Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tiềm năng du lịch và hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An – Hải phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Tổng quan về thành phố Hải Phòng
2.1.1. Lịch sử, địa lý và cảnh quan
Vào những năm đầu Công Nguyên, Hải Phòng là một làng nhỏ nằm bên bờ sông Cấm. Bà Lê Chân – một nữ tướng của Hai Bà Trưng đã dựng ở đây một trang trại lấy tên là An Biên làm căn cứ chống giặc. Đời Lý, Trần, Lê, Hải Phòng thuộc đất của Hải Dương, thế kỷ XVIII khi giao lưu thương mại quốc tế phát triển, tàu buôn của nước ngoài đến Việt Nam thường qua Hải Phòng, năm 1817 tại đây đã lập một bến gọi là bến Ninh Hải.
Tên gọi Hải Phòng có nhiều cách giải thích khác nhau: có ý kiến cho rằng tên gọi Hải Phòng là tên viết tắt của cụm từ “Hải tần phòng thủ” một chức tướng của nữ tướng Lê Chân, cũng có cách giải thích khác: “Hải Phòng” là tên viết tắt của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương “Hải Dương thương chính quan phòng…”. Nhưng có lẽ cách giải thích tên gọi “Hải Phòng” xuất phát từ tên của một đồn binh ở bờ sông Cấm thuộc bến Ninh Hải. Vì lúc đầu người Pháp chỉ được đóng quân ở đồn Hải Phòng, sau đó họ gọi thành quen. Từ đó tên Hải Phòng xuất hiện.
Hải Phòng là một trong 5 thành phố lớn của Việt Nam, ra đời từ những năm 70 của thế kỷ XIX. Trên địa bàn miền Bắc, Hải Phòng là một đô thị có tuổi đời trẻ nhất so với nhiều đô thị có quá trình tồn tại lâu dài như Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hà Tây…
Nền móng đầu tiên cho Hải Phòng phát triển lên thành đô thị không phải như thành lũy trụ sở phong kiến như Hà Nội, cũng không phải là thị trấn lớn như Hội An. Nó xuất phát từ làng chài nhỏ gần cửa sông, ở đó có bến tàu thuyền, có trạm thuế quan và đồn canh cửa biển với 2 chức năng: kinh tế và quốc phòng. Sau khi ra đời, do vị trí địa lí thuận lợi, trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, Hải Phòng đã nhanh chóng trở thành thành phố – hải cảng có tầm quan trọng lớn cả về mặt kinh tế – chính trị – quân sự trong phạm vi quốc gia và có tên trên thế giới. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Việc đô thị Hải Phòng chính thức thành lập từ năm 1888 và cùng với Hà Nội, Sài Gòn, Hải phòng phát triển thành 3 thành phố lớn nhất của Việt Nam. Hải Phòng nằm trên bờ biển Đông Thái Bình Dương gồm 7 quận và 8 huyện. Nội thành Hải Phòng – trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa gồm các quận : Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Dương Kinh, Đồ Sơn. Ngoại thành gồm các huyện: An Lão, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Dương, Thủy Nguyên, Kiến Thụy, Cát Hải và huyện đảo Bạch Long Vĩ.
Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng có diện tích đất tự nhiên 1053,1 km2 – chiếm 0,45% diện tích đất tự nhiên của cả nước.
Hải Phòng nằm trong hệ tọa độ địa lý: 20030’39” – 21001’15” vĩ độ Bắc và 106023’39” – 107008’39” kinh tuyến Đông.
Trên đất liền Hải Phòng cách thủ đô Hà Nội 102 km và tiếp giáp 3 tỉnh: phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương và phía Nam giáp tỉnh Thái Bình. Về phía đông, Hải Phòng có 125 km bờ biển, địa hình khúc khuỷu, quanh co, tạo nhiều đảo, hang động và bãi tắm đẹp liền kề với Vịnh Hạ Long – di sản thiên nhiên của thế giới, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch.
Hải Phòng với vị trí thuận lợi là cửa ngõ giao thông của miền Bắc Việt Nam, là một trong 3 đỉnh của tam giác kinh tế trọng điểm đó là: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Với hệ thống mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển và đường hàng không đã tạo cho Hải Phòng nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế.
Cảng biển Hải Phòng đã hình thành trên 100 năm, là đầu mối xuất nhập khẩu hàng hóa, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới. Hiện nay, cảng Hải Phòng là một trong những cảng biển lớn nhất Việt Nam, kéo dài hơn 12km gồm những cảng hàng rời, cảng công-ten-nơ, cảng hàng nặng xếp dỡ hơn 6,5 triệu tấn/năm và dự kiến 10/12 triệu tấn vào năm 2010. Hệ thống cảng biển, cùng với hệ thống sân bay Cát Bi được cải tạo… Hải Phòng có điều kiện thuận lợi để chuyển tải hàng hóa xuất nhập khẩu cho các tỉnh vùng Bắc Bộ, các tỉnh phía Nam Trung Quốc, đồng thời thiết lập mối quan hệ bằng đường biển và đường hàng không với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Về khí hậu: Hải phòng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trong đó, từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô. Từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều. Lượng mưa trung bình từ 1.600 đến 1.800 mm/ năm. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Nhiệt độ trung bình năm từ 23-260C, tháng nóng nhất nhiệt độ lên đến 440C và tháng lạnh nhất nhiệt độ có thể xuống dưới 50C. Do nằm gần biển, độ ẩm trung bình vào khoảng 80- 85%, cao nhất vào tháng 7,8,9; thấp nhất là vào tháng 1, 2.
Địa hình, đất đai: địa hình của Hải Phòng thay đổi rất đa dạng phản ánh một quá trình lịch sử cấu tạo địa chất lâu dài và phức tạp. Phía Bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của một vùng trung du với những đồng bằng xen đồi. Phía Nam có địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu địa hình đặc trưng vùng đồng bằng thuần túy nghiêng ra biển.
Đồi núi chiếm 15% diện tích, phân bố hơn nửa phía bắc thành phố tạo 2 dải chạy liên tục theo hướng Đông Bắc – Tây Nam. Trong đó, dải thứ nhất chạy từ An Lão đến Đồ Sơn và dải thứ hai chạy từ Kỳ Sơn – Tràng Kênh đến An Sơn – Núi Đèo. Cấu tạo địa chất của Hải Phòng gồm những loại đá cát kết, phiến sét, đá vôi.
Hiện nay, Hải Phòng có 62.127 ha đất canh tác, hình thành phần lớn từ hệ thống sông Thái Bình và vùng đất bồi ven biển nên chủ yếu mang tính chất đất phèn, đất mặn, địa hình đan xen cao thấp và nhiều đồng trũng. Đất nông nghiệp tính theo bình quân đầu người đạt 360m2/người không kể những bãi bồi ven biển lớn với 23.000 ha bãi triều đá nổi và ngập nước, trong đó hiện có 13.000 ha bãi nổi còn bỏ hoang.
Ngoài ra tài nguyên rừng Hải Phòng phong phú và đa dạng, có rừng nước mặn, rừng cây lấy gỗ, cây ăn quả, tre, mây… đặc biệt có khu rừng nguyên sinh Cát Bà với thảm thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loại thảo mộc quí hiếm. Diện tích rừng khoảng 17.300 ha, trong đó có khoảng 580 ha rừng nguyên sinh như rừng nhiệt đới Amazôn thu nhỏ, trong đó có nhiều loại cây gỗ quí hiếm được xếp loại thực vật cần bảo vệ và nhiều loại cây dược liệu được giới y học trong và ngoài nước quan tâm; có nhiều loại chim như hoạ mi, khiếu, vẹt, đa đa, đại bàng, hải âu, én… Thú quí trên đảo có khỉ mặt đỏ, khỉ mặt vàng, sơn dương, hoẵng, rái cá, sóc đuôi đỏ, sóc bụng đỏ, mèo rừng, nhím…, đặc biệt là voọc đầu trắng sống từng đàn, là loại thú quí hiếm trên thế giới chỉ mới thấy ở Cát Bà.
Về hệ thống sông ngòi: Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc với mật độ 0,65- 0,8 km/km2 và đều từ sông Thái Bình đổ ra Vịnh Bắc Bộ với 5 cửa sông chính. Vì thế, Hải Phòng vừa có “tính sông” do chịu chi phối của chế độ nước đất liền, vừa có “tính biển” do chịu ảnh hưởng sâu sắc của thủy triều. Trong đất liền có 16 con sông chính tỏa rộng khắp địa bàn với độ dài hơn 300km, gồm sông Thái Bình, Văn Úc, Lạch Tray, Sông Cấm, sông Đá Bạc (một nhánh của sông Bạch Đằng). Ngoài những sông chính là những sông nhánh lớn nhỏ chia cắt khắp địa hình thành phố: Sông Giá, sông Đa Độ,…
Về bờ biển, biển, hải đảo: đây là những đặc trưng thiên nhiên đặc sắc của Hải Phòng, nhân tố tác động thường xuyên đến nhiều hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên và ảnh hưởng quan trọng đến nhiều hoạt động xã hội.
Biển Hải Phòng là một bộ phận thuộc Tây Bắc vịnh Bắc Bộ với đường bờ biển dài hơn 125km (kể cả bờ biển quanh các đảo khơi), có địa hình là một đường cong lõm của bờ vịnh Bắc Bộ, thấp và bằng phẳng. Mũi Đồ Sơn nhô ra biển như một bán đảo, tạo cho Đồ Sơn một vị trí chiến lược quan trọng và thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng. Ngoài khơi còn có Cát Bà và Bạch Long Vĩ thuộc địa phận Hải Phòng, trong đó Cát Bà là một trong ba hòn đảo lớn nhất Việt Nam với nhiều hang động, bãi tắm và có rừng nguyên sinh Cát Bà – một trong khu dự trữ sinh quyển của thế giới nơi bảo tồn những loài động vật quý hiếm. Có thể nói bờ biển, biển, hải đảo đã tạo nên cảnh sắc thiên nhiên vô cùng đặc sắc, tạo lên tiềm năng và thế mạnh cho du lịch Hải Phòng.
Về khoáng sản: Do đặc điểm lịch sử địa chất Hải Phòng ít có dấu vết của hoạt động mácma nên ít có các mỏ khoáng sản lớn. Tuy nhiên, theo kết quả thăm dò khảo sát thì Hải Phòng có mỏ sắt ở Dương Quan (Thuỷ Nguyên), mỏ kẽm ở Cát Bà với trữ lượng nhỏ. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Khoáng sản kim loại có mỏ sắt Dương Chính (Thuỷ Nguyên), sa khoáng ven biển (Cát Hải và Tiên Lãng).
Khoáng sản phi kim loại có mỏ cao lanh ở Doãn Lại (Thuỷ Nguyên), mỏ sét ở Tiên Hội, Chiến Thắng (Tiên Lãng), các điểm sét ở Kiến Thiết (Tiên Lãng), Tân Phong (Kiến Thuỵ), Đồng Thái (An Hải). Đá vôi phân phối chủ yếu ở Cát Bà, Tràng Kênh, Phi Liệt, Phà Đụn; quaczi và tectit ở một số núi thuộc Đồ Sơn; phốt phát ở đảo Bạch Long Vĩ; nước khoáng ở xã Bạch Đằng (Tiên Lãng). Muối và cát là hai nguồn tài nguyên quan trọng của Hải Phòng, tập trung chủ yếu ở vùng bãi giữa sông và bãi biển, thuộc các huyện Cát Hải, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thuỵ, Đồ Sơn. Trên đảo Bạch Long Vĩ có đá asfalt, sản phẩm oxy hoá dầu, cho biết có triển vọng dầu khí vì thềm lục địa Hải Phòng chiếm đến 1/4 diện tích Đệ Tam vịnh Bắc Bộ, có bề dày đạt tới 3.000 m.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch
2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội và đời sống dân cư
Về dân cư: Địa danh Hải Phòng mới xuất hiện cách đây 100 năm. Tuy nhiên, từ xa xưa, tại mảnh đất này đã có cư dân sinh sống. Những kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại di chỉ Cái Bèo đã cho thấy dấu vết cư trú của con người cổ xưa cách đây khoảng 6000 đến 7000 năm. Hải phòng còn có nhiều địa danh mang dấu ấn của nền văn hóa Đông Sơn – một nền văn hóa của thời đại kim khí đồng thau. Từ đó đến nay cùng với lịch sử, cộng đồng dân cư Hải Phòng không ngừng lớn mạnh và phát triển. Dân số Hải Phòng hiện nay đã có khoảng 1803,468 nghìn người (số liệu từ Chi Cục dân số và kế hoạch hóa gia đình tháng 3 năm 2009), mật độ dân số Hải Phòng khá đông với trình độ dân trí cao.
Về cơ cấu dân cư: Hải Phòng là đầu mối giao lưu nên trong suốt quá trình phát triển đã có nhiều tấng lớp dân cư từ nơi khác đến sinh sống. Điển hình từ xa xưa ở Hải Phòng đã hình thành lên khu phố người Hoa và khu phố Tây. Ngày nay, Hải Phòng là một trong những thành phố có kinh tế phát triển cao, do vậy Hải Phòng ngày càng thu hút dân cư từ nơi khác đến sinh sống, mà chủ yếu là dân cư của các tỉnh lân cận mang đến cho Hải Phòng các đặc trưng văn hóa khác nhau. Tuy nhiên tất cả đều có chung một cội nguồn văn hóa và cốt cách của những con người đi khai hoang lấn biển.
Về kinh tế: Đặc điểm nổi bật của kinh tế Hải Phòng là kinh tế biển và cảng biển bới chính những ưu thế về vị trí địa lý và tài nguyên biển đã tạo nên đặc trưng này. Khi nói đến những ngành kinh tế chủ chốt của Hải Phòng là phải kể đến: ngành công nghiệp đóng tàu; ngành nuôi trồng và chế biến thủy hải sản; ngành khai thác xi măng và ngành du lịch.
Đặc biệt, sự kiện thành phố được Chính phủ công nhận là đô thị loại 1- đô thị trung tâm cấp quốc gia, Bộ Chính Trị đã ban hành Nghị quyết 32/NQ – TW về “xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa” là mốc son lịch sử ghi nhận những thành tựu phát triển của thành phố, nâng cao vị thế và tạo điều kiện, có cơ hội thuận lợi cho Hải Phòng tiếp tục phát triển, xứng đáng với lợi thế vốn có của mình.
Với sự phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế, cùng với sự phát triển về mặt xã hội đã mang lại cho Hải Phòng một bộ mặt mới – bộ mặt của một thành phố công nghiệp hiện đại. Người dân Hải phòng ngày càng được nâng cao về mặt đời sống và tinh thần, trình độ dân trí ngày càng nâng lên, tỷ lệ lao động thất nghiệp và không có việc làm giảm, đã tạo một bước phát triển cho Hải Phòng đi lên. Tuy nhiên trong thời buổi hội nhập nền kinh tế thị trường hiện nay thì Hải Phòng phải có những chính sách đầu tư và phát triển mạnh hơn nữa để trở thành một trọng điểm kinh tế miền Bắc.
2.1.3. Sự phát triển du lịch Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
2.1.3.1. Tài nguyên du lịch Hải Phòng
Tài nguyên du lịch tự nhiên Hải Phòng đa dạng và phong phú, được hình thành bới tổng hợp các yếu tố địa chất – địa hình, khí hậu, thủy hải sản và hệ thống động thực vật đa dạng, phân bố tập trung ở dải ven biển Đồ Sơn và Cát Bà, ngoài ra còn phân bố ở khu vực núi đá vôi Tràng Kênh – Thủy Nguyên.
Cát Bà là hòn đảo lớn nhất và độc đáo nhất trong số 1969 hòn đảo của quần thể Vịnh Hạ Long. Trên đảo còn lưu giữ được khu rừng nguyên sinh nhiệt đới, có hệ động thực vật phong phú, nhiều loại động thực vật quý hiếm còn tồn tại ở đây như Vọoc đầu trắng được ghi trong sách đỏ của thế giới, tới 745 loài thực vật bậc cao. Cát Bà còn có hệ thống hang động, vùng vịnh rất hấp dẫn du khách: động Trung Trang, động Thiên Long, vịnh Lan Hạ,… Cát Bà còn có 139 bãi tắm minni nằm xen giữ những dãy núi đá vôi trùng điệp với cấu trúc karst ngập nước, hệ sinh thái san hô của Cát Bà là tài nguyên đặc hữu trong quần thể di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long. Cát Bà đã được UNESCO công nhận là “khu dự tữ sinh quyển đảo Cát Bà” vào ngày 01/04/2005.
Đồ Sơn được ví như hình con rồng đang nằm chầu về viên ngọc là Hòn Dáu. Đây là một bán đảo với đồi núi, rừng cây nối tiếp nhau vươn ra biển đến 5 km, với ba khu bãi tắm đều có núi đồi, rừng thông yên tĩnh và thoáng mát.
Cát Bà và Đồ Sơn có hàng trăm cơ sở lưu trú phục vụ khách du lịch, thích hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, du lịch biển đảo, du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu khoa học,…
Một số địa điểm khác có thể đưa vào khai thác phục vụ du lịch như: Khu sinh thái Núi Voi (An Lão), khu vực rừng Thiên Văn (Kiến An), khai thác nước khoáng nóng Tiên Lãng, khu vực sông Giá và Tràng Kênh (Thủy nguyên),…
Hải Phòng có tài nguyên du lịch nhân văn khá phong phú, được tập trung phần lớn ở khu vực nội thành và các vùng phụ cận. Đồ Sơn có lễ hội chọi trâu độc đáo trong 15 lễ hội quốc gia, có suối Rồng, Đình Ngọc, tháp Tường Long thời Lý.
