng chứng ban đầu về tư cách của người yêu cầu, đối tượng bị yêu cầu, việc bán phá giá, dự tính về biên độ phá giá, thiệt hại hoặc nguy cơ đe dọa thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại vật chất…. Mọi khẳng định mà không có bằng chứng xác đáng sẽ không được coi là hợp lệ [2, đ 18][13, đ 5.2][1, đ 9].

Trong trường hợp nhận thấy hồ sơ yêu cầu chưa đầy đủ theo quy định của pháp luật, cơ quan điều tra phải thông báo cho người nộp hồ sơ để bổ sung. Thời hạn bổ sung là 30 ngày, kể từ ngày người yêu cầu nhận được thông báo [1, k1,2 đ 10].

Về nguyên tắc, pháp luật WTO và các nước yêu cầu cơ quan điều tra không công bố hồ sơ yêu cầu trước khi có quyết định điều tra trừ việc thông báo cho Chính phủ của nước thành viên xuất khẩu hàng hóa có liên quan sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ và trước khi bắt đầu điều tra [13, đ 5.5]. PLVN đã tiếp thu không trọn vẹn quy định trên. Theo đó, Pháp lệnh không đề cập đến trách nhiệm giữ kín thông tin về hồ sơ yêu cầu mà chỉ quy định trước khi Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định điều tra, cơ quan điều tra phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu về các quy định chống bán phá giá của Việt Nam [1, k3 đ 10].

Cơ quan điều tra có trách nhiệm thẩm định hồ sơ trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ. Nội dung thẩm định hồ sơ bao gồm: (1) xác định tư cách đại diện hợp pháp cho ngành sản xuất trong nước của tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ; (2) xác định bằng chứng về việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước [2, đ 19].

Có thể thấy rằng, PLVN quy định khá đơn giản về nội dung thẩm tra mà chưa đặt ra các yêu cầu cụ thể đối với bằng chứng được cung cấp. Pháp luật của WTO và các nước có những quy định khá chi tiết về vấn đề này trên nguyên tắc việc điều tra chỉ bắt đầu khi người yêu cầu thuyết phục được cơ quan có thẩm quyền về sự cấp thiết phải tiến hành vụ việc chống bán phá giá nhằm bảo vệ ngành sản xuất nội địa. Theo đó, Điều 5.5 ADA quy định các cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra mức độ xác thực và đầy đủ của các bằng chứng được đưa ra tại đơn yêu cầu để quyết định liệu đã có được các bằng chứng đầy đủ để bắt đầu quá trình điều tra hay không. Có thể tìm thấy các quy định tương tự tại Khoản 3 và 7 Điều 5 Luật chống bán phá giá của EU, theo đó, đơn khiếu nại có thể bị bác bỏ trong trường hợp không có chứng cứ đầy đủ về việc bán phá giá hay thiệt hại mà chứng tỏ rằng cần thiết phải tiếp tục tiến hành vụ việc đó. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

  • Điều tra theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Công thương có thể ra quyết định điều tra khi có bằng chứng rõ ràng về việc bán phá giá hàng hoá gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước dù không có người yêu cầu hoặc người yêu cầu không đủ tư cách đại diện cho ngành sản xuất trong nước [2, đ 20] [1, k2 đ 8].

  • Thẩm quyền ra quyết định điều tra

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Công thương có thẩm quyền quyết định điều tra vụ việc. Thời hạn ra quyết định điều tra trong trường hợp có người yêu cầu là 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ (có thể gia hạn không quá 30 ngày). Trường hợp Bộ trưởng tự ra quyết định điều tra, pháp luật chỉ quy định về thời hạn lập hồ sơ mà chưa quy định về thời hạn ra quyết định điều tra. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá, cơ quan điều tra thông báo quyết định điều tra cho tổ chức, cá nhân có yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá, các nhà sản xuất, xuất khẩu, cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá và công bố cho các bên liên quan khác [1, k5 đ 10].

Quyết định điều tra khởi đầu cho quá trình thu thập, thẩm tra bằng chứng để xác định có hay không việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá vào Việt Nam và thiệt hại vật chất mà ngành sản xuất đang hoặc có nguy cơ phải gánh chịu. Vì thế, quyết định này không phải là cơ sở pháp lý để ngăn trở việc thông quan của hàng hóa bị điều tra [13, đ 5.9]

Căn cứ Khoản 4, 6 Điều 10 Pháp lệnh chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Công thương không ra quyết định điều tra trong các trường hợp sau: (i) không có bằng chứng về việc bán phá giá hoặc thiệt hại vật chất đối với ngành sản xuất trong nước; người yêu cầu không đủ tư cách đại diện cho ngành sản xuất trong nước; (iii) người yêu cầu rút hồ sơ. Pháp luật chưa quy định chi tiết quy trình cho việc không ra quyết định điều tra. Thực trạng này có thể gây ra những lúng túng cho cơ quan có thẩm quyền trong việc tổ chức thực thi pháp luật.

  • Điều tra vụ việc chống bán phá giá

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, nội dung điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá bao gồm: xác định hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá; xác định thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước [1, đ 12] Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Về nguyên tắc, cơ quan điều tra phải tiến hành xác định biên độ phá giá riêng cho từng người bị yêu cầu trong vụ việc chống bán phá giá [2, k1 đ 25]. Như vậy, việc điều tra được tiến hành đối với toàn bộ DN xuất khẩu hàng hóa thuộc diện bị điều tra. Cơ quan điều tra sử dụng số liệu của từng DN để tính giá thông thường, giá xuất khẩu và biên độ phá giá riêng. Tuy nhiên, trường hợp số lượng DN hoặc hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá quá lớn, cơ quan điều tra có thể giới hạn phạm vi điều tra để xác định biên độ phá giá riêng đối với một số DN hoặc một số hàng hóa nhất định. Việc giới hạn phạm vi điều tra được thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu thống kê phù hợp trên cơ sở khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá được sản xuất, xuất khẩu vào Việt Nam bởi người bị yêu cầu hoặc các thông tin mà cơ quan điều tra có được tại thời điểm chọn mẫu; cơ quan điều tra có thể tiến hành các tham vấn cần thiết với người bị yêu cầu, các nhà nhập khẩu liên quan đến việc chọn mẫu và phải có sự đồng ý của người bị yêu cầu này về việc chọn mẫu [2, k2 đ 25]. Hệ quả của quy định này là việc điều tra chỉ giới hạn đối với các DN hoặc hàng hóa được lựa chọn. Việc thu thập, xử lý thông tin và tính toán biên độ phá giá sẽ tập trung vào các mẫu được chọn. Các DN còn lại có quyền tự nguyện cung cấp thông tin song việc sử dụng các thông tin đó phụ thuộc vào năng lực thực tế của cơ quan điều tra.

