Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Các quy định pháp luật hiện hành về áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam
Liên quan đến vấn đề áp dụng án lệ, Điều 6 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự. 2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này,án lệ, lẽ công bằng.” Quy định trên cho thấy rõ được thứ tự ưu tiên áp dụng các loại nguồn pháp luật trong quá trình giải quyết một tranh chấp dân sự cụ thể. Pháp luật đã chú trọng tới việc áp dụng các quy tắc của tập quán, án lệ, lẽ công bằng trong việc giải quyết tranh chấp giữa các bên. Bộ luật dân sự là luật chung có đối tượng điều chỉnh rộng lớn, Bộ luật này luôn được ví là “Hiến pháp của luật tư”. Quy định như trên là xuất phát từ căn cứ: quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực dân sự vốn rất đa dạng, được điều chỉnh không chỉ bởi Bộ luật Dân sự mà còn bởi nhiều luật chuyên ngành khác. Vì vậy, để quyền dân sự của các chủ thể được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện thì đòi hỏi phải có sự đồng bộ, thống nhất của cả hệ thống pháp luật tư, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Bộ luật dân sự [11]. Bộ luật này không chỉ đóng vai trò là bộ luật nền, có tính định hướng cho việc hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống luật tư mà còn là cơ sở pháp lý để giải quyết các quan hệ dân sự trong trường hợp không có quy định của luật chuyên ngành. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã dành một mục: Giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có luật để áp dụng từ Điều 43 đến Điều 45. Việc quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì nhân dân”. Là một nhà nước pháp quyền, thì nhà nước ấy phải vì con người, hướng tới con người và tất cả vì con người. Nhà nước phải bảo đảm các quyền con người, quyền công dân được thực thi trong thực tế, trong đó có quyền được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ khi có tranh chấp mà trọng tâm, chủ yếu là việc giải quyết của Tòa án nhân dân trong hoạt động xét xử [23]. Điều 45 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng, trong đó khoản 3 Điều này quy định về việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng. Theo đó: “Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5 và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự.
Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố.Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó”.
Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2015 đã mở rộng các loại nguồn pháp luật khi coi các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng là nguồn pháp luật. Trong khi đó, Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ đề cập đến hai nguồn pháp luật được sử dụng khi chưa có luật thành văn điều chỉnh là tập quán pháp và quy định tương tự của pháp luật.
Việc quy định này cũng góp phần tích cực trong việc hình thành hệ thống án lệ theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Việc thừa nhận án lệ trong hệ thống pháp luật góp phần to lớn vào việc bổ sung những khiếm khuyết, những “lỗ hổng” của pháp luật, bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của người dân nói chung và của các thương nhân nói riêng.Việc phát triển hệ thống án lệ không những giải quyết kịp thời quyền lợi của các chủ thể, mà còn phù hợp với thông lệ thế giới. Đồng thời, quy định này sẽ tạo điều kiện cho thẩm phán chủ động sáng tạo trong hoạt động xét xử [23]. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xác định: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Quy định về nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, tại điểm c khoản 2 Điều 22 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 ghi rõ: “Lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”. Theo đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao” (ban hành theo Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012), mục tiêu phát triển án lệ của tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) nhằm nâng cao chất lượng bản án, quyết định của ngành Tòa án nói chung, đặc biệt là Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao và các Tòa chuyên trách tòa án nhân dân tối cao, góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng, thống nhất, từ đó đảm bảo sự bình đẳng của mọi tổ chức và công dân trước pháp luật. Đề án cũng xác định quan điểm chỉ đạo, để hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử.