Huyện Kiến Thụy, vùng đất linh thiêng đã sản sinh ra nhà Mạc với gần 66 năm trị vì đất nước. Huyện Thủy Nguyên với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử và hệ thống hang động đồi núi được ví như Hạ Long cạn. Huyện An Lão với núi Voi, căn cứ trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Vĩnh Bảo với khu di tích Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, một trong những nhà tiên tri nổi tiếng thế giới, cây đại thụ của nền văn học Việt Nam thế kỷ 16 và nhiều di tích lịch sử văn hóa lễ hội truyền thống, các trò chơi dân gian tiêu biểu. Khu vực nội thành có dải trung tâm, nhà hát lớn được xây dựng từ thời Pháp thuộc với những quán hoa, đình Hàng Kênh, đền Nghè, chùa Dư Hàng,… đều là những điểm tham quan du lịch hấp dẫn. Khu vực đồi Thiên Văn có phong cảnh đẹp, có đài khí tượng thủy văn lớn nhất vùng Đông Nam Á, có kính thiên văn quan sát vũ trụ. Khu vực quận Hải An với nhiều di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia, đặc biệt có hệ thống “tứ linh từ” được coi là “ tứ trấn” trấn giữ vùng cửa biển Đông Bắc và làng hoa Đằng Hải truyền thống.
Hải Phòng có lịch sử và nét văn hóa truyền thống lâu đời, có lợi thế về du lịch hơn so với nhiều địa phương khác trong khu vực Bắc Bộ. Vì nơi đây hội tụ nhiều yếu tố quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội mà trước hết đó là điệu kiện thuận lợi để xây dựng các khu công nghiệp, thương mại và dịch vụ gắn liền với cảng quốc gia, với vị trí địa lý kinh tế có sức hấp dẫn đầu tư. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
2.1.3.2. Hiện trạng phát triển du lịch thành phố Hải Phòng
Hoạt động du lịch của thành phố Hải Phòng đã từng bước phát triển với tốc độ khá nhanh và ổn định, có nhiều chuyển biến tích cực. Khách du lịch đến Hải Phòng ngày càng tăng, thể hiện qua bảng số liệu sau.
Bảng 2.1. Lượng khách du lịch đến Hải Phòng từ năm 2004 – 2008
Như vậy ta có thể thấy, du lịch Hải Phòng đang trên đà phát triển mạnh, tuy nhiên lượng khách quốc tế đến Hải Phòng năm 2008 có giảm so với những năm 2007 có thể giải thích như sau: trên thế giới xảy ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu làm ảnh hưởng đến khả năng đi du lịch của các nước, hơn nữa trong năm 2008 là năm thế giới diễn ra nhiều sự kiện quan trọng như: Olympic Bắc Kinh, giải bóng đá Châu Âu. Tại Hải Phòng tuyến bay Ma Cao – Hải Phòng tạm ngừng hoạt động đã ảnh hưởng đến số lượng khách du lịch quốc tế đến Hải Phòng. Vì đối tượng khách du lịch tại Hải Phòng tập trung nhiều vào khách Trung Quốc, Nhật bản, Thái Lan, Sinhgapo….
Xu hướng phát triển du lịch Hải Phòng trong năm 2009 tích cực đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng cường xúc tiến và quảng bá về du lịch, tiến hành tổ chức nhiều sự kiện quan trọng của thành phố như: kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá, tổ chức lễ hội chọi trâu…
Cùng với du lịch, các ngành, các cấp của thành phố cùng vào cuộc, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp du lịch thuộc các thành phần kinh tế phát triển ổn định theo đúng Nghị quyết Đảng bộ thành phố lần thứ 12 đã xác định: “du lịch cần được đầu tư và phát triển trở thành ngành kinh tế có mức tăng trưởng đột biến trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của thành phố”.
2.1.3.2.1. Đẩy mạnh khai thác mở rộng thị trường
Điểm rõ nét trong mấy năm qua của Hải Phòng là thị trường khách du lịch được mở rộng, đặc biệt là thị trường khách du lịch của các tỉnh phía Nam Trung Quốc. Ngoài ra khách du lịch đến từ các nước Nhật Bản, Thái Lan, Sinhgapo, Mỹ cũng ngày càng tăng. Trong những năm gần đây khách du lịch ở các nước trong khu vực Đông Nam Á đến Hải Phòng tăng, trong khi đó khách quốc tế đến từ các nước EU giảm. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Để phát triển du lịch trên địa bàn thành phố, Văn phòng UBND thành phố đã phối kết hợp với công an thành phố phổ biến quy chế về tổ chức quản lý công dân Trung Quốc sử dụng giấy phép xuất nhập cảnh do Trung Quốc cấp vào Việt Nam tham quan, du lịch được ban hành theo Quyết định số 849/ QĐ- BCA ngày 27/08/2004 của Bộ Công an (gọi tắt là quy chế 849) đã cho các doanh nghiệp lữ hành quốc tế và các khách sạn từ một sao trở lên trên địa bàn. Đến nay đã có 418 doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Hải Phòng có đủ điều kiện hoạt động kinh doanh đón khách du lịch Trung Quốc theo quy chế này.
Năm 2004, Chính phủ miễn bỏ thị thực nhập cảnh đối với công dân Nhật Bản đến Việt Nam tham quan du lịch. Đây là thị trường tiềm năng, du khách có khả năng thanh toán cao, số lượng khách đông thứ hai trong cơ cấu khách quốc tế đến Hải Phòng tham quan du lịch. Đến tháng 8 năm 2008 Chính phủ Việt Nam chính thức bãi bỏ thị thực nhập cảnh đối với 46 quốc gia trên thế giới trong đó có các nước Châu Âu và Mỹ. Ngoài ra Chính phủ Việt Nam cũng xóa bỏ thị thực nhập cảnh đối với toàn bộ kiều bào Việt Nam sống định cư ở nước ngoài. Như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch Việt Nam nói chung, và du lịch Hải Phòng nói riêng có xu hướng phát triển.
Khách du lịch quốc tế đi bằng tàu biển đến Đồ Sơn và Cát Bà ngày càng tăng. Sở Văn hóa thể thao và du lịch cùng các doanh nghiệp vận tải hành khách đang triển khai đưa tàu cao tốc của ta và tàu cao tốc liên doanh với Trung Quốc vươn tới thị trường Nam Trung Quốc và đảo Hải Nam.
2.1.3.2.2. Công tác quảng bá và xúc tiến du lịch
Hoạt động xúc tiến du lịch được đẩy mạnh, cụ thể Sở đang tích cực triển khai các Đề án, Kế hoạch:
Đề án Qui định về Điều kiện, tiêu chuẩn của phương tiện thủy hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố: Sở đã hoàn thiện dự thảo trình và được UBND thành phố phê chuẩn tại Quyết định số 104/2007/QĐ- UBND ngày 19/01/2007.
Xây dựng tuyến du lịch đường bộ từ Thái Lan – Lào – Nghệ An – Hà Nội – Hải Phòng: sau khi cùng các Sở du lịch Nghệ An, Hà Nội, các thành phố thuộc Lào, Thái Lan họp bàn, khảo sát, hợp tác xây dựng tuyến; nghiên cứu mở tuyến du lịch sinh thái biển Hải Phòng – Bạch Long Vỹ: xây dựng Kế hoạch mở tuyến, thực hiện Kế hoạch theo lộ trình; Hợp tác xây dựng tuyến du lịch “ các khu dự trữ sinh quyển ven vịnh Bắc Bộ”: với Quảng Ninh hai bên đã phối hợp chỉ đạo, quản lý và hướng dẫn các doanh nghiệp đưa, đón khách du lịch tham quan liên vùng Cát Bà – Hạ Long; cùng triển khai dự án nạo vét, mở luồng tàu Gia Luận (Cát Bà) đến Tuần Châu (Hạ Long). Với Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình: Sở du lịch Hải Phòng đã làm việc với Sở du lịch, Sở Thương mại – Du lịch các tỉnh trên về việc hợp tác xây dựng tuyến du lịch : “các khu dự trữ sinh quyển ven Vịnh Bắc Bộ”. Các Sở đã nhất trí cao đề xuất của Sở du lịch Hải Phòng và thống nhất đề nghị Sở Du lịch Hải Phòng là đầu mối liên hệ và dự thảo Đề án xây dựng tuyến trình Tổng cục du lịch.
Thành lập khu Du lịch quốc gia Đồ Sơn – Lưu vực sông Đa Độ (Kiến Thụy): đang triển khai xây dựng đề án tiếp tục hoàn thiện sau khi có thông tư hướng dẫn thực hiện. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch đã được thực hiện dưới nhiều hình thức như: thường xuyên phối hợp với Đài phát thanh truyền hình Hải Phòng, Đài truyền hình Việt Nam (VTV1 và VTV4) làm tin, phóng sự truyền hình về du lịch Hải phòng, duy trì các Website du lịch về du lịch Hải Phòng. Phối hợp với các tỉnh, thành phố bạn trong nước và nước ngoài tổ chức Hội trợ ẩm thực du lịch; tham gia các đại hội, sự kiện, khảo sát, đón đoàn Famtrip và quảng bá du lịch như: Thái Nguyên, Hà Nội, Quảng Ninh, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh; các trung tâm du lịch lớn của Trung Quốc như: Bắc Hải, Nam Ninh (Quảng Tây), Hàng Châu (Quảng Đông) (Nguồn: Sở văn hóa – thể thao và du lịch).
Trong mùa du lịch Sở văn hóa – thể thao và du lịch đã đưa ra những khẩu hiệu nhằm quảng bá du lịch như: năm 2008 “ Đồ Sơn biển gọi”, năm 2009 để thu hút khách du lịch Hải phòng đã hoàn thành các dự án mở rộng tại Đồ Sơn và đưa ra chương trình khai mạc lễ hội Đồ Sơn kéo dài từ ngày 30/4 đến 3/5 với nhiều tiết mục ấn tượng, chương trình kỷ niệm 50 năm Bác Hồ về thăm làng cá Cát Bà…
Tuy nhiên Hải Phòng cần làm tốt hơn nữa, cần có sự gắn kết chặt chẽ giữa lữ hành và quảng bá du lịch để hình ảnh du lịch của thành phố Hải Phòng có mặt trên toàn thế giới, nhất là đi vào tiềm thức của các trung tâm lữ hành quốc tế trong khu vực và thế giới.
2.1.3.2.3. Đầu tư phát triển cơ sở vui chơi giải trí
Tại khu vực nội thành và các vùng phụ cận, Sở Văn hóa – thể thao và du lịch đã được khuyến khích xây dựng một số điểm vui chơi giải trí công nghệ cao đã đi vào hoạt động như: khu “dịch vụ ăn uống”, khu vui chơi giải trí nhà nghỉ Cát Cò III, khu vui chơi giải trí đảo Dáu nhân tạo…
Ngoài các dự án đã được phê duyệt và đang triển khai xây dựng, còn có rất nhiều dự án đang trình UBND thành phố phê duyệt. Khi các dự án mới được triển khai sẽ tiếp tục làm thay đổi diện mạo ngành du lịch thành phố, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
2.1.3.2.4. Hệ thống giao thông
Hải Phòng có hệ thống giao thông công cộng tương đối tốt. Việc phát huy lợi thế của Hải Phòng là cảng biển, đầu mối giao thông đã được đặt ra trong chương trình phát triển du lịch ngay từ những năm đầu tiên của thế kỷ này.
Cảng được khơi sâu để các tàu có trọng tải lớn của quốc tế có thể ra vào thuận tiện, Hải Phòng đang xây dựng dự án cảng tàu du lịch tại bến Bính, cầu cảng 11 cảng Hải Phòng, cảng Bến Nghiêng – Đồ Sơn, nâng cấp các cảng Cái Bèo – Cát Bà, cảng nước sâu Đình Vũ. Hàng loạt tàu vận chuyển khách hiện đại được trang bị để phục vụ khách du lịch từ bến Bính, Đồ Sơn đi Cát Bà, Hạ Long, tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hải Phòng đang có kế hoạch mở tuyến du lịch Hà Nội – Quảng Ninh – Hải phòng, vì vậy việc đầu tư tàu cao tốc để đảm bảo nhu cầu khách du lịch hoặc tuyến Cát Bà – Đồ Sơn và tàu đi ra đảo Dáu để phục vụ du khách trong và ngoài nước.
2.1.3.2.5. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Hải Phòng đang từng bước đào tạo đội ngũ những người làm lữ hành, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng phục vụ du lịch. Hàng năm đã đào tạo lại và cấp giấy chứng nhận cho hàng nghìn người đang làm việc tại các cơ sở phục vụ du lịch.
Quyết tâm xây dựng Hải Phòng là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực du lịch không chỉ cho thị trường Hải Phòng mà còn cho các tỉnh phía Bắc. Hiện tại trên địa bàn Hải Phòng có rất nhiều trường đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch và nghề như: Trường Đại học Hải Phòng; Trường Đại học Dân lập Hải Phòng; trường Cao đẳng Cộng Đồng; Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Hải Phòng – đang nâng cấp lên thành Trường Cao đẳng nghề du lịch Hải Phòng.
Trong những năm gần đây, Trường Đại học Dân lập Hải Phòng đã đào tạo rất nhiều hướng dẫn viên du lịch giỏi, những người có tâm huyết với hoạt động du lịch của thành phố.
2.2. Tiềm năng và hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An
2.2.1. Giới thiệu về quận Hải An
2.2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển quận Hải An
Ngược dòng lịch sử với hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Do sự bồi lắng phù sa của các dòng sông Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray ngày nay và do sự mở rộng tiến ra biển Đông mà hình thành nên vùng đất Hải An xưa và là quận Hải An ngày nay.
Theo truyền thuyết từ đầu Công Nguyên (năm 40- 43), khi bà Lê Chân quê ở làng An Biên (Đông Triều – Quảng Ninh) chiêu tập nhân dân ở khắp nơi về hội tụ, lập nên trang An Biên và căn cứ quân sự “Hải Tần phong thủ”, tổ chức dân binh khai phá vừa sản xuất lương thực thực phẩm sinh sống, vừa luyện tập quân sự, bảo vệ cửa biển hội nhập cùng nghĩa binh của Hai Bà Trưng chống giặc Đông Hán phong kiến phương Bắc đô hộ.
Thời gian ấy, tuy chưa có tên gọi Hải An nhưng nhân dân khắp nơi đã đến định cư ở trang An Biên xưa, nay là vùng đất của các phường An Biên, Gia Viên, Lạc Viên nội thành Hải Phòng.
Đến năm 1924 trong thời kỳ Pháp thuộc, huyện Hải An mới chính thức được thành lập, trực thuộc tỉnh Kiến An với diện tích 8.780 ha, với số dân 3.974 người. Về hành chính, dưới cấp huyện có 5 tổng là: Đông Khê, Trung Hành, Hạ Đoạn, Lương Xâm và Trực Cát (có đảo Đình Vũ), dưới cấp tổng là cấp xã.
Năm 1966, theo quyết định của Chính phủ, huyện Hải An sát nhập cùng huyện An Dương lập thành huyện An Hải (thành phố Hải Phòng).
Đến nay theo Nghị định số 106/2002/NĐ- CP, ngày 20/12/2002 của Chính phủ và Quyết định số 356/QĐ- UB, ngày 11/02/2003 của UBND thành phố Hải Phòng, quận Hải An được thành lập và ra mắt nhân dân địa phương ngày 10/05/2003 gồm có các phường: Cát Bi, Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải, Nam Hải, Tràng Cát. Cho đến nay quận Hải An đã được mở rộng ra với tổng số là 8 phường : Cát Bi, Đằng Lâm, Đằng Hải, Đông Hải 1, Đông Hải 2, Nam Hải, Tràng Cát, Thành Tô, Hải An trở thành quận lớn nhất của thành phố Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Nhân dân Hải An có truyền thống kiên cường trong chiến đấu, cần cù trong lao động sản xuất. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân Hải An đã làm nên những chiến công lừng lẫy như “sấm đường 5”, “Cát Bi rực lửa”. Đặc biệt trong cuộc chiến tranh chống phá hoại và phong tỏa của đế quốc Mỹ, đấu tranh giải phóng miền Nam, hàng vạn người con ưu tú của Hải An đã lên đường chiến đấu và chi viện cho chiến trường miền Nam cùng thành phố và cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước.
Trải qua 79 năm tồn tại, phát triển và trưởng thành (1924- 2003) Đảng bộ, quân và dân các xã phường trên địa bàn Hải An luôn giữ vững và phát huy truyền thống hào hùng từ ngàn xưa, đã tiếp tục phấn đấu làm rạng danh quê hương, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” mà Đảng và Nhà Nước đã trao tặng.