Để tính giá thông thường, giá xuất khẩu và xác định thiệt hại, cơ quan điều tra cần ấn định về thời kỳ điều tra (giai đoạn điều tra – period of investigation). Thời kỳ điều tra được hiểu là khoảng thời gian diễn ra các hoạt động nhập khẩu hàng hóa bị nghi ngờ là bán phá giá làm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tính toán biên độ bán phá giá, thiệt hại cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này [20, tr 33].

Pháp lệnh chống bán phá giá không trực tiếp quy định về thời kỳ điều tra. Tuy nhiên Điểm c, d, đ Khoản 1 Điều 9 có đề cập đến vấn đề này khi quy định về hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Theo đó, đơn yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá phải mô tả khối lượng, số lượng và trị giá của hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước trong thời hạn 12 tháng trước khi nộp hồ sơ; thông tin về giá thông thường, giá xuất khẩu của hàng hóa nhập khẩu tại thời điểm nhập khẩu vào VN trong thời hạn 12 tháng trước khi nộp hồ sơ. Như vậy, có thể hiểu rằng thời kỳ điều tra theo pháp lệnh chống bán phá giá là 1 năm ngay trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá. ADA không quy định cụ thể về thời kỳ điều tra nên pháp luật của các quốc gia được quyền tùy nghi quy định. Với các quy định hiện hành, PLVN chưa thực sự quan tâm đến việc lựa chọn thời kỳ điều tra nên chỉ gián tiếp đề cập đến vấn đề này và đồng nhất thời kỳ điều tra về bán phá giá và thời kỳ điều tra về thiệt hại vật chất.[8, tr 115-116]

  • Thu thập và cung cấp chứng cứ Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc chống bán phá giá là những gì có thật được Cơ quan điều tra chống bán phá giá, Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá dùng làm căn cứ để xác định tình trạng bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, tình trạng ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể, mối quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc chống bán phá giá [2, đ 3]. Thu thập và xử lý các thông tin, tài liệu về vụ việc là công việc quan trọng nhất trong các hoạt động điều tra của cơ quan có thẩm quyền. Các thông tin, tài liệu được sử dụng làm chứng cứ trong vụ việc phải được thẩm tra mức độ trung thực và tin cậy và dựa trên một số nguyên tắc nhất định, ví dụ như: nguyên tắc tôn trọng quyền được tiếp cận thông tin và cung cấp thông tin của các bên liên quan cho cơ quan điều tra; nguyên tắc sử dụng chứng cứ sẵn có và nguyên tắc ngôn ngữ sử dụng trong các tài liệu, thông tin cung cấp cho cơ quan điều tra là tiếng Việt.

Các thông tin được sử dụng có thể được thu thập từ nhiều nguồn với những cách thức khác nhau. Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, các bên liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan điều tra. Các bên liên quan bao gồm: tổ chức cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước nộp hồ sơ yêu cầu; tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị điều tra; hiệp hội ngành hàng trong nước; hiệp hội ngành hàng nước ngoài, tổ chức bảo vệ người tiêu dùng, tổ chức công đoàn hoặc tổ chức khác đại diện cho người lao động trong ngành sản xuất trong nước, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hóa bị điều tra [1, đ 11].

Các bên liên quan cung cấp thông tin bằng hai phương thức: (i) Phương thức trả lời bản câu hỏi của cơ quan điều tra; và (ii) Cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan điều tra [1, đ 10, 15-17]. Về vấn đề này, ADA đặt ra các tiêu chuẩn của chứng cứ, bao gồm (1) chứng cứ được cung cấp theo đúng hình thức mà cơ quan điều tra yêu cầu, ví dụ: băng từ hay ngôn ngữ máy tính, bằng văn bản hoặc các hình thức khác; (2) các thông tin được sử dụng làm chứng cứ là những thông tin có thể kiểm chứng được [13, đoạn 2,3,5 phụ lục II]. Ngoài ra, pháp luật của WTO còn đặt ra các nguyên tắc xác định trách nhiệm của cơ quan điều tra trong việc hỗ trợ các bên cung cấp tài liệu, thông tin liên quan như nguyên tắc hỗ trợ các bên trong việc cung cấp chứng cứ, nguyên tắc không tạo gánh nặng bất hợp lý cho các bên trong việc cung cấp chứng cứ…. Các quy định trên một mặt giúp người tham gia vụ việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, mặt khác ngăn chặn sự tùy tiện của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra.

Ngoài ra còn có các quy định về quy chế bảo mật thông tin, thẩm tra thông tin, tài liệu và chứng cứ được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể trong Pháp lệnh 20/2004 và Nghị định 90/2005.

  • Các giai đoạn và thời hạn điều tra Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Pháp lệnh chống bán phá giá năm 2004 quy định thời hạn điều tra để áp dụng biện pháp chống bán phá giá là không quá mười hai tháng, kể từ ngày có quyết định điều tra. Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Công thương có thể quyết định gia hạn điều tra nhưng không quá 6 tháng [1, đ 16]. Quy định về thời hạn điều tra trong pháp luật Việt Nam được xem là phù hợp với khung thời hạn được ghi nhận trong ADA.[13, đ 5.10]

Pháp lệnh chống bán phá giá không trực tiếp phân chia quá trình điều tra thành những giai đoạn cụ thể mà tập trung vào các vấn đề về việc thu thập và xử lý thông tin, tài liệu về vụ việc, bảo mật thông tin, cung cấp thông tin cho các bên, công bố các kết luận điều tra…. Dựa trên quy định về trình tự công bố các loại kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền, có thể chia quá trình điều tra thành hai giai đoạn là điều tra để có kết luận sơ bộ (gọi là điều tra sơ bộ) và điều tra để có quyết định cuối cùng (điều tra cuối cùng) về vụ việc.

Giai đoạn điều tra sơ bộ: theo Pháp lệnh chống bán phá giá, trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày có quyết định điều tra, cơ quan điều tra công bố kết luận sơ bộ về các nội dung liên quan đến quá trình điều tra; trường hợp đặc biệt, thời hạn công bố kết luận sơ bộ có thể được gia hạn nhưng không quá 60 ngày [1, đ 17]. Nếu kết luận sơ bộ khẳng định có hiện tượng bán phá giá, số lượng hàng hóa nhập khẩu bán phá giá và biên độ bán phá giá là đáng kể, có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước thì việc điều tra được chuyển sang giai đoạn điều tra cuối cùng. Người có thẩm quyền sẽ xem xét việc áp dụng biện pháp tạm thời đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá. Trường hợp kết luận sơ bộ phủ định một trong các nội dung trên, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định chấm dứt điều tra. Kết luận sơ bộ phải có đủ các nội dung theo quy định của pháp luật và phải được thông báo bằng phương thức thích hợp cho các bên liên quan đến quá trình điều tra [2, k2 đ 31] [1, đ 17].