Ngày 28/10/2015, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NĐ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/12/2015. Đây là một bước tiến quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp của Việt Nam, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014. Án lệ không phải là thuật ngữ hoàn toàn mới trong khoa học pháp lý hay nền lập pháp của Việt Nam, lịch sử pháp lý đã có những quy định về án lệ nhưng chỉ đến Nghị quyết số 03 thì những quy định về án lệ mới thực sự được “thay một lớp áo mới”, quan trọng hơn và có tính áp dụng cao hơn. Quy trình lựa chọn, công bố án lệ là những vấn đề mới cần được phân tích, đánh giá làm sáng tỏ để có nhận thức thống nhất trong quá trình triển khai thực hiện.Điều 1 Nghị quyết số 03/2015/NQ- HĐTP quy định khái niệm về án lệ: “Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể”. Điều 2 của Nghị quyết tiếp tục cụ thể hóa nội hàm của khái niệm án lệ: “Những lập luận làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, phân tích giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý quy phạm pháp luật cần áp dụng”. Nếu căn cứ vào khái niệm trên đây thì cho đến thời điểm hiện tại, có thể tạm phân loại án lệ ở Việt Nam thành hai loại chính đó là: (i) Án lệ mang tính chất giải thích pháp luật là những lập luận làm rõ quy định của pháp luật còn có những cách hiểu khác nhau; (ii) Án lệ là phân tích, giải thích các vấn đề sự kiện pháp lý làm cơ sở cho Tòa án chỉ ra nguyên tắc đường lối xử lý hoặc quy phạm pháp luật cần áp dụng.
Thứ nhất, án lệ mang tính chất giải thích pháp luật là những lập luận làm rõ quy định của pháp luật còn có những cách hiểu khác nhau. Loại án lệ này được xác lập để Tòa án bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong trường hợp nội dung văn bản quy phạm pháp luật cần áp dụng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Hiện nay, trên thực tế, đã xảy ra nhiều trường hợp không có sự thống nhất về nhận thức giữa cơ quan tiến hành tố tụng với nhau hoặc giữa cơ quan tiến hành tố tụng với đương sự về việc áp dụng các quy định cụ thể của pháp luật tố tụng hoặc quy định của pháp luật nội dung để giải quyết một tranh chấp. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Thứ hai, án lệ là phân tích, giải thích các vấn đề sự kiện pháp lý làm cơ sở cho Tòa án chỉ ra nguyên tắc đường lối xử lý hoặc quy phạm pháp luật cần áp dụng. Loại án lệ này được xác lập trong bối cảnh có những vụ việc dân sự mà vấn đề pháp lý cần được giải quyết chưa được pháp luật quy định hoặc các bên không có thỏa thuận.
Khoản 2 điều 8 Nghị quyết số 03/2015/NĐ-CP quy định: “Khi xét xử, thẩm phán, hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau được giải quyết như nhau. Trường hợp áp dụng án lệ thì tính chất, tình tiết của vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết của vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải được viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án quyết định của Tòa án”. Như vậy, theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 8 để áp dụng án lệ thì cần phải xác định hai vấn đề là các tình tiết khách quan và các vấn đề pháp lý cần được giải quyết trong vụ việc mà Tòa án đã thụ lý có giống với các tình tiết khách quan và vấn đề pháp lý đã được giải quyết trong bản án, quyết định là án lệ hay không. Theo tác giả Lê Mạnh Hùng trong quá trình nghiên cứu, áp dụng án lệ cần phải lưu ý một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, nguồn gốc của sự giống nhau giữa các tranh chấp thương mại này với tranh chấp thương mại khác là xuất phát từ cùng một loại quan hệ pháp luật tranh chấp – pháp luật thương mại. Tuy nhiên, cũng phải khẳng định trên thực tế sẽ không bao giờ có hai tranh chấp đồng nhất và giống nhau hoàn toàn về mặt tình tiết khách quan của vụ việc. Do đó, sẽ là phi thực tế nếu cho rằng án lệ chỉ được áp dụng khi và chỉ khi các tình tiết khách quan của tranh chấp đang giải quyết phải giống hoàn toàn so với các tình tiết khách quan của tranh chấp mà trong bản án hoặc quyết định có chứa án lệ. Ở các quốc gia mà Tòa án áp dụng án lệ để xét xử thì án lệ được áp dụng khi các tình tiết khách quan cơ bản của tranh chấp thương mại đang giải quyết được xác định tương tự với các tình tiết khách quan cơ bản của vụ việc, vụ án hoặc các tranh chấp mà bản án hoặc quyết định có chứa đựng án lệ. Các tình tiết khách quan cơ bản trong một vụ tranh chấp là các tình tiết chính của vụ việc đó, phản ánh về nội dung mối quan hệ pháp luật đang phát sinh tranh chấp hoặc đang có yêu cầu giải quyết. Nói cách khác, đây là những tình tiết quan trọng làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự. Như vậy, đây là cách tiếp cận phù hợp nhất để vận dụng trong việc thống nhất nhận thức về hướng dẫn “những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau”. Theo đó, chỉ được áp dụng án lệ khi các tranh chấp thương mại đang được giải quyết có sự tương đồng về những tình tiết khách quan cơ bản so với tranh chấp mà trong bản án, quyết định có chứa đựng án lệ. Nếu các tình tiết khách quan cơ bản chỉ giống nhau một phần hoặc phần lớn thì không được áp dụng án lệ [7]. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Thứ hai, trong mỗi vụ tranh chấp thì các vấn đề pháp lý mà các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết là khác nhau, trong đó có vấn đề pháp lý thì đã được pháp luật quy định rõ, hướng dẫn chi tiết những cũng có vấn đề pháp lý lại chưa được pháp luật quy định hoặc quy định chưa rõ và chưa chi tiết để thực hiện. Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xác định, lựa chọn các quy định cụ thể của pháp luật phù hợp để áp dụng hoặc đưa ra nguyên tắc, đường lối xử lý để giải quyết nếu vấn đề pháp lý trong vụ tranh chấp chưa được điều chỉnh bằng pháp luật hoặc chưa được pháp luật quy định và các bên không có sự thỏa thuận. Như vậy, khi đã có án lệ, thì thẩm phán, hội thẩm phải xem xét, so sánh vấn đề pháp lý cần được giải quyết trong tranh chấp mà Tòa án đã thụ lý với vấn đề pháp lý đã được giải quyết bằng án lệ nhằm tìm ra sự tương đồng hay khác biệt, làm cơ sở quyết định áp dụng hay không áp dụng án lệ đó. Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý trên phương diện áp dụng pháp luật, thì án lệ bao gồm hai loại: án lệ về áp dụng pháp luật nội dung và án lệ áp dụng pháp luật tố tụng. Do đó, tùy từng vụ việc dân sự mà tòa án áp dụng một trong hai loại án lệ nêu trên để giải quyết. Tuy nhiên, việc phân loại án lệ cũng chỉ mang tính chất tương đối, án lệ về áp dụng pháp luật tố tụng được xác lập trên nền tảng các quy định của pháp luật nội dung [7].
Như vậy, việc áp dụng án lệ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta cũng như tạo điều kiện cho pháp luật được xét xử thống nhất tại Tòa án. Tuy nhiên, đây là một phương thức mới để thực hiện được sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc nghiên cứu, quá trình lựa chọn, công bố, áp dụng của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2. Thực tiễn áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam, án lệ đã từng được sử dụng trong giai đoạn đầu khi mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bên cạnh các văn bản của chính phủ, án lệ đã từng được coi là một loại nguồn quan trọng của pháp luật. Tuy nhiên, càng về sau, án lệ không được coi trọng nữa. Khi nhà nước đã khẳng định trong Hiến pháp nguyên tắc: “Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” thì cũng có nghĩa là án lệ không được coi là nguồn của pháp luật. Tuy nhiên, trong thực tế, Việt Nam vẫn có án lệ, nhưng theo một cách khác. Tòa án nhân dân tối cao vẫn thường làm công tác tổng kết một số loại vụ, việc để từ đó đề ra đường lối, hướng dẫn cách giải quyết những vụ việc tương tự cho các tòa án địa phương. Có thể coi đây là một biến dạng của án lệ [9, tr. 234 – 235]. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Ngày 06/4/2016, Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao đã thông qua sáu (06) án lệ và công bố theo Quyết định số 220/QĐ – CA của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Ngày 17/10/2016, Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao thông qua bốn (04) án lệ và công bố theo Quyết định số 698/QĐ – CA của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, tính đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam tòa án nhân dân tối cao đã công bố mười (10) án lệ chính thức sẽ được áp dụng trong công tác xét xử tại Tòa án. Trong 10 bản án lệ được công bố có hai án lệ có nội dung liên quan đến lĩnh vực thương mại là Án lệ số 8 (Tranh chấp về hợp đồng tín dụng tại Hà Nội về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi xuất trong hợp đồng tín dụng) và Án lệ số 9 (Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại tỉnh Bắc Ninh về xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường và việc trả lãi trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại). Liên quan đến vấn đề tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại án lệ số 9 các luật sư của công ty luật TNHH LNT và thành viên đã có một số bình luận và phân tích như sau [2]:
Nội dung vụ án: Công ty Cổ phần thép Việt Ý (“Bên Mua” ) và Công ty kim khí Hưng Yên (“Bên Bán”) có ký 04 Hợp đồng kinh tế mua phôi thép vào các ngày 03-10-2006, 20-12-2006 và 01-02-2007.Mặc dù Bên Mua đã tiến hành thanh toán và ứng trước một số tiền cho Bên Bán. Tuy nhiên đến hạn giao hàng, Bên Bán vẫn không giao đủ số hàng mà hai bên đã thỏa thuận.Theo đó, Bên Mua đã khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu hoàn trả lại số tiền đã ứng trước và buộc Bên Bán bồi thường mọi thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ giao hàng, thanh toán tiền phạt vi phạm và tiền lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 28.145.956.647 đồng.
