Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Khái quát về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng

2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) tiền thân là Ngân hàng Liên Việt (LienVietBank) được thành lập theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 91/GP-NHNN ngày 28/03/2022 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Với việc Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam góp vốn vào LienVietBank bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (VPSC) và bằng tiền mặt. Ngân hàng Liên Việt đã được Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt. Cùng với việc đổi tên này, Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam chính thức trở thành cổ đông lớn nhất của LienVietPostBank.

Cổ đông sáng lập của LienVietPostBank là Công ty Cổ phần Him Lam, Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA) và Công ty dịch vụ Hàng không sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO). Hiện nay, với số vốn điều lệ 6010 tỷ đồng, LienVietPostBank hiện là 1 trong 10 Ngân hàng Thương mại Cổ phần lớn nhất tại Việt Nam.

Các cổ đông và đối tác chiến lược của LienVietPostBank là các tổ chức Tài chính – Ngân hàng lớn đang hoạt động tại Việt Nam và nước ngoài như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng Wells Fargo (Mỹ), Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ), Công ty Oracle Financial Services Software Limited…

LienVietPostBank định hướng xây dựng thương hiệu mạnh trên cơ sở phát huy nội lực, hoạt động minh bạch, gắn xã hội trong kinh doanh.

Ngày 29/09/2024 chi nhánh ngân hàng Liên Việt đầu tiên được khai trương tại Hải Phòng. Đây là chi nhánh vùng miền thứ 3 của LienViet Bank và điểm giao dịch thứ 30 trên toàn quốc.

LienVietPost Bank Hải Phòng được cung cấp các dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại cho các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, đa dạng hóa các sản phẩm.

Sau hơn hai năm đi vào hoạt động chi nhánh ngày càng lớn mạnh và khẳng định vị thế của mình trong hệ thống các ngân hàng trên địa bàn thành phố. Ngày càng mở rộng liên minh, liên kết với các ngân hàng trong và ngoài nước nhờ đó chi nhánh đã dần có được thế chủ động cần thiết trong kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực tài chính trong giai đoạn cạnh tranh và phát triển.

2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Để giải quyết những khó khăn còn vướng mắc và tiếp tục phát huy những điều kiện thuận lợi, NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng với nỗ lực và quyết tâm cao đã đạt được kết quả cụ thể như sau:

2.1.2.1. Về công tác huy động vốn

NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng với tư cách là một NHTM hoạt động tương đối độc lập, tự chủ trong hạch toán kinh doanh, huy động vốn được coi là vấn đề chiến lược hàng đầu với mục tiêu mở rộng thị phần tín dụng và hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

  • Biểu đồ 1: Nguồn vốn huy động

Qua biểu đồ 1 ta thấy, với chất lượng dịch vụ hiệu quả và hoạt động tài chính lành mạnh, uy tín ngày càng tăng nên lượng vốn huy động của chi nhánh ngày càng mở rộng. Đến hết năm 2025 tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng đạt 217.282,539 triệu đồng tăng so với năm 2024 là 11,49%, đạt được kết quả như vậy là một sự cố gắng lớn của tập thể cán bộ ngân hàng. Bởi tình hình kinh tế của cả nước năm 2025 có khá nhiều khó khăn và thách thức: Lạm phát tăng trở lai, kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn, lãi suất tăng cao, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh do tín dụng thu hẹp, tỷ giá có những thời điểm biến động phức tạp gây khó khăn cho ngân hàng trong công tác huy động vốn.

Nhìn chung lượng vốn huy động đạt tốc độ tăng trưởng ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu về tín dụng và đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng chủ động hoạch định, tính toán các chính sách trong sử dụng vốn.

2.1.2.2. Công tác tín dụng của Ngân hàng

Đây là hoạt động mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng, được ngân hàng chú trọng đầu tư về cả thị trường sản phẩm và chất lượng kinh doanh. Do đó, dù tốc độ tăng trưởng dư nợ không cao nhưng nhờ chất lượng tín dụng tốt, quy trình tín dụng chặt chẽ nên tỉ lệ nợ quá hạn luôn ở mức thấp, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh.

  • Biểu đồ 2: Tổng dư nợ Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Qua biểu đồ 2 ta có thể thấy: Tổng dư nợ của ngân hàng đến hết năm 2025 đạt 209.886,954 triệu đồng, tăng 12,76% so với năm 2024. Cơ cấu và loại hình cho vay của ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú. Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, ngân hàng còn phát triển các sản phẩm mới như cho vay mua nhà đất, cho vay mua xe ô tô với khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, cho vay hạn mức tín dụng ngắn hạn, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán, cho vay cầm cố chứng khoán…thu hút được sự quan tâm của khách hàng, góp phần nâng cao doanh thu cho ngân hàng trong thời gian qua.

