Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay bên cạnh thị trường chứng khoán, có ngày càng nhiều các tổ chức tài chính ra đời và đang mở rộng hoạt động ở nước ta nhưng khả năng huy động vốn không nhiều. Qúa trình nhận và truyền vốn trên thị trường chủ yếu thực hiện thông qua các Ngân hàng Thương mại và Thị trường Tín dụng. Với các Ngân hàng Thương Mại với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có một vai trò hết sức quan trọng. Ngân hàng Thương mại là đơn vị chủ yếu cung cấp vốn thu lãi. Nhưng để cung cấp đủ vốn đáp ứng nhu cầu thị trường, ngân hàng sẽ phải huy động vốn từ bên ngoài. Vì vậy, các Ngân hàng Thương mại rất chú trọng đến vấn đề huy động vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh của mình.

Tại Việt Nam việc huy động vốn của ngân hàng còn nhiều bất hợp lý dẫn tới chi phí vốn cao, quy mô không ổn định, việc tài trợ cho các danh mục tài sản không còn phù hợp với quy mô, kết cấu từ đó làm hạn chế khả năng sinh lời, buộc ngân hàng phải đối mặt với các loại rủi ro,…Do đó việc tăng cường huy động vốn từ bên ngoài với chi phí hợp lý và sự ổn định cao là yêu cầu ngày càng trở lên cấp thiết và quan trọng.

Là một ngân hàng non trẻ – Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải phòng đã và đang từng bước khẳng định vị trí của mình trong hệ thống các ngân hàng và chi nhánh trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Trong định hướng phát triển, tăng cường huy động vốn vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của ngân hàng. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của hệ thống ngân hàng cũng như sự tham gia ngày càng nhiều của các tổ chức tài chính phi ngân hàng đòi hỏi ngân hàng phải có các giải pháp huy động vốn đúng đắn và thich hợp. Chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài: “ Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng”.

2. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài.

Xuất phát từ lí luận về huy động vốn của Ngân hàng Thương mại, chuyên đề phân tích, đánh giá thực trạng nguồn vốn, huy động vốn từ bên ngoài của ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Chi nhánh Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn góp phần nâng cao kết quả kinh doanh của Ngân hàng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tập trung các vấn đề cơ bản về công tác huy động vốn của Ngân hàng.

Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, nghiên cứu công tác huy động vốn của ngân hàng trên các khía cạnh: Các loại hình, quy mô, cơ cấu, chi phí vốn và sự phù hợp sử dụng vốn trên cơ sở các số liệu của ngân hàng.

4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Sử dụng các phương pháp khoa học: Phương pháp duy vật biện chứng, phân tích, so sánh và tổng hợp, khái quát. Sử dụng số liệu thống kê để luận chứng.

5. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lí luận về công tác huy động vốn trong Ngân hàng Thương mại.
  • Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Chi nhánh Hải Phòng.
  • Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng.

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan về Ngân hàng Thương mại

1.1.1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại

Sự hình thành hệ thống NHTM là hệ quả tất yếu của việc xây dựng nền kinh tế thị trường, đó là sản phẩm của kinh tế thị trường hay là yếu tố cấu thành thị trường tài chính. NHTM nói riêng và thị trường tài chính nói chung có tác động qua lại tương hỗ lẫn nhau. Hệ thống NHTM ổn định, phát triển toàn diện là động lực thúc đẩy thị trường tài chính phát triển và ngược lại.

Việt Nam đang trong tiến trình xây dựng và phát triển một mô hình thị trường tài chính với nòng cốt là hệ thống NHTM hoạt động dưới sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã được đổi mới một cách đáng kể trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí của Nhà nước. Từ mô hình hệ thống Ngân hàng của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình Ngân hàng của nền kinh tế thị trường, mô hình tổ chức có sự thay đổi căn bản đó là tách biệt chức năng quản lí hoạt động tiền tệ, tín dụng với chức năng kinh doanh tiền tệ, đa dạng hóa các loại hình ngân hàng, từng bước xóa bỏ độc quyền, chuyển sang cạnh tranh có sự quản lý của Nhà nước. Tại Việt Nam, từ năm 1998 bắt đầu hình thành mô hình hệ thống Ngân hàng 2 cấp và pháp lệnh ngân hàng (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước, Pháp lệnh Ngân hàng HTX tín dụng và Công ty Tài chính) đã chính thức hợp pháp hóa sự thay đổi này, mô hình hệ thống Ngân hàng ở thời điểm này bao gồm: Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

  • Ngân hàng Nhà nước: Cơ quan quản lý cấp nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và Ngân hàng.
  • Các NHTM: Đóng vai trò là các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tiền tệ.

Theo luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10 năm 1998, NHTM được định nghĩa như sau: “ NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của các khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.

Định nghĩa trên đã khẳng định NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, trong đó có hai mặt cơ bản:

  • Nhận ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức, cơ quan nhà nước.
  • Sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay và chiết khấu.

Các loại hình của NHTM:

  • NHTM Quốc Doanh: Là NHTM được thành lập bằng 100% vốn Nhà nước.
  • NHTM Cổ phần: Là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần.
  • Chi nhánh NHTM nước ngoài: Là ngân hàng được thành lập theo luật pháp nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại.
  • Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.

Qúa trình hình thành và phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam đã trải qua những bước thăng trầm của lịch sử. Trải qua hơn 10 năm đổi mới sau khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng( nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành nghị định 53 HĐBT (26/3/1988) với nội dung: “ Cải tổ ngân hàng từ hệ thống ngân hàng một cấp duy nhất trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thành định chế ngân hàng hai cấp theo hướng kinh tế thị trường”. Ngày 23/5/1990 nhà nước đã ban hành hai pháp lệnh về ngân hàng. Ngày 26/12/1997, hai pháp lệnh trên được thay thế bằng hai luật: Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức Tín dụng, tạo được một hành lang pháp lí khá đầy đủ cho hoạt động ngân hàng. Bộ mặt ngành ngân hàng đã thay đổi, hoạt động của ngân hàng trở lên chuyên nghiệp, năng động hơn, đánh dấu sự thay đổi to lớn trong cách nghĩ cũng như cách làm.

Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống NHTM có những đòn bẩy tác động quan trọng đến sản suất và lưu thông đó là: tiền mặt, tín dụng, lãi suất,…

NHTM có mạng lưới rộng khắp địa bàn sản xuất, phân phối lưu thông, tiêu dùng trong cả nước. Hơn thế nữa, nó còn có quan hệ rộng rãi và có vai trò quan trọng về tiền tệ, tín dụng thanh toán giữa nước ta với nước ngoài.

1.1.2. Các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

1.1.2.1. Hoạt động tạo lập vốn

Đây là hoạt động tạo điều kiện và tiền đề cho hoạt động của NHTM. Các NHTM thực hiện huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế dưới mọi hình thức để thực hiện nhiệm vụ đầu tư, cho vay đối với các thành phần kinh tế, giúp họ đổi mới trang thiết bị sản xuất, nâng cấp nhà xưởng phục vụ kinh doanh,…

  • Vốn huy động

Ngân hàng nhận các khoản tiền gửi của khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Ngân hàng nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp. Ngân hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đến rút tiền tại ngân hàng.

  • Vốn đi vay

Là nguồn vốn ngân hàng phải vay mượn thêm trong trường hợp khả năng huy động của ngân hàng bị thiếu hụt khi nhu cầu thanh toán, chi trả cho khách hàng tăng cao. Nguồn đi vay có thể là:

Vay NHTW: Khi khả năng chi trả của ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu trong thời gian ngắn. Các NHTM vay vốn của NHTW dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu để bù đắp thiếu hụt trong thanh toán, bổ sung vốn dự trữ…Để được vay chiết khấu các NHTM phải nộp cho NHTW các giấy tờ có giá có thời hạn còn lại là ngắn hạn xin chiết khấu như thương phiếu, chứng khoán của Chính phủ…chúng thường là các loại giấy tờ mà chủ thể phát hành có uy tín cao. Lãi suất chiết khấu do NHTW quy định tùy thuộc vào mục tiêu chính sách tiền tệ của nhà nước trong từng thời kì.

Vay trên thị trường liên ngân hàng: Khoản vay có thể cần hoặc không cần đảm bảo, dựa trên cơ sở uy tín của ngân hàng đi vay hoặc mối quan hệ giữa các ngân hàng với nhau. Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Phát hành các công cụ nợ như: Kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu trên thị trường vốn. Các khoản vay này được coi như giải pháp tình thế cho ngân hàng trong tình cảnh khó khăn.

Các nguồn vốn khác

  • Vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác đầu tư để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng,…
  • Vốn hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng.

1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn

  • Hoạt động ngân quỹ: Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, ngân hàng luôn giữ một lượng tiền mặt dưới các dạng sau: Tiền mặt tại quỹ của ngân hàng, tiền gửi tại các NHTM khác, tiền gửi tại NHTW.
  • Hoạt động tín dụng: Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính. Trong đó hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng trung gian nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng. Hoạt động cho vay rất đa dạng phong phú.
  • Hoạt động đầu tư: Ngân hàng tham gia góp vốn liên doanh, liên kết, thành lập công ty con,…

1.1.2.3. Hoạt động dịch vụ khác

Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình các NHTM đã tiến hành cung ứng các dịch vụ khách hàng như: Dịch vụ thanh toán, đại lí, tư vấn tài chính,… trên cơ sở đó ngân hàng tiến hành thu phí dịch vụ. Ngày nay do nhu cầu phát triển của nền kinh tế đòi hỏi hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng mở rộng về số lượng và chất lượng.

1.1.3. Vai trò của NHTM với sự phát triển của nền kinh tế

Công cuộc đổi mới, toàn diện của nước ta bắt đầu đi vào chiều sâu vì vậy yêu cầu về nguồn vốn để tập trung đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là rất lớn. Đóng vai trò trung gian tài chính, tập trung nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội NHTM đã thể hiện được vai trò của mình đối với nền kinh tế như:

1.1.3.1. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM nếu có hiệu quả sẽ thực sự trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông. Hơn nữa bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trường điều khiển chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô đúng theo phương châm “ Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.

1.1.3.2. NHTM là nơi huy động, tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để cung cấp cho nhu cầu của nền kinh tế

Trong xã hội luôn luôn tồn tại mâu thuẫn về sự thừa và thiếu hụt vốn tạm thời. Đối với những người, những tổ chức có tiền tạm thời nhàn rỗi, thì vấn đề đối với họ là làm sao bảo quản số tiền đó an toàn và có thể sinh lời được thì càng tốt. Nhưng để thực hiện điều này còn phụ thuộc vào khả năng, mối quan hệ của từng người và thông thường những người có tiền tạm thời nhàn rỗi luôn tìm cách cho những người, tổ chức có nhu cầu về vốn vay trong một thời hạn nhất định chứ không trực tiếp đầu tư vào sản xuất do sự giới hạn và khả năng thu hồi tiền mặt. Tuy nhiên điều này hầu như rất khó thực hiện được. Do vậy trong xã hội luôn tồn tại mâu thuẫn này. Xét về mặt kinh tế nếu lượng tiền này được tập trung lại để cho vay với những người đang có nhu cầu sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho cả người có tiền nhàn rỗi và người có nhu cầu vốn nói riêng và đem lại hiệu quả kinh tế cho cả nền kinh tế nói chung, NHTM chính là người thực hiện chức năng cầu nối này.