Trên địa bàn quận Hải An có 56 di tích lịch sử văn hóa (đình, chùa, đền, miếu, nhà thờ, từ đường) trong đó có 21 di tích lịch sử văn hóa đã được Nhà Nước xếp hạng (13 di tích cấp quốc gia và 08 di tích cấp thành phố). Nhiều di tích có giá trị lịch sử văn hóa được nhân dân thành phố và các tỉnh lân cận biết đến như Từ Lương Xâm, đền Phú Xá, Phủ Thượng Đoạn, Chùa Vẽ…
Trong tương lai không xa, quận Hải An với truyền thống oanh liệt hào hùng của quá khứ, với sức trẻ và giàu tiềm năng sẽ nhanh chóng vượt qua mọi khó khăn, thử thách đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc góp phần tích cực hoàn thành tiến trình đô thị hóa – hiện đại hóa thành phố Hải Phòng – đô thị loại I cấp quốc gia.
2.2.1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý: Quận Hải An nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải Phòng trên hướng ra biển, cách trung tâm thành phố 7 km; phía Bắc giáp quận Ngô Quyền và huyện Thuỷ Nguyên, phía Nam giáp sông Lạch Tray và huyện Kiến Thuỵ, phía Đông giáp sông Cấm có cửa Nam Triệu đổ ra biển Bắc Bộ và huyện Cát Hải, phía Tây giáp quận Ngô Quyền và sông Lạch Tray. Với vị trí đó, Hải An có thuận lợi cả về giao lưu đường bộ và đường thuỷ. Ngoài ra, Hải An có các đầu mối giao thông quan trọng của thành phố Hải Phòng, bao gồm các tuyến đường bộ, đường thuỷ (cả đường sông và đường biển), đường sắt và đường hàng không. Địa bàn quận được bao quanh bởi hệ thống sông Lạch Tray, sông Cấm có cửa Nam Triệu đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Trục đường giao thông liên tỉnh quan trọng nhất chạy qua địa bàn quận là quốc lộ 5 nối liền Hà Nội với Hải Phòng, cách thủ đô Hà Nội 105 km. Các tuyến đường trung tâm thành phố chạy đến quận như: đường Trần Hưng Đạo, Lê Hồng Phong, đường ra đảo Đình Vũ, Cát Bà. Có Cảng Chùa Vẽ, Cảng Cấm, Cảng quân sự và một số cảng chuyên dùng khác; Có tuyến đường sắt từ ga Lạc Viên đến Cảng Chùa Vẽ; Có sân bay Cát Bi với năng lực vận chuyển 200.000 lượt hành khách và gần 2.000 tấn hàng mỗi năm. Đây cũng là một trong những điểm lợi thế của quận cần được chú ý khai thác phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của quận.
Về khí hậu: Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Nhiệt độ trung bình là 260C, tháng 7 nóng nhất là 29,40C, tháng 1 lạnh nhất là 16,80C.
Về địa hình và đất đai: Quận có địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu là đồng bằng tiếp giáp với biển. Quận Hải An có bán đảo Đình Vũ, bán đảo Vũ Yên và hệ thống khu vực bãi triều thuộc phường Tràng Cát thuận lợi cho việc khai thác và nuôi trồng thủy hải sản. Diện tích rừng ngập mặn chiếm 1574, 50 ha trên địa bàn quận tập trung chủ yếu vào bán đảo Vũ Yên và phường Tràng Cát, Nam Hải, Đông Hải 2. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Động thực vật phong phú, động vật hoang dại có 8 loài thú, 58 loài chim, 11 loài bò sát, tuy nhiên động thực vật cạn tại khu vực này không có các loài thú quý hiếm; động thực vật đáy phát hiện có 28 loài trong đó lớp chân bụng 12 loài, giáp xác 6 loài, giun nhiều tơ 3 loài… Ngoài ra trong khu vực còn có nhiều loại động thực vật nổi như: rong, tảo… có giá trị kinh tế cao.
Về hệ thống sông ngòi: Quận Hải An có hệ thống sông ngòi dày đặc, trong đó có các con sông lớn bao bọc như: sông Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray và nhiều hệ thống sông ngòi, ao hồ nằm rải rác trên địa bàn quận.
2.2.1.3. Điều kiện kinh tế – xã hội và dân cư
Kể từ khi thành lập quận đến nay, kinh tế trên địa bàn có tốc độ tăng trưởng khá cao: 18,85%/năm; cơ cấu kinh tế quận chuyển dịch theo hướng tích cực. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn, giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ (14,11%). Tỷ trọng về giá trị sản xuất cũng như GDP do quận quản lý so với toàn quận chiếm từ 42% đến 46%, có xu hướng tăng lên.
Về kinh tế
- Nông nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn, nhưng có xu hướng giảm dần. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và thủy sản đã giảm theo hướng tiến bộ, tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt và chăn nuôi đều giảm, tỷ trọng ngành thủy sản tăng lên, đó là một xu hướng hợp lý phù hợp với điều kiện của quận hiện nay.
- Công nghiệp và xây dựng
Quận quản lý chủ yếu là công nghiệp quốc doanh, giá trị sản xuất công nghiệp đang có xu hướng tăng lên theo từng năm. Số lượng các đơn vị cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng có chiều hướng tăng. Tuy nhiên sự tăng trưởng của công nghiệp – xây dựng chưa thật sự cao nhưng cũng đang từng bước góp phần thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng, tăng tỷ trọng dịch vụ và giảm nhanh tỷ trọng nông nghiệp – thủy sản.
Trên địa bàn quận đã hình thành 2 khu công nghiệp tập trung là khu công nghiệp Đông Hải và khu công nghiệp Đình Vũ. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn cũng như thuộc quận quản lý đều cao nhất thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ.
- Thương mại, dịch vụ và du lịch. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ phát triển với tốc độ tương đối cao và chiếm tỷ trọng tăng dần trong tổng giá trị sản xuất, tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ tăng nhanh, đạt 20,8%. Lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn có những tiến bộ đáng kể, góp phần tích cực vào lưu thông hàng hóa, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá trị sản xuất cũng như cơ cấu GDP. Tuy nhiên, sự phát triển vẫn còn khiêm tốn, chưa xứng đáng với tiềm năng của quận, chưa có trung tâm thương mại, những siêu thị lớn, chủ yếu là chợ bán kiên cố, chợ cóc, chợ tạm chỉ đáp ứng được nhu cầu dân sinh tại chỗ.
Về xã hội
Quận Hải An có diện tích 10.484,3051 ha với số dân tính đến năm 2008 là 84.416 người, mật độ dân số là 775 người/ km2, trong đó có 50.245 người ở trong độ tuổi lao động.
Về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quận được đảm bảo, các tệ nạn xã hội dần bị đẩy lùi. Công tác an ninh quốc phòng trên địa bàn luôn được chú trọng củng cố và tăng cường.
Về giáo dục và đào tạo: trên địa bàn quận hiện có 10 trường mầm non, 7 trường tiều học, 6 trường THCS và 2 trường THPT, ngoài ra còn có các trường Cao đẳng và Trung cấp nghề như: trường Cao đẳng Hàng Hải I, Cao đẳng VIETRONICS, trường Trung học Văn hóa – Nghệ thuật .
Về y tế và chăm sóc sức khỏe: Ngành y tế của quận thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia. Các trạm xá và trung tâm y tế quận Hải An luôn phối và kết hợp chăm lo sức khỏe cho toàn dân trong địa bàn quận. Tỷ lệ những người bị mắc bệnh giảm dần.
Là một quận mới thành lập, Hải An có tiềm năng về diện tích đất đai. Diện tích đất nông nghiệp còn lớn phát huy thế mạnh làng hoa truyền thống, kết hợp nuôi trồng thủy sản với kinh doanh du lịch và dịch vụ, tạo điều kiện cho Hải An sự phát triển đa dạng; diện tích đất nông nghiệp lớn, nên còn nhiều khả năng chuyển đổi mục đích sang phi nông nghiệp, phục vụ cho quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
2.2.2. Tiềm năng phát triển du lịch quận Hải An
2.2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Hải An là quận ven biển, có nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn có khả năng thu hút nhiều khách du lịch, nhất là có khí hậu mát mẻ trong lành, có làng hoa truyền thống, có dải rừng gập mặn ven biển, tài nguyên nhân văn phong phú, đa dạng.
Quận Hải An là một vùng có sông, biển bao quanh, có nhiều diện tích sông hồ và mặt nước tự nhiên với cảnh quan thiên nhiên đẹp, có bán đảo Vũ Yên với khoảng 600 ha đất giàu tiềm năng du lịch, bán đảo Đình Vũ là cửa ngõ để đi đến đảo Cát Bà. Ngoài ra tại vị trí phường Tràng Cát còn có hệ thống rừng ngập mặn, có khu vực bãi triều để nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản.
Tài nguyên du lịch tự nhiên của quận chủ yếu tập trung ở dải rừng ngập mặn ven biển có các chức năng phòng hộ là chủ yếu. Trong tổng số 3.531,05 ha đất nông nghiệp thì có 1.574,5 ha đất rừng ngập mặn tập trung ở hai phường Tràng cát và Đông Hải cụ thể: phường Tràng Cát 974,5 ha (khu vực bãi triều); phường Đông Hải2: 600,0 (khu vực đảo Vũ Yên). Tuy nhiên lợi thế của quận Hải An là nằm trên đường nối giữa trung tâm thành phố với Cát Bà, có bán đảo Vũ Yên, bán đảo Đình Vũ là một trong những khu có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái của khu vực.
Đảo Vũ Yên nằm giữa cửa sông Cấm và cửa sông Bạch Đằng có hệ thống rừng ngập mặn và bãi bồi ven biển thích hợp cho hoạt động du lịch sinh thái, du thuyền trên sông, kết hợp với tham quan các khu nuôi trồng thủy sản, những đầm nuôi tôm nước lợ dọc các triền đê. Đặc biệt đảo Vũ Yên cùng với đảo Đình Vũ được mệnh danh là hai “mỏ tôm” lớn nhất của Hải Phòng. Khách du lịch quan tâm đến cuộc sống sông nước, có thể tham gia chuyến du thuyền trên sông, tham quan các di tích nằm dọc trên sông Bạch Đằng gắn liền với chiến công hiển hách của đức Ngô Vương Quyền, tham gia vào hoạt động đánh bắt thủy sản tại các phường Tràng Cát, Đông Hải 2. Du khách sẽ được hòa mình cùng cuộc sống yên vui dân dã của những người dân chài ven biển, cảnh đánh bắt cá, nuôi tôm, được chèo thuyền đi trên những con kênh, ngòi, được ngắm các bãi sú, vẹt, lậu xanh ngát với bộ rễ lòa xòa tạo cảm giác thanh bình của miền quê tươi đẹp.
Với lợi thế phía Đông có đảo Đình Vũ, Yên Vũ, là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế thuỷ sản, phát triển cảng biển và xây dựng khu công nghiệp tập trung, là nơi trung chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu đường biển với các nước khác. Bên cạnh đó quận Hải An còn có sông Cửa Cấm, sông Lạch Tray bao bọc cùng với cửa sông Bạch Đằng lịch sử và bãi triều Gồ Đông nơi cách khu du lịch Đồ Sơn, Cát Bà và Vịnh Hạ Long không xa để phát triển nhiều loại hình du lịch.
Trên thực tế tại khu vực quận đã có nhiều dự án để xây dựng khu du lịch dựa vào tài nguyên tự nhiên sẵn có của quận như: dự án xây dựng công viên Hồ Đông, khu du lịch sinh thái Đình Vũ, khu du lịch sinh thái bán đảo Vũ Yên… nhằm phát huy lợi thế của mình.
Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên của quận Hải An Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Thuận lợi: Tài nguyên du lịch tự nhiên của quận Hải An tuy không thực sự phong phú, song với khu vực bãi triều tại đảo Vũ Yên, đảo Đình Vũ và phường Tràng Cát cũng tạo sự hấp dẫn và mới lạ cho việc khai thác các loại hình du lịch mới. Đây là ưu thế nổi bật cho việc khai thác tổ chức tour du lịch sinh thái, thể thao kết hợp với tham quan nghỉ dưỡng. Đặc biệt, cách xa trung tâm thành phố không xa, đây có thể là điểm du lịch hấp dẫn vào cuối tuần cho người dân yêu thích biển, thích hợp phát triển loại hình du lịch câu cá, du thuyền trên sông, thưởng thức hải sản…
Với việc thành phố quy hoạch và triển khai các dự án lớn, trọng điểm, đảo Đình Vũ hiện nay đang thu hút nhiều dự án đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Khu vực đảo Vũ Yên cũng đã được quy hoạch xây dựng thành khu công viên thiên nhiên phục vụ cho vui chơi, giải trí của thành phố. Quận Hải An trở thành trung tâm công nghiệp, dịch vụ và thương mại của thành phố Hải Phòng trong tương lai không xa.
Khó khăn: Tài nguyên du lịch tự nhiên ở đây chưa có kế hoạch khai thác hợp lý. Diện tích rừng đang bị thu hẹp do chặt phá hoặc quy hoạch vào các dự án mở rộng đường, xây dựng nhà máy…
2.2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Có thể nói, ở nước ta có nhiều miền đất trở thành nơi qui tụ của nhiều di sản văn hóa quí báu. Hải An – một miền đất ven đô, giáp biển đã sản sinh nuôi dưỡng nhiều công trình kiến trúc và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng cổ truyền.
Nhân dân quận Hải An với bản chất cần cù, năng động, sáng tạo, nhân ái và mến khách, có truyền thống coi trọng, giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Với diện tích 9,8 ha đất, trên địa bàn quận có 56 di tích, trong đó nhiều di tích có giá trị về lịch sử văn hoá lớn như: Từ Lương Xâm, đền Phú Xá, Phủ Thượng Đoạn được nhân dân suy tôn là 3 trong 4 “tứ linh từ” của huyện An Hải (cũ), ngoài ra còn nhiều kiến trúc đẹp thu hút đông đảo nhân dân trong và ngoài quận đến sinh hoạt lễ hội văn hoá tâm linh như: chùa Vẽ, miếu- chùa Trung Hành, Hạ Đoạn,… Từ những đặc điểm trên, quận Hải An đang dần hình thành là quận cửa ngõ, phát triển của thành phố Hải Phòng nói chung và của nhân dân quận Hải An nói riêng không chỉ trong trước mắt mà lâu dài.
2.2.2.2.1. Di tích lịch sử văn hóa
- Miếu Hạ Lũng
Hạ Lũng là một làng xã ven đô thuộc phường Đằng Hải, quận Hải An. Mảnh đất ngay từ xa xưa vốn nổi tiếng về nghề trồng cây trái, hoa tươi, quả ngọt cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước. Miếu Hạ Lũng là một trong nhiều di tích nằm ở vùng hạ lưu sông Bạch Đằng, trong hệ thống các công trình kiến trúc nghệ thuật cổ mà nhân dân các làng xã cổ Hải Phòng xây dựng nên để ghi nhớ ông lao đánh giặc của Đức Ngô Vương Quyền và chiến thắng Bạch Đằng năm 938.
Miếu Hạ Lũng có quy mô kiến trúc khá đồ sộ, bề thế, qua một vài mảng trạm khắc của tòa cổ miếu còn lưu giữ lại cho biết niên đại xây dựng sớm nhất là thời Hậu Lê (thế kỷ 17). Nhưng không biết dựa vào nguồn tư liệu nào, nhân dân địa phương lưu truyền, miếu được hoàn thành vào năm Thịnh Đức thứ 5 (1657), thời Lê Thần Tông. Qua dòng chữ Hán khắc chìm trên câu đầu của tòa kiến trúc chính cho biết di tích được tu sửa vào năm 1915 (Ất Mão) đời Khải Định. Mặc dù miếu trùng tu hồi đầu thể kỷ này, nhưng kết cấu kiến trúc vẫn giữ được phong cách truyền thống dân tộc đậm đà với nhiều mảng chạm khắc cầu kỳ, hoành tránh và sinh động, phản ánh ước mơ và nguyện vọng của nhân dân lao động.
Miếu Hạ Lũng được khởi công xây dựng trên khu đất cao, thoáng rộng phía trước có hồ nước nối liền với cánh đồng lúa chiêm trũng – một di sót của dòng sông cổ chảy qua làng xã. Mặt chính của ngôi miếu quay hướng Tây với ý niệm “Lao thành tây vọng” hàm ý “đời đời hướng về Cổ Loa”, ghi nhớ chiến công của Ngô Vương Quyền. Kiến trúc của ngôi miếu cổ được kết cấu theo lối “tiền quốc hậu đinh”, tiền đường trông tựa chữ quốc, phía sau hậu cung giống chữ đinh(J), tạo thành nhiều lớp, hàng, sân, nhà đối xứng nhau qua trục thần đạo, trông tựa một cung đình thu nhỏ. Từ trục đường liên xã nhìn vào, có con đường nhỏ dẫn đến cổng tam quan, sau cổng tam quan lại có một sân vuông vức lát gạch cổ Bát Tràng, nối tòa Tiền tế 5 gian với tòa Đại bái – kèm hai bên sân dựng hai tòa Giải vũ chạy song song. Sau tòa Đại bái có ba gian chuôi vồ, tạo thành cung cấm của ngôi miếu. Bộ mái của các tòa nhà trên đều được trang trí, đắp vẽ công phu với nhiều đề tài cổ điển như: đôi phượng chầu mặt trời, lưỡng long chầu nguyệt, “hồi long” đắp thủy quái Makara, đao cong tạo rồng chầu, phượng mớm, “kỳ lân” túc trực bờ dải… Tổ hợp trang trí này, hô nhập nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật điêu khắc mang tính ước lệ, tượng trưng cao, ẩn chứa quan niệm về nhân sinh quan vũ trụ của người xưa. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Khung chịu lực chính của toàn bộ kiến trúc miếu Hạ Lũng được làm bằng gỗ lim nguyên cây. Kết cấu bộ vì theo kiểu “giá chiêng, chồng rường đấu sen” quen thuộc để nâng bổng cái mái ngói vẩy rồng “mái đao, tàu thực” nặng nề.