Vấn đề pháp lý được giải quyết trong án lệ:
Lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường: Trường hợp vi phạm nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa, Bên Mua có quyền yêu cầu hoàn trả lại số tiền đã ứng trước cho Bên Bán. Đồng thời, phải trả lãi do chậm thanh toán số tiền trên theo Điều 306 Luật thương mại 2005.
Tuy nhiên, việc xác định lãi suất theo Điều 306 lại là một bài toán khó. Theo đó, lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường được tính theo lãi suất trung bình của các ngân hàng thương mại (Bản án 42/2008/KDTMPT, Bản án 419/2015/KDTM-ST,…) hoặc theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước ban hành (Bản án 24/2014/KDTM-PT, Bản án 16/2014/KDTM- PT,…) hoặc tính theo lãi suất cho vay liên ngân hàng (Bản án 78/2014/KDTM-ST, Bản án 02/2015/KDTM-ST,…). Nhìn chung, cách xác định lãi suất trên đây là hoàn toàn dựa vào ý kiến chủ quan của Hội đồng xét xử. Nó đã tạo ra sự không thống nhất trong công tác giải thích pháp luật cũng như áp dụng pháp luật giữa Tòa sơ thẩm và Tòa tối cao.
Về việc trả lại trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại. Điều 306 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Nếu căn cứ vào quy định trên thì số tiền phạt vi phạm hoặc bồi thường thiệt hại sẽ không thuộc vào đối tượng bị điều chỉnh theo Điều 306.
Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Vấn đề ở đây là phải xác định được lãi suất trên số tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
Hướng giải quyết của án lệ: Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Đối với số tiền ứng trước mà không nhận được hàng của 04 hợp đồng kinh tế, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định chính xác số tiền và buộc Công ty Hưng Yên phải trả lại cho Công ty Việt Ý. Đối với lãi suất quá hạn do chậm thanh toán áp dụng theo Điều 306 Luật thương mại 2005, Tòa án thiết lập công thức tính lãi suất nợ quá hạn này như sau: Lãi suất nợ quá hạn do chậm thanh toán bằng (=) lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất ba ngân hàng tại địa phương (Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam…). Đối với yêu cầu phạt vi phạm, Tòa chấp nhận yêu cầu Bên Bán phải thanh toán số tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ giao hàng. Tuy nhiên, Tòa xác định không tính lãi trên số tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại đó [2, tr.25].
Giá trị mà án lệ số 09 đem lại:
Về cách tính lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường. Án lệ này ra đời đã giải quyết những vướng mắc tại Điều 306 Luật thương mại 2005 liên quan đến cách xác định lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường, góp phần đảm bảo hệ thống văn bản pháp luật thực hiện theo nguyên tắc, một điều luật chỉ được lý giải theo một cách hiểu duy nhất.
Xét thấy cách lý giải này là hợp lý, bởi nó đưa ra hướng tiếp cận phù hợp nhất với quy định tại Điều 306 Luật thương mại, đồng thời tiệm cận hơn với những quy định mới trong Bộ luật Dân sự 2015: khái niệm lãi suất cơ bản không còn nữa, các căn cứ tính lãi đều dựa vào lãi suất các bên thỏa thuận, trả lại quyền năng trong việc tự định đoạt lãi suất của các ngân hàng.
