Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tìm hiểu tài nguyên du lịch quận Hải An – Hải Phòng phục vụ khai thác phát triển du lịch dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Hoà chung với nhịp đập phát triển của nền kinh tế trong nhiều năm qua, đánh dấu bằng sự kiện trọng đại vào tháng 11/2006 Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO đã đặt ra cho ngành du lịch những cơ hội và thách thức. Tuy cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập, nhưng Nhà nước ta cho rằng “Du lịch” là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân đóng góp vào sự phát triển chung của kinh tế đất nước. Vì thế mục tiêu đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này phải biết khai thác một cách tối ưu những tài nguyên sẵn có kết hợp với việc bảo tồn di sản và đào tạo nhân lực nhằm tăng doanh thu cho nền kinh tế. Là sinh viên năm cuối của khoa Văn hoá du lịch trường Đại học Dân lập Hải Phòng thì việc nghiên cứu về các tài nguyên du lịch để đưa vào khai thác hoạt động du lịch một cách có hiệu quả là điều cần thiết.

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hải Phòng và chứng kiến mảnh đất Hải Phòng đang thay da đổi thịt từng ngày. Hòa nhịp cùng sự phát triển của thế giới và đất nước những người con của mảnh đất anh hùng đã tiếp nối truyền thống của nữ tướng Lê Chân không ngừng phát triển và vươn lên trở thành một trong 5 thành phố trực thuộc TW.

Hải Phòng được cả nước biết đến không chỉ là một thành phố anh hùng trong kháng chiến mà còn là thành phố anh hùng trong công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Hải Phòng vững bước đi lên trong đó có phần đóng góp không nhỏ của ngành Du lịch. Khi Du lịch được coi là “con gà đẻ trứng vàng”- được Đảng – Nhà nước ngày càng quan tâm và phát triển.

Hải phòng là vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa, là nơi có nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đặc biệt thiên nhiên đã ưu đãi cho Hải Phòng một bán đảo Đồ Sơn với không gian nối liền giữa biển, đồi và rừng, hay Cát Bà với Vườn quốc gia Cát Bà – là một trong những khu dự trữ sinh quyển thế giới, nơi bảo tồn những loài thú quý hiếm như Vọoc…. Nằm trên đường trung chuyển giữ các điểm di tích trong thành phố, giữa Đồ Sơn với Cát Bà đó là quận Hải An. Đây là một quận mới thành lập từ năm 2003 nhưng tại đây cũng chứa đựng nhiều di tích lịch sử có giá trị, nơi còn lưu giữ được những di vật từ thời Ngô Quyền đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (Từ Lương Xâm), nơi gắn liền với tên tuổi của Trần Hưng Đạo (đền Phú Xá), những tích liên quan đến Mẫu Liễu Hạnh (phủ Thượng Đoạn) và các lễ hội cũng như các làng nghề truyền thống… Ngoài ra với hệ thống cảng nước sâu Đình Vũ và hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển cũng là một trong những đối tượng để khai thác cho hoạt động du lịch. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Xét về vị trí cũng như các giá trị tại địa bàn quận Hải An em nhận thấy đây là vùng đất có tiềm năng to lớn để phát triển du lịch cũng như là điểm nối giữa các điểm du lịch trên địa bàn thành phố Hải Phòng trở thành một quần thể du lịch thống nhất.

Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài “Tìm hiểu tài nguyên du lịch quận Hải An – Hải phòng phục vụ khai thác phát triển du lịch” làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn góp phần phát triển hoạt động du lịch của quận và thành phố, tận dụng triệt để các giá trị tài nguyên trong hoạt động du lịch cũng như tìm ra các giải pháp bảo tồn giá trị tài nguyên, tránh lãng phí tài nguyên. Từ đó đưa ra những giải pháp trong khai thác sử dụng tài nguyên trên địa bàn quận Hải An – Hải phòng. Khi lựa chọn đề tài trên làm khóa luận em luôn ý thức được tầm quan trọng, tính cấp thiết của đề tài là mang giá trị phục vụ cho hoạt động du lịch, nhằm thõa mãn tâm nguyện của em về sự phát triển của du lịch trên địa bàn quận Hải An nói riêng của cả thành phố Hải phòng nói chung trong một ngày không xa.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu hoạt động du lịch trên địa bàn quận Hải An. Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về tài nguyên du lịch trên địa bàn quận Hải An – Hải Phòng phục vụ cho hoạt động du lịch. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên của quận Hải An cho phục vụ khai thác phát triển du lịch. Đồng thời trên cơ sở đó sẽ xây dựng các tour du lịch kết hợp với các điểm du lịch trong thành phố, với các huyện và các tỉnh lân cận để tạo thành một quần thể du lịch thống nhất.

3. Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện những mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

  • Tìm hiểu lý luận chung về tài nguyên du lịch, xu hướng phát triển du lịch hiện nay.
  • Tìm hiểu tài nguyên du lịch quận Hải An – Hải Phòng, thực trạng khai thác phục vụ hoạt động du lịch hiện nay.
  • Đưa ra một số giải pháp thích hợp nhất nhằm khai thác hợp lý tài nguyên, nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch của quận Hải An – Hải phòng.

4. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu tất cả nguồn tài nguyên du lịch trên địa bàn quận Hải An – Hải Phòng. Trong đó chú trọng đến việc đánh giá về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn; thực trạng của tài nguyên đó trong hoạt động du lịch. Từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục dựa trên tình hình kinh tế trên địa bàn quận Hải An cũng như những định hướng quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

5. Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành bài khóa luận này, em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp thực địa và thu thập tài liệu

Đây là phương pháp địa lý truyền thống để khảo sát thực tế, áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn liền với thực tiễn bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn. Quá trình thực địa giúp cho em sưu tầm thu thập tài liệu được phong phú thêm. Để việc học tập và nghiên cứu đạt hiệu quả cao gắn lý thuyết với thực tiễn. Đây là phương pháp quan trọng giúp người viết tiếp cận được các thông tin chính xác, thiết lập được ngân hàng số liệu cho việc hoàn thiện đề tài.

Phương pháp bản đồ

Phương pháp này cho phép em thu thập những thông tin mới, phát hiện phân bố không gian đối tượng nghiên cứu. Từ đó có thể nhận thức đầy đủ hơn về giá trị tài nguyên. Đặc biệt phương pháp này còn là phương tiện để cụ thể hóa biểu đạt kết quả nghiên cứu trên thực tế, có điều kiện đối chiếu, bổ sung vào các thông tin trên đề tài.

Phương pháp thống kê, phân tích và so sánh tổng hợp

Phương pháp này nhằm định hướng, thống kê, phân tích cho người viết tính tương quan để phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động du lịch trong đề tài nghiên cứu. Việc phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin và số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn được người viết tiến hành một cách hệ thống. Kết quả của phương pháp này là mang lại cho người viết cơ sở khoa học trong việc thực hiện các mục tiêu dự báo, các chương trình phát triển, các định hướng, các chiến lược và giải pháp phát triển du lịch trong pham vi nghiên cứu của đề tài mà em đang thực hiện.

Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn du khách tham gia hoạt động du lịch tài địa bàn quận Hải An – Hải Phòng, những người làm công tác quản lý các giá trị tài nguyên trên địa bàn và những người trực tiếp tham gia bảo tồn và phát triển các giá trị tài nguyên. Nhằm nắm được tâm tư, nguyện vọng của người dân địa phương cũng như nhu cầu của du khách, từ đó có cái nhìn chính xác về hiện trạng sử dụng tài nguyên cho việc phục vụ khai thác phát triển du lịch.