Đứng trước tình hình kinh tế có nhiều biến động, nhu cầu vay vốn cao của các doanh nghiệp, Ngân hàng chú trọng mở rộng cho vay đối với các khách hàng đáp ứng được yêu cầu cho vay, có đảm bảo tài sản chắc chắn, không cho vay theo số lượng mà tiến hành sàng lọc kỹ khách hàng nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.

  • Bảng 1: Bảng phân tích tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng năm 2024-2025

Qua bảng 1 ta thấy, doanh số cho vay của ngân hàng năm 2025 tăng 20,46% so với năm 2024. Trong đó, chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là các khoản nợ ngắn hạn và khoản nợ của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Năm 2025, cho vay ngắn hạn đạt 279.021,192 triệu đồng, chiếm 81,71% tổng doanh số cho vay. Các khoản nợ trung, dài hạn giảm 7,8% doanh số cho vay so với năm 2024. Cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh năm 2025 chiếm tỷ trọng 87,53%, tăng 23,64% so với năm 2024.

2.1.2.3. Các hoạt động khác

Công tác huy động vốn ngoại tệ, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế đã có sự tăng trưởng cao. Số dư tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ của chi nhánh năm 2025 tăng 36.134,43 triệu đồng so với năm 2024. Bên cạnh đó hoạt động chi trả kiều hối cũng tăng so với năm 2024 với doanh số đạt 7.882 triệu đồng.

Dịch vụ bảo lãnh cũng được ngân hàng thực hiện rất thành công. Tính đến năm 2026 ngân hàng đã phát hành được một lượng lớn thư bảo lãnh đóng góp vào doanh thu của ngân hàng 3.500,723 triệu đồng tăng 4,4% so với năm 2024.

Doanh số thanh toán L/C cũng đạt 4.002,976 triệu đồng tăng so với năm 2024.

2.1.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh

  • Thu nhập của ngân hàng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Thu nhập của ngân hàng luôn là một khoản mục được quan tâm, đó là kết quả cuối cùng phản ánh chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Thu nhập của Ngân hàng bao gồm: Thu từ lãi, thu nhập từ hoạt động dịch vụ, hoạt động kinh doanh ngoại hối và thu khác.

  • Bảng 2: Cơ cấu tổng thu

Qua bảng 2 ta thấy, thu từ lãi có quy mô, cơ cấu lớn nhất và ổn định ở mức trên 80% qua các năm (Năm 2024 là 125.736,104 triệu đồng, năm 2025 là 141.356,127 triệu đồng tăng 12,42% so với năm 2024). Thu từ lãi tăng trong năm 2025 là do trong năm ngân hàng thực hiện cơ chế cho vay theo thỏa thuận, ngân hàng có điều kiện mở rộng dư nợ tín dụng, đồng thời mở rộng các hình thức kiểm soát hoạt động tín dụng chặt chẽ giảm thiểu rủi ro tín dụng, trích lập dự phòng giữ mức cao hơn so với năm trước cũng là một biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro xong mặt trái của hoạt động này sẽ làm ảnh hưởng tới một phần thu nhập của ngân hàng.

Thu ngoài lãi tăng so với năm trước 12,93% (năm 2024 thu ngoài lãi chiếm tỷ trọng khoảng 16,28%, tới năm 2025 tăng lên chiếm tỷ trọng 16,36% tổng nguồn thu của ngân hàng ). Trong các khoản mục thu ngoài lãi thì thu từ kinh doanh ngoại hối, thu từ các khoản phí và dịch vụ có xu hướng tăng trưởng ổn định hơn cả. Năm 2025 thu từ kinh doanh ngoại hối tăng 1.809,098 triệu đồng tương ứng với tỷ trọng 53,4%. Nguyên nhân là bởi trong năm qua tình hình biến động của giá cả thị trường, lạm phát tăng cao, người dân có xu hướng tích lũy vàng và mua ngoại tệ( chủ yếu là USD) nhằm tránh tình trạng mất giá của Việt Nam Đồng điều này làm cho các khoản thu từ lãi của ngân hàng tăng lên, đồng thời ngân hàng nằm trên địa bàn thành phố có hoạt động giao thương xuất nhập khẩu mạnh nên đã biết chú trọng tập trung vào công tác đào tạo cán bộ nhân viên giàu kinh nghiệm đáp ứng được nhu cầu trong hoạt động ngoại hối.

Các khoản thu từ các phí và dịch vụ tăng 24,18% so với năm 2024. Cho thấy chất lượng hoạt động dịch vụ của ngân hàng đã cải thiện ngày càng nâng cao, đáp ứng và thu hút được khách hàng tới giao dịch.