Trang trí kiến trúc dường như tập trung thể hiện ở các vị trí dễ thấy của tòa Tiền tế và tòa Đại bái như các rường đấu, câu đầu, kẻ hiên và cốn mê… Diềm mái tòa Đại bái chạm thủng bằng cây hoa dây, thể hiện một giàn nho tươi tốt và cả một bầy đàn sóc đang nô đùa, hả hê, nghịch ngợm.
Đặc biệt trên hệ thống ván “lá gió” tòa Đại bái này còn di sót lại 7 bức chạm thủng đề tài rồng, phượng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 17: rồng có thân trường mập, đuôi tù, vẩy cá chép, vây cá quả, miệng lang, mũi sư tử, mắt diều hâu… Thân rồng phủ kín các đao hình mũi mác như chìm khuất, ẩn hiện trên trời đầy mây.
Góp phần làm tăng thêm sự uy nghi cổ kính của ngôi cổ miếu Hạ Lũng là chiếc nhang án gỗ, mang niên đại nghệ thuật thế kỷ XVIII. Nhang án ao 1,24m, rộng 0,77m, dài 1,38m. Bốn chân thẳng đứng như chân bàn, thót lại theo lối “thượng thách, hạ thủ”. Thân nhang án được chia làm nhiều ô vuông chữ nhật, ngũ giáo, tạo lớp nông sâu khác nhau là nơi thể hiện các mảng đề tài trang trí quen thuộc như: lưỡng long chầu nguyệt, lưỡng long chầu hoa cúc, rồng vuốt râu…, qua các đường soi, lỗ đục và nước sơn thếp tinh xảo, rực rỡ đầy cảm hứng nghệ thuật.
Tại nơi cao nhất của tòa cung cấm, tượng Ngô Quyền tọa trên ngai rồng, trong thế thiết triều, khuôn mặt phảng phất nét phong sương, dày dạn của một vị chủ tướng dạn dày trận mạc. Đầu Ngô Vương đội vương miện, cánh chuồn, chạm thủng hình rồng, thân mũ thêu chữ Vương và dải băng cúc mãn khai – một biểu tượng của mặt trời. Thân khoác áo long bào đỏ thêu rồng phượng, hoa lá, và mây cụm rực rỡ ánh kim… tay trái đặt lên trên gối trái, lòng bàn tay úp, tay phải đặt tên đùi cầm chiếc quạt giấy gấp, lòng ban tay quay vào trong. Gương mặt vuông chữ điền, mắt mở to, lưỡng quyền cao, nhân trung đầy đặn, mũi thẳng, cánh mũi dày, miệng nhỏ ngậm lại cương nghị. Cổ cao ba ngấn, râu rời cắm từ ngoài vào. Thân thế toát lên vẻ cương nghị và nhân hậu của bậc đế vương.
Tượng Ngô Quyền ở miếu Hạ Lũng, bên cạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt quy chế tạc tượng thánh thần vẫn có sắc thái riêng, ngắm nhìn tượng thánh uy nghi qua lan khói hương mỏng manh, ánh sáng huyền ảo của cõi tình, du khách bắt gặp những nét rất thực và có hồn của con người trần thế.
Hàng năm, vào dịp đầu xuân năm mới, từ ngày 16 đến 18 tháng giêng, người dân Đằng Hải – Hạ Lũng cùng nhiều làng xã láng giềng tưng bừng mở hội tại di tích để tưởng niệm Ngô Vương Quyền với những nghi lễ trang trọng, tôn nghiêm, cùng các trò vui chơi, thi đấu mang đậm bản sắc địa phương: tế lễ, dâng hương hoa, nải quả, thi chọi gà, kéo co… Đặc biệt vào ngày 17/01 Âm lịch nhân dân tổ chức hội rước nghi vệ thành hoàng Ngô Vương Quyền thu hút đông đảo khách thập phương tới dự.
Di tích Miếu Hạ Lũng đã được Nhà Nước xếp hạng di tích năm 1992.
Miếu Hạ Lũng là một trong những địa điểm để thế hệ hôm nay và mai sau cùng ghi nhớ khí thế hào hùng “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” của ông cha ta thưở trước.
- Miếu, chùa Trung Hành Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Miếu và chùa Trung Hành nay thuộc phường Đằng Lâm, quận Hải An. Xưa kia là vùng đất Ngô Quyền đóng quân và huy động sức người, sức của, đánh quân xâm lược Nam Hán năm 938, mở đầu kỷ nguyên độc lập lâu dài của đất nước. Là một trong số 17 làng, xã có hệ thống bố phòng, tích chứa quân lương của Ngô Quyền, nên Trung Hành được các triều đại kế tiếp sắc phong, công nhận việc thờ tự Ngô Vương. Đặc biệt, Trung Hành vốn nổi tiếng là địa linh, nhiều người đỗ đạt, nhiều văn quan võ tướng có tài, hiện còn được ghi lại trên các văn bia, gia phả các dòng họ. Ngạn ngữ cổ có câu: “An Dương – Trung Hành, Kim Thành – Quỳnh Khê, thế ngôn chi đa sĩ” nghĩa là: Làng Trung Hành huyện An Dương; làng Quỳnh Khê huyện Kim Thành đời truyền có nhiều quan.
Miếu Trung Hành thờ Ngô Quyền có qui mô vừa phải, hòa quyện với cảnh quan làng xóm. Dấu vết trang trí nghệ thuật của lần khởi dựng đầu tiên (đầu thế kỷ thứ XVII) còn để lại trên 4 cây cột cái sơn son, chạm rồng mây. Những điểm nổi bật của di tích là sự hợp lý, liên hoàn của toàn bộ khuôn viên. Bằng những vật liệu truyền thống như: gỗ, đá, ngói, gạch Bát Tràng gắn vữa hồ… bàn tay người nghệ nhân làng xã đã tạo ra một công trình có kết cấu hoàn chỉnh, khép kín gồm: kiến trúc cổng, tòa bái đường. Hai bên giải vũ, cung ngoài, cung trong kiểu “nội công ngoại quốc”.
Tòa cung trong, cung ngoài được trang trí các cổ vật quen thuộc như: kiệu bát cống, giá chiêng, bộ bát bửu, nhiều di vật bằng đồng như: chông, khay, đèn chân nến, đỉnh đốt trầm, đồ sứ.
Tòa hậu cung thâm nghiêm thờ Ngô Vương Quyền. Tượng Ngô Vương Quyền tọa thiền trên ngai rồng, được tạc theo lối trụ tròn, thể hiện rõ uy thế của một vị vua.
Cách miếu Trung Hành chừng 300 mét về bên trái và cùng hướng tây là chùa Trung Hành, tên chữ là “Hương Khánh tự”. Chùa có bố cục kiến trúc truyền thống: Tam quan – gác chuông, tòa phật điện, nhà thờ tổ, vườn bia, mộ tháp. Cổng chùa đồng thời là gác chuông có 2 phần chính: cổng giữa 3 tầng 12 mái, lợp ngói cổ 2 lớp, hai lối bên xây kiểu 2 tầng, 8 mái. Kiến trúc cổng chùa mang ý nghĩa dịch học sâu sắc, biểu thị 3 thành phần cơ bản của vũ trụ là Trời – Đất – Người. Tầng giữa treo quả chuông đồng cao 1,4 m, đúc năm Minh Mạng thứ 3 (năm 1823). Tòa phật điện chùa Trung Hành thờ các pho tượng phật: Tam thế, Adi đà, Văn thù, Phổ hiền, hộ thiện, trừ ác… Đặc biệt tại đây còn lưu giữ pho tượng vị hoàng đế nhà Mạc.
Tượng hoàng đế có khuôn mặt trái xoan, trán dô, mũi gồ, mắt một mí, cổ cao 3 ngấn, tai chảy xệ như tai Phật, đầu đội mũ vương miện. Vương miện trang trí một giải bằng 12 ô, ô chính giữa và ô sau gáy khắc nổi chữ vương. Thân tượng khoác áo hoàng bào. Giữa ngực có “bối tử” hình chữ nhật trong khắc rồng, thân uốn khúc dạng “yên ngựa”. Pho tượng được đặt ở vị trí kín đáo (cuối Phật điện), toàn thân phủ một lớp sơn dày, trông thoáng qua giống hệt như tượng gỗ.
Lý giải pho tượng đá chùa Trung Hành, một số nhà nghiên cứu lịch sử cho biết: khi nhà Lê Trung Hưng đánh đuổi nhà Mạc, một nhánh nhà Mạc lẩn trốn tới Đằng Lâm mai danh ẩn tích đổi từ họ Mạc sang họ Khoa. Họ đã mang theo pho tượng đá dấu dưới ao làng, lúc tình hình tạm yên, được vớt lên bảo quản trong chùa. Nhưng đề phòng bị phát hiện, họ quét phủ một lớp sơn để che mắt nhà Lê. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Lễ hội ở Trung Hành diễn ra từ ngày 17 tháng Giêng Âm lịch. Xưa có tục múa roi, diễn lại khí thế xung quân, diệt giặc của quân đội thời Ngô Quyền. Khi múa roi, một người cầm cờ thêu chữ “Đằng Giang thiên cổ tự” đứng hàng đầu, tám người cầm roi chia nhau đứng ở 2 bên. Tất cả quay mặt vào hướng đình theo lệnh, cứ dứt một hồi trống thì người cầm cờ và roi đều vái và hô to “lạy đức Vua”, hết lượt thứ 3 họ bắt đầu quay lại múa roi, múa cờ, reo hò vang dội. Cụm di tích văn hóa chùa, miếu Trung Hành được nhà nước xếp hạng năm 1993.
- Đền Phú Xá
Đền Phú Xá là một trong những di tích của phường Đông Hải (quận Hải An – Hải Phòng ) đã được Bộ Văn hóa thông tin cấp bằng di tích lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật (ngày 16-11- 1988). Ngôi đền này cách nội thành Hải Phòng 8km về phía đông – Cửa ngõ của thành phố để vươn lên tới sự giàu có thời mở cửa kinh tế.
Đền Phú Xá là nơi nhân dân tưởng nhớ công lao của Trần Quốc Tuấn – một con người khi sống khẳng khái, tài giỏi, hết lòng vì dân, vì nuớc, khi mất đuợc nhân dân tôn gọi là vị “Thánh Vương” rất đỗi linh thiêng. Truyền thuyết dân gian lưu truyền ở địa phương cho biết nơi đây Trần Quốc Tuấn đã thiết lập nhiều kho lương thực chuẩn bị cho trận chiến Bạch Đằng năm 1288, đồng thời diễn ra cuộc khao quân, thưởng quân sĩ có công, trước khi kéo quân về căn cứ Vạn Kiếp.
Tại vị trí đền ngày nay, nhân dân còn tôn thờ người phụ nữ địa phương tên là Bùi Thị Từ Nhiên, người giữ trọng trách chăm nom quân lương, cung cấp hậu cần quân đội nhà Trần thuở ấy. Truyền ngôn ở đây còn kể lại rằng, giặc tan, bà Bùi Thị Từ Nhiên lại cùng dân làng chăm lo sản xuất, xây dựng xóm làng. Dân làng Phú Xá rất tự hào về truyền thống yêu nước, góp phần đánh thắng giặc ngoại xâm từ thế kỷ XIII qua hình ảnh bà nữ tướng hậu cần họ Bùi của quê hương.
Năm 1300, nhân dân địa phương đã tạo dựng ngôi đền quay hướng Bắc và làm bằng tranh, tre, nứa, lá. Hậu quả của cơn hồng thủy năm Canh Thân ( 1320), làng quê bị tàn phá, người dân phải bỏ đi nơi khác làm ăn sinh sống. Khi nước rút, dân làng trở về, bắt tay khôi phục xóm thôn. Bà Bùi Thị Từ Nhiên vận động nhân dân sửa lại ngôi đền thờ Trần Quốc Tuấn. Làng Phú Xá ban đầu gọi là Phú Lương, thời Tự Đức (1848 – 1882) do tránh tên húy chồng bà Bùi Thị Từ Nhiên nên đổi thành Phú Xá. Qua nhiều lần bị cháy, dân làng làm lại vào thời Tự Đức, với sự đóng góp của thập phương, ngôi đền đã được xây dựng bằng gạch, lợp ngói mũi hài, quay hướng Đông Bắc. Trải qua nhiều lần tu sửa, đền Phú Xá ngày nay đã trở thành một công trình kiến trúc bề thế, kiểu “nội công ngoại quốc”, nét trang trí nghệ thuật chạm khắc, đắp vẽ mang đậm dấu ấn phong cách đời Nguyễn, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cảnh quan của đền Phú Xá thoáng đạt, phong đãng. Phía trước đền là một cánh đồng hẹp tiếp giáp sông Bạch Đằng lịch sử. Toàn bộ kiến trúc ngôi đền mái cong cùng lớp cổng tam quan cổ kính soi bóng trước mặt hồ bán nguyệt trong xanh. Đi qua sân gạch là đến cửa đền. Hai bên vườn hoa, cây cảnh rực rỡ sắc màu, lại có cây xanh bóng mát, góp phần làm dịu bớt cái oi bức của mùa lễ hội tháng Tám âm lịch hàng năm. Theo truyền thuyết dân gian “Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ” (anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo được nhân dân ta tôn lên làm “Thánh”, làm “Cha”, ngày 20 tháng Tám âm lịch hàng năm là ngày kị của Ông). Ngay từ đầu tháng Tám âm lịch, đền đã được dân làng sửa soạn, bài trí lại đồ tế khí, nghi vệ đức Trần Hưng Đạo và Bùi Thị Từ Nhiên.
Dòng người từ khắp các ngả đường tới đền Phú Xá trảy hội dâng lễ vật, tham dự nhiều trò chơi như: cờ tướng, chọi gà,…
Ngoài lễ vật thông thường như hương, hoa, cây trái tới dâng trước anh linh các vị tôn thờ, người ta còn thấy những chiếc bánh đa quạt trên tham hồng, đã trở thành quen thuộc được nhân dân dâng thờ. Những chiếc bánh đa này, ngày nay dường như được xem là biểu tượng cổ truyền gợi nhớ về tấm lòng nuôi quân, đánh thắng một đế chế hung hãn vào bậc nhất thời bấy giờ.
Tóm lại, Đền Phú xá là một di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của Hải Phòng với những địa bàn mà Trần Hưng Đạo chuẩn bị tiến hành chống đế quốc Nguyên – Mông thế kỉ XIII và nơi đây Trần Hưng Đạo đã chọn đặt kho lương. Một vị tướng hậu cần là bà Bùi Thị Nhiên đã được nhân dân địa phương tôn thờ, ghi nhớ một sự kiện lịch sử không phai mờ trong sự nghiệp đấu tranh giữ nước của dân tộc. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Với nội dung lịch sử phong phú, cảnh quan thiên nhiên đa dạng, cấu trúc nghệ thuật độc đáo và truyền thống lễ hội văn hóa mà di tích hàm chứa, chắc chắn di tích lịch sử đền Phú Xá sẽ làm thỏa mãn nhu cầu tham quan của du khách khi đến thăm Hải phòng.
- Từ Lương Xâm – di tích tiêu biểu trên địa bàn quận Hải An
Từ Lương Xâm là tên một xã thuộc huyện An Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay thuộc phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
Từ Lương Xâm nằm ở phía Đông Bắc của phường Nam Hải, kiến trúc chính quay về hướng Đông, trông ra cửa biển Bạch Đằng. Ngôi Từ có bố cục kiểu “nội công, ngoại quốc”. Từ có diện tích khoảng 11.000 m2 được xây dựng trên nền bản doanh và kho lương của Ngô Quyền chống giặc Nam Hán năm xưa. Phía trước Từ Lương Xâm là một sân bóng và một ao sen lớn, xung quanh khu di tích có nhiều cây cổ thụ bao quanh tạo nên sự linh thiêng và tạo bóng mát cho du khách như cây đa, cây gạo…
Từ Lương Xâm là di tích lịch sử văn hóa lớn chứa đựng nội dung liên quan đến chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo mưu trí, sáng suốt của Ngô Quyền, đạp tan quân xâm lược Nam Hán, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho dân tộc. Nhà sử học Ngô Thì Sĩ thế kỷ XVI đã viết “Thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này chi việc phục hồi lại quốc thống, vang dội đến nghìn thu, há chẳng phải lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi đâu”.