6. Kết cấu của khóa luận

Trong khóa luận, ngoài phần lời nói đầu, kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung khóa luận bao gồm 3 chương.

  • Chương 1: Một số lý luận chung về tài nguyên du lịch và xu hướng phát triển du lịch hiện nay.
  • Chương 2: Tiềm năng du lịch và hiện trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An – Hải phòng.
  • Chương 3: Một số giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch quận Hải An – Hải Phòng phục vụ khai thác phát triển du lịch. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HIỆN NAY

1.1. Tài nguyên du lịch

1.1.1. Khái niệm tài nguyên du lịch

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch

Theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi” (Pirojnik, Cơ sở địa lý dịch vụ và du lịch – Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải biên dịch, 1985,tr57).

Theo các nhà khoa học Du lịch Trung Quốc định nghĩa: “tất cả giới tự nhiên và xã hội loài người có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế – xã hội và môi trường đều có thể gọi là tài nguyên du lịch”.

Theo PGS.TS. Nguyễn Minh Tuệ cùng các tác giả trong cuốn Địa lý du lịch: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”.(Ngô Tất Hổ (Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương biên dịch), Phát triển và quản lý du lịch địa phương, NXB Khoa học Bắc Kinh, 2000,tr41).

Theo khoản 4 (Điều 4, chương 1) luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.

Qua các khái niệm trên tài nguyên du lịch được coi là tiền đề phát triển du lịch. Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc có mức tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với du khách và có hiệu quả kinh doanh cao.

Tài nguyên du lịch là một phạm trù lịch sử, việc khai thác phụ thuộc vào nhiều điều kiện kinh tế – xã hội, khoa học kỹ thuật, chính trị …. Do vậy, tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên đã, đang khai thác và tài nguyên chưa được đưa vào khai thác phục vụ du lịch.

Từ những khái niệm trên tác giả cũng mạnh dạn đưa ra khái niệm về tài nguyên du lịch của mình một cách chung nhất: “tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đã, đang và sẽ được sử dụng vào khai thác phục vụ du lịch, nhằm đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao”.

1.1.2. Đặc điểm của tài nguyên du lịch Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Tài nguyên du lịch có một vài đặc điểm chính sau:

Một số loại tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế – xã hội.

Tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử nên ngày càng có nhiều loại tài nguyên du lịch được nghiên cứu, phát hiện, tạo mới và được đưa vào khai thác, sử dụng.

  • Tài nguyên du lịch mang tính biến đổi.
  • Hiệu quả và mức độ khai thác thài nguyên du lịch phụ thuộc vào các yếu tố.
  • Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng; có các giá trị thẩm mỹ, văn hóa lịch sử, tâm linh, giải trí; có sức hấp dẫn với du khách.
  • Tài nguyên du lịch bao gồm các loại tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể.
  • Tài nguyên du lịch là những loại tài nguyên có thể tái tạo được.
  • Tài nguyên du lịch có tính sở hữu chung.
  • Việc khai thác tài nguyên du lịch gắn chặt với vị trí địa lý.
  • Tài nguyên du lịch thường có tính mùa vụ và việc khai thác tài nguyên du lịch mang tính mùa vụ.
  • Tài nguyên du lịch mang tính diễn giải và cảm nhận.

1.1.3. Vai trò của tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch có một số vai trò đối với hoạt động du lịch như sau:

  • Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch.
  • Tài nguyên du lịch là mục đích chuyến đi của du khách và tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng các nhu cầu của du khách trong mỗi chuyến đi.
  • Tài nguyên du lịch là cơ sở để phát triển các loại hình du lịch.
  • Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch.
  • Như vậy, tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng cho việc khai thác phát triển du lịch. Du lịch là một trong những ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt.

1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên

1.2.1. Khái niệm về tài nguyên du lịch tự nhiên

Tại khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy đinh: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

1.2.2. Phân loại tài nguyên du lịch tự nhiên

1.2.2.1. Tài nguyên địa hình – địa chất – địa mạo

Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của quá trình địa chất, địa mạo lâu dài. Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, nơi diễn ra các hoạt động của con người. Đối với hoạt động du lịch các dạng địa hình tạo lên một yếu tố quan trọng để hình thành các loại tài nguyên khác. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Một số kiểu địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn cho phát triển du lịch.

Địa hình đồng bằng: Đây là dạng địa hình tương đối đơn điệu về ngoại hình không gây cảm giác mạnh trong du lịch mạo hiểm. Tuy nhiên nơi đây là nơi tập trung đông dân cư và có kinh tế phát triển. Hơn nữa đây là khu vực tập trung nhiều tài nguyên du lịch nhân văn. Vì vậy địa hình đồng bằng cũng gián tiếp ảnh hưởng đến du lịch.

Địa hình miền núi: Đây là địa hình có ưu thế hơn đối với hoạt động du lịch. Địa hình miền núi là một trong những địa hình được khách du lịch thích thú nhất với nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch như sông suối, thác nước hang động và rừng cây. Đồng thời nơi đây là khu vực sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiếu số có chứa đựng những yếu tố văn hóa tộc người đặc sắc.

Địa hình vùng đồi: Đây là dạng địa hình tạo ra không gian thoáng đãng, bao la. Nơi du khách có thể cắm trại, tham quan, nghiên cứu theo chuyên đề.

Trong các dạng địa hình cần chú ý đến các kiểu địa hình đặc biệt có giá trị rất lớn cho tổ chức du lịch, đó là kiểu địa hình Karst và kiểu địa hình bờ bãi biễn.

Kiểu địa hình Karst là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hòa tan (đá vôi, đôlômit, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…), riêng Việt Nam chủ yếu là đá vôi. Hang động karst ở Việt Nam không dài, không sâu, nhưng lại rất đẹp như ở Phong Nha – Quảng Bình…

Kiểu địa hình ven bờ biển có thể tận dụng khai thác du lịch với các mục đích như: tham quan, nghỉ dưỡng, tắm biển, thể thao…

1.2.2.2. Tài nguyên khí hậu

Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với hoạt động du lịch. Tài nguyên khí hậu được xách định nhằm khai thác cho du lịch bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, lượng mưa, bức xạ mặt trời… Khi khai thác loại tài nguyên này cũng cần đánh giá ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của con người. Những nơi khí hậu thích hợp với sức khỏe của con người sẽ được nhiều người ưa thích và chọn lựa làm nơi nghỉ ngơi cho mình.

Qua nghiên cứu cho thấy nước ta có điều kiện khí hậu tốt nhất đối với con người là ở nhiệt độ trung bình tháng từ 15- 230C, độ ẩm trung bình năm trên 80%, lượng mưa trung bình năm từ 500- 2000mm, các điều kiện này tương ứng với các điểm du lịch nổi tiếng ở nước ta như Sapa, Tam Đảo, Ba Vì, Mẫu Sơn… Tài nguyên khí hậu phục vụ cho phát triển các loại hình du lịch, và quyết định tính thời vụ của nhiều loại hình du lịch. Các vùng khác nhau có tính mùa vụ du lịch không như nhau do ảnh hưởng của yếu tố khí hậu.

1.2.2.3. Tài nguyên nước Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Nước được coi là tài nguyên quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch nói chung và để phát triển nhiều loại hình du lịch.