Nhìn vào các khoản thu qua hai năm thì tỷ trọng các khoản thu tuy có sự biến động nhưng vẫn có thể coi là ổn định( trung bình thu từ lãi chiếm tỷ trọng 83,68%, thu ngoài lãi chiếm tỷ trọng 16,32%). Điều này cho thấy cơ cấu tổng thu của ngân hàng đang dần đi vào ổn định sau 2 năm hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện các chiến lược kinh doanh của mình.

  • Chi phí Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Chi phí ngân hàng cũng là một khoản mục quan trọng ảnh hưởng rất nhiều tới thu nhập của ngân hàng. Trong hoạt động của mình ngân hàng cần giảm tối thiểu chi phí. Song thực tế chi phí của ngân hàng lại đang tăng lên:

Các khoản mục của chi phí bao gồm: Chi phí huy động vốn(chi trả lãi), chi phí ngoài lãi.

Qua bảng 3 ta thấy, tương ứng với sự tăng trưởng của tổng thu, tổng chi phí của ngân hàng có tăng qua các năm ( tổng chi phí năm 2025 tăng 34.889,111 triệu đồng tướng ứng với tỷ trọng 66,12%). Trong các khoản mục chi phí thì chi trả lãi có quy mô, cơ cấu lớn nhất chiếm trên 50%.

Chi phí tăng một phần là bởi lượng vốn huy động tăng vừa là bởi dự trữ bắt buộc của đồng ngoại tệ được điều chỉnh tăng lên. Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ tăng cao hơn, nghĩa là chi phí cho các ngân hàng thương mại bị đẩy lên, khiến lãi suất huy động ngoại tệ phải giảm xuống, đồng thời lãi suất cho vay bằng ngoại tệ phải tăng hơn, nhằm bù đắp chi phí cho dự trữ bắt buộc).

Chi phí ngoài lãi có tỷ trọng trung bình 39,12% tổng chi phí. Trong các khoản mục chi phí ngoài lãi thì chi phí khác về huy động vốn và dịch vụ, chi nộp thếu và chi phí dự phòng rủi ro, các lệ phí khác luôn chiếm tỷ trọng khá cao bởi trong tình hình kinh tế hiện tại ngân hàng tiến hành trích lập dự phòng cao.

Bảng 3 : Bảng chi phí hoạt động của ngân hàng

  • Lợi nhuận

Nhờ phát triển đồng bộ, có chất lượng về vốn huy động, hoạt động tín dụng và dịch vụ ngân hàng,…ngân hàng đã đạt được kết quả kinh doanh trong giai đoạn 2024-2025 như sau:

  • Bảng 4 : Kết quả kinh doanh của Chi nhánh giai đoạn 2024-2025

Qua bảng 4 ta thấy, lợi nhuận sau thuế của ngân hàng có xu hướng giảm. Mức lợi nhuận năm 2024 đạt 54.730,996 triệu đồng, năm 2025 đạt 40.279,183 triệu đồng. Thu nhập tăng không đủ bù đắp lại khoản chi phí ngày càng tăng khiến cho LNST của ngân hàng giảm xuống.

2.2. Thực trạng công tác huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

2.2.1. Hình thức huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng

Huy động vốn là một trong những nhiệm vụ tạo vốn hàng đầu của Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: huy động tiền gửi, nghiệp vụ ngoại bảng của ngân hàng và các nghiệp vụ trung gian khác. Thời gian đầu khi mới đi vào hoạt động, ngân hàng bước đầu còn nhiều bỡ ngỡ, hiệu quả kinh doanh nhiều mặt bị hạn chế, kể cả mảng huy động vốn. Nhưng cùng với sự nỗ lực của bản thân ngân hàng, sự ủng hộ từ nhiều phía, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn, ngân hàng đã quen dần, đạt được những thành quả nhất định trong kinh doanh. Chỉ xét riêng về mảng huy động vốn của ngân hàng, cả quy mô và chất lượng đều được phát triển. Các hình thức huy động vốn của ngân hàng ngày càng đa dạng, đáp ứng được nhu cầu đổi mới trong chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới.

Nắm bắt được tình hình nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của nền kinh tế, ngân hàng luôn tìm cho mình những hướng đi, những giải pháp phù hợp với sự phát triển kinh tế của thành phố, đẩy mạnh công tác huy động vốn và từng bước đã đạt được những kết quả nhất định, phản ánh qua tình hình tăng trưởng nguồn vốn huy động và cơ cấu nguồn vốn huy động. Các hình thức huy động vốn chủ yếu được áp dụng trong thời gian qua tại Ngân hàng gồm:

  • Nhận tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi ký quỹ, tiền gửi cho mục đích đặc biệt.
  • Tiền gửi của các tổ chức kinh tế.
  • Vay của các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng.
  • Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.