Theo truyền thuyết dân gian vùng Đông Hải, Nam Hải và Tràng Cát.…(huyện An Hải cũ) cho rằng: Ngô Quyền cắm cọc từ vùng Lương Xâm đến cửa Nam Triệu. Nhân dân các xã phía Đông – Nam huyện An Hải ngày nay vẫn còn lưu truyền phổ biến câu chuyện cọc gỗ trôi trên sông Bạch Đằng. Dân làng Bình Kiều, Hạ Đoạn, Lương Xâm, Xâm Bồ kéo nhau ra vớt cây gỗ và cắt ra làm ba đoạn đem về tạc tượng Ngô Quyền. Làng Lương Xâm, được chia đoạn gốc nên tạc tượng to và đẹp hơn. Dân làng Bình Kiều được chia khúc thừa ở ngọn, chỉ đủ tạc mũ nên làng Bình Kiều xưa nay không thờ tượng mà chỉ thờ mũ của Ngô Quyền. Tại đình Phụng Tháp (phường Đằng Giang), miếu Hai Xã (huyện An Hải) hiện nay vẫn còn giữ được bản sắc phong năm Tự Đức thứ 33 (1880) phong cho 17 xã ở vùng An Hải thờ Ngô Vương. Đó là các xã Đông Khê, Phụng Tháp, Hàng Kênh, Dư Hàng, An Biên, Vĩnh Lưu, Hạ Đoạn, Đoạn Xá, Vạn Mỹ, Thượng Lý, Hạ Lý, An Chân. Sách Đồng Khánh dư địa chí lược chép: “Miếu tiền Ngô Vương: từ huyện An Dương trở xuống đến xã Lương Xâm đều thờ Phụng”.
Từ Lương Xâm được xây dựng từ lâu, nhưng đến thời Hậu Lê được xây dựng nguy nga và được trùng tu vào thời Nguyễn. Toàn bộ kiến trúc trong Từ ngày nay hầu hết đều mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Không chỉ có ý nghĩa lịch sử, Từ Lương Xâm còn là một di tích lịch sử cổ với phong cách kiến trúc độc đáo, mang đậm chất Á Đông. Những bức chạm đều mang dấu ấn nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc thời Lê – Nguyễn. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Nhìn toàn cảnh, Từ được kiến trúc theo kiểu liên hoàn, khép kín. Từ ngoài cổng đi vào là hai giếng đào nhỏ ở hai bên, được gọi là giếng mắt rồng, quanh năm đều có nước. Tương truyền rằng khi Ngô Quyền đóng quân ở đây đã sai quân lính đào hai giếng để lấy nước ăn. Từ cửa chính đi vào qua một khoảng sân rộng khoảng 200 m2 là nhà Tiền đường (hay còn gọi là nhà Tiền bái). Nhà Tiền đường được dựng lên từ thời Nguyễn, gồm có 05 gian. Trên các đầu dư và đòn bẩy ở gian giữa và 02 gian bên của nhà Tiền đường đều có chạm khắc các đề tài về hoa lá, tứ linh và mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Nối toà Tiền bái với tòa hậu cung, ở giữa là tòa nhà Thiêu hương và hai bên là hai nhà Giải Vũ.
Nhà Giải vũ – nơi đặt ba cây cọc là chứng tích lịch sử còn lưu lại của trận Bạch Đằng năm 938. Trong nhà Giải Vũ còn có một chiếc thuyền lớn là biểu tượng cho chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền.
Ở gian giữa của tòa Hậu cung có đặt 02 pho tượng quan hầu mặc xiêm y triều phục. Tay trái cầm gươm, tay phải đặt trước ngực, tượng đứng trong tư thế phụng hầu. Tương truyền rằng đó chính là Đào Nhuận và Nguyễn Tất Tố – 02 vị tướng trẻ người làng Gia Viên – Hải Phòng có công trong trận Bạch Đằng năm 938.
Từ tòa Tiền đường của nhà Hậu cung qua gian cung giữa thì vào đến cung cấm. Trước cửa cung cấm có một bức đại tự với dòng chữ Hán “ Thánh cung vạn tuế”. Tại cung cấm nơi có thần tượng của người anh hùng dân tộc Ngô Vương Quyền, tượng ngồi trên long ngai, đặt trong lòng khám sơn son thiếp vàng. Thần tượng ngồi trong tư thế thiết triều, đầu đội vương miện cánh chuồn, thân khoác áo long bào đỏ thêu rồng phượng.
Hiện nay tại Từ Lương Xâm vẫn còn lưu giữ 132 di vật, cổ vật. Trong đó có những di vật có giá trị như: hương án, kiệu bát cống thời Lê, những chiếc cọc gỗ trong trận Bạch Đằng giang năm xưa và đặc biệt là các sắc phong còn lưu giữ lại qua các triều đại với tổng số 25 đạo sắc có niên đại từ đầu thế kỷ XVII đến năm 1924. Với những giá trị đó, ngày 12/12/1986 Từ Lương Xâm được nhà nước xếp hạng là: Di tích lịch sử kiến trúc – nghệ thuật cấp quốc gia.
Từ Lương Xâm được Sở Văn hóa – Thông tin và Du lịch và quận Hải An tiếp tục tu bổ, tôn tạo tiếp các hạng mục, mở rộng khuôn viên, dựng tượng Ngô Vương Quyền … Nâng cấp Từ Lương Xâm tương xứng với tầm góc và ý nghĩa lịch sử của di tích.
- Chùa Vẽ
Chùa Vẽ là ngôi chùa thờ Phật của làng Đoạn Xá phường Đông Hải, quận Hải An, cách trung tâm thành phố 10km. Chùa Vẽ xưa kia có tên gọi là Bà Ni Tự, sau đổi thành là Hoa Linh Tự. Chùa Vẽ có từ bao đời không ai nhớ. Theo truyền thuyết năm 938 Ngô Vương Thiên Tử đã chọn chùa làm nơi lập đồn binh, chuẩn bị cho thế trận Bạch Đằng, đánh đuổi quân Nam Hán. Đến thế kỷ thứ XIII năm 1288 trong cuộc kháng chiến thần thánh chống quân xâm lược Nguyên Mông, dưới sự chỉ đạo của vị tướng tài ba Trần Hưng Đạo, chùa được chọn làm nơi để quan sát, vẽ bản đồ chiến thuật. Như vậy Chùa Vẽ là ngôi cổ tự ra đời rất sớm ở nước ta. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Theo dân sở tại, có hai cách giải thích tên goi Chùa Vẽ như sau:
Cách thứ nhất: Địa bàn phường Đông Hải trải dài theo bờ nam sông Cửa Cấm với nhiều làng xã, địa danh cổ gắn liền với những sự kiện oanh liệt chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta trong chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Vương như: Hạ Đoạn, Đoạn Xá, Phương Lưu và chiến thắng Bạch Đằng năm 1287- 1288 của quân dân nhà Trần, đó là các làng quê, Phú Xá, Bình Kiều… Truyền sử địa phương đặc biệt nhắc tới vai trò lợi hại của nhân dân ta trong thế kỷ XIII. Đó là chùa Vẽ, nơi các thám tử của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn quan sát đồn trại giặc, vẽ sơ đồ chuẩn bị cho trận đánh Bạch Đằng năm 1288 thắng lợi. Do vậy, chùa làng Đoạn Xá ngoài tên chữ Linh Hoa Tự, chùa còn có tên là Chùa Vẽ.
Cách thứ hai: Chùa làng Đoạn Xá mang tên vị tang có công khai lập ngôi chùa thờ Phật từ buổi gian nan là sư ông Vẽ, sau truyền đến sư Vô. Rất tiếc, cách giải thích này chưa thật đầy đủ, lại chưa có một văn bản nào đáng tin cậy nói tới. Nhưng tên chùa là Chùa Vẽ đã trở nên quen thuộc với cư dân Hải An.
Chùa Vẽ ngoài việc thờ Phật còn là một di tích lịch sử lưu niệm về chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 3 (năm 1288) của dân tộc. Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ còn khá nguyên vẹn, nguy nga. Chùa được đại trùng tu vào năm Nhâm Tuất đời Khải Định (năm 1922). Chùa Vẽ nổi danh trong vùng tới mức một công trình giao thông mang tầm cỡ quốc gia mới được xây dựng trong những năm gần đây, cảng được xây dựng trong những năm gần đây cũng được mang tên chùa gọi là Cảng Chùa Vẽ. Chắc không cần chỉ dẫn khách xa gần cũng có thể tự mình tìm đến chốn cổ tự linh thiêng và đẹp đẽ này một cách dễ dàng. Chùa Vẽ, Phủ Thượng Đoạn, đền Phú Xá từ lâu đã trở thành một cụm di tích liên hoàn bảo lưu nhiều sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng cổ truyền của một vùng quê văn vật.
Chùa Vẽ có quy mô và nghệ thuật trang trí kiến trúc giống hệt như các đình làng nổi tiếng trong vùng như Đông Khê, Hạ Lũng…, chứ không mang dáng vẻ thấp và u tịch như chùa làng Việt Nam khác. Tòa Phật điện cấu trúc hình chữ “Đinh” (J) gồm 5 gian tiền đường và 4 gian chuôi vồ. Kèm hai bên hậu cung là hai ngôi nhà chè nho nhỏ, xinh xinh, nơi đặt bàn thờ “Tam tòa Thánh Mẫu” và “Đức Ông bản thổ”. Các cột của tòa nhà này được làm hoàn toàn bằng gỗ lim nguyên cây, cao to lừng lững. Một vòng tay người ôm không xuể. Kiến trúc chùa cao to là thế nhưng nhờ hệ thống y môn, cửa võng, đại tự, hoành phi, câu đối, … cũng không kém phần bề thế và lại được sơn son, thiếp vàng rực rỡ nên vẫn ấm cúng và nguy nga. Bàn thờ Trần Hưng Đạo, vị tổng chỉ huy quân đội và tượng đôi ngựa chiến hồng bạch của ông là những tác phẩm điêu khắc cực kỳ sống động.
Vào thăm chùa Vẽ hiện nay, chúng ta không gặp đầy đủ những tượng pháp, nghi trượng và đồ thờ tự trong nguyên trạng, nhưng những hiện vật còn được bảo tồn đều là cổ vật quý giá, những tinh hoa nghệ thuật được hun đúc từ ngàn đời, tượng Hậu phật, tượng Sư tổ.
Tòa Tam bảo được bày trọn trong tòa hậu cung của chùa. Hệ thống bàn thờ được đóng bằng gỗ lim chắc khỏe, giật cấp thấp dần từ trong ra ngoài, độ chênh lệch giữa các bậc được tính toán cẩn thận nên các tượng pháp có điều kiện phô diễn vẻ đẹp và màu sắc rực rỡ. Tượng Phật trên Phật điện tuy chưa thật đầy đủ của một ngôi chùa Đại Thừa, nhưng khá đông đảo, được dồn từ nhiều nơi về hoặc do sự cống hiến, cúng của các tín đồ Phật tử nên có phong cách đa dạng và phong phú. Hàng trên cùng là bộ tượng Tam Thế, tiếp đến là bộ Di Đà Tam Tôn là những tượng pháp kinh điển của nhà Phật, phải tuân thủ nghiêm quy tắc “Tam Quang điện muội”, “Thích ca Đồ”. Tượng A Di Đà cao to nhất trong Phật điện, thể hiện trong tư thế tọa thiền trên đài sen phụ tọa toàn phần trong thế hình tháp vững chắc. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Hàng tượng thứ 3 có Đức Thích Ca giáo chủ ngồi giữa, hai bên là tượng Mahacadiep và Anam Đà tôn giả là những đại đệ tử của đức Cồ Đàm. Hàng tượng thứ tư gồm 3 pho tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Pho đặt chính giữa là Quan Âm “Thiên Thủ Thiên Nhãn” ngồi trên tòa sen, có 6 đôi tay để trần xòe ra như hoa nở và các ngón tay cong lại trong những thế bí truyền của dòng Thiền. Pho bên phải là Đức phật bà Diệu Thiện với bình nước cam lộ để diệt trừ 108 phiền não cho chúng sinh và con chim ca lăng tần già đang hóa giảng Phật pháp cho chúng sinh. Pho bên trái là Quan Âm tọa sơn ngồi khoan thai trên bộ gỗ.
Tiếp đến là các hàng tượng: Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu; tòa Cửu Long và Thích Ca sơ sinh; tượng Đức Thế Tôn thuyết pháp; cuối cùng là tượng Thánh Tăng đội mũ thất phật giàu chất chân thực.
Đứng song hàng với tòa Phật điện là nhà thờ tổ 5 gian cùng quay hướng Đông Nam. Trong nhà thờ tổ, chính giữa đặt bàn thờ Đức Ngô Vương Quyền-ông tổ trung hưng dân tộc; bên cạnh phải là bàn thờ sư tổ, bên trái là bàn thờ Hậu phật, chung quanh là các vị cao tăng trụ trì tại chùa. Tượng mang dáng dấp của các vị tăng sư, đầy vẻ từ tâm và đậm nét chân dung. Tượng Hậu phật gồm 6 pho, tất cả đều là phụ nữ có khuôn mặt phục hậu và quý phái. Đây là những tác phẩm nghệ thuật mang tính tả thực, mỗi người có một vẻ mặt trông rất gần gũi với đời thường, không câu nệ, gò bó. Chính nhờ sự hảo tâm của các chư vị hậu phật và du khách thập phương mà Chùa Vẽ được trường tồn.
Chùa Vẽ là một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ có quy mô bề thế, được bảo quản chắc chắn, còn bảo lưu được nhiều tượng pháp, đồ thờ có giá trị nghệ thuật cao. Chùa không chỉ là nơi thờ Phật mà còn là nơi tôn thờ tưởng niệm Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử. Chùa Vẽ đã được Bộ văn hóa công nhận di tích quốc gia (ngày 25/1/1994). Đến với Chùa Vẽ, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một di tích lịch sử văn hóa đặc sắc và được nghe nhiều mẩu chuyện lý thú, cảm động về chiến thắng Bạch Đằng. Đồng thời, du khách sẽ được chứng kiến sự phát triển của một cửa ô thành phố Hải Phòng đang làm Chùa Vẽ đẹp thêm.
Lễ hội chùa Vẽ thường được tổ chức một năm 2 lần vào tháng Ba và tháng Tám, khách thập phương đến lễ phật và tham quan vãn cảnh chùa rất đông. Ngoài mùa lễ hội, Chùa Vẽ cũng là điểm đến của rất nhiều tăng ni, phật tử và khách thập phương xa gần – đây được coi là điểm du lịch nổi tiếng của thành phố Cảng Hải Phòng.
- Từ Đường họ Trịnh
Ngược dòng lịch sử trở về trước, ngôi Từ đường chi họ Trịnh, tộc làng Phương Lưu II xã Đông Hải, huyện Hải An khi xưa (nay là khu Phương Lưu II, phường Đông Hải, quận Hải An) được cụ Trịnh Văn Nghệ và cụ bà Trần Thị Xúc xây dựng vào mùa xuân năm 1939 trên một khu đất rộng, cao ráo với mục đích thờ tổ để con con, cháu cháu dòng tộc cho họ Trịnh Phương Lưu tồn tại và phát triển đến ngày nay và mãi mãi đông vui quần tụ hơn thế.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, ngôi nhà thờ chi họ Trịnh này không chỉ là nơi cúng bái tế lễ, giỗ chạp của con cháu dòng họ mà còn là cơ sở hoạt động cách mạng của các đồng chí cán bộ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Vì vậy, năm 1945 chủ ngôi từ đường là hai cụ Trịnh Văn Nghệ và cụ bà Trần Thị Xúc đã đào hầm bí mật dưới khám thờ ngay trong nhà để nuôi giấu cán bộ. Chiếc hầm bí mật này chỉ có hai cụ biết và cũng chỉ có hai cụ quản lý, phục vụ những chiến sĩ cách mạng qua lại hoặc vượt ngục từ nhà tù cảng Đoạn Xá của địch về trú ẩn. Theo hai cụ kể lại: “hầm rộng rãi, có thể chứa được 10 người ăn và làm việc hàng tháng. Ngày đào chiếc hầm này hai cụ phải bí mật đào bới không để cho con cháu biết”. Vì thế chiếc hầm bí mật của hai cụ là “địa chỉ đỏ” của cán bộ, chiến sĩ cách mạng thời đấy, là niềm tự hào của hai cụ, gia đình và bây giờ là niềm tự hào của một dòng họ, một địa phương. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Ngày 10/10/1949, chi bộ Đảng cộng sản Việt Nam đầu tiên của xã Đông Hải (nay là phường Đông Hải) được quyết định thành lập tại ngôi nhà thờ tổ. Chi bộ đầu tiên xã Đông Hải thời kỳ 1949 đã chọn hầm bí mật này làm cơ sở hoạt động. Hiện nay, ngôi Từ đường này còn lưu giữ nhiều ngọc phả, gia phả của chi họ Trịnh – Phương Lưu từ năm 1670 đến nay.
Mùa thu năm 2004 ngôi Từ đường này được con cháu, dòng họ xây dựng lại nhưng xây dựng theo nguyên mẫu trên nền đất cũ, không chỉ là cơ sở cách mạng thời kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngay nay, ngôi Từ đường họ Trịnh đã được tu tạo, giữ gìn, hiện còn được mở rộng, xây dựng khang trang tạo thành quần thể lịch sử, văn hóa của một dòng họ, được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thành phố và các tỉnh bạn cùng các đoàn thể quan tâm đến tham quan ngày càng nhiều.