Giai đoạn điều tra cuối cùng được thực hiện khi kết luận sơ bộ khẳng định hàng hóa nhập khẩu có dấu hiệu bán phá giá, có thiệt hại thực tế hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa, biên độ bán phá giá và số lượng, khối lượng hàng hóa nhập khẩu là đáng kể. Các quy định của pháp luật về giai đoạn điều tra này khá đơn giản, chủ yếu chỉ đề cập đến hai vấn đề. Đó là:

Thứ nhất, quy định trách nhiệm công bố kết luận cuối cùng. Theo đó, khi kết thúc quá trình điều tra, cơ quan điều tra công bố kết luận cuối cùng về các nội dung liên quan đến quá trình điều tra. Thời hạn công bố quyết định cuối cùng là 30 ngày kể từ khi kết thúc quá trình điều tra. Kết luận cuối cùng phải được thông báo bằng phương thức thích hợp cho các bên liên quan đến quá trình điều tra. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Thứ hai, kết luận cuối cùng phải đảm bảo các nội dung theo quy định của pháp luật. Những nội dung cơ bản cần có là mô tả hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; xác định danh tính của người bị yêu cầu; các căn cứ để kết luận về việc bán phá giá, về thiệt hại thực tế; biên độ bán phá giá…[2, đ 33] [1, đ 18].

  • Chấm dứt điều tra

Pháp lệnh chống bán phá giá quy định hai trường hợp để cơ quan điều tra ra quyết định chấm dứt điều tra là chấm dứt điều tra theo ý chí của người yêu cầu; và chấm dứt điều tra dựa trên kết luận sơ bộ [1, đ 19].

2.1.1.2 Thủ tục xử lý vụ việc chống bán phá giá

  • Quyết định xử lý vụ việc

Xử lý vụ việc chống bán phá giá bao gồm hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra để đưa ra các quyết định giải quyết vụ việc chống bán phá giá. Quá trình xử lý vụ việc chống bán phá giá được thực hiện qua hai giai đoạn: giai đoạn tại Hội đồng xử lý vụ việc và giai đoạn ra quyết định cuối cùng.

Giai đoạn thứ nhất, Hội đồng xử lý vụ việc xem xét hồ sơ vụ việc. Về thủ tục, giai đoạn này bao gồm các bước:

Bước thứ nhất: cơ quan điều tra phải gửi hồ sơ vụ việc cho Hội đồng xử lý trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày công bố, bao gồm: hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá; báo cáo điều tra; kết luận sơ bộ; kết luận cuối cùng và các căn cứ chính để đưa ra kết luận cuối cùng; kiến nghị của cơ quan điều tra.

Bước thứ hai, hội đồng xử lý tổ chức phiên họp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc để thảo luận và quyết định các nội dung: có hay không có tình trạng bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam; có hay không có tình trạng ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể; có hay không có mối quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Hội đồng xử lý làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số, trong trường hợp kết quả biểu quyết ngang nhau, Hội đồng xử lý quyết định theo phía có ý kiến của Chủ tọa phiên họp. Dựa trên quyết định của mình, Hội đồng xử lý kiến nghị Bộ trưởng cách thức xử lý vụ việc, hoặc đề nghị áp dụng hoặc đề nghị không áp dụng biện pháp chống bán phá giá [2, k3 đ 33, đ 39].

Giai đoạn thứ hai, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định xử lý vụ việc. Pháp lệnh chống bán phá giá quy định trường hợp không đạt được cam kết theo quy định của Pháp lệnh, căn cứ vào kết luận cuối cùng và kiến nghị của Hội đồng xử lý, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định áp dụng hay không áp dụng thuế chống bán phá giá. Quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá phải có các nội dung theo quy định của pháp luật và được công bố công khai. Cơ quan điều tra thông báo bằng phương thức thích hợp quyết định áp dụng hay không áp dụng thuế chống bán phá giá cho các bên liên quan đến quá trình điều tra [1, đ 22; 18, đ 40]. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định không áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra và quyết định của Hội đồng xử lý khẳng định một trong những nội dung: (1) không có tình trạng bán phá giá; (2) không có thiệt hại đáng kể hoặc khả năng gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; (3) không có quan hệ giữa việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Bộ trưởng cũng có thể ra quyết định không áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi nhận thấy việc áp dụng thuế chống bán phá giá gây tổn hại đến lợi ích kinh tế – xã hội trong nước [2, k2 đ 39]. Về thủ tục ra quyết định xử lý vụ việc, pháp luật của WTO không quy định cụ thể.

  • Rà soát việc áp dụng chống bán phá giá

Rà soát là quá trình cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục cần thiết để xem xét lại quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo yêu cầu của các bên liên quan hoặc theo định kỳ. Việc rà soát lại có thể dẫn đến kết quả chấm dứt trước thời hạn hoặc tiếp tục hoặc gia hạn việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá.

Điều 24 và 25 Pháp lệnh chống bán phá giá quy định hai trường hợp rà soát lại quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá:

Thứ nhất, rà soát trong thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá được thực hiện trong thời gian quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá đang còn hiệu lực nhằm xem xét có nên duy trì hay chấm dứt việc áp dụng hoặc xem xét mức độ áp dụng biện pháp chống bán phá giá.

Thứ hai, rà soát ngay trước khi hết thời hạn áp dụng chống bán phá giá (rà soát cuối kỳ – rà soát hoàng hôn). Về bản chất, thủ tục rà soát cuối kỳ được thực hiện để xác định hiện tượng bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất có tiếp tục tái diễn sau khi quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá hết hiệu lực. Pháp lệnh chống bán phá giá quy định thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá là 5 năm kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá và một năm trước ngày quyết định trên hết hiệu lực, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá [1, k2 đ 24]. Như vậy, Pháp lệnh chống bán phá giá đã áp dụng cơ chế tự động rà soát, có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành rà soát cuối kỳ trong mọi trường hợp cho dù các bên không có yêu cầu. Mặc dù cũng áp dụng cơ chế rà soát tự động, song cách thức áp dụng của Hoa Kỳ khác với Việt Nam. Theo pháp luật Hoa Kỳ, sau khi ra quyết định rà soát hoàng hôn, DOC phải thông báo trên Công báo Liên bang để các bên bày tỏ ý kiến ủng hộ hay không ủng hộ quyết định đó bằng văn bản. Chỉ cần có sự hưởng ứng của một bên liên quan, DOC và ITC sẽ tiến hành rà soát và đưa ra kết luận trong thời hạn 120 ngày (đối với kết luận của DOC) và 150 ngày (đối với kết luận của ITC). Trường hợp không nhận được bất kỳ sự ủng hộ nào, DOC sẽ đình chỉ việc rà soát trong thời hạn 90 ngày kế từ khi bắt đầu thủ tục [20, tr 127-128]. Như vậy, trong mọi trường hợp, DOC đều ra quyết định rà soát hoàng hôn. Tuy nhiên, thủ tục này có thể sẽ không được tiến hành nếu không có sự ủng hộ của các bên. Khi đó, việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đương nhiên chấm dứt. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Đánh giá pháp luật Việt Nam, một số luật gia cho rằng các quy định hiện hành về rà soát chỉ xây dựng được khung thủ tục chung mà chưa đặt ra các yêu cầu có tính nguyên tắc về nội dung của việc rà soát. Vì thế, dù đã tuân thủ khá chặt chẽ những nội dung cơ bản được ghi nhận trong ADA, song pháp luật Việt Nam khó có thể được áp dụng hiệu quả khi các bên liên quan và cơ quan có thẩm quyền chưa xác định được nội dung của các trường hợp rà soát.