2.2.2. Tổ chức huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Nguồn vốn huy động tại chỗ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn, có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Nguồn này đảm bảo cho ngân hàng chủ động trong hoạt động, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của toàn xã hội thông qua việc tập trung các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vào ngân hàng để đầu tư vào nền kinh tế, giảm thời gian, chi phí bảo quản và tạo thu nhập cho người gửi tiền. Trong thời gian qua, ngân hàng đẩy mạnh huy động nguồn vốn tại chỗ thông qua việc mở rộng mạng lưới huy động vốn trên địa bàn thành phố và các khu vực lân cận nhằm khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi. Tạo mạng lưới kinh doanh ở các khu vực thương mại-dịch vụ và khu vực đông dân cư là một phương tiện hữu hiệu tăng khả năng huy động cũng như thực hiện các dịch vụ ngân hàng của chi nhánh. Để thực hiện được, trong thời gian tới ngân hàng có kế hoạch mở thêm số phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm trên địa bàn thành phố và các khu vực ngoại thành nhằm huy động tối đa nguồn vốn trong dân cư.

2.2.3. Quy mô, cơ cấu vốn huy động của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng

Trong thời gian qua Ngân hàng phát huy được thế mạnh của mình trong công tác huy động vốn do đã tận dụng được khả năng, vị thế của mình và đưa ra được những chiến lược khả thi trong dài hạn. Mặt khác, chính sách lãi suất rất nhạy bén, phương thức trả lãi linh hoạt như: trả trước, trả sau, trả lãi định kì, trả lãi bậc thang. . . nên ngân hàng có thể huy động vốn khi cần thiết rất đầy đủ và kịp thời.

Không những thế, công tác tiếp thị được đẩy mạnh, Ngân hàng tiếp cận nhiều doanh nghiệp, có chính sách khuyến khích đối với khách hàng nên không những đã giữ được khách hàng truyền thống mà ngân hàng còn mở rộng tìm kiếm khách hàng có tiềm năng về vốn để nhận tiền vay, tiền gửi. Để đạt được những kết quả như trên, ngân hàng đã triển khai nhiều biện pháp nghiệp vụ trong kinh doanh như: Tăng cường đào tạo cho đội ngũ cán bộ những kiến thức mới về tin hoc, thị trường, nghiệp vụ ngân hàng, tiếp cận trực tiếp tới khách hàng có nhu cầu gửi tiền nắm bắt nguyện vọng nhằm thỏa mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng,…Để thấy được điều này, ta xét biến động nguồn vốn của ngân hàng trong thời gian qua:

Qua bảng 5 ta thấy, năm 2025 tổng nguồn vốn huy động là 217.282,539 triệu đồng tăng 11,49% so với năm 2024. Về quy mô thì nguồn tiền gửi của các TCKT-XH chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng tốc độ tăng trưởng không ổn định năm 2025 tiền gửi của các TCKT-XH chiếm tỷ trọng 65,29%, giảm so với 78,33% của năm 2024. Nguồn tiền gửi của các tổ chức KT-XH có xu hướng giảm về cả quy mô và cơ cấu (năm 2025 giảm 7,05 % so với năm 2024). Có điều này xảy ra cũng là hợp lý bởi hiện nay nhìn chung các tổ chức kinh tế cũng như doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn, thiếu vốn là chủ yếu bởi vậy dẫn tới tình trạng nguồn vốn này có xu hướng năm sau giảm so với năm trước. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

  • Bảng 5 : Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động tại ngân hàng

Nguồn tiền gửi của dân cư có xu hướng tăng lên về quy mô và cơ cấu. Năm 2025 tiền gửi của dân cư là 48.289,464 triệu đồng chiếm tỷ trọng 22,23% nguồn vốn huy động, tăng 14,35% so với năm 2024.

Năm 2025, Ngân hàng tiến hành phát hành giấy tờ có giá, nhằm huy động nguồn vốn trung, dài hạn giúp ngân hàng chủ động hơn trong hoạt động đầu tư và cho vay. Lượng giấy tờ có giá phát hành chiếm 12,48% tổng nguồn vốn huy động.

Nhìn chung, công tác huy động nguồn vốn năm 2025 có rất nhiều khó khăn. Do giá cả biến động liên tục, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu làm ảnh hưởng đến tâm lý của người gửi tiền, mặt khác thực hiện chủ trương chỉ đạo của chính phủ thắt chặt chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát làm cho lượng tiền trong lưu thông giảm, người có tiền gửi có xu hướng chuyển sang tích lũy.