1.1.3.3. NHTM với hoạt động của mình góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Đặc trưng cơ bản của ngân hàng là cho vay có hoàn trả với một mức lãi suất nhất định và thời hạn nhất định, chính điều này đã bắt buộc mọi cá nhân và doanh nghiệp khi vay vốn của ngân hàng phải cân nhắc và sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất. Đây chính là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường công tác hạch toán, giảm chi phí sản xuất nhưng phải tăng chất lượng sản phẩm và tăng vòng quay của vốn. Qua đó, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác, trước khi quyết định một món vay ngân hàng thường tiến hành thẩm định tín dụng, chỉ thực hiện cho vay với những cá nhân, doanh nghiệp phải có sự sắp xếp, bố trí tổ chức sản xuất phù hợp, đây chính là động lực, cơ sở giúp cho việc tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, qua đó tăng hiệu quả nền kinh tế.

1.1.3.4. Tạo điều kiện cho nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới

NHTM có phạm vi hoạt động và quan hệ rộng rãi với rất nhiều tổ chức kinh tế. Nó có khả năng huy động vốn từ các cá nhân, tổ chức nước ngoài hay tổ chức tài chính tín dụng quốc tế, qua đó đảm bảo được vốn cho nền kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh tế trong nước mở rộng hoạt động ra nước ngoài một cách có hiệu quả hơn thông qua hoạt động thanh toán quốc tế, tư vấn tài trợ xuất nhập khẩu. Ngân hàng có thể làm đại lí cho các tổ chức tài chính, tín dụng nước ngoài qua đó giúp các tổ chức kinh tế trong nước có thể vay vốn các tổ chức này để nhập công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm đủ sức cạnh tranh với thị trường quốc tế.

1.2. Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

1.2.1. Khái niệm vốn của NHTM

Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác.

Về thực chất thì vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở hữu để thực hiện các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng. Như vậy, ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển.

1.2.2. Phân loại nguồn vốn

Trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng mỗi loại lại có những tính chất, vai trò riêng, do vậy nhiệm vụ của ngân hàng là phải biết phân loại vốn “đầu vào”, trên cơ sở đó phân bổ “ đầu ra” một cách hợp lí. Xét về kết cấu và tính chất vốn kinh doanh của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn khác.

1.2.2.1. Vốn tự có (vốn chủ sở hữu)

  • Vốn điều lệ

Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản điều lệ của ngân hàng, hình thành ngay từ khi NHTM được thành lập. Có thể được điều chỉnh tăng lên trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Vốn điều lệ có thể do nhà nước cấp nếu đó là NHTM Quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu là NHTM Cổ phần.

Vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản, trang thiết bị ban đầu cần thiết cho hoạt động của ngân hàng; góp vốn liên doanh; cho các thành phần kinh tế vay và thực hiện các dịch vụ khác của ngân hàng. Các ngân hàng không được sử dụng nguồn vốn nào khác ngoài vốn điều lệ để đầu tư vào TSCĐ của ngân hàng và hùn vốn liên doanh.

  • Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Khi hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận thì ngân hàng có thể chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn vốn nhằm tái đầu tư. Nguồn bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm,…để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn chủ do NHNN quy định. Đặc điểm của hình thức huy động này không thường xuyên song giúp ngân hàng có được lượng vốn chủ sở hữu lớn vào lúc cần thiết.

  • Các qũy dự trữ

Ngân hàng có nhiều quỹ khác nhau, mỗi quỹ được sử dụng vào những mục đích nhất định tùy thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng. Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng( là lợi nhuận sau khi đã trừ thuế) hàng năm của ngân hàng. Các quỹ của ngân hàng bao gồm:

  • Quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ: Có mục đích tăng cường số vốn tự có ban đầu.
  • Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Dùng để dự phòng bù đắp rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ. Qũy này được trích lập hàng năm và được tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra.
  • Ngoài ra còn có các quỹ khác như: quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định,…những khoản vốn đã được phân bổ cho những mục đích chi tiêu nhất định nhưng chưa được sử dụng( lợi nhuận chờ phân bổ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán)

1.2.2.2. Vốn huy động

Nếu vốn tự có để đảm bảo sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của các NHTM thì vốn huy động chính là nhân tố thúc đẩy hoạt động kinh doanh của ngân hàng mở rộng hay thu hẹp quy mô. Trong tổng nguồn vốn của NHTM đây là phần vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất, có vai trò quan trọng nhất. Nó được hình thành từ các nguồn sau:

Từ nguồn tiền gửi

  • Tiền gửi không kỳ hạn( tiền gửi giao dịch hay tiền gửi thanh toán)

Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào. Người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi mà chủ yếu nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và thực hiện các hoạt động thanh toán qua ngân hàng.

  • Tiền gửi có kỳ hạn Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Là loại tiền gửi mà khách hàng chủ yếu gửi vào ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận.

  • Tiền gửi tiết kiệm

Bao gồm ba loại sau:

  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
  • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
  • Tiền gửi tiết kiệm có mục đích

Vốn đi vay: Ngoài việc huy động tiền gửi theo phương thức truyền thống, NHTM có thể bổ sung vốn hoạt động của mình bằng cách vay vốn từ NHTW, các tổ chức tín dụng khác hoặc từ thị trường tài chính trong và ngoài nước.

  • Vay từ NHTW

Bất kỳ NHTM nào khi được NHTW cho phép thành lập, hoạt động đều hưởng quyền vay tiền tại NHTW trong trường hợp thiếu hụt dự trữ hay quá thiếu tiền mặt. NHTW cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới hai hình thức:

  • Chiết khấu hay tái chiết khấu các chứng từ có giá
  • Cho vay thế chấp hay ứng trước

Hiện nay NHNN Việt Nam áp dụng 3 hình thức cấp tín dụng sau:

  • Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
  • Cho vay có đảm bảo bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
  • Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng. Thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợ theo yêu cầu của nền kinh tế như thu mua lương thực, nông sản; dự trữ vật tư, nguyên liệu; …

Vay các tổ chức tín dụng khác

Nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy định của NHTW. Trong quá trình hoạt động, một số NHTM có những ngày vay quá nhiều dẫn tới sự thiếu hụt dự trữ bắt buộc tại NHTW. Trong khi đó có một vài ngân hàng khác thừa dự trữ. Để đảm bảo dự trữ các ngân hàng sẽ vay của nhau. Thời hạn của loại cho vay này rất ngắn, thường không quá một tuần.