Hiện nay, trong khuôn viên ngôi Từ đường gia đình cụ Trịnh Văn Nghệ và cụ bà Trần Thị Xúc được con cái dòng họ kế tiếp xây dựng, trong đó có ngôi nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thư viện đại Tướng Võ Nguyên Giáp, cây lưu niệm, các cột mốc thời gian bằng đá khắc ngày, tháng, năm các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, địa phương, các đoàn thể quốc tế đến tham tạo thành một quần thể kiến trúc văn hóa lịch sử của khu Phương Lưu II phường Đông Hải –một vùng đất “địa linh nhân kiệt” giàu truyền thống cách mạng. Xứng đáng được thành phố Hải Phòng tặng “đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” trong thời kỳ đổi mới của đất nước.
2.2.2.2.2. Lễ hội và phong tục tập quán
- Lễ hội Từ Lương Xâm
Lễ hội tưởng niệm Ngô Quyền hàng năm diễn ra tại Từ Lương Xâm vào ngày 16 tháng giêng âm lịch và 22/2 âm lịch. Sở dĩ có sự xê dịch trong việc tổ chức lễ hội tưởng niệm Ngô Quyền giữa các làng ở khu vực Hải An (Hải Phòng) bởi lẽ, lễ kỳ phước(cầu phúc) diễn ra trong tiết xuân, tùy điều kiện hoàn cảnh từng địa phương định ngày hội cho làng xã của mình.
Trong lễ hội Từ Lương Xâm trước kia, cuộc hành lễ của hàng chục làng xã rước kiệu từ đình làng mình tới chầu đã tạo nên sự xúc động tâm linh hướng về cội nguồn mạnh mẽ. Tất cả các kiệu đều đặt ở khu đất rộng trước cửa Linh Từ Lương Xâm để chấm giải kiệu. Kiệu nào nhất thì lần sau được vinh dự thay mặt cả đoàn kiệu đứng dâng lễ Thánh Vương trước long sàng. Nghi thức tế đám Ngô Vương ở Từ Lương Xâm khá đặc biệt: lễ phẩm phải có một con bò, một con lợn, một con dê mổ tế sống (cỗ thái lao), tế xong đem số thịt đó làm cỗ ăn tại đền và chia cho dân đinh; vào những năm “phong đăng hòa cốc” ở Từ Lương Xâm còn có hợp tế hàng huyện, hợp tế hàng tổng.
Ngày nay lễ hội kéo dài 03 ngày, lễ hội tiến hành các nghi lễ truyền thống như lễ cáo, lễ mở cung, lễ di cung thánh thượng, lễ rước các nhân thần có công với nước… Sau phần lễ, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các trò chơi dân gian được tổ chức như: đu tiên, bịt mắt bắt dê, bịt mắt đập liêu, cờ tướng, kéo co… thu hút hàng vạn khách du lịch trong nước và quốc tế tham gia, cổ vũ. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Lễ hội không chỉ là nơi để thể hiện tấm lòng biết ơn, ngưỡng mộ, tình cảm của nhân dân địa phương với những người có công với nước, với dân. Mà trong đó nó còn chứa đựng cả những ước mong, những nguyện vọng của nhân dân về cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Thăm Từ Lương Xâm, du khách như thấy lại một trang sử hào hùng của dân tộc. Mỗi lần diễn ra lễ hội, được tái hiện lại những hình ảnh xưa đâu đây trên sông Bạch Đằng giang, bóng Ngô Vương Quyền lồng lộng cầm gươm cùng toàn quân, toàn dân đánh giặc. Những chiếc cọc gõ lớn được đẽo gọt, cắm xuống lòng sông. Khi nước triều dâng, cọc nhọn chìm dưới mặt nước. Dòng sông vẫn hiền hòa như bao đời nay nhưng ẩn chứa trong lòng những sục sôi căm thù và quyết tâm giữ nước của dân tộc. Những chiếc thuyền lớn của giặc từ ngoài ào ào tiến vào dương dương tự đắc. Để nhử địch, Ngô Vương Quyền cho một số thuyền nhỏ vừa đánh vừa vờ bỏ chạy để dụ địch vào sâu trong bãi cọc. Quân giặc bị mắc mưu. Những chiếc thuyền chiến cồng kềnh tiến dần vào bãi phục kích. Chờ đúng thời điểm thủy triều chuẩn bị rút, quân ta bất ngờ xông ra đánh địch, trên bờ, dưới sông, khói lửa ngút trời. Những chiếc cọc nhọn dần lộ ra, trở thành bàn chông chọc thủng thuyền địch. Bọn giặc hoảng loạn bởi ngay cả đường rút chạy cũng không còn, tướng giặc Hoằng Tháo tử trận.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã mở ra trang sử chói lọi cho dân tộc, vĩnh viễn chấm dứt ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Đất nước giành được tự chủ. Các thế hệ sau nối tiếp truyền thống đánh giặc của Ngô Vương Quyền. Sông Bạch Đằng 3 lần vùi thây quân xâm lược. Lần thứ 2 vào năm 981 do Lê Hoàn chống Tống, lần thứ 3 sau 350 năm, vua tôi nhà Trần lại tiêu diệt gọn hàng vạn quân Nguyên Mông. Đất nước Việt Nam muôn thuở anh hùng bất diệt.
Từ Lương Xâm tồn tại như một chứng tích lịch sử mà những người dân Nam Hải ngày nay cố gắng gìn giữ lại. Di tích là biểu hiện của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tấm lòng tri ơn đối với người anh hùng dân tộc Ngô Vương Quyền. Đồng thời là nơi giáo dục cho các thế hệ mai sau lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Lễ hội Từ Lương Xâm được coi là lễ hội tiêu biểu cấp quận, thu hút đông đảo du khách đến tham dự.
- Lễ hội Phủ Thượng Đoạn- một dấu ấn văn hóa đậm nét
Đông Hải là một vùng quê có bề dày lịch sử và văn hóa cổ truyền. Theo truyền thuyết dân gian vùng hạ lưu sông Bạch Đằng nhắc nhiều đến sự tích Ngô Quyền. Đặc biệt phường Đông Hải còn lưu lại khá đậm đặc những vết tích của chiến trường xưa như: Đường vành lược nơi Ngô Vương xây dựng hệ thống phòng thủ, Bến ma nơi chôn xác chiến binh tử trận, Hàn lâm sở nơi cầu xin cho sinh linh siêu thoát, đường Đượng nơi đặt đồn tiền tiêu… tương truyền miếu và đình Hạ Đoạn xây dựng ngay trên đại bản doanh tiền phương xưa cửa Ngô Quyền. Và hiện nay nó là những công trình kiến trúc nghệ thuật cổ khá đồ sộ, nguyên vẹn tôn thờ Ngô Vương Quyền ở miền đất ông lập chiến công, đặc biệt vùng đất này còn chiếm giữ 2 trong “ tứ linh từ”.
Khi nhắc đến Đông Hải không chỉ biết đến sự phát triển kinh tế của một vùng đất mở vươn ra biển mà còn ẩn sâu trong đó là các giá trị văn hóa cổ truyền. Với đền Phú Xá, Phủ Thượng Đoạn với lễ hội Phủ Thượng Đoạn đặc sắc thu hút rất đông đảo du khách tham gia. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Hiện nay, trên vùng châu thổ sông Hồng, còn tồn tại nhiều ngôi đền nguy nga như: phủ Tây Hồ (Hà Nội), đền Lộ (Hà Tây), đền Sòng (Thanh Hóa), phủ Giầy (Nam Định) phủ Thượng Đoạn (Hải Phòng) thờ bà chúa Liễu Hạnh, một trong “ tứ bất tử” do nhân dân phong tặng (Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, Chúa Liễu Hạnh).
Phủ Thượng Đoạn nay thuộc phường Đông Hải 1, quận Hải An đã nổi tiếng như một trung tâm của xứ Đông (Hải Dương – Hải Phòng ngày nay) tôn thờ mẫu. Các sách như: “Đại Nam nhất thống chí”, “Hải Dương toàn hạt” soạn vào đời Nguyễn, đều có nhắc đến Phủ Thượng Đoạn và xếp vào hàng cổ tích của tỉnh Hải Dương.
Phường Đông Hải 1 ngày nay (thuộc tổng Hạ Đoạn, huyện An Dương xưa) có “Nhị Kinh từ” thờ các vị thần linh đại diện cho tín ngưỡng bản địa của người Việt canh tác lúa nước cổ truyền. Đền Phú Xá thờ Cha – Đức Trần Hưng Đạo, phủ Thượng Đoạn thờ Mẹ – Mẫu Liễu Hạnh (Tháng Tám giỗ Cha – Tháng Ba giỗ Mẹ) từ lâu đã đi vào tâm thức của người dân.
Thần tích và truyền ngôn cho rằng: Trong một lần vân du “thăm non thưởng thức” đến vùng đất Thượng Đoạn ngày nay, khi ấy còn hoang vu, lầy nội, đầy ác thú, Mẫu đã ra tay “giáng bút” trừ tà, dùng tha lực vũ trụ giúp dân khai hoang lấn biển. Để tưởng nhớ công ơn đó nhân dân Thượng Đoạn đã dựng phủ để thờ Bà cùng với hệ thống “Tam tòa thánh Mẫu”.
Phủ Thượng Đoạn một kiến trúc cổ có quy mô hoàn chỉnh bao gồm điện thờ chính 3 lớp cấu trúc tiền nhất – hậu đinh. Mẫu được thờ ở tòa hậu cung dưới dạng “Tam tòa Thánh mẫu”. Mẫu Thượng Thiên ngồi ở vị trí trung tâm, bên trái là Mẫu Đệ nhị – Thượng Ngàn phủ; bên phải là Mẫu Đệ tam – Thoải phủ. Theo quan niệm văn hóa dân gian, đây là ban thờ Mẫu thuộc hệ sáng tạo, có thể hiểu rằng: Mẫu Thượng Thiên là lực lượng sáng tạo ra Trời và Đất, quy luật vận hành vũ trụ như mây, mưa, sấm chớp. Người nông dân xưa mong được thiên thời mà thờ mẫu. Mẫu Thượng Ngàn sáng tạo ra rừng, núi, nguồn của cải, tài nguyên cần thiết cho đời sống con người. Thế giới này là nơi chuyển tiếp cho các kiếp đời đã trải qua để thành Cô thành Cậu. Như vậy, Mẫu đệ nhị đã như một biểu hiện rất cao về tính nhân đạo của người Việt, vừa lo cho con người sống, vừa lo cho người đã khuất. Mẫu Thoải là lực lượng sáng tạo ra nguồn nước, một yếu tố hàng đầu của nghề trồng lúa nước. Tiếp đến là Mẫu Liễu Hạnh, người hiện thân nhất thể của các “Mẫu sáng tạo” và các vị chầu bà, thánh cô, thánh cậu là các hóa thân của Mẫu Liễu Hạnh ở khắp nhân gian để “cứu nhân độ thế”.
Phủ Thượng Đoạn không chỉ có một mà trong nội thất hiện tồn tại cả một hệ thống đầy đủ phong tục thờ Mẫu bao gồm: hệ sáng tạo là Tam tòa Thánh mẫu; Ngũ vị tiên ông, được coi là lực lượng thực hiện ý đồ của Mẫu ở năm phương; Tứ Phủ quan hoàng, có thứ bậc dưới ngũ vị tiên ông; Hàng phụ tá giúp việc cho Mẫu có 11 Cô, 11 Cậu. Có thể coi di tích phủ Thưởng Đoạn ngoài ý nghĩa nhân văn duy trì tập tục thờ cúng của nhân dân địa phương từ xa xưa, đồng thời giúp các nhà nghiên cứu lịch sử – văn hóa nhận thấy rõ hơn bản chất của đạo thờ Mẫu ở Việt Nam – một loại hình văn hóa tín ngưỡng bản địa đậm đà bản sắc tộc, trước khi có sự hội nhập giao thoa với một số tôn giáo khác như đạo Phật, đạo Lão… theo chân các nhà truyền giáo. Lái buôn và có cả vó ngựa cùng lưỡi gươm của kẻ xâm lược tràn vào nước ta trong thế kỷ trước. Tục thờ Mẫu, hay nói đúng hơn là loại hình văn hóa tín ngưỡng gắn bó chặt chẽ với đời sống tâm linh của người nông dân Việt nam.
Lễ hội phủ Thượng Đoạn kéo dài hết tháng ba trong một không gian trải rộng, liên quan đến nhiều di tích khác, mang tư cách của một lễ hội vùng. Trong những ngày hội, cửa Phủ luôn mở rộng đón du khách thập phương thắp hương tưởng niệm Chúa Liễu. Xưa kia lễ tế thánh được cử hành vào các ngày mồng 1, 2, 3, 7, 8, 9 và các ngày 11, 15, 30 tháng 3. Mỗi ngày chỉ tế một lần, do tế quan làng Thượng Đoạn đảm nhiệm. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Vào sáng mồng 1 tháng 3 âm lịch, làm lễ tế yết (yết cáo) nhanh cũng mất khoảng thời gian 2 giờ đồng hồ. Các nghi lễ được tiến hành trang trọng, gồm có người chủ tế, các vị bồi tế đọc chúc văn nói về lai lịch của Thánh Mẫu và các vị quan tế viên. Nghi thức được tế với 50 động tác chuẩn được truyền nguyên từ đời này qua đời khác, để kính dâng hương, rượu, nước tới thần linh. Xen giữa các tuần đăng là một tuần hát chầu văn có phường bát âm tấu nhạc.
Ngày chính hội được mở vào 11 tháng 3. Trong ngày này người ta tổ chức rước thần tượng Thánh Mẫu ra chùa Tân Để (sau này là chùa Vẽ) nhằm nhắc lại một sự tích quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của Chúa Liễu. Thần tượng Chúa Liễu ngự trên long kiệu có 32 nô tỳ thay nhau khiêng và 2 ngự lâm cầm quạt, lọng che nắng gió. Đám rước phụng nghinh theo thứ tự cờ, trống, lọng, chiêng, trôi, đồ chấp kích, phường bát âm, cờ vỉa (cờ tướng lệnh của thần) cuối cùng là long kiệu. Những người có vị trí nhất định trong đoàn rước phải ăn vận đúng y phục cổ lệ. Cứ sau mỗi tiếng trống, đoàn người đi rước mới được nhấc một bước chân trừ khi kiệu bay thành ra chỉ trên đoạn đường mấy trăm mét, một lần rước như thế phải mất 2 giờ đồng hồ. Đến chùa, các vị chức sắc và quan tế tiến hành lễ chư phật và xin rước kinh phật về Phủ. Chiều ngày 15 tháng 3, rước kinh phật hoàn chả lại chùa.
Ngày hội mở, trong phủ khói hương nghi ngút, ngoài sân cờ tàn phấp phới, mọi người chen chúc ngược xuôi. Người hiếm con đến phủ cầu tự, người ốm đau hỏi về bệnh tật, trai gái xin về tình duyên, người hỏi về tài lộc… Nhưng số đông vẫn là tới để vui hội, khoe lịch, khoe xinh.
Lễ hội phủ Thượng Đoạn là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có truyền thống lâu đời, một địa chỉ hành hương quen thuộc của người Hải Phòng. Cũng như một số hoạt động văn hóa – thể thao hấp dẫn như hát chèo, chầu văn, chọi gà, đấu vật, đấu cờ…
Lễ hội phủ Thượng Đoạn mang đậm dấu ấn văn hóa của dân tộc, cần được nghiên cứu phục hồi và phát triển.
2.2.2.2.3. Làng hoa truyền thống Đằng Hải
Làng hoa thuộc phường Đằng Hải, quận Hải An,cách trung tâm thành phố Hải Phòng chừng 6km (nguyên là xã Đằng Hải huyện An Hải ngày trước). Nghề trồng hoa ở Đằng Hải có từ hàng trăm năm nay. Nó gắn bó và ăn sâu vào tiềm thức mỗi người dân nơi đây- nghề trồng hoa không chỉ làm đẹp mà còn đem lại giá trị kinh tế cao. Kể từ năm 1993, thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cải tạo vườn tạp, nâng cấp ruộng trồng lúa năng suất thấp thành các khu đồng trồng hoa, thì diện tích đất trồng hoa Đằng Hải tăng lên đáng kể với gần 150 ha.
Nhận định nghề trồng hoa là tiềm năng, là thế mạnh mũi nhọn kinh tế ở Đằng Hải, cấp uỷ, chính quyền địa phương đã chủ trương xây dựng kế hoạch tuyên truyền vận động tập thể, cá nhân chuyển đổi ngành nghề từ cấy lúa sang trồng hoa. Chỉ trong 4 năm, từ năm 1992 – 1996, 100% diện tích đất cấy lúa đã được tôn tạo thành vườn trồng hoa, có những cánh đồng sâu ngập đầu người cũng trở thành những cánh đồng hoa rực rỡ.
Hoa từ Đằng Hải đến với nhiều vùng miền trong nước và được xuất khẩu ra nước ngoài. Hoa là nguồn thu nhập chính của người dân Đằng Hải. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Trong ký ức của người dân nơi đây, những vui buồn của nghề trồng hoa đã đi vào tâm khảm. Để có những bông hoa cho ngày lễ, tết, người trồng hoa quanh năm sống cùng sương nắng, phân gio. Tết đến, khi trăm họ rộn ràng áo mới thì người trồng hoa lại tất tả thu hoạch, rồi ngược xuôi tàu xe đi bán.
Người dân Đằng Hải bắt đầu trồng hoa từ những năm 1960, họ đi Nam Định mua củ hoa huệ hay tới xã Đằng Giang kế bên tìm giống hoa Violet, đồng tiền. Gần đây, người ta lên Hà Nội mua giống hoa hồng, vào Đà Lạt tìm củ Layơn nhiều màu sắc. Chính vì vậy Đằng Hải trở thành một thương hiệu lớn trong nghề trồng hoa của miền Bắc.