Tài nguyên nước bao gồm: nước mặt và nước ngầm, đối với hoạt động du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa quan trọng rất lớn. Nó bao gồm đại dương, biển, suối, thác nước, suối phun…

Ngoài ra nước còn được dùng cho nhu cầu cần thiết của đời sống như: ăn uống, vệ sinh và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Đặc biệt khi đi du lịch con người thường sử dụng một lượng nước lớn hơn thường ngày.

Bảng 1.3. Khối lượng nước sạch được sử dụng cho khách du lịch ở Việt Nam thời kỳ 1995- 2010.

Ngoài nguồn nước mặt góp phần tạo môi trường không khí mát mẻ, thoáng đãng, phong cảnh hấp dẫn khách du lịch. Bên cạnh đó còn có nguồn nước ngầm cũng rất thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh … Vì nước khoáng là nước thiên nhiên chứa một số thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, các khí, các nguyên tố phóng xạ) lại có một số tính chất vật lý (nhiệt độ cao, PH) có tác dụng sinh lý đối với con người.

1.2.2.4. Tài nguyên sinh vật.

Tài nguyên sinh vật bao gồm nguồn động vật, thực vật tiêu biểu có thể phục vụ phát triển du lịch. Khi mà đời sống con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí càng trở lên cấp thiết. Ngoài một số hình thức truyền thống như tham quan phong cảnh, các di tích lịch sử văn hóa, đã xuất hiện một số hình thức mới. Đó là tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên với một số loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch tham quan nghiên cứu…

Trong hoạt động du lịch thì tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc biệt do tính đa dạng sinh học, sự bảo tồn được nhiều nguồn gen tạo phong cảnh đẹp, sinh động, thơ mộng.

Các di sản thiên nhiên thế giới

Theo UNESCO, một địa điểm trên trái đất được xem xét và công nhận là di sản thế giới thiên nhiên thế giới phải đáp ứng ít nhất được một trong các tiêu chuẩn và các điều kiện về tính toàn vẹn sau:

  • Là những mẫu hết sức tiêu biểu cho những giai đoạn tiến hóa của trái đất.
  • Là những mẫu hết sức tiêu biểu cho quá trình địa chất đang diễn biến cho thấy sự tiến hóa sinh học và tác động qua lại giữa con người và môi trường thiên nhiên. Loại mẫu này khác biệt với loại thuộc các thời kỳ lịch sử của trái đất và liên quan đến quá trình tiến hóa đang diễn ra của các thực vật, động vật, các dạng địa hình, các miền biển và nước ngọt.
  • Có hiện tượng tạo thành hoặc đặc điểm tự nhiên hết sức nổi bật như những mẫu tiêu biểu cho hệ sinh thái quan trọng nhất, những phong cảnh tuyệt đẹp hoặc tổ hợp đặc sắc của các yếu tố thiên nhiên và văn hóa.
  • Bao gồm những nơi cư trú tự nhiên quan trọng nhất và tiêu biểu nhất trong đó còn sống sót những loài thực vật và động vật bị đe dọa và có giá trị toàn cầu, đặc biệt về khoa học và bảo quản.

Các di sản thiên nhiên thế giới có hấp dẫn đặc biệt với du khách trong nước và quốc tế. Ở Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới: Vịnh Hạ Long – được công nhận hai lần vào năm 1994 và năm 2000; Phong Nha Kẻ Bàng được công nhận vào tháng 7 năm 2003.

1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

1.3.1. Khái niệm về tài nguyên du lịch nhân văn

Tại khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy đinh: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.

Trong tài nguyên du lịch nhân văn thì các di sản văn hóa có giá trị đặc biệt. Nhìn chung các di sản văn hóa được chia ra làm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.

“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn, và các hình thức lưu truyền khác bao gồm: tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác”.(Khoản 1 điều 4 Luật di sản văn hóa Việt Nam)

“Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” (Khoản 2 điều 4 luật di sản văn hóa Việt Nam).

1.3.2. Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính phổ biến. Nước ta có 54 tộc người, mỗi tộc người đều có nét văn hóa đặc sắc riêng, tuy nhiên vẫn mang một số đặc điểm chung.

Tài nguyên du lịch nhân văn có tính truyền đạt, nhận thức nhiều hơn là giải trí: tài nguyên du lịch nhân văn được coi là sản phẩm mang tính văn hóa, khi du khách đến tham quan chủ yếu tìm hiểu giá trị văn hóa của dân tộc.

Tài nguyên du lịch nhân văn mang tính tập trung, dễ tiếp cận: tài nguyên du lịch nhân văn là sản phẩm chủ yếu do con người sáng tạo ra, thường nằm tập trung tại các điểm đông dân cư và ở trong các thành phố lớn.

Tài nguyên du lịch nhân văn ít chịu ảnh hưởng yếu tố thời tiết do đó hạn chế được tính mùa vụ.

1.3.3. Phân loại tài nguyên du lịch nhân văn

1.3.3.1. Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

1.3.3.1.1. Các di tích lịch sử văn hóa Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Di tích lịch sử văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước.

Di tích lịch sử văn hóa có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi đất nước.

Theo PGS.TS.Nguyễn Minh Tuệ cùng các tác giả trong cuốn địa lý du lịch: “Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại”.

Theo “ Luật di sản văn hóa Việt Nam” thì thuật ngữ di tích lịch sử văn hóa được hiểu như sau: “ Di tích lich sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử văn hóa khoa học”. (khoản 3 điều 4)

Tùy theo giá trị khác nhau, các di tích lịch sử văn hóa được đánh giá xếp hạng theo các cấp bậc khác nhau. Đó là di tích lịch sử đặc biệt quan trọng, di tích được xếp hạng (quốc gia, địa phương). Thông thường các di tích được xếp hạng như sau: di sản văn hóa thế giới, di tích cấp quốc gia và địa phương.

Di sản văn hóa thế giới.

Các di sản văn hóa thế giới được xác định theo 6 tiêu chuẩn sau:

  • Là tác phẩm độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của con người.
  • Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định, trong một khung cảnh văn hóa nhất định.
  • Là chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã mất.
  • Cung cấp một ví dụ hùng hồn về thể loại xây dựng, hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa.
  • Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà ở truyền thống, nói lên được một nền văn hóa đang có nguy cơ bị hủy hoại trước những biến động không thể cưỡng lại được.
  • Có mối quan hệ trực tiếp với những sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng trong sáng về vật liệu, về cách tạo lập cũng như về vị trí.

Các di sản văn hóa khi được công nhận là di sản văn hóa thế giới của quốc gia thì sẽ trở thành nguồn tài nguyên du lịch nhân văn vô giá, có sức hấp dẫn khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Hiện nay Việt Nam có 5 di sản Văn hóa được tổ chức UNESCO công nhận, ngày càng thu hút nhiều khách du lịch quốc tế đến tham quan: Quần thể di tích Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Nhã Nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên.

 Các di tích lịch sử cấp quốc gia và địa phương Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Di tích khảo cổ học: các di tích khảo cổ có thể bị vùi lấp trong lòng đất hoặc trên mặt đất gồm: di chỉ cư trú, di chỉ mộ táng, những công trình kiến trúc cổ và các di chỉ khác.

Các di tích lịch sử văn hóa: Di tích lịch sử là những công trình ghi nhận các sự kiện, các điểm lịch sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình.

Các di tích văn hóa nghệ thuật: đây là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị, những di tích này chứa đựng cả những giá trị kiến trúc nghệ thuật và những giá trị văn hóa phi vật thể.