Tuy vậy, bên cạnh những giá trị mà án lệ mang lại thì vẫn tồn tại những hạn chế nhất định:
Thứ nhất, đối tượng lấy lãi suất nợ quá hạn là các “ngân hàng”. Ngân hàng bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Nếu quy định như vậy, người áp dụng có thể dùng lãi suất của ngân hàng chính sách hoặc hợp tác xã để tính trung bình. Tuy nhiên, lãi suất của các ngân hàng này rất thấp, chỉ nhằm mục đích hỗ trợ và điều hòa vốn, không nhằm mục đích lợi nhuận. Mặt khác, lãi suất nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại cơ bản là ổn định và mang tính cạnh tranh trên thị trường. Theo đó, nếu chỉ rõ đối tượng là các ngân hàng thương mại sẽ phù hợp hơn với thị trường Việt Nam [2, tr.26]. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Thứ hai,con số ngân hàng để lấy lãi suất tính trung bình vẫn còn bỏ ngỏ. Án lệ chỉ đưa ra giới hạn sàn, không đưa ra giới hạn trần hay một con số ngân hàng cụ thể. Việc tính trung bình với sự tham gia của càng nhiều ngân hàng thì con số sẽ càng đến gần hơn đến mặt bằng chung lãi suất tại thời điểm thanh toán. Tuy nhiên, sự chênh lệch lãi suất là điều không thể tránh khỏi khi so sánh một phép tính dùng ba (03) ngân hàng và một phép tính dùng năm (05) hoặc nhiều ngân hàng hơn làm căn cứ. Sự chênh lệch dù ít dù nhiều vẫn dẫn đến những mâu thuẫn và tranh chấp giữa các bên. Đặc biệt, nếu sự chênh lệch lãi suất đó được đặt trong bối cảnh giá trị dư nợ lớn, mức chênh lệch theo đó sẽ càng nhiều. Trường hợp này Tòa án sẽ lấy căn cứ nào để xác định? Cuối cùng vấn đề này vẫn thuộc về Thẩm phán, sự tồn tại của án lệ trong trường hợp này dường như là vô nghĩa [2, tr.26-27].
Thứ ba, án lệ đã giới hạn phạm vi để chọn các ngân hàng làm căn cứ tính lãi suất. Các ngân hàng được chọn phải là ở “địa phương”. Tuy nhiên, điều này làm cho người áp dụng cảm thấy bối rối khi xác định. Địa phương ở đây được hiểu như thế nào, nơi xảy ra vụ việc, nơi cư trú của nguyên đơn, bị đơn hay nơi thi hành án,… Tòa án đã khoanh vùng phạm vi nhưng quy định không rõ lại làm người áp dụng trở nên lúng túng hơn [2, tr.27].
Về việc trả lãi suất trên số tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại. Hiện tại, quy định về lãi suất do chậm thanh toán đứng tách riêng thành một điều độc lập trong phần chế tài của Luật thương mại năm 2005. Như vậy, có thể hiểu việc tính lãi do chậm thanh toán là một chế tài bên cạnh chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. Do đó, nếu tính lãi suất trên số tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, hóa ra chế tài chồng chế tài. Đồng thời, căn cứ vào Điều 305 Luật thương mại năm 2005, thì tiền phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại không thuộc đối tượng tính lãi do chậm thanh toán. Do vậy, quy định án lệ này là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên [2, tr.27].
Việt Nam đang hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.Việc làm quen với “văn hóa án lệ” là một điều tất yếu nếu chúng ta không muốn bị mất vị thế của mình trong các vụ kiện có yếu tố nước ngoài. Tranh chấp dưới đây là một minh chứng điển hình cho vấn đề mà người viết muốn đề cập tới.
Năm 1995, Công ty TNHH Tyco ký kết hợp đồng với Công ty TNHH Leighton về việc xây dựng một khu nghỉ mát tại miền Trung Việt Nam. Hai bên thỏa thuận tranh chấp sẽ do Trọng tài thương mại tại Queensland (Úc) giải quyết. Khi có tranh chấp, Trọng tài Queensland đã thụ lý vụ kiện và phán quyết theo hướng có lợi cho Tyco, sau đó được chuyển về đề nghị công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Ngày 23.5.2002, Tòa kinh tế Tòa án nhân dân TP.HCM đã công nhận phán quyết trọng tài và cho thi hành tại Việt Nam. Công ty Leighton không chấp nhận với lý lẽ cho rằng hợp đồng tranh chấp là hợp đồng về xây dựng, nên quan hệ hợp đồng này không phải là quan hệ thương mại theo Luật thương mại năm 1997 (xây dựng không phải là hành vi thương mại theo luật này). Toà án bác bỏ lý lẽ của Công ty Leighton và giải thích rằng hợp đồng được ký trước khi Luật thương mại năm 1997 có hiệu lực, do đó không thể kết luận các giao dịch đưa ra trong hợp đồng không mang bản chất thương mại vào thời điểm ký kết hợp đồng.