Vào những năm 1980, hoa Layơn màu đỏ, màu hồng phấn của làng quê Đằng Hải đã lên máy bay đi khắp Liên Xô, Đông Âu. Tiếp đó, Đằng Hải còn được kỳ vọng trở thành một địa chỉ du lịch của thành phố Cảng.
Ngày nay, hoa Hạ Lũng vẫn nổi tiếng sánh vai cùng với các làng hoa Ngọc Hà( Hà Nội), Nhật Tân( Hà Nội)… chiếm lĩnh trên thị trường miền Bắc với nhiều chủng loại phong phú hấp dẫn. Đặc biệt, hàng ngày chợ hoa đêm Hạ Lũng luôn tấp lập người mua người bán từ 4h sáng, những dòng người từ khắp mọi nơi đổ về đây để mua hoa, mang hoa đi bán trên khắp các thị trường cả trong và ngoài thành phố.
Tuy nhiên, từ năm 2003, thành lập quận Hải An, Đằng Hải trở thành phường, nhiều dự án được triển khai tại đây. Đất nông nghiệp bị thu hẹp, bị chia cắt nhỏ lẻ, manh mún, nằm xen kẽ trong các khu dân cư, các hộ dân. Các dự án xây dựng đã phá vỡ hệ thống giao thông, hệ thống tưới tiêu, đất thường xuyên bị úng lụt hoặc bị hạn hán; nước tưới bị ô nhiễm, sản xuất của người dân gặp rất nhiều khó khăn. Thêm vào đó, giá vật tư cho trồng hoa lên cao, nhiều người dân Đằng Hải không thiết tha đầu tư vào trồng hoa, trông chờ vào dự án, đất bị bỏ hoang.
Trước tình hình thay đổi, cấp uỷ, chính quyền cùng các đoàn thể tuyên truyền vận động nhân dân khắc phục khó khăn, tận dụng diện tích còn lại tiếp tục đầu tư phát triển nghề trồng hoa, xây dựng các mô hình sản xuất mới. Người dân tích cực hưởng ứng chủ trương của lãnh đạo địa phương, áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư giống, vốn trồng các loại hoa nhập ngoại có năng suất cao như hoa hồng Mỹ, hoa layơn Pháp, hoa đồng tiền Thái, hoa cúc Hà Lan. Nhiều hộ đầu tư hàng trăm triệu đồng trồng hoa trong nhà lưới, nhà ni lông.
Có kinh nghiệm và kiến thức trồng hoa, nhưng đất chật chội, một số người Đằng Hải đã mạnh dạn đầu tư hàng tỷ đồng trồng hoa ly, hoa phong lan tại huyện An Dương, huyện An Lão.
Nhằm bảo tồn làng hoa truyền thống, thành phố và quận Hải An đang hỗ trợ người dân tại 3 khu dân cư trong phường, cho thu nhập bình quân từ 8 đến 10 triệu đồng/1 sào. Người trồng hoa Đằng Hải đang duy trì và phát triển làng hoa truyền thống, nhiệt tình hưởng ứng chương trình xây dựng cánh đồng 50 triệu/1ha. Được biết, dự án bảo tồn làng hoa Đằng Hải với diện tích 50 ha đang được tiến hành. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Khó khăn đang và sẽ còn nhiều, nhưng người dân Đằng Hải vẫn khẳng định quyết tâm duy trì phát triển làng hoa có từ lâu đời, góp phần xây dựng phường Đằng Hải và quận Hải An ngày càng giàu đẹp cùng những thách thức của tiến trình đô thị hoá.
Đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn trên địa bàn quận Hải An
Thuận lợi: Tài nguyên du lịch nhân văn cho phát triển du lịch của quận Hải An phong phú và đa dạng. Có thể nói Hải An là một vùng đất văn hóa gắn liền với những cuộc chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng từ thời Ngô Quyền – Lê Hoàn – Trần Quốc Tuấn, sau này là các di tích cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Gắn liền với nó là hệ thống các đình, chùa, miếu – nơi thờ các anh hùng dân tộc có công trong cuộc đấu tranh bảo vệ tổ quốc. Quận Hải An hội tụ đủ các nguồn lực và điều kiện cho phát triển du lịch. Trong khuôn khổ luận văn có giới hạn, em không thể kể hết các công trình kiến trúc nghệ thuật, các di tích lịch sử văn hóa và di tích cách mạng có bề dày văn hóa truyền thống. Những nguồn tài nguyên nhân văn kể trên là những nguôn tài nguyên tiêu biểu cần được giữ gìn, trùng tu và quản lý bảo tồn phục vụ cho phát triển du lịch.
Khó khăn: Tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị rất lớn cho việc phát triển du lịch trên địa bàn quận Hải An. Tài nguyên này tạo ra những sản phẩm du lịch văn hóa độc đáo kết hợp với du lịch tham quan nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện nay các công trình văn hóa, kiến trúc nghệ thuật này đang bị xuống cấp và hư hỏng nặng.
2.2.3. Thực trạng hoạt động du lịch quận Hải An
2.2.3.1. Vị trí của ngành du lịch trong đời sống kinh tế – xã hội quận Hải An
Là một quận giàu tiềm năng để phát triển du lịch, cùng với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế chung của thành phố và cả nước, vị trí ngành du lịch của quận Hải An chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có của quận. Du lịch vẫn chưa khẳng định được vai trò là ngành kinh tế quan trọng của địa phương, đóng góp không đáng kể trong cơ cấu GDP chung của toàn quận.
Nhìn tổng thể, quận Hải An là quận có tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế – xã hội. Quận Hải An đang từng bước phát huy những lợi thế và tiềm năng sẵn có của mình để phát triển kinh tế – xã hội theo hướng cộng nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước.
Tổng giá trị sản xuất 3 ngành công nghiệp – xây dựng, Thương mại – dịch vụ; Nông nghiệp- thủy sản của năm sau luôn cao hơn năm trước. Giá trị sản xuất đạt của quận tăng từ 713 năm 2003 (theo giá cố định) lên 3.016 tỷ đồng ước năm 2007, tăng bình quân 43,3%/ năm. Trong đó: Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
- Công nghiệp – Xây dựng: Năm 2003 đạt 297 tỷ đồng đến năm 2007 đạt 1.604 tỷ đồng. Tăng bình quân 52,45%/ năm;
- Thương mại – Dịch vụ: Năm 2003 đạt 303 tỷ đồng đến năm 2007 đạt 1.326 tỷ đồng. Tăng bình quân 52,2%/ năm;
- Nông nghiệp- Thuỷ sản: Năm 2003 đạt 111 tỷ đồng đến năm 2007 đạt 86 tỷ đồng. Bình quân giảm 6,4%/ năm.
Qua thống kê cho thấy, giá trị sản xuất trong hoạt động Thương mại – Dịch vụ phát triển nhanh. Đã hình thành thêm nhiều cơ sở, các ngành dịch vụ mới, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân (tăng bình quân 52,2%/năm). Sản xuất Công nghiệp Xây dựng cũng phát triển nhanh, nhất là cơ sở hạ tầng lớn được đầu tư xây dựng (Cảng biển, đường xá, khu đô thị mới, tăng bình quân 52,45%/năm). Sản xuất nông nghiệp được chỉ đạo tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cấp các công trình thuỷ lợi, đầu tư giống mới; Từ năm 2003 đến năm 2007 diện tích gieo cấy giảm 412ha so với diện tích gieo cấy năm 2003 là 746ha (giảm 44,7%). Kinh tế chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng trọng dịch vụ công nghiệp. Quan hệ sản xuất và môi trường sản xuất kinh doanh từng bước được kiện toàn, củng cố, tạo mọi điều kiện và cơ sở pháp lý để các thành phần kinh tế, các hộ gia đình và nhân dân yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh và thu hút được nhiều dự án đầu tư công nghiệp, dịch vụ, đô thị vào địa bàn.
Cơ cấu kinh tế quận Hải An năm 2003 – 2008 có sự dịch chuyển :
Biểu đồ H.1: So sánh cơ cấu kinh tế quận Hải An năm 2003 – 2008
Cơ cấu kinh tế quận Hải An đang có xu hướng phát triển phù hợp theo xu hướng hiện nay, công nghiệp và xây dựng phát triển mạnh chiếm hơn 50% cơ cấu kinh tế trên địa bàn quận, cơ cấu của nông nghiệp – thủy sản có xu hướng giảm dần tỷ trọng, thương mại và dịch vụ tăng, tuy nhiên du lịch mới chiếm được một phần rất nhỏ trong cơ cấu chung của quận.
Phần lớn khách du lịch đến với quận Hải An chủ yếu là khách du lịch nội địa thông qua các lễ hội tín ngưỡng tâm linh. Đặc biệt trong 2 năm trở lại đây khi được sự cho phép của thành phố, của Sở Văn hóa- thể thao và du lịch, quận Hải An đã năng cấp lễ hội Từ Lương Xâm trở thành lễ hội cấp quận đã thu hút lượng khách lớn đến tham gia, làm cho doanh thu từ hoạt động du lịch cũng tăng lên, tuy nhiên vẫn chưa thật xứng với tiềm năng của quận.
Bảng 2.2. Thống kê lượng khách và doanh thu du lịch trên địa bàn quận
Hải An – cái nôi của văn hóa tâm linh trên địa bàn thành phố. Thời gian thu hút khách đông nhất tập trung chủ yếu vào đầu xuân, nhất là trong ba ngày diễn ra lễ hội Từ Lương Xâm, bởi trong thời gian này hầu hết các di tích lịch sử văn hóa đình, chùa đều mở hội. Trong năm 2008 việc kỷ niệm 1070 năm ngày mất của Đức Ngô Vương Quyền tại từ Lương Xâm đã được diễn ra chu đáo cả về công tác tổ chức cũng như an ninh. Tiếp tục đầy mạnh công tác tuyên truyền quảng cáo cho lễ hội, năm 2009 tính riêng cho lễ hội Từ Lương Xâm, số lượng khách đã tăng lên đáng kể. Nhân dân đến với lễ hội từ 1,5 vạn đến 1,7 vạn người, gấp 2,5 lần so với lễ hội năm 2008. Đặc biệt lễ hội đã được đón các đồng chí: Bí thư Thành Ủy, Chủ tịch HĐND, Phó Bí thư thường trực Thành Ủy, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND, các Phó chủ tịch HĐND- UBND cùng lãnh đạo các Sở, ban ngành, đoàn thể thành phố và đoàn đại biểu của Đảng ủy, HĐND – UBND – UBMTTQ xã Đường Lâm- Ba Vì – Hà Nội – quê hương của Ngô Vương Quyền đến tham dự lễ hội. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
2.2.3.2. Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
2.2.3.2.1. Hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc
Hệ thống giao thông vận tải của quận Hải An không chỉ đóng vai trò cho việc phát triển du lịch của quận, mà còn góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của cả thành phố.
Do có nhiều thuận lợi về địa hình quận Hải An tập trung mọi đường giao thông: đường không, đường bộ, đường thuỷ và đường sắt nên trong việc quy hoạch và xây dựng quận ngay từ đầu theo hướng hiện đại phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của đô thị hiện đại. Đây là một quận duy nhất trên địa bàn thành phố có đầy đủ mọi loại hình giao thông vận tải.
Trên địa bàn quận hiện có: Các cảng Chùa Vẽ, cảng Cấm, cảng Đông Hải, Đình Vũ. Đặc biệt việc xây dựng cảng Tổng hợp Đình Vũ đang được tiến hành sẽ là một động lực cho ngành du lịch phát triển – đây được coi là cầu nối cho hoạt động du lịch từ Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn.
Cảng Hàng không Cát Bi không chỉ là cầu nối cho các tỉnh, thành phố trong cả nước. Việc mở rộng tuyến bay Ma Cao (Trung Quốc) – Hải Phòng đã góp phần làm tăng lượng khách du lịch đến với quận và thành phố. Hiện nay cảng hàng không Cát Bi đang được đầu tư với qui mô lớn. Năng lực vận chuyển 200.000 hành khách và gần 2000 tấn hàng/năm; đến năm 2015 sân bay Cát Bi trở thành cảng hàng không quốc tế, có nhà ga hành khách đáp ứng 800 hành khách và công suất nhà ga hàng hóa 17.000 tấn hàng/ năm.
Đường sắt: Với tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng, hiện nay dự án xây dựng nối thêm tuyến đường sắt từ ga Hải Phòng ra đảo Đình Vũ đã được phê duyệt. Trong tương lai không xa nó sẽ là tuyến đường chủ đạo để phát triển và đón khách du lịch.
Giao thông đường bộ: trên địa bàn quận có các tuyến đường chính chạy qua như: quốc lộ 5 (đường Hà Nội – Hải Phòng) nối Hà Nội với Cảng chùa Vẽ Hải Phòng, tuyến đường Văn Cao, tuyến đường Lê Hồng Phong, tuyến đường Cát Bi, Ngô Gia Tự và tuyến đường xuyên đảo Đình Vũ. Tuyến đường liên phường đã được triển khai thực hiện, đặc biệt tuyến đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng khởi công năm 2008, có chiều dài 105km, mặt cát 70m, 6 làn xe cơ giới, tốc độ thiết kế đạt 120km/h sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch trên địa bàn quận, cho Đồ Sơn và Cát Bà.
Ngoài ra quận còn có hệ thống các tuyến đường giao thông thuộc các phường với tổng chiều dài 14km.
Trên địa bàn quận hiện có 3 tuyến xe buýt đi qua: Tràng Cát – Chợ Tổng (tuyến 07); Kiến An – Đình Vũ (tuyến 09); Đình Vũ –Phà Khuể (tuyến 06). Như vậy giao thông đã có sự kết hợp giữa các quận, huyện trong thành phố và tỉnh phụ cận tuy nhiên những tuyến xe buýt này vẫn chưa đi qua các điểm du lịch trên địa bàn quận. Đặc biệt Chùa Vẽ và Từ Lương Xâm là hai điểm du lịch thu hút lượng khách đến tham quan rất đông thì lại không có, riêng Từ Lương Xâm đường đi vào vẫn chưa được tốt có nhiều đoạn đường xấu, gây khó khăn cho việc phát triển du lịch. Vì vậy bên cạnh dự án đầu tư, tôn tạo mở rộng khuôn viên Từ Lương Xâm cần chú ý đến phát triển giao thông đường xá. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Mặc dù là một quận mới thành lập, nhưng hệ thống thông tin liên lạc phát triển tương đối tốt. Các phường trên địa bàn quận đều có các điểm bưu điện văn hóa phường, có hệ thông loa phóng thanh, có điện thoại cố định rất tốt, đảm bảo cho thông tin liên lạc được thông suốt.
2.2.3.2.2. Hệ thống cung cấp điện, nước và y tế
Điện: Hệ thống điện lưới trên địa bàn quận Hải An không ngừng được đầu tư nâng cấp và có nhiều tiến bộ so với trước đây. Điện đã được đưa về các phường phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân. Nguồn điện cấp cho quận Hải An hiện nay lấy từ trạm 110/35/6KV- 50MW Cửa Cấm, thông qua trạm trung gian 35/6KV Cát Bi. Toàn bộ quận được cung cấp bởi mạch vòng 6KV và đường dây 35KV. Tuy nhiên hiện nay trên địa bàn phường vẫn thiếu hệ thống điện đường chiếu sáng gây ảnh hưởng nhiều đến việc triển du lịch.
Nước: Trong những năm gần đây hệ thống nước máy đang được triển khai thực hiện, tuy nhiên mạng lưới cấp nước chưa hoàn chỉnh. Nguồn nước cấp cho quận Hải An được lấy từ nhà máy nước An Dương, phần lớn dân cư trên địa bàn quận vẫn dùng nước giếng khoan và nước mưa cho sinh hoạt hàng ngày của họ.
Y tế: Quận có 01 trung tâm y tế đang được đầu tư xây dựng, với hệ thống trang thiết bị hiện đại đảm bảo chữa bệnh kịp thời cho nhân dân trên địa bàn. Ngoài ra trên địa bàn quận còn có các trạm y tế cấp phường và 01 bệnh viện “Vườn Dừa” của quân đội. Chất lượng dịch vụ y tế ngày càng được nâng cao với việc bổ sung đội ngũ y, bác sĩ có trình độ chuyên môn cao.
2.2.3.2.3. Hệ thống nhà hàng khách sạn và cơ sở vui chơi giải trí
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của thành phố, dịch vụ khách sạn, nhà hàng phát triển nhanh, hiện có 1509 cơ sở tập trung nhiều nhất tại các trục đường chính quả quận như: Văn Cao, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Hồng Phong, Ngô Gia Tự…. Một số nhà hàng khách sạn tiêu biểu của quận Hải An như: khách sạn Đông Đô (1044 Nguyễn Bỉnh Khiêm); Khách sạn Ngọc Hà (709 Nguyễn Bình Khiêm), Khách sạn Việt Trung (Nguyễn Bỉnh Khiêm)… Và một loạt các nhà hàng chuyên cung cấp các món ăn đặc sản phục vụ khách.