Các danh lam thắng cảnh: Là nơi có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và thường có những giá trị do con người sáng tạo ra gắn liền với phong cảnh thiên nhiên đó.

1.3.3.1.2.Các tài nguyên du lịch nhân văn khác

Những công trình đương đại cũng có sức hấp dẫn lớn đối với du khách. Các công trình này bao gồm: hệ thống các bảo tàng, các sân vận động quốc gia, các trung tâm hội nghị, hội thảo, các tòa nhà, các rạp hát các công trình giao thông, thông tin liên lạc,… có giá trị về nhiều mặt hấp dẫn khách.

1.3.3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn vô thể

1.3.3.2.1. Lễ hội.

  • Khái niệm.

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa mang tính cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong một thời gian và không gian xác định. Nhằm nhắc lại một sự kiện, một nhân vật lịch sử hay huyền thoại, đồng thời biểu hiện sự ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên – thần linh – con người trong xã hội (Tập bài giảng Phong tục – tập quán – Lễ hội của TS. Tạ Ngọc Minh).

  • Đặc điểm

Lễ hội truyền thống của nước ta có những đặc điểm sau:

Quy mô của từng lễ hội là khác nhau, có lễ hội diễn ra trong thời gian một ngày, có lễ hội diễn ra trong thời gian nhiều ngày, thậm chí có lễ hội diễn ra trong thời gian ba tháng, như lễ hội chùa Hương, lễ hội Yên Tử….

Về không gian lễ hội, lễ hội thường diễn ra trong một phạm vi nhỏ hẹp, có thể là một làng, một vùng. Không gian lễ hội là không gian linh thiêng có gắn tích với các sự kiện lịch sử. Nhưng cũng có lễ hội được diễn ra trong phạm vi cả nước như lễ giỗ tổ Hùng Vương.

  • Thời điểm diễn ra lễ hội: Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Các lễ hội không phải diễn ra quanh năm, mà thường tập trung vào hai mùa “xuân thu nhị kỳ”, đây là hai mùa không khí mát mẻ, con người có nhu cầu thông qua lễ hội để thể hiện tâm tư tình cảm của mình với thần linh, đồng thời đây cũng là thời kỳ nhàn rỗi, chuẩn bị cho một mùa sản xuất và làm việc mới.

Lễ hội Việt Nam có tính tập thể cao, ít phân biệt lứa tuổi, tôn giáo giới tính, giàu sang hay nghèo hèn… Đến với lễ hội mọi người được tham gia vào hoạt động chung của lễ hội. Các lễ hội thường được tổ chức tại các di tích lịch sử văn hóa, cho phép khai thác cả di tích và lễ hội vào mục đích du lịch. Có thể nói di tích là dấu hiệu truyền thống được đọng lại, kết tinh ở “dạng cứng”, còn lễ hội là “cái hồn” và nó truyền tải đến cuộc đời ở “dạng mềm”.

Nội dung của lễ hội.

  • Lễ hội thường gồm hai phần: phần lễ và phần hội.

Phần nghi lễ: là những nghi thức diễn ra trong lễ hội được thực hiện rất nghiêm túc, trọng thể, mở đầu cho ngày hội. Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một anh hùng dân tộc, hay một nhân vật được mọi người sùng kính. Nghi thức tế lễ nhằm bày tỏ sự tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa, cầu tài, cầu lộc…

Phần hội: Thường diễn lại các tích có liên quan đến nhân vật được thờ hoặc những trò chơi như: thi hát, thi nghề,… thể hiện tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng của dân tộc.

Tùy theo tính chất khác nhau của lễ hội mà có nơi phần lễ là phần chính hoặc ngược lại phần hội là phần chính.

1.3.3.2.2.Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo mang giá trị nghệ thuật thể hiện sự khéo léo của nhân dân lao động, mang tâm tư tình cảm của họ và những tư duy triết học sáng tạo trong lao động. Nghề thủ công truyền thống được bảo tồn, phát huy từ đời này sang đời khác là yếu tố quan trọng cho việc lưu truyền các giá trị văn hóa cổ truyền và là nét độc đáo hấp dẫn khách du lịch hiện nay.

Ngoài ra phong tục, tập quán, hoạt động sản xuất với những sắc thái riêng mỗi dân tộc trên địa bàn dân cư của mình còn góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển và nâng cao mức thu nhập của nhân dân. Nó còn là hình ảnh để quảng bá giá trị văn hoá truyền thống của địa phương đó đến với bạn bè trên thế giới.

1.4. Xu hướng phát triển du lịch hiện nay Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

1.4.1.Khái niệm du lịch

Có rất nhiều khái niệm du lịch, có thể phân ra thành các góc độ khác nhau.

Theo Từ điển Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam, du lịch được chia làm hai nghĩa:

Nghĩa thứ nhất: “du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa, nghệ thuật,v.v..”

Nghĩa thứ hai: “du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa dịch vụ tại chỗ”.

Định nghĩa của Tổ chức du lịch Thế giới (UNWTO – United National World Tourist Organization): Du lịch là đi đến một nơi khác xa nơi thường trú, để giải trí, nghỉ dưỡng… trong thời gian rỗi.

Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là làm tiền. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.

Theo luật du lịch được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua theo quyết định số 44/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005. Có giải thích “du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiều, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (điều 04, chương 1).

Như vậy du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm: đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, thẩm nhận những giá trị tại nơi đến; hoặc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi sức khỏe sau thời gian lao động vất vả, không nhằm mục đích kinh tế.

1.4.2. Chức năng du lịch

Nhân ngày du lịch thế giới (27/9/2003) tổng thư ký tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) đã đưa ra những thông điệp “Du lịch, động lực giảm nghèo, tạo việc làm và hài hòa xã hội”. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Du lịch có những chức năng nhất định và được sắp xếp thành 04 nhóm: kinh tế, xã hội, chính trị và sinh thái.

1.4.2.1. Chức năng về kinh tế và ý nghĩa về kinh tế của du lịch

Chức năng kinh tế của du lịch liên quan mật thiết với vai trò của con người như là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội. Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được tổ chức hợp lý sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp. Một mặt, nó góp phần vào việc phục hồi sức khỏe cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế cao. Hơn nữa thông qua du lịch tỷ lệ ốm đau trong khi làm việc giảm đi, tỷ lệ tử vong độ tuổi lao động hạ thấp và rút ngắn thời gian chữa bệnh, giảm số lần khám bệnh tại các bệnh viện.

Khi du lịch phát triển sẽ góp phần đẩy mạnh dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu về mặt lãnh thổ. Du lịch góp phần vào tổng thu nhập quốc dân (GNP) của đất nước, làm tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần giải quyết vấn đề việc làm của các quốc gia. Đặc biệt đối với các nước đang phát triển du lịch còn góp phần khôi phục lại nền kinh tế của đất nước đang bị kiệt quệ.

Xét trên bình diện chung thì hoạt động du lịch còn có tác dụng làm cân bằng cán cân thu chi của khu vực và của đất nước.

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây Du lịch Việt Nam đã đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế của đất nước, đặc biệt lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngày càng tăng đóng góp phần không nhỏ vào nền kinh tế đất nước và giải quyết được vấn đề việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân.