2.1.1.3 Các biện pháp chống bán phá giá

  • Áp dụng biện pháp cam kết

Theo quy định của Pháp lệnh chống bán phá giá, có hai loại cam kết được áp dụng trong các vụ việc chống bán phá giá là cam kết điều chỉnh giá bán và cam kết tự nguyện hạn chế khối lượng, số lượng và giá trị giá hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam [1, đ 21]. Pháp luật Việt Nam chỉ gọi tên mà chưa có những quy định chi tiết về các biện pháp trên.

Nghị định 90/2005/NĐ-CP quy định sau khi có kết luận sơ bộ và chậm nhất không quá 30 ngày trước khi kết thúc giai đoạn điều tra, đại diện hợp pháp của người bị yêu cầu có thể gửi văn bản cam kết (sau đây gọi là cam kết loại trừ bán phá giá) trực tiếp đến cơ quan điều tra hoặc đến các nhà sản xuất trong nước để xem xét trước khi trình lên cơ quan điều tra [2, đ 34]. Quy định này được xây dựng từ quan niệm cho rằng với tư cách là biện pháp xử lý vụ việc nên việc áp dụng cam kết chỉ được tiến hành khi đã có kết luận điều tra về vụ việc. Kết luận điều tra không chỉ là căn cứ pháp lý làm phát sinh quyền xử lý vụ việc của cơ quan nhà nước mà còn là cơ sở để tính toán mức độ áp dụng của các biện pháp xử lý. Mặt khác, biện pháp cam kết là giải pháp xử lý dung hòa quyền lợi của các bên và có ý nghĩa chấm dứt vụ việc nhanh chóng, không áp dụng thuế chống bán phá giá nên pháp luật không cho phép áp dụng biện pháp này khi đã có kết luận cuối cùng.

Quy trình xem xét và chấp nhận cam kết được chia làm hai giai đoạn như sau:

Thứ nhất, giai đoạn thẩm tra cam kết, trong thời hạn 30 ngày, tính từ ngày nhận được văn bản cam kết loại trừ bán phá giá, cơ quan điều tra có trách nhiệm xem xét và đề xuất ý kiến để Bộ trưởng Bộ Công thương xem xét, quyết định. Cơ quan điều tra công bố công khai nội dung cam kết cho các bên liên quan đến quá trình điều tra được biết [2, k1 đ 35].

Thứ hai, giai đoạn xem xét và ra quyết định: theo Pháp lệnh chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Công thương có thể chấp nhận, không chấp nhận hoặc đề nghị điều chỉnh nội dung cam kết nhưng không được ép buộc các bên phải cam kết. Trường hợp không chấp nhận cam kết của các bên liên quan, Bộ trưởng phải thông báo lý do không chấp nhận cam kết đó và cho tiếp tục tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật. Trường hợp bên đưa ra cam kết chấp nhận đề nghị điều chỉnh nội dung cam kết theo đề nghị của Bộ trưởng, bên đưa ra cam kết phải gửi bản cam kết mới đến cơ quan điều tra. Bộ trưởng ra quyết định áp dụng biện pháp cam kết nếu xét thấy việc thực hiện cam kết đó không gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước [2, đ 35] [1, đ 21]. Các quyết định của Bộ trưởng phải được công bố cho các bên liên quan bằng các phương tiện thích hợp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

  • Áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời

Về nguyên tắc, hàng hóa nhập khẩu chỉ bị áp dụng các biện pháp chống bán phá giá sau khi cơ quan có thẩm quyền khẳng định chúng bị bán phá giá và gây thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất nội địa. Tuy nhiên, sau thời hạn điều tra kéo dài từ 12 đến 18 tháng, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá cho dù nghiêm khắc có thể trở nên vô nghĩa nếu trong thời hạn đó hàng hóa nhập khẩu tiếp tục bán phá giá và hủy diệt ngành sản xuất trong nước. Pháp luật WTO và các nước đều có các quy định về việc áp dụng biện pháp tạm thời khi chưa có kết luận điều tra cuối cùng để ngăn chặn nguy cơ việc bán phá giá gây thêm những thiệt hại mới cho các DN trong nước.

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, biện pháp tạm thời được áp dụng là thuế chống bán phá giá tạm thời. Thuế này có thể được bảo đảm thanh toán bằng tiền mặt đặt cọc hoặc được bảo đảm bằng các biện pháp khác theo quy định của pháp luật [2, k1,3 đ 20].

Theo Điều 20 Pháp lệnh chống bán phá giá, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời khi thỏa mãn các điều kiện sau:

Thứ nhất, biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sau 60 ngày kể từ ngày có quyết định điều tra và cơ quan điều tra đã có kết luận sơ bộ về vụ việc;

Thứ hai, kết luận sơ bộ đã khẳng định hàng hoá bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá được xác định cụ thể; việc bán phá giá hàng hoá là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước;

Thứ ba, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế – xã hội trong nước.

Ngoài các quy định về điều kiện áp dụng, pháp luật Việt Nam còn đặt ra hai giới hạn của việc áp dụng biện pháp tạm thời:

Một là, thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời không được quá 120 ngày, kể từ ngày có quyết định áp dụng. Khi có yêu cầu của các nhà xuất khẩu hàng hóa tương tự, Bộ trưởng Bộ Công thương có thể gia hạn áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời nhưng không quá 60 ngày [1, k4,5 đ 20]. Về bản chất, biện pháp tạm thời là biện pháp được áp dụng trong giai đoạn điều tra để ngăn chặn khả năng làm trầm trọng thêm thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất trong nước. Thời hạn áp dụng cần tương ứng với thời hạn điều tra mà đặc biệt là giai đoạn điều tra cuối cùng. Theo Pháp lệnh, thời hạn điều tra là 12 tháng và có thể kéo dài thành 18 tháng (trong đó điều tra sơ bộ từ 3 đến 5 tháng). Việc kéo dài thời hạn điều tra trong các vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp đòi hỏi việc áp dụng biện pháp tạm thời phải được mở rộng tương ứng nhằm đảm bảo tác dụng ngăn chặn của biện pháp này. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Hai là, thuế suất thuế chống bán phá giá tạm thời không được vượt quá biên độ bán phá giá trong kết luận sơ bộ [1, k2 đ 20]. Trong giới hạn của biên độ phá giá, cơ quan có thẩm quyền cân nhắc khả năng áp dụng một mức thuế suất thấp hơn biên độ nếu có thể ngăn ngừa hoặc hạn chế được thiệt hại vất chất cho ngành sản xuất trong nước.