Công ty Leighton khiếu nại lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại TP.HCM, còn Công ty Tyco đề nghị Bộ Tư pháp giải thích tính áp dụng của Luật thương mại năm 1997. Tháng 8.2002, Bộ Tư pháp có ý kiến rằng: trước Luật thương mại 1997, không có sự phân biệt nào giữa hành vi thương mại và hành vi phi thương mại, do đó không thể cho rằng các giao dịch trong hợp đồng ký năm 1995 không có bản chất thương mại. Với quan điểm của Bộ Tư pháp, phán quyết của trọng tài Queensland đủ điều kiện công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
Tháng 01.2003, Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã xem xét lại vụ việc và bác quyết định của Tòa kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân tối cao phán quyết rằng các giao dịch trong hợp đồng năm 1995 của Leighton và Tyco liên quan tới hoạt động xây dựng không mang bản chất thương mại theo pháp luật Việt Nam khi đó cũng như theo Luật thương mại năm 1997. Như vậy, phán quyết của Trọng tài Queensland không đủ điều kiện để được công nhận và thi hành tại Việt Nam.
Có sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và quốc tế về khái niệm thương mại. Trong hệ thống pháp luật truyền thống của các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, cách hiểu thương mại thường là theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hành vi kinh doanh như sản xuất mua bán dịch vụ. Trong Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ, nội dung thương mại còn bao gồm cả lĩnh vực sở hữu trí tuệ vốn còn rất xa lạ trong quan niệm thương mại của Việt Nam. Trong Bộ luật thương mại Pháp, người ta liệt kê một loại các hành vi thương mại theo đó mọi hành vi từ sản xuất, khai thách hầm mỏ, nguyên liệu đem bán, chế biến sản phẩm, mua bán các hoạt động giải trí, môi giới, trung gian, thương mại, ngân hàng hối đoái,.. đều được xem là hành vi thương mại. Ngược lại, trong Luật thương mại Việt Nam năm 1997, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại là những hành vi thương mại theo liệt kê như: mua bán hàng hóa, đại diện, đại lý, môi giới, gia công, giám định, quảng cáo, khuyến mại… Đây là quan niệm thương mại theo nghĩa hẹp tức là chỉ bao gồm hoạt động mua bán hàng hóa và những tác vụ trực tiếp có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa. Luật thương mại năm 2005 tuy đưa ra định nghĩa về hoạt động thương mại là những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác; song lại tự giới hạn phạm vi điều chỉnh của luật ở những hành vi mà về cơ bản giống như Luật thương mại năm 1997, còn những lĩnh vực khác được điều chỉnh bởi luật chuyên ngành có liên quan [10]. Thực tế này có thể dẫn đến cách hiểu không thống nhất trong việc giải quyết tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
Nếu án lệ được vận dụng thì sẽ trở nên dễ dàng hơn. Theo đó ở hầu hết các quốc gia kinh tế thị trường, các hành vi xây dựng không tách rời với hoạt động thương mại. Có nhiều vụ tranh chấp về xây dựng được giải quyết dưới tác động của việc tham chiếu đến các bản án đã có từ trước. Các thẩm phán hoàn toàn có thể dựa vào đó làm cơ sở để đưa ra những phán quyết hoặc công nhận phán quyết của các cơ quan trọng tài. Theo cách lý giải này, một cơ quan trọng tài thương mại hoàn toàn có thể thụ lý và đưa ra phán quyết. Phán quyết sẽ được công nhận và thi hành tại Việt Nam qua một thủ tục pháp lý tương tự việc thi hành các bản án của toà án, trọng tài trong nước. Trong quan hệ thương mại quốc tế, nhiều khi một hợp đồng lại liên quan đến pháp luật của nhiều nước khác nhau. Chẳng hạn: một công ty của Anh ký kết hợp đồng mua bán với một công ty của Đức. Hợp đồng này được thiết lập ở Pháp, hàng hoá được xếp xuống tàu tại một cảng của Achentina để vận chuyển đến một cảng của Đan Mạch trên một con tàu của Hà Lan. Nếu tranh chấp phát sinh giữa các bên trong hợp đồng này, rõ ràng việc chọn luật để giải quyết tranh chấp nhiều khi rất phức tạp, nhất là khi xảy ra tình trạng xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế sẽ làm trầm trọng thêm các quan hệ [10]. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Đặt vấn đề này trong bối cảnh của việc thực hiện pháp luật tại Việt Nam, hệ thống pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, bất cập, trong khi đó sự xuất hiện liên tục những yếu tố mới trong giao dịch như thương mại điện tử chẳng hạn, nhà kinh doanh sẽ gặp nhiều trắc trở và dễ bị tổn thương do cách hành xử không theo kịp thực tế của các cơ quan công quyền.