Vay từ thị trường tài chính trong nước Thông qua phát hành các giấy tờ có giá như: Chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng Trái phiếu ngân hàng Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

  • Vay nước ngoài

Để huy động vốn từ nước ngoài thì các NHTM phải có các điều kiện theo quy định của NHNN ban hành theo thông tư số 03/1999/TT-NHNN ngày 12 tháng 08 năm 1999 chỉ được sử dụng vốn vay nước ngoài để bổ sung vốn tín dụng và phải sử dụng đúng mục đích vốn vay.

Đây là loại vốn vay chiếm tỷ trọng không lớn ở những nước đang phát triển bởi ở các nước này NHTM muốn có được nguồn vốn này phải được sự cho phép của NHNN và thường dưới hình thức vay theo hiệp định.

  • Các nguồn vốn khác

Vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác đầu tư để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng,…

Vốn hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Ví dụ trong quá trình hoạt động làm trung gian thanh toán, ngân hàng đã tạo được một nguồn vốn gọi là nguồn vốn trong thanh toán: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửi séc bảo chi, các khoản phong tỏa do ngân hàng chấp nhận các hối phiếu thương mại,…

1.2.3. Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng Thương mại

Do NHTM huy động theo phương thức “đi vay để cho vay” mà vốn tự có của ngân hàng chỉ chiếm một tỉ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động. Do vậy, để có thể tồn tại và phát triển NHTM phải quan tâm tới các hình thức tạo vốn không ngừng mở rộng, phát triển vốn để cạnh tranh trên thị trường. Qúa trình tạo vốn thông qua các hình thức sau:

1.2.3.1. Căn cứ theo thời gian huy động

Huy động ngắn hạn: Chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn huy động, được sử dụng chủ yếu để cho vay ngắn hạn nhỏ hơn 1 năm, lãi suất huy động thường thấp. Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Huy động trung hạn: Loại vốn này có thời hạn từ 1 đến 5 năm, ngân hàng sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp vay khoản tín dụng trung hạn như: Đầu tư cải tiến công nghệ sản phẩm,…

Huy động dài hạn: Đây là khoản vay ngân hàng huy động từ 5 năm trở lên, chi phí cho việc huy động này thường cao hơn, được ngân hàng dùng cho các khoản tín dụng dài hạn: Đầu tư xây dựng cơ bản, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

1.2.3.2.Căn cứ vào đối tượng huy động

  • Huy động vốn từ dân cư

Vốn này có nguồn gốc từ những khoản dự phòng cho tiêu dùng và rủi ro trong tương lai. Khi xã hội ngày càng phát triển thì khoản dự phòng này cũng tăng lên. Nắm bắt được quy luật này, NHTM đã sử dụng nghiệp vụ huy động để tăng thêm nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và thu được lợi nhuận.

  • Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp do yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh nên thường gửi một khối lượng lớn tiền vào ngân hàng nhằm hưởng những tiện ích trong thanh toán. NHTM là một trung gian tài chính, nó quan hệ với các đối tượng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế và đáp ứng yêu cầu thanh toán của họ. Do có sự đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải thanh toán nên luôn tồn tại một số dư tiền gửi nhất định tại ngân hàng. Nguồn này được ngân hàng huy động, có chi phí thấp và sử dụng cho vay không chỉ ngắn hạn mà cả trung hạn. Tuy nhiên nguồn này có hạn chế là tính ổn định và độ lớn phụ thuộc vào quy mô, loại hình của doanh nghiệp.

  • Huy động từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác

Việc vay vốn này nhằm giải quyết tình trạng thiếu vốn của ngân hàng. Theo quy định ở Việt Nam vốn vay giữa hai ngân hàng được thỏa thuận bằng hợp đồng tín dụng, vốn cho vay phải được bảo đảm bằng hình thức thế chấp hoặc cầm cố bằng tài sản; tiền mặt tại quỹ; tiền gửi tại NHTW; các chứng từ có giá khác. Trong trường hợp các NHTM đã vay lẫn nhau mà vẫn thiếu vốn, mất khả năng thanh toán thì NHTM có thể vay NHTW thông qua việc chiết khấu, tái chiết khấu. NHTM còn có thể vay các tổ chức tín dụng thông qua thị trường nội tệ (hình thành giữa các NHTM, TCTD và NHTW(được thành lập tháng 07/1993)); qua thị trường ngoại tệ (thành lập tháng 10/1994) Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

1.2.3.3. Căn cứ vào công cụ huy động

Đây là hình thức các NHTM hay sử dụng nhất, bao gồm:

  • Huy động tiền gửi không kì hạn

Đặc điểm quan trọng đối với người gửi là chuyển nhượng dễ dàng, mục đích giao dịch là chính. Đối với ngân hàng chỉ cần bỏ ra một chút chi phí cho việc quản lý tài khoản hoặc trả lãi. Số dư của loại tiền này tùy thuộc vào từng thời kỳ trong năm. Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này trên hai loại tài khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai.

  • Tài khoản thanh toán

Là loại tài khoản mà khách hàng có thể toàn quyền sử dụng số tiền trong phạm vi số dư tiền gửi (loại tài khoản này luôn có số dư )

  • Tài khoản vãng lai

Là tài khoản thường được sử dụng cho các tổ chức kinh tế, nó có thể có số dư bên có và bên nợ. Số dư bên có phản ánh số tiền hiện có trong tài khoản của khách hàng, số dư bên nợ phản ánh khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay. Lãi suất bên nợ cũng như bên có đều do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận.