  • Áp dụng thuế chống bán phá giá chính thức

Theo Pháp lệnh chống bán phá giá, việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá cần triệt để tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết, hợp lý nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Mức độ cần thiết và hợp lý của biện pháp chống bán phá giá được pháp luật Việt Nam diễn giải bằng các quy định: (1) thuế suất thuế chống bán phá giá không được vượt quá biên độ bán phá giá trong kết luận cuối cùng [1, k1 đ 22]. Như vậy, thuế suất được áp dụng chỉ có thể bằng hoặc thấp hơn biên độ phá giá. (2) Không áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi biên độ phá giá không đáng kể. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ đặt ra cơ chế chấm dứt điều tra khi kết luận sơ bộ khẳng định biên độ phá giá không đáng kể [1, điểm b k2 đ 19]. Khi có sự khác nhau trong kết luận sơ bộ và kết luận cuối cùng về biên độ phá giá (biên độ phá giá trong kết luận sơ bộ là đáng kể nhưng trong kết luận cuối cùng là không đáng kể), pháp luật chưa có quy định để giải quyết. (3) Thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá không quá 5 năm, kể từ ngày có quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá [1, k2 đ 22]. Trong thời hạn này, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá có thể chấm dứt theo kết quả rà soát thường niên nếu không còn đủ các căn cứ để áp dụng.

Thứ hai, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá chỉ được thực hiện khi đã tiến hành điều tra và phải dựa trên các kết luận điều tra quy định của pháp luật. Áp dụng biện pháp chống bán phá giá không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người có liên quan như đã phân tích ở nguyên tắc thứ nhất mà còn có ảnh hưởng lớn đến quan hệ thương mại giữa quốc gia áp dụng đối với quốc gia có hàng hoá bị áp dụng. Do đó, pháp luật quốc tế cũng như luật pháp các nước trong đó có Việt Nam luôn đòi hỏi một sự cẩn trọng trong việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nhằm đảm bảo cho duy trì sự ổn định của thương mại quốc tế bằng cách đặt ra một nguyên tắc về căn cứ áp dụng các biện pháp chống phá giá. Các căn cứ này phải là kết quả của một quá trình điều tra đúng thủ tục, trình tự và chính xác dựa trên những bằng chứng xác thực. Có như thế, thuế chống bán phá giá thực sự là công cụ bảo vệ sự lành mạnh của thương mại quốc tế.

Thứ ba, biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng trực tiếp đối với hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc này được hình thành từ quan niệm các biện pháp được áp dụng không là các chế tài dành cho chủ thể thực hiện hành vi bán phá giá mà chỉ là các giải pháp xử lý tình trạng hàng hóa nhập khẩu bán phá giá gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Thứ tư, việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá không được gây thiệt hại đến lợi ích kinh tế – xã hội trong nước. Trong các vụ việc chống bán phá giá, việc cân nhắc ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của các biện pháp được áp dụng là cần thiết. Trong bối cảnh nhu cầu hội nhập và hợp tác kinh tế là tất yếu và bức thiết, Việt Nam cần thận trọng xem xét đến tác động của việc chống bán phá giá đến các dòng thương mại khu vực và quốc tế mà chúng ta đang nỗ lực gia nhập.

2.1.1.3 Phương thức áp dụng thuế chống bán phá giá

Điều 6 và Khoản 1 Điều 22 Pháp lệnh chống bán phá giá quy định căn cứ vào kết luận cuối cùng của cơ quan điều tra và quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi có hai điều kiện sau đây:

Một là, hàng hoá bị bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá phải xác định cụ thể;

Hai là, việc bán phá giá hàng hoá phải là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.

Quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá phải ấn định mức thuế chống bán phá giá chính thức cho khoảng thời gian có hiệu lực của quyết định đó. Như vậy, Việt Nam sử dụng phương thức ấn định mức thuế cho giai đoạn tương lai. Về vấn đề này, ADA cho phép các quốc gia thành viên lựa chọn một trong hai phương thức tính thuế:

Một là, tính thuế chống bán phá giá cho giai đoạn tương lai có nghĩa là thuế suất được tính toán từ biên độ phá giá của thời kỳ điều tra – là khoảng thời gian trước khi thuế chính thức được áp dụng. Vấn đề đặt ra là có thể xảy ra tình trạng biên độ phá giá thực tế trong giai đoạn áp dụng thuế đã thay đổi do có sự thay đổi của giá xuất khẩu và giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu. Trong tình huống này, mức thuế chống bán phá giá chưa phản ánh chính xác diễn biến thực tế của hiện tượng bán phá giá. Để đảm bảo công bằng, ADA đặt ra cơ chế cho phép nhà sản xuất sản phẩm chịu thuế có quyền yêu cầu xem xét lại biên độ phá giá thực tế với điều kiện người yêu cầu phải cung cấp đầy đủ bằng chứng. Khi có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiến hành rà soát trong thời hạn 12 tháng (có thể gia hạn thêm 6 tháng). Khi xác định được mức thuế nộp vượt quá biên độ phá giá, phần chênh lệch phải hoàn trả cho người nộp thuế [13, đ 9.3.2].

Hai là, tính thuế cho khoảng thời gian đã qua (thuế chống bán phá giá được thu trên cơ sở hồi tố). Theo phương thức này, kết thúc cuộc điều tra chống bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định áp đặt thuế chính thức nhưng chỉ đưa ra một mức thuế chống bán phá giá ước tính tạm thời. Mức thuế chính thức sẽ được tính toán dựa trên số liệu thực tế trong thời hạn 12 tháng (có thể kéo dài không quá 18 tháng) kể từ ngày có quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá. Với cách thức tính thuế hồi tố, mức thuế được ấn định đã phản ánh chính xác diễn biến của tình trạng phá giá trong giai đoạn áp dụng. Tuy nhiên, các quốc gia sử dụng phương thức hồi tố phải xây dựng thêm thủ tục tính thuế chính thức trong quá trình xử lý vụ việc (pháp luật Hoa Kỳ gọi là thủ tục rà soát hành chính). ADA yêu cầu các nước thành viên xây dựng cơ chế hoàn thuế cho người nộp khi mức thuế tạm tính cao hơn mức thuế cuối cùng phải nộp trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày ấn định mức thuế chính thức.

Việc sử dụng phương thức tính thuế cho giai đoạn tương lai là phù hợp với điều kiện về năng lực điều tra xử lý vụ việc của các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam. Sự phức tạp vốn có trong pháp luật và kỹ thuật điều tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá đang vượt quá khả năng về nhân sự và trình độ hiện nay của các cán bộ thực thi.