Năm 2006, du lịch Việt Nam đón 3,6 triệu lượt khách quốc tế; 17,5 lượt khách nội địa mang lại thu nhập cho toàn ngành trên 2 tỉ USD. Từ con số này, Việt Nam được xếp vào hàng những quốc gia phát triển nhanh về kinh tế du lịch. Cụ thể, Việt Nam đứng thứ 5 trong khối ASEAN; xếp thứ 7 trong số 174 nước có tốc độ tăng trưởng cao. Đặc biệt, Việt Nam cũng được Tổ chức du lịch thế giới xếp trong nhóm 10 điểm du lịch hấp dẫn và an toàn nhất thế giới…(Số liệu từ trang Web của Việt báo- www.vietbao.vn)

Theo dự báo của Tổng cục Du lịch, năm 2007, tổng doanh thu từ du lịch của Việt Nam có thể lên tới 56.000 tỉ đồng, tăng 10% so với năm 2006. Năm 2007, với nhiều thuận lợi mới, ngành du lịch Việt Nam đặt mục tiêu đón khoảng 23-24,4 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 4-4,4 triệu lượt khách quốc tế, tăng 11-22% so với năm 2006 và 19-20 triệu lượt khách nội địa, tăng 5,5-11% (Số liệu từ trang Web của Việt báo- www.vietbao.vn).

Việt Nam đã định hướng đến 2010: Đón 5,5 – 6 triệu lượt khách quốc tế, tăng 3 lần so với năm 2000, nhịp độ tăng trưởng bình quân 11,4%, 25 triệu lượt khách nội địa; thu nhập du lịch đạt khoảng 4 – 4,5 tỷ USD; đưa tổng sản phẩm du lịch đạt 6,5% GDP của cả nước.

Trong phạm vi quốc gia thì hoạt động du lịch làm xáo trộn hoạt động luân chuyển tiền tệ, hàng hóa. Du lịch kích thích sự tăng trưởng của các vùng sâu, vùng xa. Hơn nữa, du lịch còn góp phần thúc đẩy các ngành nghề kinh tế khác cùng phát triển như: giao thông vận tải, thương mại, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ….

Ngoài ra du lịch còn là ngành xuất khẩu vô hình, xuất khẩu tại chỗ. Bởi vì khách đến thăm quan ai cũng muốn mang về cho mình một món quà làm kỷ niệm vì vậy mà các mặt hàng thủ công ở đây được bán chạy. Những mặt hàng này khi đem về nơi ở của du khách nó đã làm quảng bá cho nơi đến du lịch. Như vậy vừa thúc đẩy, khôi phục phát triển các làng nghề, vừa có những sản phẩm để tuyên truyền quảng cáo cho bạn bè về đất nước của mình.

Du lịch có tác động làm thay đổi bộ mặt kinh tế của khu vực và đất nước, của địa phương. Du lịch tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, làm thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội ở nhiều vùng phát triển du lịch.

Sự phát triển của du lịch quốc tế còn có ý nghĩa quan trọng đến việc mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế theo các hướng: ký kết hợp đồng trao đổi khách giữa các nước, các tổ chức và các hãng du lịch, tham gia vào các tổ chức quốc tế về du lịch. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động và làm tăng năng suất lao động xã hội.

1.4.2.2. Chức năng xã hội và ý nghĩa xã hội của du lịch

Thông qua du lịch, con người thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết. Do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sáng tạo, trong kế hoạch cho tương lai của con người – khách du lịch.

Du lịch có vai trò trong việc giữ gìn, bảo về, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống cho nhân dân. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và tăng khả năng lao động của con người. Các công trình nghiên cứu sinh học cũng đã khẳng định rằng nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của cư dân trung bình giảm 30%, bệnh đường hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh đường tiêu hóa giảm 20%. Vì du lịch làm cho con người ta được nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe sau khoảng thời gian lao động mệt mỏi. Tại một số khu vực điều dưỡng khẳng định rằng nước khoáng ở vùng đó có thể chữa được bệnh lao phổi, các vết loét, ung nhọt, điều hòa huyết áp… Trên thế giới, những nước giàu nguồn nước khoáng nổi tiếng cũng là những nước phát triển du lịch chữa bệnh như: Bungari, Italia, CHLB Đức, CH Séc,…. Thậm chí tại một số nước còn khuyến khích cho cư dân nước mình đi du lịch hàng năm như Nhật Bản…

Khi du lịch phát triển còn làm phát huy những nét văn hóa mới, văn minh mới, đồng thời quảng bá cho những hình ảnh của nơi đến du lịch. Họ nhận ra được sức hấp dẫn cho điểm đến du lịch thu hút khách du lịch. Từ đó có biện pháp giữ gìn và bảo tồn cảnh quan nơi đến. Hay nói cách khác du lịch phát triển tạo điều kiện cho mọi người xích lại gần nhau, góp phần tăng cường tính đoàn kết trong cộng đồng. Đặc biệt du lịch còn có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc.

Việt Nam, hoạt động du lịch hiện nay đã tạo công ăn việc làm cho hơn 234.000 lao động trực tiếp và khoảng 510.0000 lao động giám tiếp của nhiều tầng lớp dân cư, đặc biệt thanh niên mới lập nghiệp và phụ nữ (thông tin báo điện tử – nhandan.com.vn).

Mặt khác khi du lịch phát triển góp phần khôi phục làng nghề truyền thống góp phần quảng bá thêm hình ảnh của nơi đến du lịch với bạn bè trong nước và quốc tế.

Du lịch phát triển nâng cao hiểu biết của người dân địa phương. Nhờ du lịch người dân địa phương ý thức được hơn giá trị của tài nguyên đó trong hoạt động khai thác phục vụ du lịch. Từ đó có ý thức bảo tồn và khai thác hợp lý hơn đối với môi trường tài nguyên và xã hội . Bên cạnh đó du lịch còn góp phần nâng cao dân trí cho du khách. Mỗi chuyến đi du lịch thường để lại cho du khách một số kinh nghiệm tăng thêm hiểu biết và vốn sống, hiểu biết thêm về lịch sử, khám phá mới về địa lý, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng … Những cảm nhận mới của du khách đã thúc đẩy việc khôi phục, duy trì các di tích, lễ hội, làng nghề truyền thống… góp phần cho việc khôi phục và phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc.

Du lịch cũng có ý nghĩa to lớn về mặt văn hóa. Khách du lịch từ các nước khác đến sẽ đem đến một phong tục tập quán văn hóa từ địa phương họ để giao lưu vì vậy cư dân nơi đây có thể học tập được nhiều yếu tố văn hóa mới từ họ. Du lịch giúp con người mở mang hiểu biết về lịch sử văn hóa, phong tục tập quán chế độ xã hội, kinh tế. Du lịch làm tăng cường khả năng hòa nhập giữa các đất nước, tạo môi trường chính trị, kinh tế ổn đinh. Du lịch còn làm giàu và phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Như vậy có thể nói rằng du lịch ngày càng góp phần to lớn vào việc phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia và du lịch trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân.

1.4.2.3. Chức năng chính trị

Chức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Du lịch làm cho các nước xích lại gần nhau về các mặt và xóa bỏ mọi hiềm kích, củng cố nền hòa bình trên thế giới.

Mỗi năm, hoạt động du lịch với các chủ đề khác nhau. Năm 1967, du lịch được coi là “giấy thông hành của hòa bình”. Du lịch không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi người” (năm 1983)… kêu gọi hàng triệu người quý trọng lịch sử, văn hóa và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Thông qua du lịch quốc tế, con người thể hiện nguyện vọng của mình là được sống, lao động trong hòa bình hữu nghị giữa các nước trên thế giới.