Hiện nay trên địa bàn quận chưa có cơ sở vui chơi giải trí để phục vụ du khách. Mà chỉ dừng lại ở việc phục vụ nhu cầu thư giãn của người dân địa phương như sân vận động, nhà văn hóa quận, phường. Đặc biệt dịch vụ kinh doanh giải khát trên địa bàn phường trong những năm qua tăng nhanh, góp phần thu hút hấp dẫn khách du lịch tham quan và thưởng thức.
2.2.3.3. Tình hình lao động phục vụ trong ngành du lịch của quận Hải An
Với sự phát triển của mình, trong những năm qua du lịch Hải An góp phần vào việc giải quyết việc làm cho một số lượng lao động nhất định. Số lượng lao động tham gia vào hoạt động du lịch ngày càng tăng, góp phần vào việc giải quyết việc làm trên địa bàn quận. Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng tăng cao, có khả năng hiệp đồng công tác giữa các cấp. Tại phòng văn hóa quận Hải An, hầu hết các cán bộ, nhân viên đều có trình độ Đại học, được phân công theo hướng chuyên môn hóa riêng. Tại các phường trên địa bàn đội ngũ cán bộ vẫn còn thiếu về chuyên môn, thiếu tính chủ động, sáng tạo trong công việc, đặc biệt thiếu người chuyên môn về lĩnh vực du lịch. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
2.2.3.4. Tình hình khai thác và bảo tồn tài nguyên du lịch trên địa bàn quận Hải An
2.2.3.4.1. Tình hình khai thác tài nguyên du lịch trên địa bàn quận Hải An
Hoạt động du lịch quận Hải An hiện nay chưa có gì vẫn đang ở dạng tiềm năng. Do chưa có bộ phận nào của quận chuyên trách về hoạt động du lịch. Hiện tại UBND quận giao cho phòng Văn hóa và thông tin nhiệm vụ tổ chức lễ hội lớn mang tính cấp quận như lễ hội Từ Lương Xâm. Còn tại các phường có ban thông tin, ban quản lý tại di tích có trách nhiệm trông nom và tổ chức lễ hội như lễ hội phủ Thượng Đoạn, lễ hội đền Phú Xá, Chùa Vẽ, Miếu – chùa Trung Hành, miếu Hạ Lũng….
Các tài nguyên du lịch được khai thác nhưng không theo quy hoạch phần lớn vẫn mang tính tự phát. Nhất là diện tích đất trồng hoa tại làng hoa Hạ Lũng đang bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa quá cao và thiếu chuyên môn trong công tác quy hoạch. Tuy nhiên trong những năm gần đây (năm 2007- 2008) được sự quan tâm của cấp Đảng, Nhà nước việc khai thác các di tích lễ hội đã được đầu tư, mở rộng xúc tiến, quảng bá đối với lễ hội cấp quận như lễ hội Từ Lương Xâm, số lượng khách đến tham dự rất động. Năm 2008, Chùa Vẽ thuộc phường Đông Hải 1 đã đại diện cho thành phố Hải Phòng tổ chức Đại Lễ Phật đản. Tổ chức lễ Vu Lan ở các nơi thờ tự, phục vụ tín ngưỡng cho các phật tử và nhân dân. Đây là hoạt động “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam cần được phát huy trên địa bàn quận.
Tuy quận Hải An là cái nôi của văn hóa tín ngưỡng, nhưng việc khai thác các di tích lễ hội chưa thực sự chặt chẽ vẫn mang tính nhỏ lẻ. Phần lớn các di tích trên địa bàn quận đều liên quan đến hệ thống thờ Đức Ngô Vương Quyền, song giữa các di tích vẫn chưa có sự kết hợp với nhau để tạo lên một lễ hội mang tính toàn quận. Đặc biệt Phủ Thượng Đoạn được coi là nơi thờ tín ngưỡng mẫu nổi tiếng ở Hải Phòng, nhưng cũng chưa được khai thác phát triển mạnh, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng cho nhân dân trên toàn thành phố, các hoạt động hát chầu văn, hầu bóng đang dần bị mất hoặc “đang bị thương mại hóa”.
Tài nguyên du lịch tự nhiên đến nay vẫn đang ở dạng tiềm năng, chưa được quy hoạch, đầu tư và đưa vào khai thác. Phần lớn các tài nguyên du lịch tự nhiên khai thác phục vụ cho việc phát triển kinh tế chưa khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch. Trong tương lai không xa, nếu không có sự qui hoạch và khai thác hợp lý thì tài nguyên du lịch tự nhiên trên địa bàn quận cũng sẽ bị giảm. Diện tích rừng ngập mặn bi suy giảm do người dân lấn biển, chặt phá rừng phòng hộ hoặc lấy diện tích bãi triều cho xây dựng các khu công nghiệp, các nhà máy. Như diện tích rừng ngập mặn ở Tràng Cát đang đứng trước nguy cơ bị tàn phá, diện tích bãi triều ven biển bị lấy để xây dựng nhà máy xử lý rác thác rắn, diện tích rừng ngập mặn ở khu vực Đình Vũ cũng đang bị thu hẹp. Như vậy không chỉ ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch, mà nó còn phá vỡ cảnh quan và ảnh hưởng đến môi trường.
Việc khai thác tài nguyên phải tính đến việc khai thác bền vững để bảo tồn các tài nguyên cho thế hệ mai sau.
2.2.3.4.2. Tình hình bảo tồn các tài nguyên du lịch Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Trong giai đoạn hiện nay, khi mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang làm tha hóa biến chất nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp trong xã hội truyền thống. Xu hướng chạy theo những giá trị vật chất đơn thuần đã khiến con người ta xem nhẹ những giá trị nhân văn đích thực. Khi tệ nạn “buôn thần bán thánh” đã làm ô nhiễm nhiều nơi tôn nghiêm, làm biến dạng các hội làng vốn chuyển tải các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Vậy mà trên địa bàn quận Hải An vẫn giữ được các giá trị lịch sử, các lễ hội truyền thống, cùng với làng nghề hoa Hạ Lũng đã tồn tại từ lâu đời. Đây chính là một lợi thế cho quận Hải An trong việc phát triển ngành công nghiệp “không khói”này nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân địa phương.
Công tác bảo tồn đối với tài nguyên du lịch tự nhiên
Đây là nguồn tài nguyên du lịch tiềm năng để phát triển đa dạng hóa loại hình du lịch trên địa bàn quận nói riêng và của toàn thành phố nói chung. Diện tích rừng ngập mặn hiện nay đang bị thu hẹp và khai thác bừa bãi không có quy hoạch. Cần phải báo động, lên tiếng và có sự can thiếp của các cấp chính quyền từ TW đến địa phương để có biện pháp ngăn cấm mọi hình thức xâm hại đến tài nguyên rừng ngập mặn cũng như diện tích các bãi triều.
Công tác bảo tồn tài nguyên du lịch nhân văn
Bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa. Toàn quận có 13 di tích lịch sử được công nhận là di tích cấp quốc gia. Các di tích này đều có giá trị lớn về mặt lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và đều có khả năng phục vụ cho hoạt động du lịch như: chùa Vẽ, từ Lương Xâm, đền Phú Xá, Phủ Thượng Đoạn, … Trong những năm qua thành phố và quận đã có dự án tu bổ, sửa chữa các di tích này để bảo lưu các giá trị văn hóa như: Xây dựng tượng đài chiến thằng Cát Bi trên địa bàn quận; Năm 2007 Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch đã đầu tư 12 tỷ đồng trùng tu, mở rộng khuôn viên Từ Lương Xâm để xứng đáng với tầm lịch sử và giá trị tâm linh của nó. Đặc biệt với dự án xây dựng tượng đài Đức Ngô Vương Quyền đặt tại từ Lương Xâm – nơi Ngô Quyền từng chọn làm nơi đóng quân của mình. Trong các đình, miếu, chùa thờ Ngô Vương Quyền, Từ Lương Xâm được tôn làm “Từ cả”.
Tại các di tích được xếp hạng quốc gia và thành phố, ban quản lý di tích kết hợp với chính quyền đại phương làm tốt nhiệm vụ bảo vệ, tôn tạo và tổ chức các hoạt động vào dịp lễ hội. Bên cạnh một số di tích do địa phương quản lý, thiếu kinh phí cho việc tu bổ, sửa chữa các di tích, hoặc không có sự can thiệp và bảo vệ của cấp quận như đền Phú Xá, phủ Thượng Đoạn, miếu Hạ Lũng… Mặc dù là những nơi linh thiêng, tôn kính, là trung tâm tâm linh, tín ngưỡng, nhưng hiện nay vẫn do cấp phường tổ chức và quản lý. Các di tích này, nếu không được tu bổ, sửa chữa cẩn thận trong tương lai không xa cũng sẽ bị xuống cấp nghiêm trọng.
Việc bảo tồn các loại hình dân gian và lễ hội: Việc bảo tồn loại hình dân gian và lễ hội diễn ra tương đối tốt. Lễ hội ở các đình, chùa hàng năm vẫn được tổ chức một cách đều đặn. Hầu hết các lễ hội đều diễn ra vào đầu xuân, trừ lễ hội đền Phú Xá diễn ra vào tháng Tám (thờ Trần Quốc Tuấn). Trong các lễ hội hiện nay phần lễ được tổ chức một cách trọng thể, đám rước trong lễ hội không chỉ có sự tham gia của người dân địa phương mà còn có sự kết hợp tham gia của các địa phương khác, hoặc nhiều lễ hội trước kia đã mất do ảnh hưởng của chiến tranh thì nay được khôi phục như lễ hội Từ Lương Xâm khi rước kiệu có sự tham gia của cả làng Xâm Bồ, Lương Xâm, Hạ Lũng và Hạ Đoạn, trong đám rước kiệu của làng Lương Xâm bao giờ cũng đi trước. Các nơi thờ Ngô Quyền bao giờ cũng mở hội sau Từ Lương Xâm. Sau phần lễ trang nghiêm, phần hội cũng thu hút đông đảo du khách tham gia. Các trò chơi truyền thống đã được khôi phục, như lễ hội đua thuyền trên sông Bạch Đằng của làng Hạ Lũng, các trò chơi bịt mắt đập liêu, cờ người, tam cúc điếm, kéo co, bắt vịt dưới hồ…
Việc bảo tồn làng nghề truyền thống: Tiêu biểu là bảo tồn làng hoa truyền thống Đằng Hải. Làng nghề này xưa nay vẫn là niềm tự hào của nhân dân quận Hải An cũng như nhân dân của toàn thành hố Hải Phòng. Với truyền thống trồng hoa lâu đời và có thương hiệu trên thị trường nhưng do tốc độ đô thị hóa quá nhanh, diện tích đất trồng hoa đang bị giảm mạnh bởi các dự án mở rộng đường, xây dựng khu đô thị… Hiện nay, được sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền các cấp nhằm bảo tồn làng nghề truyền thống của địa phương. Với dự án qui hoạch 50 ha cho việc bảo tồn và xây dựng chợ hoa đang được tiến hành. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để cho làng hoa được bảo tồn và phát triển. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
2.2.3.5. Đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch – dịch vụ trên địa bàn quận Hải An
Hải An là quận ven biển, có nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn có khả năng thu hút nhiều khách du lịch, nhất là khí hậu mát mẻ trong lành, có làng hoa truyền thống, có dải rừng ngập mặn ven biển, có tài nguyên nhân văn phong phú đa dạng; tổng diện tích đất tự nhiên của quận là 10.484,3051 ha với số dân tính đến năm 2008 là 84.416 người.
Phía Đông Nam có đảo Đình Vũ, Vũ Yên, là nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế thủy sản, phát triển cảng và xây dựng khu công nghiệp tập trung, ngoài ra quận Hải An còn có sông Cửa Cấm, sông Lạch Tray bao bọc cùng với cửa sông Bạch Đằng lịch sử và bãi triều Gồ Đông, cách không xa các khu du lịch lớn là Đồ Sơn, Cát Bà và Vịnh Hạ Long. Đảo Đình Vũ, thành phố đã quy hoạch và xây dựng thành khu kinh tế tổng hợp trọng điểm của tành phố, hiện nay đang thu hút nhiều dự án đầu tư và doanh nghiệp đến xây dựng, hoạt động. Khu vực đảo Vũ Yên cũng đã quy hoạch xây dựng thành khu công viên thiên nhiên phục vụ cho du lịch, vui chơi giải trí của thành phố. Cùng với việc triển khai thực hiện các dự án như: đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; cầu Đình Vũ – Cát Hải; cảng cửa ngõ Lạch Huyện; đường sắt Hà Nội – Hải Phòng kéo dài đến đảo Đình Vũ; đường bao phía Đông Nam; đại lộ 13/5; khu công viên Hồ Đông; nâng cấp sân bay Cát Bi thành sân bay Quốc Tế; quy hoạch bào tồn và phát triển làng hoa truyền thống Đằng Hải và một số dự án kinh tế – xã hội khác.
Trên địa bàn quận có tuyến đường Lê Hồng Phong, khu đô thị mới ngã 5 sân bay Cát Bi nối liền sân bay Cát Bi với trung tâm thành phố là đầu mút giao thông quan trọng mở ra cho Hải An một tiềm năng mới. Các trung tâm thương mại, khách sạn, nhà hàng và các công trình trọng điểm của thành phố đều tập trung xây dựng dọc theo tuyến đường này.
Nhân dân quận Hải An với bản chất cần cù, năng động sáng tạo trong lao động, nhân ái và mến khách, có truyền thống coi trọng giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trên địa bàn quận có 56 di tích, trong đó có 21 di tích lịch sử văn hóa được nhà nước xếp hạng (13 cấp Quốc gia, 08 cấp thành phố) nhiều di tích có giá trị về lịch sử văn hóa lớn như: Từ Lương Xâm, đền Phú Xá, Phủ Thượng Đoạn, được nhân dân thành phố suy tôn là 3 trong 4 “Tứ linh từ” của huyện An Hải “cũ” ngoài ra còn nhiều di tích lịch sử văn hóa có kiến trúc đẹp thường thu hút đông đảo nhân dân trong và ngoài quận đến sinh hoạt lễ hội văn hóa, tâm linh như: Chùa Vẽ, miếu – chùa Trung Hành, miếu – chùa Hạ Đoạn, đình – chùa Lũng Bắc và gần đây nhà nước mới xếp hạng di tích lịch sử văn hóa Từ đường họ Trịnh – phường Đông Hải 1; Từ đường họ Bùi- Phường Đằng Lâm. Đó là những di tích sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc truyền thống lịch sử văn hóa, nhân văn của dân tộc.
Từ năm 2003 đến nay cùng với đà phát triển chung của thành phố, trên địa bàn quận đã có trên 60 khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng và nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ, tập trung vào các ngành nghề buôn bán, nghỉ ngơi, ăn uống, sửa chữa dụng cụ gia đình, may mặc, vận tải, vui chơi giải trí; nhiều di tích, lễ hội đã được tu bổ, tôn tạo, nâng cấp và ngày một thu hút đông đảo khách du lịch đến tham quan thưởng thức sinh hoạt văn hóa, tâm linh… Một số tổ chức, cá nhân đã và đang tiến hành khảo sát, đăng ký đầu tư phát triển du lịch, dịch vụ nên ngành du lịch, dịch vụ của quận đang từng bước phát triển. Từ những đặc điểm trên, quận Hải An có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội nói chung và phát triển du lịch, dịch vụ nói riêng không chỉ trước mắt mà lâu dài. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
Tuy nhiên, nhìn chung môi trường, cơ sở vật chất hoạt động du lịch – dịch vụ ở Hải An còn nhiều bất cập, nhất là: hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch, dịch vụ, thiết chế văn hóa còn thấp kém, nhỏ bé, chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa thu hút được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
Tóm lại: Trong quá trình hoạt động du lịch giá trị tài nguyên du lịch luôn là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển du lịch. Việc tìm hiểu và đánh giá đúng giá trị của tài nguyên là nguồn lực lớn nhất để tìm ra hướng đi cho con đường phát triển du lịch.
Qua tìm hiểu tài nguyên du lịch trên địa bàn quận Hải An, em thấy được tài nguyên du lịch của quận rất phong phú và đa dạng, góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thành phần lao động trong xã hội. Đặc biệt cách trung tâm thành phố không xa, đây cũng là điều kiện thuận lợi để khai thác, tổ chức các tour, tuyến du lịch sinh thái, kết hợp với văn hóa, tham quan trong địa bàn của cả thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên các tài nguyên này vẫn đang ở dạng tiềm năng, chưa có đầu tư để chuyến hóa chúng thành những tài nguyên có giá trị cho du lịch thì tiềm năng đó mãi chỉ ngủ yên.
Du lịch quận Hải An mới đang ở trong giai đoạn chuẩn bị cho quá trình phát triển. Điều này thể hiện rõ nét qua các phân tích trên. Vì vậy cần phải có sự tham gia, đóng góp và quan tâm của các cấp chính quyền từ TW đến địa phương để có thể phát huy hết tiềm năng vốn có của nó.
Từ việc đánh giá tiềm năng du lịch trên địa bàn quận Hải An đã giúp cho em có cái nhìn tổng quát hơn về việc quy hoạch và khai thác các giá trị tài nguyên trên địa bàn quận. Nó là nguồn để cho em đưa ra những ý kiến, phương pháp giải quyết và khắc phục tình trạng lãng phí tài nguyên. Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp khai thác phát triển du lịch quận Hải An