2.1.2 Pháp luật về biện pháp chống trợ cấp Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

2.1.2.1 Định nghĩa trợ cấp hàng hoá nhập khẩu

Việc nhận diện hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp. Trong trường hợp không nhận diện được hoặc nhận diện không đúng hiện tượng trợ cấp, cơ quan có thẩm quyền sẽ không áp dụng được các biện pháp chống trợ cấp hoặc nếu có áp dụng thì không những không ngăn chặn được hành động trợ cấp mà ngược lại, gây ra thiệt hại cho quyền lợi người tiêu dùng và nhà tiêu thụ sử dụng hàng nhập khẩu làm nguyên liệu cho sản xuất. Ngoài ra,nó còn có thể làm cho quan hệ thương mại với quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có hàng hóa được xác định có trợ cấp trở nên căng thẳng.

Để xác định hành vi trợ cấp hàng hóa nhập khẩu, Pháp lệnh chống trợ cấp 2004 đã đưa ra khái niệm về trợ cấp. Theo đó, trợ cấp được xác định là ” sự hỗ trợ về tài chính của chính phủ hoặc cơ quan của chính phủ dành cho tổ chức, cá nhân khi sản xuất, xuất khẩu hàng hoá vào Việt Nam và đem lại lợi ích cho tổ chức, cá nhân đó”.[3, k1 đ2] Có thể thấy rằng định nghĩa trợ cấp của Việt Nam có nội dung khá tương đồng với định nghĩa trợ cấp của WTO. Tuy nhiên, đây là khái niệm mang tính định tính, để xác định được hành động hỗ trợ tài chính mang lại lợi ích cho chủ thể nhân được sự hỗ trợ tài chính là không dễ dàng.

2.1.2.2 Các hình thức trợ cấp hàng hoá nhập khẩu

Theo Pháp lệnh chống trợ cấp 2004, các hành vi trợ cấp hàng hoá nhập khẩu bao gồm:

Một là, Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ chuyển vốn cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức cấp vốn, chuyển giao cổphần, cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc bảo lãnh để được vay với lãi suất thấp hơn khi không có bảo lãnh này;

Hai là, Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ bỏ qua hoặc không thu những khoản thu mà tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp;

Ba là, Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ cung cấp hàng hoá, dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng chung hoặc mua hàng hóa, dịch vụ vào với giá cao và bán ra cho tổ chức, cá nhân với giá thấp hơn giá thị trường;

Bốn là, Chính phủ hoặc cơ quan của Chính phủ đóng góp tiền vào một cơ chế tài trợ, giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều hình thức quy định tại các điểm nêu trên.[3, Điều 3]

Như vậy, cách phân chia các hình thức trợ cấp của pháp luật Việt Nam cũng tương tự với quy định về hình thức trợ cấp của WTO tại Điều 1 SCM. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Một điểm khác biệt lớn của pháp luật chống trợ cấp của Việt Nam so với pháp luật WTO là không phân loại các hình thức trợ cấp theo cấp độ “bóp méo thương mại”. Các hình thức trợ cấp được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh 2004 thực chất là các dấu hiệu pháp lý dùng để nhận diện sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ nước xuất khẩu. Như vậy, trong trường hợp có một trong các dấu hiệu pháp lý này đều có thể được coi là trợ cấp và có thể dẫn đến hành động đối kháng từ Chính phủ Việt Nam không tùy thuộc đó là loại hình trợ cấp nào như “đèn xanh”, “đèn vàng”, “đèn đỏ” theo cách tiếp cận của WTO.

2.1.2.3 Xác định trợ cấp

Theo Pháp lệnh chống trợ cấp 2004, việc xác định hành vi trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam bao gồm: (i) xác định hình thức trợ cấp;(ii) xác định hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp vào Việt Nam; (iii) xác định trợ cấp có tính chất riêng biệt và (iv) xác định mức độ trợ cấp mà hàng hóa đó được hưởng. [3, đ 14]

Theo đó, việc xác định hình thức trợ cấp là việc xác định hành vi trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam thuộc hình thức nào trong các hình thức trợ cấp được liệt kê ở trên.

Xác định hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp vào Việt Nam là việc xác định hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp về các yếu tố tên gọi của hàng hóa, các đặc tính cơ bản và mục đích sử dụng chính, mã số theo biểu thuế nhập khẩu và xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu nhằm xác định chính xác loại hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp để có thể áp dụng thuế chống trợ cấp lên đúng đối tượng chịu thuế.

Xác định trợ cấp có tính riêng biệt có thể hiểu là:” Trợ cấp chỉ áp dụng cho tổ chức, cá nhân hoặc ngành sản xuất nhất định hoặc trợ cấp chỉ áp dụng cho các tổ chức, cá nhân hoặc ngành sản xuất trong khu vực địa lý nhất định của một nước hoặc vùng lãnh thổ bị điều tra áp dụng biện pháp chống trợ cấp.” [3, k8 đ2]

Xác định mức trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu: Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, mức trợ cấp hàng hóa nhập khẩu là giá trị trợ cấp được tính trên một đơn vị hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp.

2.1.2.4 Cơ sở tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp

Việc điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp có thể được tiến hành dựa trên cơ sở hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp của tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước, hoặc Bộ trưởng Bộ Công thương có thể ra quyết định điều tra khi có bằng chứng rõ ràng về việc hàng hóa được trợ cấp nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.[3, k1 đ8] Theo đó, tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp được coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước khi có hai điều kiện sau đây:

Một là, tổ chức hoặc cá nhân đó có khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa do họ sản xuất hoặc đại diện chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự của ngành sản xuất trong nước;

Hai là, tổ chức hoặc cá nhân có khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hóa quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp phải lớn hơn khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự của các nhà sản xuất trong nước phản đối yêu cầu áp dụng biện pháp chống trợ cấp.

2.1.2.5 Áp dụng biện pháp chống trợ cấp Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Biện pháp chống trợ cấp chỉ được áp dụng sau khi cơ quan chức năng của Chính phủ đã hoàn thành điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp theo trình tự, thủ tục quy định trong Pháp lệnh chống trợ cấp và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh. Các biện pháp chống trợ cấp có thể được áp dụng gồm có: (i) Biện pháp áp dụng thuế chống trợ cấp tạm thời; (ii) Biện pháp cam kết; hoặc (iii) Biện pháp áp dụng thuế chống trợ cấp chính thức.