Do tiền gửi không kỳ hạn có chi phí huy động thấp, nếu thu hút được số lượng khách hàng lớn, bảo đảm luôn có một số dư ổn định, ngân hàng có thể dễ dàng trong việc đa dạng hóa nghiệp vụ của mình. Vì vậy trên thực tế các ngân hàng đã dần dần xóa bỏ sự khác biệt giữa hai loại tài khoản này.

  • Huy động tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm

Nếu tiền gửi không kỳ hạn số dư tăng giảm phụ thuộc và tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng gửi tiền thì tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn số dư phụ thuộc nhiều vào lãi suất.

  • Tiền gửi có kỳ hạn Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất định từ một vài tháng đến vài năm với mục đích chủ yếu là hưởng lãi. Mức lãi suất của tiền gửi này tùy thuộc vào quy định của ngân hàng theo kỳ hạn gửi của khách hàng. Người gửi tiền không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Về nguyên tắc, tiền gửi loại này không được rút ra trước hạn song để cạnh tranh thu hút khách hàng các ngân hàng vẫn cho phép rút trước hạn nhưng chỉ được hưởng mức lãi suất không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi tùy theo quy định của từng ngân hàng.

  • Tiền gửi tiết kiệm

Là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn gửi được ngân hàng công bố. Ở Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm bao gồm 3 loại sau:

  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

Là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể gửi vào, rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần báo trước cho ngân hàng. Loại tiền này gần giống với tiền gửi không kỳ hạn chỉ khác là nó luôn được hưởng lãi tuy rất thấp, nhưng đổi lại không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.

  • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi cố định trước. Khách hàng chỉ được gửi tiền vào một lần và rút ra một lần cả vốn và lãi khi tới hạn. Không được phép bổ sung vào số tiền gửi khi chưa đến hạn. Mức tối thiếu mỗi lần gửi do từng ngân hàng quy định.

  • Tiền gửi tiết kiệm có mục đích

Là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục đích khác nhau. Ngoài hưởng lãi thì người gửi tiền còn được ngân hàng cho vay nhằm bổ sung thêm vốn. Mức cho vay tối đa bằng số dư tiền gửi tiết kiệm.

  • Huy động bằng phát hành các giấy tờ có giá
  • Chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng

Thực chất là các chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn, có thể mua bán trên thị trường khi chưa đáo hạn. Thời gian đáo hạn thường không quá 6 tháng kể từ ngày phát hành.

  • Kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Đây là công cụ vay nợ dài hạn của ngân hàng từ thị trường chứng khoán. Thời hạn vay từ 2 năm trở lên, có thể mua bán trên thị trường chứng khoán khi chưa đáo hạn.

  • Kỳ phiếu ngân hàng

Là một loại giấy nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân cư, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án. Kỳ phiếu ngân hàng được phát hành theo từng đợt hay còn gọi là kỳ phiếu có mục đích, phát hành trên cơ sở tình hình nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn trong thời kỳ trước mắt của ngân hàng. Loại này có ưu điểm vốn huy động được khá linh hoạt, có tính lỏng cao, lãi suất thường ổn định và hấp dẫn.

  • Trái phiếu

Là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng đối với người chủ ngân hàng với cam kết như thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước. Trái phiếu ngân hàng lại được phân ra thành nhiều loại với các tiêu thức khác nhau:

  • Theo thời hạn: Trái phiếu ngắn hạn và trái phiếu dài hạn
  • Theo tính chất chuyển đổi: Trái phiếu vô danh, trái phiếu ký danh

Việc phát hành trái phiếu của ngân hàng được tiến hành trong toàn hệ thống ngân hàng chủ yếu để huy động vốn trung và dài hạn phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh có quy mô lớn và dài hạn. Do tính chất chủ động trong việc huy động vốn nên lãi suất trái phiếu phải hấp dẫn cao hơn lãi suất của các công cụ nợ khác và tỷ lệ thuận với kỳ hạn của khoản nợ.

1.3. Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Trong hoạt động kinh doanh của bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải có vốn, vốn là nhân tố chủ yếu quyết định đến khả năng, quy mô hoạt động của ngân hàng. Do đó, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động quan trọng nhất của hệ thống các NHTM.

  • Vốn là cơ sở để Ngân hàng tiến hành mọi hoạt động kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, bất kì doanh nghiệp nào để tiến hành sản xuất kinh doanh đều cần phải có vốn, bởi vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Với đặc trưng hoạt động của Ngân hàng vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu vốn NHTM không thể thực hiện hoạt động kinh doanh. Trên thực tế Ngân hàng nào có khối lượng vốn lớn hơn thì Ngân hàng đó có thế mạnh cạnh tranh trong kinh doanh. Vốn là điểm xuất phát đầu tiên trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

  • Vốn huy động ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô các hoạt động của Ngân hàng Thương mại:

Vốn của Ngân hàng có ảnh hưởng lớn tới việc thu hẹp hay mở rộng tín dụng, hoạt động bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ hay trong hoạt động thanh toán của các NHTM. Khác với Ngân hàng nhỏ thì ngân hàng lớn có những khoản mục về đầu tư cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các ngân hàng này cũng lớn hơn. Trong khi các ngân hàng lớn hoạt động trên phạm vi toàn thế giới thì các ngân hàng nhỏ lại có giới hạn phạm vi hoạt động chủ yếu trong một khu vực nhỏ, trong nước. Nếu khả năng huy động vốn của ngân hàng dồi dào thì ngân hàng có thể mở rộng được các hoạt động của mình và đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng về cho vay, bảo lãnh, đầu tư,…

  • Vốn giúp Ngân hàng chủ động trong kinh doanh

Ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh toán,…Bởi vì khi vay vốn để thực hiện các hoạt động của mình ngân hàng sẽ phụ thuộc vào đối tượng cho vay về thời hạn vay, số lượng vay và chi phí vay cao. Do đó, ngân hàng có thể bỏ lỡ cơ hội trong kinh doanh. Ngược lại, ngân hành có lượng vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình. Nguồn vốn huy động lớn cũng làm tăng khả năng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng như chủ động đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và tăng thu nhập, đạt mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là an toàn và sinh lời.