Chính trị ổn định là một trong những nhân tố thuận lợi thúc đẩy du lịch phát triển. Tại Việt Nam để thể hiện thiện chí của đất nước mình “muốn làm bạn với tất cả các nước trên toàn thế giới” và để phát triển du lịch, ngày 28/8/2006 Chính phủ Việt Nam đã ban hành quyết đinh xóa bỏ visa cho 46 nước trên thế giới. (Nguồn: www.vietnamtoursim.com). Việt nam với khẩu hiệu “Việt nam vẻ đẹp tiềm ẩn” đã thu hút rất nhiều khách du lịch đến tham quan, nghiên cứu các giá trị tài nguyên cũng như nền văn hóa truyền thống của dân tộc.

1.4.2.4. Chức năng sinh thái

Chức năng sinh thái của du lịch được thể hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái. Du lịch là nhân tố tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên. Vì chính môi trường này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và các hoạt động của con người.

Để đáp ứng nhu cầu du lịch trong cơ cấu sử dụng đất đai nói chung phải dành riêng những lãnh thổ nhất định có môi trường tự nhiên ít thay đổi, xây dựng các công viên lãnh thổ, thi hành các biện pháp bảo vệ nguồn nước và bầu khí quyển nhằm tạo nên môi trường sống thích hợp. Con người tiếp xúc với tự nhiên, sống giữa thiên nhiên.

Thông qua hoạt động du lịch, tạo điều kiện nâng cao nhận thức của khách du lịch và dân địa phương về vai trò và giá trị của môi trường tự nhiên đối với đời sống nói chung và mục tiêu du lịch nói riêng. Từ đó sẽ thay đổi thái độ của các đối tượng với môi trường và có những hành vi bảo vệ chúng. Ví dụ nhờ các hoạt động du lịch như “du lịch xanh” mà các khu rừng, các hệ thống động vật được bảo về do ý thức của người dân cũng như khách du lịch với những khẩu hiệu: “Kill nothing but your time”, hay “takes nothing but take photograps”. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Thông qua du lịch đã kích thích hình thành các vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên với mục tiêu bảo vệ giá trị các hệ sinh thái tự nhiên. Ví dụ vườn quốc gia Cúc Phương, Cát Tiên, Bạch Mã…

Hoạt động du lịch làm tối ưu hóa môi trường tự nhiên thông qua việc tôn tạo các cảnh quan: trồng rừng nhân tạo, xây các hồ nước… để phục vụ cho du lịch nghỉ dưỡng. Hay việc sử dụng vùng đất trồng ít được sử dụng hoặc sử dụng không có hiệu quả trong các ngành kinh tế khác để sử dụng trong du lịch. Ví dụ đất đồi ở Chí Linh – Hải Dương có hiệu quả kém trong nông lâm nghiệp nên cho xây dựng sân golf. Đây là một trong những sân golf đẹp nhất miền Bắc.

Như vậy với chức năng sinh thái việc khai thác tài nguyên du lịch phải phù hợp với quy luật tự nhiên. Hoạt động du lịch phải khai thác bền vững các nguồn tài nguyên tự nhiên có hiệu quả cao hơn so với các hoạt động khác. Du lịch gắn liền với hoạt động bảo vệ môi trường.

1.4.3. Mối quan hệ giữa du lịch với các lĩnh vực khác

1.4.3.1. Mối quan hệ giữa du lịch với xã hội

Nhận thức của cộng đồng về thế giới xung quanh nói chung, về hiện tượng du lịch nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động này. Ở nhiều nước trên thế giới, số lần di du lịch là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức sống của người dân. Việc đi du lịch không chỉ có ý nghĩa là thỏa mãn mục đích, nhu cầu được đặt ra cho chuyến đi mà còn phần nào thỏa mãn nhu cầu thể hiện mình trong xã hội. Tuy nhiên cũng ở một số nước trên thế giới, do không muốn chấp nhận sự thâm nhập của lối sống khác vào cộng đồng, du lịch được coi là một trong những hiểm họa cần ngăn chặn. Hai cách nhìn như vậy đã dẫn đến hai thái độ khác nhau, có ảnh hưởng trái ngược đến sự phát triển du lịch. Vì vậy tùy thuộc vào nhận thức của các quốc gia mà có chính sách phát triển du lịch thích hợp. Ví dụ như Thái Lan là một nước có tiềm năng du lịch rất lớn chính phủ Thái Lan khuyến khích cho việc phát triển du lịch bằng cách đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng, phát triển đa dạng hóa các loại hình du lịch kể cả loại hình du lịch sex…

Đối với xã hội, du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống cho người dân. Bên cạnh đó khi đi du lịch mọi người có điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi với nhau nhiều hơn, các nền văn hóa có điều kiện hòa nhập với nhau, làm cho đời sống tinh thần con người thêm phong phú.

Những chuyến đi du lịch còn khơi dậy được tinh thần yêu nước và niềm tự hào về dân tộc. Phát triển du lịch còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, giảm dần tỷ lệ thất nghiệp giữa các nước làm cho mức sống của người dân ngày càng tăng cao.

Du lịch phát triển, nhưng không có sự quản lý chặt chẽ thì cũng có chiều hướng tác động xấu trở lại với xã hội. Tệ nạn xã hội ngày càng tăng cao như nghiện hút, mại dâm, cờ bạc, trộm cắp,…. Đặc biệt là những luồng văn hóa xấu cũng được du nhập vào bằng con đường du lịch.

Do những nhận thức khác nhau, nền văn hóa khác nhau giữa các du khách, giữa cư dân bản địa với khách du lịch dẫn đến mối quan hệ bất hòa. Do vậy để phát triển du lịch cần phải quan tâm đến vấn đề xã hội, hạn chế thấp nhất những rủi ro do du lịch mang lại. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

1.4.3.2. Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa

Văn hóa là một khái niệm rộng. Hầu như không có ranh giới rõ rệt giữa văn hóa và các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Văn hóa thể hiện ở tác phong, thái độ khi tiếp xúc của một cá thể hay một cộng đồng khi tiếp xúc với môi trường xung quanh.

Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển của du lịch: Văn hóa là nguồn lực nhân văn quan trọng, có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển du lịch và là nguyên nhân nội sinh để du lịch phát tiển phong phú về loại hình, đa dạng về chủng loại đồng thời tạo ra những sản phẩm du lịch có tính đặc thù, cụ thể là:

Văn hóa là động cơ, là mục đích của chuyến đi, là mục tiêu khám phá của con người. Đặc biệt trong xu thế hội nhập hiện nay, nhu cầu du lịch của con người ngày càng tăng cao, họ muốn tìm hiểu khám phá những nền văn minh nhân loại, khám phá những nét văn hóa mới thì vai trò của văn hóa ngày càng được thể hiện đậm nét.

Môi trường thiên nhiên, môi trường văn hóa và nhân văn có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển du lịch, yếu tố cơ bản để tạo nên sự phong phú về loại hình và sản phẩm du lịch. Sản phẩm du lịch bao giờ cũng là tập hợp của nhiều yếu tố, trong đó văn hóa đóng vai trò hết sức quan trọng bới nó làm thỏa mãn được nhu cầu tìm hiểu của du khách.

Có thể nói: Văn hóa dân tộc là tài sản vô giá, cốt lõi của dân tộc, là cơ sở để tạo ra những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Đối với sản phẩm du lịch, văn hóa tuy không phải là thành tố duy nhất song việc sử dụng bản sắc văn hóa vào trong từng sản phẩm đã phần nào tạo nên cốt cách văn hóa riêng hoàn toàn không thể pha trộn được.