2.3. Những bất cập chủ yếu liên quan tới áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam hiện nay và nguyên nhân của những bất cập đó
2.3.1. Những bất cập chủ yếu liên quan tới áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam hiện nay
Trên thực tế, việc áp dụng áp dụng án lệ hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập.
Thứ nhất, án lệ để giải quyết tranh chấp thương mại được công nhận còn ít. Trong 10 án lệ được thông qua và công bố mới chỉ có 2 án lệ về lĩnh vực thương mại. Không những thế bên cạnh những giá trị pháp lý tích cực mà mười án lệ đầu tiên được công bố mang lại, những án lệ ấy vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế. Có thấy lấy ví dụ về án lệ số 9: án lệ đã giới hạn phạm vi để chọn các ngân hàng làm căn cứ tính lãi suất. Các ngân hàng được chọn là ở “địa phương”. Điều này làm cho người áp dụng cảm thấy bối rối khi phải xác định địa phương ở đây được hiểu như thế nào. Hay việc, con số ngân hàng để lấy lãi suất tính trung bình trong án lệ số 9 vẫn còn bỏ ngỏ. Án lệ chỉ đưa ra giới hạn sàn, không đưa ra giới hạn trần hay một con số ngân hàng cụ thể. Việc tính trung bình với sự tham gia của càng nhiều ngân hàng thì con số sẽ càng đến gần hơn mặt bằng chung của lãi suất tại thời điểm thanh toán. Tuy nhiên, sự chêch lệch lãi suất là điều không thể tránh khỏi khi so sánh một phép tính dùng 03 ngân hàng và một phép tính dùng 05 hoặc nhiều ngân hàng hơn làm căn cứ. Sự chênh lệch dù ít dù nhiều vẫn dẫn đến những mâu thuẫn và tranh chấp giữa các bên.
Thứ hai, các thẩm phán vẫn quen với việc áp dụng các quy định của văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại nói riêng. Do đó, các thẩm phán còn lúng túng khi có tranh chấp xảy ra mà chưa có luật thành văn để áp dụng.
Thứ ba, còn thiếu các hướng dẫn chi tiết cần thiết để áp dụng án lệ nói chung và các án lệ có liên quan đến lĩnh vực thương mại nói riêng, trong khi hiểu biết và kỹ năng của thẩm phán và luật sư còn nhiều hạn chế trong lĩnh vực này.
Thứ tư, hiện có rất ít các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn liên quan tới áp dụng án lệ nói chung và việc áp dụng các án lệ thương mại nói riêng. Vì vậy hầu như không có những tập tài liệu tập hợp hay tuyển chọn, sưu tập có liên quan đến án lệ.
2.3.2. Nguyên nhân của những bất cập chủ yếu liên quan tới áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam hiện nay Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Có thể thấy các nguyên nhân của những bấp cập chủ yếu đã phân tích ở trên như sau:
Thứ nhất, án lệ vừa mới được công nhận ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Trong suốt một thời gian dài hệ thống tư pháp nước ta đã quen với việc sử dụng luật thành văn như là một nguồn pháp luật chủ yếu và lấy đó làm chuẩn mực trong xét xử. Chính vì vậy, áp dụng án lệ cần có lộ trình. Quá trình áp dụng án lệ ở nước ta mới đang ở trong giai đoạn đầu, tức là mới đang ở giai đoạn nghiên cứu, rà soát, lựa chọn và công bố án lệ. Tính đến thời điểm hiện tại chưa có bất kỳ một tranh chấp nào được giải quyết bằng việc áp dụng án lệ.