  • Vốn giúp Ngân hàng quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của mình trên thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải coi uy tín của mình trên thị trường là điều quan trọng. Uy tín đó trước hết thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng càng lớn. Mặt khác, uy tín của ngân hàng còn thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của ngân hàng (ngân hàng chỉ có thể cho vay những dự án lớn, thời hạn dài nếu như ngân hàng có nguồn vốn lớn). Điều này phụ thuộc vào hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Với tiềm năng vốn và khả năng huy động vốn lớn thì ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng tăng, tiến hành cạnh tranh có hiệu quả, vừa giữ chữ tín vừa nâng cao vị trí của ngân hàng trên thị trường. Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Bên cạnh đó, một trong những công cụ lớn nhất của vốn tự có là tạo sự uy tín trong công chúng. Một ngân hàng có trụ sở là tài sản riêng càng đồ sộ chừng nào thì càng dễ tạo được niềm tin với dân chúng chừng đấy. Vốn tự có của ngân hàng càng lớn thì sức chịu đựng của ngân hàng càng mạnh khi mà tình hình kinh tế xã hội và tình hình hoạt động của ngân hàng trải qua giai đoạn khó khăn.

  • Vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng

Quy mô, trình độ cán bộ, công nhân viên, phương tiện kỹ thuật hiện đại của ngân hàng là tiền đề thu hút vốn. Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rông quan hệ tín dụng đối với các thành phần kinh tế cả về quy mô tín dụng lẫn việc chủ động về thời hạn cho vay và thậm chí trong khi quyết định lãi suất phù hợp cho khách hàng. Điều này thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến với mình, nghĩa là doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên trong tương lai và ngân hàng có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường.

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của Ngân hàng Thương mại

Hoạt động huy động vốn phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khách quan (như môi trường kinh tế-chính trị, xã hội, môi trường pháp lí và các chính sách kinh tế vĩ mô) và nhân tố chủ quan( như chính sách lãi suất huy động vốn và các dịch vụ đi kèm, công nghệ ngân hàng, chiến lược marketing Ngân hàng,…).

1.4.1. Các nhân tố khách quan

  • Môi trường kinh tế – chính trị, xã hội

Đây là yếu tố khách quan đối với Ngân hàng, yếu tố này ảnh hưởng chung đến việc huy động và khơi thông nguồn vốn của cả nền kinh tế trong đó có nguồn vốn của NHTM. Cụ thể trong một nền kinh tế phát triển nguồn tiền gửi, tiền tiết kiệm gửi vào các NHTM ngày càng nhiều… Ngoài ra với một nền kinh tế phát triển thì công nghệ ngân hàng được hiện đại hoá, người dân có thói quen sử dụng những lợi ích do các NHTM cung ứng, các nghiệp vụ thanh toán chủ yếu qua ngân hàng, ngân hàng thu được càng nhiều khoản vốn, chiếm dụng được vốn trong thanh toán. Lạm phát là một yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của ngân hàng. Người dân gửi tiền vào ngân hàng hy vọng rằng họ sẽ thu được khoản tiền lãi nhất định, lạm phát cao hoặc biến động có thể làm trượt giá đồng tiền và họ sẽ chuyển các tài khoản của họ sang hình thái khác có tính ổn định hơn về giá trị. Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Mặt khác, sự ổn định của môi trường chính trị sẽ tác động tới quan hệ vốn của Ngân hàng đối với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Nó tạo điều kiện thu hút nguồn đầu tư trong và ngoài nước. Từ đó tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của NHTM.

Bên cạnh đó, các yếu tố như thu nhập của dân cư, thời vụ chi tiêu cũng là các nhân tố ảnh hưởng tới công tác huy động vốn của các ngân hàng. Tại các thành phố lớn, nơi tập trung các tầng lớp dân cư có thu nhập cao sẽ hình thành một nguồn tiền gửi lớn. Thu nhập gia tăng là điều kiện để gia tăng quy mô và thay đổi kỳ hạn của nguồn tiền, thời vụ chi tiêu ảnh hưởng tới quy mô và tính ổn định của nguồn tiền. Ví dụ: vào dịp cuối năm, nguồn tiền gửi tiết kiệm cũng như tiền gửi của các doanh nghiệp có xu hướng giảm sút đặc biệt trong điều kiện thanh toán bằng tiền mặt còn đang phổ biến như nước ta hiện nay.

  • Môi trường pháp lý và các chính sách kinh tế vĩ mô

Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật và các cơ quan chức năng của chính phủ. Môi trường pháp lý và các chính sách kinh tế vĩ mô ảnh hưởng trực tiếp đến chủ trương, phương hướng trong hoạt động huy động vốn cũng như các hoạt động khác của ngân hàng thương mại. NHTM xây dựng các chiến lược kinh doanh cho riêng mình phải dựa trên cơ sở tuân thủ pháp luật và chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước như chính sách tiết kiệm, chính sách lãi suất,… Ngân hàng nhà nước điều hành chính sách tiền tệ theo hướng nâng cao năng lực, vai trò hiệu quả và theo sát thị trường, phối hợp chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác thì mới tạo điều kiện và thúc đẩy phát triển các thị trường tiền tệ cũng như hoạt động của hệ thống ngân hàng. Mặt khác, việc xây dựng một môi trường pháp lý lành mạnh, thông thoáng cũng là một nhân tố quan trọng góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động huy động và sử dụng vốn của các NHTM.