2.2.3.1. Phân tích hoạt động huy động vốn theo loại tiền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Viêt – Chi nhánh Hải Phòng

  • Huy động vốn nội tệ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng

Cũng giống như các NHTM khác, hình thức huy động vốn bằng nội tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với huy động vốn ngoại tệ. Việc huy động vốn bằng nội tệ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng được thể hiện qua bảng 6:

  • Bảng 6: Huy động vốn nội tệ của Ngân hàng năm 2024-2025

Theo số liệu từ bảng 6 thì nguồn vốn từ nội tệ của ngân hàng liên tục tăng qua các năm, diễn biến của nguồn vốn huy động này cụ thể như sau:

  • Huy động vốn từ tiền gửi của các TCKT-XH

Nguồn tiền này có quy mô, cơ cấu lớn nhất trong tổng nguồn vốn nội tệ huy động, tỷ trọng trung bình dao động trên 37% tổng vốn nội tệ huy động. Tuy vậy, tiền gửi của các tổ chức kinh tế năm 2025 so với năm 2024 có xu hướng giảm về cơ cấu, năm 2024 chiếm 38,55%,năm 2025 chiếm 35,72% giảm 2,83%. Giảm về quy mô, nhưng tốc độ tăng trưởng năm 2025 so với năm 2024 vẫn tăng 11,32%. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Thực trạng này cho thấy, lượng vốn lớn với chi phí hợp lí từ các công ty, doanh nghiệp gửi tại ngân hàng đang có chiều hướng giảm đi. Nguyên nhân là vì tiền gửi nội tệ của các TCKT-XH tại ngân hàng là từ các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, với chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tiền gửi này thường là tiền gửi giao dịch hoặc có kì hạn ngắn, hưởng lãi suất thấp vì các doanh nghiệp có tốc độ quay vòng vốn khá nhanh. Hơn nữa, trong năm qua tình hình kinh tế khó khăn ảnh hưởng không ít tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Nguồn vốn từ các TCKT-XH giảm sẽ không có lợi đối với ngân hàng vì nếu ngân hàng huy động được nhiều để cho vay và đầu tư thì không những kéo dài được chênh lệch lãi suất hai đầu mà còn giảm được chi phí vốn bình quân, tăng lợi nhuận.

  • Huy động vốn từ tiền gửi của dân cư

Đây là nguồn tiền có cơ cấu và quy mô ổn định qua 2 năm. Năm 2025 đạt 102.632,749 triệu đồng, chiếm 64,28% tổng nguồn vốn nội tệ huy động, tăng 25,73% so với năm 2024.

Nhược điểm của loại tiền gửi này là có lãi suất huy động bình quân cao, kỳ hạn tiền gửi danh nghĩa của người dân thường ngắn (phổ biến kì hạn nhỏ hơn 12 tháng) nhưng kỳ hạn thực tế trung bình lại dài, tính ổn định cao, là nguồn chính để ngân hàng cho vay trung và dài hạn và tăng hệ số sử dụng vốn. Điều này làm tăng khả năng sử dụng vốn, khả năng dịch chuyển kì hạn dư nợ, kết quả kinh doanh và sức cạnh tranh của ngân hàng.

  • Huy động vốn ngoại tệ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng

Trên đây là nguồn vốn được huy động bằng nội tệ VNĐ. Trong vốn huy động của ngân hàng thì ngoài đồng VNĐ, ngân hàng còn huy động vốn ngoại tệ( chủ yếu là đồng USD ). So với nguồn vốn nội tệ thì nguồn ngoại tệ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều. Thực trạng huy động ngoại tệ của ngân hàng được thể hiện qua bảng 7 như sau:

Bảng 7: Huy động vốn ngoại tệ

  • Tiền gửi bằng ngoại tệ của các tổ chức kinh tế- xã hội

Cũng giống như tiền gửi bằng nội tệ thì tiền gửi bằng ngoại tệ của các TCKT-XH cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trên 70% lượng tiền gửi bằng ngoại tệ. Nhưng đang có xu hướng giảm xuống năm 2025 đạt 42.692,372 triệu đồng tương đương 74,07%, giảm 5,43% trong tỷ trọng lượng tiền gửi bằng ngoại tệ. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

  • Tiền gửi bằng ngoại tệ của dân cư

Lượng tiền gửi của dân cư năm 2024 là 12.721,381 triệu đồng chiếm tỷ trọng 20,5%, tới năm 2025 tăng lên 2.221,597 triệu đồng tương đương với 17,46%. Tiền gửi ngoại tệ của dân cư tăng lên là do tâm lí lo sợ của người dân trước tình hình lạm phát làm cho đồng tiền nội tệ mất giá, chuyển sang mua và gửi vào ngân hàng các loại ngoại tệ, đặc biệt là USD đồng tiền được xem là mạnh và ổn định nhất. Như vậy, cơ cấu huy động vốn qua loại tiền của ngân hàng là tương đối phù hợp. Ngân hàng có thể chủ động phần nào trong việc cho vay đối với từng loại tiền, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.