Vai trò của du lịch lịch đối với văn hóa: du lịch là tác nhân quan trọng để thúc đẩy văn hóa phát triển, giao lưu hội nhập giữa các nền văn minh của nhân loại. Việc khai thác các giá trị văn hóa cho việc khai thác phát triển du lịch còn có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa. Vì khi đưa các giá trị văn hóa này vào khai thác thì những người dân, những du khách sẽ có ý thức bảo tồn và giữ gìn hơn, họ nhận thức được vai trò to lớn của giá trị văn hóa đó đối với đất nước.

Tuy nhiên việc khai thác các giá trị văn hóa phục vụ cho phát triển du lịch sẽ trở thành mối nguy hại cho việc bảo vệ các di tích. Vì khách du lịch đến quá đông sẽ ảnh hưởng đến việc bảo vệ các giá trị văn hóa, các di tích lịch sử.

Mặt khác, trong quá trình giao lưu và hội nhập văn hóa sẽ có sự nảy sinh xung đột giữa các giá trị văn hóa bản địa và văn hóa của du khách. Đặc biệt người dân bản xứ nhất là giới trẻ ngày càng rời bỏ truyền thống văn hóa của địa phương mình.

Du lich phát triển làm phai nhạt các giá trị văn hóa bản địa như các yếu tố giả xuất hiện ở hầu hết các điểm du lịch. Làm cho đạo đức tộc người bị suy thoái, quan hệ gia đình, dòng họ, làng bản lỏng nẻo do phục vụ du lịch, do mức sống, lối sống thay đổi khi tiếp xúc với du lịch tạo ra nguồn thu khác nhau. Giáo dục trong gia đình suy giảm do cả người lớn và trẻ con đều phục vụ kiếm tiền trong du lịch.

Ngoài ra khi đưa các giá trị văn hóa vào khai thác, phục vụ trong du lịch nếu không có kế hoạch khai thác, bảo tồn hợp lý thì các giá trị văn hóa đó rất dễ bị đưa ra làm mặt hàng buôn bán và hiện tượng “thương mại hóa các giá trị văn hóa” xuất hiện làm mất đi những giá trị văn hóa truyền thống.

1.4.3.3. Mối quan hệ giữa môi trường và du lịch Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Vai trò của môi trường đối với sự phát triển du lịch.

Theo Pirojnik trong cuốn Nhập môn khoa học du lịch: “du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt điều này có ý nghĩa là tài nguyên và môi trường là nhân tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch”. Du khách ở các đô thị, khu công nghiệp có nhu cầu thoát về các địa phương có môi trường trong lành hơn, như các vùng biển, vùng núi hay nông thôn. Trong những năm gần đây việc phát triển du lịch trên thế giới nói chung và phát triển du lịch tại Việt Nam nói riêng có xu hướng phát triển dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên là chủ yếu với các loại hình du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm lôi cuốn nhiều thành phần, tầng lớp dân cư tham gia.

Vai trò của du lịch đối với môi trường

Việc tiếp xúc với môi trường trong lành, tươi mát và nên thơ của các cảnh quan tự nhiên có ý nghĩa rất lớn đối với khách, nó tạo điều kiện cho họ hiểu sâu sắc về tự nhiên, hòa mình vào với thiên nhiên tươi đẹp và hấp dẫn. Điều này có ý nghĩa thực tiễn phong phú. Du lịch góp phần vào sự nghiệp giáo dục môi trường, nhất là trong giai đoạn hiện nay, môi trường luôn là yếu tố cần thiết. Nhu cầu du lịch nghỉ ngơi tại nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên đã kích thích việc tôn tạo bảo về môi trường.

Du lịch xanh – du lịch sinh thái được coi là một quan điểm để phát triển du lịch lâu dài trong tương lai.Việc đưa loại hình du lịch sinh thái vào nhằm mục đích giáo dục ý thức và nâng cao trách nhiệm của mỗi du khách và người dân địa phương trong việc bảo vệ môi trường. Đồng thời thông qua hoạt động du lịch phải trích một phần nhỏ lợi ích thu được từ du lịch quay trở lại phục vụ cho việc phục hồi môi trường.

Tuy nhiên việc đẩy mạnh hoạt động du lịch làm tăng khả năng ô nhiễm môi trường. Do vậy phải có kế hoạch và phương thức khai thác hợp lý sao cho không làm ảnh hưởng đến môi trường và ảnh hưởng đến khả năng sử dụng của thế hệ tương lai (Du lịch bền vững ).

1.4.3.4. Mối quan hệ giữa du lịch và kinh tế

Vai trò của nền kinh tế trong sự phát triển du lịch.

Nền kinh tế có tác động trực tiếp nhiều mặt đến hoạt động du lịch. Khi kinh tế phát triển, người dân có cuộc sống ổn định, mức sống được cải thiện và nâng cao, thời gian rỗi gia tăng; thu nhập cao cùng với nó là nhận thức của con người nâng cao. Đây là điều kiện có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định đi du lịch.

Hầu như tất cả các ngành kinh tế đều tham gia vào việc thúc đẩy sự phát triển du lịch:

Nông nghiệp tham gia vào việc cung cấp các sản phẩm như lương thực, thực phẩm cho các nhà hàng, khách sạn để phục vụ khách du lịch.

Ngành công nghiệp đóng vai trò gián tiếp trong du lịch như sản xuất sản phẩm phục vụ giao thông, ngành khách sạn….

Ngành xây dựng phục vụ cho việc xây dựng hệ thống cầu cống, đường xá… Đặc biệt ngành thông tin liên lạc phát triển là một trong những yếu tố quan trọng cho việc phát triển du lịch. Nó cung cấp thông tin cần thiết cho du khách hay quảng bá hình ảnh của những điểm đến với các nước trên toàn thế giới. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Ngành giao thông vận tải đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nhu cầu du lịch. Khi giao thông vận tải chưa phát triển, du lịch phát triển rất hạn chế vì đa số những điểm tham quan du lịch hấp dẫn đều nằm ở xa nơi cư trú của người dân. Hiện nay giao thông vận tải phát triển đã làm cho thời gian vận chuyển được rút ngắn, giảm sự mệt mỏi cho du khách.

Những ảnh hưởng của du lịch đến nền kinh tế.

Du lịch có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của địa phương thông qua việc tiêu dùng của du khách.

Nhu cầu tiêu dùng của du lịch là những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt như: nhu cầu nâng cao kiến thức học hỏi, vãn cảnh, thư giãn, nghỉ ngơi v.v…Du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu tiêu dùng các hàng hóa vật chất cụ thể, hữu thể và các hàng hóa phi vật chất. Khi đi du lịch khách du lịch cần được ăn uống, nghỉ ngơi và cung cấp các phương tiện đi lại lưu trú… Ngoài ra nhu cầu mở rộng kiến thức, quá trình cung ứng các sản phẩm và thái độ của người phục vụ rất được du khách quan tâm.

Thông thường du lịch mang tính mùa vụ rõ rệt, các hoạt động du lịch có liên quan đến hoạt động ngoài trời, tức là phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết.

Một đặc điểm quan trọng và khác biệt giữa việc tiêu dung du lịch và tiêu dùng các hàng hóa khác là việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất của chúng. Đây là lý do làm cho sản phẩm du lịch mang tính độc quyền.

Như vậy ảnh hưởng kinh tế của du lịch được thể hiện thông qua tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch. Quá trình này tác động lên lĩnh vực phân phối, lưu thông và ảnh hưởng đến những lĩnh vực khác nhau của quá trình tái sản xuất xã hội.