Cụ thể, thuế chống trợ cấp tạm thời sẽ được áp dụng trong trường hợp cần thiết, sau 60 ngày kể từ ngày có quyết định điều tra, trên cơ sở kết luận sơ bộ, cơ quan điều tra có thể kiến nghị Bộ trưởng Bộ Công thương áp dụng thuế chống trợ cấp tạm thời trước khi có kết quả điều tra cuối cùng nhằm ngăn chặn các hậu quả xấu gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước.[3, k1 đ 22] Tuy nhiên, thời hạn áp dụng thuế chống trợ cấp tạm thời không được vượt quá 120 ngày, kể từ ngày có quyết định áp dụng. [3, k4 đ 22]

Sau khi có kết luận sơ bộ và trước khi kết thúc giai đoạn điều tra, cá nhân, tổ chức sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hóa thuộc đối tượng điều tra có thể đưa ra cam kết với Bộ Công thương hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được cơ quan có thẩm quyền đồng ý .Cụ thể, các tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc xuất khẩu hàng hóa thuộc đối tượng điều tra hoặc Chính phủ nước hoặc vùng lãnh thổ có thể đưa ra cam kết với Bộ Công thương về việc tự nguyện chấm dứt trợ cấp, giảm mức trợ cấp, cam kết điều chỉnh giá xuất khẩu hoặc áp dụng các biện pháp thích hợp khác chậm nhất không quá 30 ngày trước khi kết thúc giai đoạn điều tra. [4, Điều 32] Bộ trưởng Bộ Công thương có thể chấp nhận, không chấp nhận hoặc đề nghị điều chỉnh nội dung cam kết trên cơ sở tự nguyện. Các bên có cam kết được chấp nhận phải định kỳ cung cấp cho cơ quan điều tra thông tin, tài liệu liên quan đến việc thực hiện cam kết và chứng minh tính chính xác của các thông tin đó theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương. Trường hợp các bên liên quan không thực hiện đúng theo cam kết, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định tiếp tục tiến hành điều tra để áp dụng biện pháp chống trợ cấp hoặc ra quyết định áp dụng biện pháp chống trợ cấp theo quy định của Pháp lệnh chống trợ cấp. [3, đ 23]

Trong trường hợp không đạt được cam kết, căn cứ vào kết luận cuối cùng và kiến nghị của Hội đồng xử lý vụ việc chống trợ cấp, Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định về việc áp dụng thuế chống trợ cấp. Theo Pháp lệnh hống trợ cấp, thuế suất thuế chống trợ cấp không được vượt quá mức trợ cấp được xác định trong kết luận cuối cùng và chỉ được áp dụng trong thời hạn không quá 5 năm kể từ ngày có quyết định áp dụng.[3, k2 k3 đ24] Thời hạn này có thể được gia hạn trong trường hợp Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định rà soát việc áp dụng thuế chống trợ cấp theo trình tự, thủ tục quy định tại Pháp lệnh chống trợ cấp.

2.1.3 Pháp luật về biện pháp tự vệ Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Ngày 07/6/2002, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam, Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/9/2002. Sau đó, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 150/2003/NĐ-CP ngày 08/1202003 quy định chi tiết về việc thực hiện Pháp lệnh về các biện pháp tự về trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam. Đây là một trong những bước tiến quan trọng trong quá trình lập pháp của Việt Nam trong nhiều nỗ lực để gia nhập WTO. Theo đó, Chính phủ Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp tự vệ trong trường hợp một lại hàng hoá nhất định được nhập khẩu quá mức vào thị trường Việt Nam. Cụ thể, các biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam bao gồm: tăng mức thuế nhập khẩu, áp dụng hạn ngạch nhập khẩu, áp dụng hạn ngạch thuế quan, áp dụng thuế tuyệt đối, cấp phép nhập khẩu để kiểm soát nhập khẩu, phụ thu đối với hàng hoá nhập khẩu, và các biện pháp khác. [ 5, Điều 2]

2.1.3.1 Cơ sở áp dụng biện pháp tự vệ

Các biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng khi đủ các yếu tố sau: (i) Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá nhập khẩu gia tăng đột biến một cách tuyệt đối hoặc tương đối so với khối lượng, số lượng hàng hoá tương tự hoặc hàng hoá cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước; (ii) Việc gia tăng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá nhập khẩu gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất hàng hoá tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trong nước; (iii) Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ trong phạm vi và mức độ cần thiết nhằm ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước và tạo điều kiện cho ngành sản xuất đó nâng cao năng lực cạnh tranh; (iv) Việc áp dụng các biện pháp tự vệ phải căn cứ vào kết quả điều tra của Bộ Công thương. Trên cơ sở kết quả điều tra, Bộ Công thương mà cụ thể là Bộ trưởng Bộ Công thương sẽ ra quyết định áp dụng hay không áp dụng các biện pháp tự vệ sau khi đã tham khảo ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan; (v) Các biện pháp tự vệ được áp dụng trên cơ sở không phân biệt đối xử và không phụ thuộc vào xuất xứ hàng hoá [6, Điều 6]

2.1.3.1 Áp dụng biện pháp tự vệ

Bộ Công thương có thể ra quyết định áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời trước khi kết thúc điều tra nếu thấy việc chậm thi hành các biện pháp tự vệ gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước và thiệt hại đó khó có thể khắc phục về sau. Biện pháp tự vệ tạm thời chỉ được áp dụng dưới hình thức thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện hành. Thời hạn áp dụng biện pháp này kết thúc khi có quyết định của Bộ Công thương về việc áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự vệ nhưng trong mọi trường hợp không được vượt quá 200 ngày kể từ ngày bắt đầu áp dụng biện pháp tự vệ tạm thời.[ 6, Điều 20] Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Việc áp dụng các biện pháp tự vệ được tiến hành trên cơ sở quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương. Theo quy định của Pháp lệnh tự vệ, các biện pháp tự vệ có thể không được áp dụng đối với hàng hóa có xuất xứ từ các nước kém phát triển. Cụ thể, các biện pháp tự vệ có thể không được áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ một nước kém phát triển nếu lượng hàng hoá nhập khẩu của nước đó vào Việt Nam chiếm không vượt quá 3% tổng lượng hàng hoá nhập khẩu bị điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ. Trong trường hợp tổng lượng hàng hoá nhập khẩu của các nước đó vào Việt Nam vượt quá 9% tổng lượng hàng hoá nhập khẩu bị điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ thì vẫn sẽ bị áp dụng biện pháp tự vệ. Việc xác định một quốc gia là nước kém phát triển được sẽ được dựa trên tiêu chuẩn phát triển của các quốc gia ban hành bởi Liên hợp quốc. [ 5, Điều 13] Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ, bao gồm cả thời gian áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời là không quá 04 năm. Thời hạn này có thể được gia hạn một lần không quá 06 năm tiếp theo, với điều kiện vẫn còn thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước và có các bằng chứng chứng minh rằng ngành sản xuất hàng hóa tương tự đang thực hiện điều chỉnh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước.[ 6, Đ 22]

2.2 Thực tiễn áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ tại Việt Nam

Kiện PVTM, mà cụ thể là kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ không hoàn toàn là những công cụ xa lạ đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp biết về công cụ này như là một rào cản đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu ra các thị trường nước ngoài mà không phải là một công cụ mà doanh nghiệp có thể sử dụng ngay tại Việt Nam để chống lại hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào thị trường Việt Nam.

Điều này không gây ngạc nhiên bởi số lượng các vụ kiện PVTM ở Việt Nam đến nay còn quá ít và có rất nhiều các lý do khiến PVTM hầu như là các công cụ bất khả dụng tại Việt Nam trong thời gian qua.