2.2.3.2. Phân tích huy động vốn theo kỳ hạn và đối tượng

Đối với phân tích huy động vốn theo loại tiền cho ta thấy biến động của nguồn nội tệ cũng như ngoại tệ để ngân hàng đề ra các chiến lược thúc đẩy huy động nội tệ hoặc ngoại tệ tùy theo tình hình biến động của thị trường cũng như chính sách tiền tệ của NHNN thì phân tích huy động vốn theo kì hạn và đối tượng cho ngân hàng thấy được nguồn nào, đối tượng nào ngân hàng có thể huy động có hiệu quả nhất.

Bảng 8: Huy động vốn theo kì hạn và đối tượng

  • Tiền gửi không kì hạn

Tiền gửi này được huy động chủ yếu từ các TCKT-XH, các doanh nghiệp, dân cư huy động nhỏ, có tỷ trọng trung bình 35,03% có xu hướng giảm dần và có phần hơi chững lại về cuối năm. Điều này là một vấn đề cần quan tâm bởi số lượng khách hàng gửi vào tài khoản tiền gửi giao dịch lớn sẽ là lợi thế của ngân hàng, những người gửi tiền hiện tại sẽ có thể trở thành những người vay vốn tiềm năng vì tính không khớp nhau giữa chu kì sản xuất kinh doanh và nhu cầu vốn cho đầu tư, dự trữ vật tư, mở rộng sản xuất. Đồng thời, ngân hàng có được cơ sở về tình hình tài chính của ngân hàng thông qua số dư tiền gửi thường xuyên trên tài khoản của khách hàng tạo điều kiện tốt để ngân hàng nâng cao được chất lượng tín dụng. Với mục tiêu mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt giảm bớt lượng tiền trong lưu thông kiềm chế lạm phát, mở rộng thanh toán bù trừ nên chất lượng thanh toán ngày được nâng cao, rút ngắn thời gian chu chuyển vốn của khách hàng.

  • Tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Khác với tiền gửi không có kì hạn thì loại tiền gửi này chủ yếu được huy động từ dân cư. Loại tiền gửi này có tỷ trọng và xu hướng giảm. Lượng tiền gửi có kì hạn của các TCKT-XH có xu hướng giảm bởi một số doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vấn đề vốn. Dân cư lại có xu hướng tích lũy nhiều hơn tiêu dùng do đó lượng tiền gửi có kì hạn ngắn đang tỏ ra được ưa chuộng. Về tỷ trọng năm 2025 lượng tiền huy động giảm 6,01% so với năm 2024 và nhìn chung về tổng thể thì năm 2025 huy động từ loại tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng đã giảm 1,1% so với năm 2024. Đây là loại tiền nhạy cảm nhất đối với lãi suất, khách hàng gửi vào chủ yếu với mục đích hưởng lãi tiền gửi do đó sự thay đổi, chênh lệch lãi suất giữa các ngân hàng ảnh hưởng rất nhiều tới lượng tiền gửi này. Tuy kì hạn ngắn nhưng lại là loại tiền gửi quan trọng với ngân hàng, cần được chú trọng. Để nâng cao lượng tiền gửi này, ngân hàng tập trung vào thực hiện đa dạng hóa kì hạn gửi tiền và các hình thức trả lãi phong phú tạo điều kiện thuận tiện nhất cho khách hàng.

  • Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng

Tại ngân hàng đây là loại tiền gửi có quy mô cũng như cơ cấu nhỏ nhất và đang có xu hướng giảm về cơ cấu ( Năm 2024 chiếm 9,57%, năm 2025 chiếm 7,45%). Loại tiền gửi này chủ yếu được huy động từ dân cư. Tuy ngân hàng đã có cố gắng trong việc nâng cao các hình thức huy động nhưng lượng tiền gửi này vẫn còn rất khiêm tốn.

  • Tiền vay

Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá là hình thức huy động linh hoạt giải quyết nhu cầu vốn tức thời. Năm 2025 chi nhánh NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Hải Phòng tiến hành phát hành đợt giấy tờ có giá đầu tiên nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Vốn huy động từ kỳ phiếu và trái phiếu đạt 27.110,378 triệu đồng, tuy nhiên đây vẫn là nguồn huy động nhỏ nhất chiếm tỷ trọng 12,47% tổng nguồn vốn huy động năm 2025 của ngân hàng. Đợt phát hành này đã mang lại cho chi nhánh một lượng vốn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong thời gian tới.