Khi một khu vực nào đó trở thành một điểm du lịch, du khách đổ về làm cho nhu cầu hàng hóa tăng lên. Điều này kích thích mạnh mẽ các ngành kinh tế có liên quan.

So với ngành Ngoại thương, thì du lịch có ưu thế nổi trội hơn tất cả. Du lịch là ngành xuất khẩu tại chỗ, thu ngoại tệ lớn mà lại tiết kiệm được chi phí đóng gói, bảo quản.

Du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh tế khu vực. Nhiều nước trên thế giới coi du lịch là giải pháp hiệu quả để phát triển kinh tế.

Tuy nhiên về mặt kinh tế, du lịch cũng có những ảnh hưởng tiêu cực. Tình trạng lạm phát cục bộ hay giá cả hàng hóa tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng chi tiêu của người dân địa phương nhất là của những người mà thu nhập không liên quan đến du lịch. Du lịch cũng không nên vì lợi ích kinh tế mà đem các giá trị tài nguyên ra để làm phương tiện kinh doanh buôn bán.

1.4.3.5. Mối quan hệ giữa du lịch với hòa bình và chính trị

Bất cứ một sự xáo động chính trị xã hội nào, dù lớn hay nhỏ cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động du lịch. Ổn định và an toàn là yếu tố có ý nghĩa rất lớn đối với du khách và cơ quan cung ứng dịch vụ du lich.

Môi trường chính trị hòa bình và ổn định tạo điều kiện cho du lịch phát triển. Đặc biệt Việt Nam được các nước trên thế giới công nhận là một nước có môi trường chính trị hòa bình và ổn đinh.Vì vậy trong những năm gần đây số lượng khách quốc tế đến Việt Nam ngày càng gia tăng. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Một ví dụ điển hình ở Thái Lan – một nước có điều kiện phát triển du lịch rất tốt. Nhưng trong những năm gần đây, Thái Lan liên tiếp xảy ra những vụ đảo chính, xung đột vũ trang. Vì vậy lượng khách du lịch đến nước này giảm nhiều so với thời kỳ trước.

Mặt khác, du lịch được coi là cầu nối hòa bình giữa các nước, là cơ sở ban đầu cho các nước đặt quan hệ hợp tác và làm ăn lâu dài trên tất cả các lĩnh vực. Tuy nhiên, du lịch cũng là một con đường thuận lợi để cho các thế lực phản động lợi dụng tuyên truyền, chống phá lại chính quyền gây mất đoàn kết trong toàn dân.

1.4.4. Xu hướng phát triển du lịch hiện nay

Hiện nay du lịch trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân. Xu hướng phát triển du lịch hiện nay thường tập trung vào các khía cạnh sau:

1.4.4.1. Gia tăng nhanh chóng về mặt số lượng

Do các nguyên nhân sau:

  • Do áp lực của công việc khiến con người muốn nghỉ ngơi sau những ngày lao động vất vả, hơn nữa sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật con người có thời gian rỗi nhiều hơn, làm nẩy sinh nhu cầu đi du lịch.
  • Do điều kiện sống của nhân dân được cải thiện, mức sống của con người được nâng cao, họ có khả năng chi trả cho những chi phí phát sinh khi đi du lịch.
  • Trình độ nhận thức của người dân được nâng lên, đi du lịch là để thể hiện mình, để mở mang kiến thức và để mở rộng mối quan hệ với mọi người xung quanh.

1.4.4.2. Xã hội hóa thành phần du khách

Nửa đầu thế kỷ XX du lịch trở thành một trong những lĩnh vực kinh doanh của thế giới và là một hoạt động giải trí dành cho tầng lớp thượng lưu. Đối tượng khách ban đầu chỉ là những thương nhân, thương gia có điều kiện về kinh tế đi du lịch một mặt là tìm kiếm thị trường, một mặt để giải trí thưởng ngoạn cảnh đẹp. Song thành phần du khách có sự thay đổi từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Du lịch không chỉ dành riêng cho tầng lớp trên trong xã hội mà xu thế quần chúng hóa thành phần du lịch trở lên phổ biến. Du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Khách du lịch hiện nay thuộc đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp, lứa tuổi trong xã hội, họ đi du lịch là để nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu… và đặc biệt đi du lịch là để “khẳng định mình”.

1.4.4.3. Mở rộng địa bàn Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

Hoạt động du lịch hiện nay diễn ra ở khắp mọi nơi có tiềm năng và sức hấp dẫn đối với du khách, từ vùng biển đến miền núi, từ nông thôn ra thành thị. Trước kia du lịch theo hướng từ Bắc đến Nam luôn hấp dẫn nhiều du khách nhất, thì hiện nay du lịch có xu hướng phát triển từ Đông sang Tây. Đặc biệt thế kỷ thứ 21 được coi là thế kỷ của các nước thuộc Châu Á Thái Bình Dương. Số lượng người đến đây để tìm cơ hội làm ăn, ký kết hợp đồng, nghiên cứu các điều kiện đầu tư,… Một số khác đến đây vì cảnh quan hay vì nền văn hóa phương Đông đầy bản sắc và phần nào kỳ bí và hấp dẫn họ. Khi cuộc sống hàng ngày với những công việc khá căng thẳng, con người thường muốn được nghỉ ngơi tìm về với thiên nhiên, hòa mình với tự nhiên hoặc đi đến những vùng có văn hóa khác biệt, có nhiều nét hấp dẫn, mới lạ. Chính vì vậy địa bàn du lịch ngày càng được mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách.

1.4.4.4. Kéo dài thời vụ du lịch

Du lịch mang tính mùa vụ rất rõ rệt, du lịch phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên. Ngày nay để khắc phục tính mùa vụ người ta đã mở rộng các loại hình du lịch, dịch vụ. Bên cạnh đó với sự phát triển của kinh tế, văn hóa và khoa học con người liên tiếp tổ chức các sự kiện nhằm kéo dài thời gian mùa vụ cho các điểm đến du lịch.Ví dụ như đặc điểm du lịch nghỉ biển ở Việt Nam, do ảnh hưởng của yếu tố thời tiết, loại hình du lịch này chỉ thích hợp cho phát triển du lịch từ tháng 4 đến tháng 9, điều này gây khó khăn cho việc phát triển du lịch ở các địa phương có điều kiện phát triển du lịch nghỉ biển. Để hạn chế tính mùa vụ này, thì có chính sách quảng cáo, tổ chức các sự kiện đặc biệt để thu hút khách ngoài mùa vụ du lịch.

Tóm lại: Trên đây là những vấn đề lý luận về du lịch, xu hướng phát triển du lịch hiện nay và tài nguyên du lịch. Với việc đưa ra những khái niệm, những lý luận của các học giả nhằm giúp em nhận định rõ về đề tài nghiên cứu của mình. Từ đó giúp em có cái nhìn khái quát hơn về những vấn đề mà em sẽ trình bày và giải quyết trong những phần sau. Như việc đánh giá tổng hợp hơn về tài nguyên mà trong phạm vi đề tài nghiên cứu cũng như xu hướng phát triển du lịch hiện nay để vận dụng vào trong việc khai thác phát triển các tài nguyên du lịch trên địa bàn quận Hải An. Khóa Luận: Phục vụ khai thác phát triển du lịch quận Hải An.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng khai thác tài nguyên du lịch quận Hải An

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x