Thứ hai, việc xét xử tuân theo án lệ là một quá trình rất phức tạp đòi hỏi vai trò rất lớn của người thẩm phán nói riêng và đội ngũ cán bộ trong ngành tòa án nói chung. Xử theo án lệ dành rất nhiều chỗ trong bản án cho những quan điểm cũng như sự lập luận của người thẩm phán đối với quan hệ pháp luật tranh chấp chứ không đơn thuần là áp dụng các quy phạm pháp luật sẵn có. Thông qua đó, mỗi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoàn toàn có thể trở thành một án lệ mới hoặc bãi bỏ án lệ đã ban hành trước đây nếu án lệ không còn thực sự phù hợp và hết giá trị áp dụng trong thực tế. Trên thực tế, các thẩm phán, luật sư ở Việt Nam đều được đào tạo trong một môi trường pháp lý chịu nhiều ảnh hưởng của dòng họ Civil Law dòng họ pháp luật coi trọng sự pháp điển hóa. Do đó, việc sáng tạo ra các quy phạm pháp luật mới hay dựa vào chính khả năng của bản thân để đưa ra một phán quyết có tính chuẩn mực chung trong xét xử là điều không phải dễ dàng thực hiện được. So với các thẩm phán và các luật gia trong hệ thống pháp luật Common Law thì điều này có vẻ dễ dàng hơn với họ khi mà không nhất thiết họ phải tuân thủ một cách tuyệt đối pháp luật thành văn có từ trước liên quan đến quan hệ pháp luật tranh chấp. Hơn nữa, năng lực của đội ngũ cán bộ, thẩm phán trong ngành Tòa án nhìn chung vẫn còn tồn tại một số rào cản nhất định cho quá trình áp dụng án lệ trong xét xử và giải quyết tranh chấp có sử dụng án lệ. Phần lớn đội ngũ các thẩm phán, cán bộ công chức đặc biệt là cán bộ có chức danh tư pháp đều được đào tạo bài bản. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ, Thẩm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ; tinh thần trách nhiệm trong công tác chưa cao, nên ảnh hưởng tới hiệu quả công tác; cá biệt còn có những cán bộ, Thẩm phán có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự [27].
Thứ ba, việc công bố các bản án, quyết định của tòa án có chứa đựng sự chuẩn mực trong việc áp dụng áp dụng pháp luật, hoặc các trường hợp xử lý, giải quyết của mỗi vụ án đứng trước khó khăn khi chưa có luật áp dụng chưa được thực hiện một các thường xuyên, gây khó khăn cho việc tiếp cận trong nhân dân, trong đó không thể không nói đến một bộ phận lớn các thương nhân.
Tiểu kết Chương 2 Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
Ngày 28/10/2015, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP đánh dấu một sự chuyển mình mạnh mẽ của toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam. Án lệ đã chính thức được công nhận và đưa vào áp dụng trong xét xử tại Tòa án nhân dân. Với những ưu điểm sẵn có, án lệ có khả năng khắc phục những lỗ hổng của pháp luật nhanh chóng và kịp thời, giúp đưa pháp luật vào thực tiễn một cách dễ dàng hơn, góp phần tạo sự thống nhất trong công tác xét xử giữa các cấp tòa án.
Với một lĩnh vực có nhiều thay đổi và biến động như lĩnh vực thương mại thì việc áp dụng án lệ trong quyết tranh chấp thương mại là một điều tất yếu. Khi luật thành văn đã bộc lộ những hạn chế nhất định trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại. Bởi có những quan hệ pháp luật tranh chấp không được tìm thấy trong các văn bản quy phạm pháp luật sẵn có. Việc án lệ được chính thức công nhận tại Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế trong lĩnh vực thương mại.
Tuy nhiên, quá trình áp dụng án lệ ở Việt Nam mới đang ở trong giai đoạn đầu, tức là mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, rà soát, công bố án lệ chính thức. Hiện nay, chưa có bất kỳ một tranh chấp thương mại nào được xử theo án lệ, điều này chứng tỏ cần thêm thời gian để chứng minh “sức sống trong thực tiễn đời sống pháp lý của án lệ”. Việc chỉ ra những bất cập liên quan đến áp dụng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam là cơ sở để người viết đưa ra những kiến nghị ở Chương 3 của Khóa luận. Khóa luận: Thực trạng án lệ giải quyết tranh chấp thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp án lệ giải quyết tranh chấp thương mại