Nhìn chung vốn huy động của chi nhánh tăng trong hai năm qua, nhưng chủ yếu là do đợt phát hành giấy tờ có giá, tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng đang có xu hướng giảm nhẹ, nguồn dài hạn còn rất nhỏ bé. Gây khó khăn cho ngân hàng trong việc hoạch định nguồn vốn gây ra ứ đọng vốn nếu cho vay không hết nhưng nếu cho vay quá nhiều chi nhánh sẽ bị động trong việc thanh toán. Vốn dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ khiến cho ngân hàng khó có khả năng chuyển dịch cơ cấu dư nợ theo thời hạn. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

  • Qua phân tích trên ta rút ra một số kết luận sau:

Nguồn huy động không kỳ hạn chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng nguồn vốn huy động nhưng lại chiều hướng giảm nhất là đối với đối tượng khách hàng là các TCKT-XH.

  • Nguồn huy động có kỳ hạn chưa ổn định:

Lượng tiền gửi của các tổ chức tín dụng có quy mô không cao và lại đang có xu hướng giảm. Thời gian qua, do tình hình kinh tế khó khăn khiến cho lượng các TCKT-XH và các công ty gửi tiền tại chi nhánh đang giảm xuống cả về số lượng khách hàng thì cũng như số dư tiền gửi tại chi nhánh.

  • Nguồn tiền gửi của dân cư có mức tăng trưởng và tương đối ổn định(đây là nguồn chủ yếu ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay và đầu tư).
  • Nguồn tiền đi vay từ việc phát hành giấy tờ có giá cũng đáp ứng được phần nào yêu cầu sử dụng của chi nhánh.

2.2.4. Đánh giá hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Chi nhánh Hải Phòng

Hoạt động huy động vốn của ngân hàng cũng giống như các ngân hàng khác luôn chịu sự tác động của môi trường kinh doanh, chính sách pháp luật của nhà nước và các yếu tố khác có liên quan tới bản thân ngân hàng. Từ thực trạng huy động vốn của ngân hàng, tác giả rút ra được một số nhận xét như sau:

2.2.4.1. Kết quả đạt được

Trong những năm qua ngân hàng đã chủ động xác định rõ chiến lược, phương châm hoạt động kinh doanh trong từng thời kì. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích kỹ những khó khăn và thuận lợi, những thời cơ thách thức của hoàn cảnh cụ thể cũng như dự đoán những vấn đề mới nảy sinh. Vì vậy trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng đều đạt được những thành tựu đáng kể. Sau đây là một số thành tựu ngân hàng đạt được trong công tác huy động vốn:

Về quy mô huy động vốn từ bên ngoài: Với mục tiêu và chiến lược kinh doanh nhằm không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh, ngân hàng đặt ra phương châm tập trung khai thác nguồn nhàn rỗi của các thành phần kinh tế một cách có hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Trong các năm trở lại đây vốn huy động từ bên ngoài của ngân hàng tăng dần qua các năm tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ đầu tư và cho vay của mình. Hơn nữa, với tỷ trọng nguồn tiền gửi lớn hơn rất nhiều so với nguồn tiền vay đã phần nào giúp ngân hàng giảm chi phí, tăng lợi nhuận.

Trong tiền gửi thì tiền gửi không kì hạn luôn chiếm tỷ trọng đáng kể một mặt tạo điều kiện tăng số dư, giảm chi phí đầu vào( tiền gửi không kì hạn có mức lãi suất thấp nhất, hầu như không đáng kể) mặt khác giúp ngân hàng mở rộng các dịch vụ liên quan tới huy động vốn như phát hành thẻ,…Tiền gửi của tầng lớp dân cư chiếm tỷ trọng cao và ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình.

  • Về cơ cấu nguồn vốn huy động: Cũng như các NHTM Cổ phần khác nguồn huy động chủ yếu của ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn.
  • Ngân hàng đã đa dạng hóa các phương thức huy động vốn kết hợp với sử dụng linh hoạt công cụ lãi suất để thu hút nguồn tiền gửi từ các tầng lớp dân cư, doanh nghiệp đáp ứng tốt nhu cầu vốn cho nền kinh tế tạo sự ổn định cho nguồn vốn kinh doanh.
  • Cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng phục vụ hoạt động nghiệp vụ huy động vốn đã và đang được đổi mới nâng cấp.
  • Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình biến động của lãi suất nhằm đưa ra những dự báo về biến động nguồn vốn trên thị trường sao cho phù hợp
  • Trình độ cán bộ ngày càng được nâng cao, có khả năng xử lý tốt mọi tình huống nảy sinh trong công tác huy động vốn.
  • Tiếp tục phát triển mối quan hệ chặt chẽ với các khách hàng truyền thống, những đơn vị có nguồn vốn lớn thông qua thực hiện công tác thanh toán sao cho thuận lợi, nhanh chóng. Đồng thời mở rộng quan hệ khách hàng mới nhằm huy động vốn từ các tổ chức.
  • Tích cự khai thác, huy động vốn tại chỗ, đồng thời chi nhánh đã tranh thủ được sự hỗ trợ kịp thời, có hiệu quả của nguồn vốn trong nội bộ Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu về vốn của khách hàng.