  • Tâm lí, tập quán của khách hàng

Nguồn vốn ngân hàng huy động được chủ yếu là từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân cư phụ thuộc nhiều vào thu nhập, thói quen chi tiêu của người dân cũng như sự ổn định của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế mất ổn định, giá trị đồng tiền biến động người dân sẽ có tâm lí muốn đổi từ đồng nội tệ sang các đồng tiền mạnh (đồng ngoại tệ) hay cất trữ vàng bạc, mua bất động sản … là những tài sản có tính ổn định cao hơn. Do vậy, các NHTM cần phải nắm bắt được yếu tố tâm lý và các nhu cầu của khách hàng để có những hình thức huy động phù hợp nhằm tăng nguồn vốn huy động cho ngân hàng.

Bên cạnh đó, người dân phần lớn vẫn giữ thói quen tiêu dùng bằng tiền mặt thay cho việc sử dụng các tài khoản, thẻ thanh toán cá nhân cũng ảnh hưởng tới nguồn vốn huy động của ngân hàng.

1.4.2. Các nhân tố chủ quan: Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Là các nhân tố từ bên trong và nằm trong sự kiểm soát của Ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp tới công tác huy động vốn của Ngân hàng.

  • Chính sách lãi suất huy động vốn và các dịch vụ đi kèm

Lãi suất ảnh hưởng trực tiếp tới lượng vốn huy động của Ngân hàng Thương mại. Lãi suất huy động vốn thường là mối quan tâm hàng đầu của cá nhân, tổ chức muốn gửi tiền vào Ngân hàng. Tuy nguồn vốn huy động được không chỉ phụ thuộc vào lãi suất mà còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như kỳ hạn, mức độ rủi ro, điều kiện thanh toán, uy tín,…của Ngân hàng nhưng với lãi suất cao, linh hoạt và hợp lí luôn có tác dụng kích thích người gửi tiền. Lãi suất ảnh hưởng nhiều nhất tới lượng tiền gửi tiết kiệm bởi khách hàng chọn gửi tiền theo phương thức này thường có mục đích hưởng lãi.

Mặt khác, sự đa dạng của các dịch vụ đi kèm sẽ ảnh hưởng rất lớn tới khả năng huy động vốn của Ngân hàng.

  • Công nghệ Ngân hàng

Hoạt động huy động vốn của ngân hàng ngày càng có có sự cạnh tranh mạnh mẽ không chỉ giữa các NHTM trong nước, mà trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, hệ thống các NHTM Việt Nam còn phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các ngân hàng có nhiều kinh nghiệm và tiềm lực trên toàn thế giới. Công nghệ ngân hàng cũng là một nhân tố không kém phần quan trọng quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động huy động vốn của NHTM. Công nghệ ngân hàng liên quan trực tiếp đến các mặt hoạt động như thanh toán, giao dịch, kế toán…Một ngân hàng sở hữu công nghệ lạc hậu so với các ngân hàng khác: hoạt động giao dịch, thanh toán và các dịch vụ còn thực hiện thủ công dẫn đến chậm trễ trong giao dịch với khách hàng và không đa dạng hoá được các loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, điều này sẽ làm hạn chế khả năng thu hút vốn của ngân hàng. Chính vì vậy ngân hàng không cạnh tranh được với các ngân hàng khác được đầu tư công nghệ hiện đại hơn. Để có thể cạnh tranh trên thị trường huy động vốn, các ngân hàng phải không ngừng đổi mới công nghệ, áp dụng những công nghệ ngân hàng tiên tiến vào các hoạt động giao dịch thanh toán nhanh với khách hàng. Đối với một ngân hàng có công nghệ tiên tiến thì chất lượng phục vụ thoả mãn nhu cầu của khách hàng sẽ tốt hơn, huy động được nhiều vốn hơn. Các NHTM ở Việt Nam hiện nay đang đầu tư mạnh mẽ cho công nghệ ngân hàng và coi đây như sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường dịch vụ tài chính. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong: ứng dụng lập mạng thanh toán liên ngân hàng nội bộ tập trung, hệ thống quản lý vốn ngoại tệ tập trung, ứng dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, triển khai ứng dụng thanh toán SWIFT, dịch vụ thẻ ATM đã mở ra nhiều cơ hội hơn cho ngân hàng. Các sản phẩm dịch vụ dựa trên nền tảng công nghệ thông tin ngày càng đa dạng và phong phú hướng đến việc tối đa hoá tiện ích và lợi ích của khách hàng.

  • Chiến lược Marketing Ngân hàng Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Chiến lược Marketing ngân hàng cần phải được chú trọng đúng mức trong chiến lược kinh doanh dài hạn của ngân hàng nói chung và huy động vốn nói riêng. Xây dựng được một chiến lược Marketing hoàn chỉnh sẽ tăng khả năng sinh lợi trong kinh doanh cũng như tăng cường huy động vốn của ngân hàng. Trong cơ chế thị trường các ngân hàng phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, tạo ra sự khác biệt, vượt trội hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh. Trong thực tế, để đạt được điều này không phải là đơn giản vì khi áp dụng marketing vào ngân hàng thường gặp một số khó khăn như: Với xu hướng phát triển kinh tế nhu cầu của khách hàng ngày càng cao các ngân hàng cần phải đổi mới nhanh chóng trang thiết bị, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ… Thông qua công tác marketing ngân hàng cần phải đưa ra các hình thức huy động vốn với thời hạn, giá cả hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể để đáp ứng tốt nhất nhu cầu, mong muốn của khách hàng về chất lượng, chủng loại các sản phẩm của ngân hàng. Không những thế, công tác marketing ngân hàng còn phải biết kích thích các nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéo khách hàng về với mình để không ngừng mở rộng thêm các khách hàng mới, ngày càng thu hút được nhiều vốn hơn.

Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, ngân hàng có thể nắm bắt toàn bộ các thông tin về môi trường kinh doanh, về khách hàng, đồng thời xây dựng chiến lược marketing. Dựa trên yếu tố này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo các công cụ kỹ thuật của marketing ứng dụng trong hoạt động của ngân hàng để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Các công cụ kỹ thuật marketing được tập trung vào 4 chính sách lớn:

  • Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu điều tra

Thực thi chính sách này cần huy động toàn bộ phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện việc quan sát, phân tích và tổng hợp các lĩnh vực cơ bản có liên quan đến thị trường của ngân hàng. Từ các thông tin có được ngân hàng sẽ đưa ra các chính sách kinh doanh nói chung và chính sách huy động vốn nói riêng phù hợp với nhu cầu của khách hàng và nhu cầu sử dụng vốn của thị trường.

  • Chính sách sản phẩm giá cả Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng bao gồm các dịch vụ cơ bản của nghề ngân hàng là nghiệp vụ huy động vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn, nghiệp vụ thanh toán và các nghiệp vụ khác mang tính chất hỗ trợ như dịch vụ tư vấn khách hàng, nghiệp vụ thông tin theo nhu cầu, dịch vụ két…Còn có những nghiệp vụ khác không mạng lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng song có tác dụng kích thích sự chú ý, thu hút khách hàng và làm tăng giá trị cung ứng sự thỏa mãn của khách hàng đối với các dịch vụ cơ bản. Đặc biệt với sự đa dạng hóa các sản phẩm của nghiệp vụ huy động vốn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng khả năng huy động vốn. Hiển nhiên, một ngân hàng có các dịch vụ tốt, đa dạng sẽ có nhiều lợi thế hơn so với các ngân hàng khác mà các sản phẩm dịch vụ không tốt. Một ngân hàng mà có dịch vụ thanh toán hoạt động tốt, đa dạng sẽ thu hút được nhiều tiền gửi thanh toán hơn các ngân hàng khác.

Trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, giá cả được biểu hiện chủ yếu dưới dạng lãi suất của các khoản tiền gửi, tiền vay, chi phí nghiệp vụ ngân hàng. Yếu tố giá có vai trò quan trọng đối với kết quả huy động vốn, sử dụng vốn và cung ứng dịch vụ khác của ngân hàng. Chính sách giá cả cạnh tranh là một chiến lược quan trọng của ngân hàng. Việc duy trì các chi phí hợp lí, cạnh tranh huy động, đặc biệt cần thiết khi lãi suất thị trường đang ở mức tương đối cao. Các ngân hàng cạnh tranh giành vốn không chỉ với nhau mà còn với các tổ chức tiết kiệm và người phát hành các công cụ khác nhau trên thị trường vốn. Đặc biệt trong giai đoạn khan hiếm tiền tệ, dù cho những khác biệt tương đối nhỏ về lãi suất cũng sẽ thúc đẩy người gửi tiết kiệm và nhà đầu tư chuyển vốn từ một công cụ mà họ đang nắm giữ sang một công cụ khác hoặc chuyển tiền đầu tư, tiết kiệm từ một tổ chức này sang một tổ chức khác để có lợi nhuận cao hơn.

  • Chính sách phân phối

Chính sách phân phối là tập hợp toàn bộ những phương tiện vật chất đưa ra sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng. Việc đa dạng hóa các kênh phân phối, mở rộng các quầy giao dịch (số lượng các quầy giao dịch, địa điểm mở quầy, các sản phẩm, dịch vụ cung ứng tại quầy, trang thiết bị được sắp xếp tại quầy, trình độ đội ngũ cán bộ nhân viên…) có ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn của ngân hàng. Một ngân hàng có càng nhiều kênh phân phối, nhiều quầy giao dịch thì cơ hội tiếp xúc với khách hàng càng nhiều, từ đó khả năng huy động vốn sẽ tăng lên. Tuy nhiên, việc mở rộng các kênh phân phối, mở thêm nhiều quầy giao dịch cần phải tính đến yếu tố chi phí để mở rộng sao cho phù hợp với hiệu quả thu được từ nó.

  • Chính sách giao tiếp, quảng bá Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

Mục tiêu của chính sách này là làm thế nào để quảng bá thương hiệu của ngân hàng ra đông đảo quần chúng nhân dân, giúp cho họ hiểu rõ về ngân hàng và các dịch vụ ngân hàng. Bởi vì sự giao tiếp của nhân viên với khách hàng tạo ra hình ảnh của ngân hàng, tạo ra sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng. Giao tiếp tốt sẽ bảo vệ lợi ích của ngân hàng. Ngoài ra, hoạt động quảng cáo bao gồm các biện pháp tuyên truyền các thông tin về sản phẩm cũng như dịch vụ tiện ích của ngân hàng cũng là công cụ hữu hiệu để nâng cao vị thế của ngân hàng, thu hút thêm khách hàng cho ngân hàng, tạo lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng.

  • Trình độ quản lý và đội ngũ cán bộ Ngân hàng

Chìa khoá thành công của một ngân hàng ngoài các nhân tố khác không thể không kể đến nhân tố con người. Một ngân hàng xây dựng được một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, đoàn kết, thân thiện, năng động, có bộ máy tổ chức khoa học hợp lý, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh doanh sẽ có lợi thế trong huy động vốn. Bởi lẽ, ngân hàng với trang thiết bị cơ sở hạ tầng hiện đại, các nhân viên nhiệt tình, lịch sự và có chuyên môn nghiệp vụ cao tạo ấn tượng tốt đối với khách hàng, điều này sẽ thu hút được khách hàng đến giao dịch.

Trong chương I đã đề cập tới hệ thống lí luận liên quan tới hoạt động của ngân hàng nói chung cũng như hoạt động huy động vốn nói riêng, nghiên cứu về các vấn đề như: Tổng quan về NHTM, hoạt động huy động vốn của NHTM, các hình thức huy động vốn và vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của NHTM.

Những nội dung này giúp chúng ta có một cơ sở lý luận rõ ràng để phân tích thực trạng công tác huy động vốn của NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay, để từ đó đưa ra được các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường công tác huy động vốn một cách có hiệu quả. Khóa luận: Tăng cường công tác huy động vốn ở LienVietPostBank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x