Tính đến nay, Việt Nam chỉ mới điều tra 6 vụ chống bán phá giá và tự vệ đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước. Trong khi đó, tại thị trường xuất khẩu, hàng hóa của Việt Nam có đến 96 vụ bị điều tra phòng vệ thương mại. Thực tế trên cho thấy, năng lực phòng vệ của DN Việt Nam vẫn còn rất yếu so với các đối thủ nước ngoài. [27] Có thể kể tới như: Vụ kiện chống bán phá giá thép không gỉ năm 2013; vụ kiện chống bán phá giá thép mạ (tôn mạ) năm 2016. Bên cạnh đó, còn có các vụ việc liên quan đến vấn đề áp dụng biện pháp tự vệ thương mại như: Kính nổi (2009), dầu thực vật (2012), bột ngọt (2015), phôi thép và thép dài (2015), tôn màu (2016). Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Có thể nhận thấy một số đặc điểm lớn khi xem xét tổng hợp các vụ kiện phòng vệ thương mại như sau:

Thứ nhất, phần lớn vụ việc điều tra là áp dụng biện pháp tự vệ. Điều này dường như là đi ngược lại thông lệ quốc tế, theo đó, các biện pháp tự vệ là những biện pháp rất ít được sử dụng so với hai biện pháp còn lại.

Theo lý giải của nhiều chuyên gia, trên bình diện toàn thế giới, công cụ này ít được sử dụng bởi chúng được áp dụng không phải để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh nào mà chỉ đơn thuần là biện pháp bảo hộ tạm thời trước tình trạng gia tăng đột biến của hàng hóa nước ngoài nhập khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa, và cũng chính vì điều này mà trong khi nghĩa vụ của bên đi kiện tương đối nhẹ nhàng (không phải chứng minh sự tồn tại của hành vi cạnh tranh không lành mạnh) thì trách nhiệm của Chính phủ lại lớn hơn (phải có sự đền bù tương ứng cho các nước nhập khẩu bị ảnh hưởng). Nói cách khác, Chính phủ nước nhập khẩu nếu áp dụng biện pháp này sẽ không thuận lợi như khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp nên họ có xu hướng ít chấp nhận các yêu cầu này hơn.[21, tr 19]

Một trong những lý giải cho hiện tượng này của Việt Nam là các vụ kiện phòng vệ thương mại đòi hỏi trách nhiệm chứng minh nhẹ hơn cho các nguyên đơn (không phải chứng minh hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tức là không phải xuất trình các thông tin về chi phí của hàng hóa nhập khẩu mà thường là rất khó tiếp cận), vì thế họ dễ đi kiện hơn. Đây là một ưu thế đặc biệt có ý nghĩa của kiện tự vệ so với các biện pháp PVTM khác đối với các doanh nghiệp nguyên đơn chưa có nhiều kinh nghiệm kiện tụng.

Từ góc độ Chính phủ, đối với các vụ việc này, mặc dù là các “công cụ phải trả tiền”, việc điều tra tự vệ cũng có thể là bài toán dễ thực hiện hơn với các cơ quan điều tra do không phải đầu tư quá lớn nguồn lực vào việc tính toán, xác định các công thức tính toán chi phí phức tạp như trong kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp. Như vậy, cũng tương tự như với doanh nghiệp, công cụ này lại là một ưu thế đáng kể so với các công cụ khác đối với các cơ quan điều tra vốn chưa trải qua nhiều các thử thách thực tế trong lĩnh vực này.

Nói cách khác, trong bối cảnh Việt Nam nơi chưa sử dụng nhiều công cụ PVTM, nơi năng lực và kinh nghiệm của cả doanh nghiệp đi kiện lẫn cơ quan điều tra còn hạn chế, các biện pháp tự vệ tỏ ra là một công cụ có ưu thế hơn so với 02 công cụ còn lại. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Việc Việt Nam sử dụng nhiều công cụ tự vệ, vì vậy, có lẽ cũng là cách thức bắt đầu hợp lý (cũng lưu ý thêm là vụ kiện chống bán phá giá đầu tiên của Việt Nam được khởi xướng theo sáng kiến và đơn kiện của một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ Hàn Quốc và công ty mẹ của họ đã có rất nhiều kinh nghiệm trong kháng kiện cũng như khởi kiện chống bán phá giá ở khắp nơi trên thế giới).

Thứ hai, nguyên đơn khởi kiện trong các vụ việc này đa số là đang nắm giữ vị trí thống lĩnh thị trường đối với loại sản phẩm là đối tượng của vụ kiện.

Thực tế có lẽ không quá khó lý giải bởi thường thì các doanh nghiệp có thị phần lớn (thống lĩnh) là các doanh nghiệp mạnh, được suy đoán là có đủ năng lực để thực hiện việc đi kiện theo các thủ tục phức tạp cũng như có đủ nguồn lực để “đầu tư” vào việc đi kiện, coi đó như là một chiến lược kinh doanh của mình (bởi kết quả của vụ việc).

Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc công cụ PVTM hiện vẫn đang là “công cụ” của nhà giàu, chưa phải là công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ, vốn là những chủ thể suy đoán là phải chịu tác động mạnh nhất từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nước ngoài tại Việt Nam, nếu có.

Ngoài ra, ở một chừng mực nào đó, hiện tượng này cũng đòi hỏi các cơ quan Nhà nước liên quan phải có sự chú ý đặc biệt để tránh việc các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường lạm dụng công cụ này để bảo vệ vị trí thống lĩnh của mình cũng như gây thiệt hại tới cạnh tranh nói chung, tới quyền và lợi ích của các chủ thể sử dụng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hoặc người tiêu dùng.

Thứ ba, các sản phẩm bị kiện trong các vụ kiện PVTM của Việt Nam đều không phải các sản phẩm trong tốp đầu về nhập khẩu vào Việt Nam. Về mặt lý thuyết thì hàng hóa nhập khẩu càng nhiều thì nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh càng lớn hơn. Ngoài ra, trong các tính toán điều tra PVTM, luôn có nội dung về sự gia tăng của hàng hóa nhập khẩu (tức là nhấn mạnh tới lượng nhập khẩu). Tất nhiên điều này không đồng nghĩa với việc hàng hóa nhập khẩu ít hơn thì nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh ít hơn hay số vụ kiện sẽ ít hơn.

Dù vậy, trong tổng thể, đây cũng là tín hiệu cho thấy nhiều loại hàng hóa khác của Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu (mà trong đó có thể có nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh) chưa được bảo vệ bằng công cụ PVTM. Khóa luận: Thực trạng pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại.

Từ thực tiễn nêu trên, có thể thấy việc sử dụng công cụ PVTM ở Việt Nam đã bắt đầu, tuy nhiên còn rất nhiều vấn đề cần bàn trước khi có thể hy vọng các công cụ này sẽ được sử dụng phổ biến và hiệu quả ở Việt Nam nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp sản xuất nội địa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp pháp luật biện pháp phòng vệ thương mại

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x