2.2.4.2. Tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại

  • Những tồn tại Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Trong quá trình thực hiện chính sách huy động vốn của mình, ngân hàng cũng đã gặp phải những trở ngại chủ quan cũng như khách quan như:

Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế giảm so với năm trước đã làm tăng lãi suất đầu vào đáng kể của chi nhánh, vì vậy cần phải tiếp tục quan tâm hơn nữa đến doanh nghiệp có tiền gửi lớn, tạo điều kiện ưu đãi để họ tiếp tục tin tưởng và giữ vững quan hệ lâu dài với ngân hàng.

Công tác huy động vốn chưa thực sự gắn liền, đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn. Huy động vốn của ngân hàng bị mất cân đối về kỳ hạn. Trong khi nguồn vốn ngắn hạn tạm thời đáp ứng mục tiêu kế hoạch của ngân hàng thì nguồn vốn trung và dài hạn vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh trung, dài hạn của ngân hàng. Việc chuyển hóa nguồn để đầu tư cho vay trung, dài hạn còn hạn chế vì để làm điều này ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản. Tốc độ tăng trưởng của vốn huy động tại chỗ hiện thời còn thấp hơn nhu cầu sử dụng vốn. Do vậy ngân hàng vẫn phải nhận một lượng vốn điều hòa hàng năm. Tạo ra sự phụ thuộc của chi nhánh đối với hội sở chính ngày càng tăng.

Chính sách khách hàng, công tác tuyên truyền quảng cáo chưa thực sự được đầu tư đúng mức do đó tạo ra nhiều hạn chế cho công tác huy động vốn cũng như các hoạt động nghiệp vụ khác trong ngân hàng.

Kênh huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu chưa thực sự thu hút được khách hàng, phát huy hiệu quả của nó trong việc huy động nguồn vốn trung và dài hạn cho ngân hàng. Bên cạnh đó hình thức huy động vốn trung và dài hạn chưa thực sự đa dạng, tạo sự thu hút khách hàng.

Cơ chế lãi suất chưa thực sự tạo được sự hấp dẫn với khách hàng, trong đó các hình thức dịch vụ cũng chưa được phát triển nhiều.

  • Nguyên nhân của những tồn tại:

Sở dĩ còn tồn tại trong công tác huy động vốn tại NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng là do một số nguyên nhân cơ bản sau: Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

Trong thời gian qua nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đang lâm vào khủng hoảng, các ngân hàng cũng không tránh khỏi lao đao trong việc huy động vốn. Mặt khác, nền kinh tế trong giai đoạn này chứa đựng những yếu tố biến động khó dự đoán về lạm phát, tỷ giá, lãi suất, phá sản,…Vì vậy, việc gửi các khoản tiền tiết kiệm có kì hạn ngắn thường được khách hàng lựa chọn để họ dễ dàng chuyển đổi mục đích sử dụng vốn sang mua vàng, ngoại tệ, … hơn là gửi tiết kiệm.

  • Tâm lí ưa dùng tiền mặt của dân chúng cũng ảnh hưởng rất nhiều tới công tác huy động vốn của chi nhánh.

Trong huy động vốn VNĐ có nhiều kênh huy động với lãi suất hấp dẫn lại đảm bảo tính thanh khoản cao như trái phiếu chính phủ, kì phiếu của công ty dầu khí,…nên công tác huy động vốn của NHTM nói chung và NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt- Hải Phòng nói riêng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong huy động vốn trung và dài hạn.

Các quy định chung liên quan tới hoạt động của ngân hàng cũng ảnh hưởng tới công tác huy động vốn. Như việc NHNN quy định trần lãi suất tạo khó khăn cho ngân hàng trong việc cạnh tranh thu hút nguồn vốn.

Ngân hàng chưa có chiến lược huy động vốn thực rõ ràng, phù hợp. Bộ phận marketing của ngân hàng phần nhiều chú trọng tới khách hàng vay vốn và khách hàng sử dụng các dịch vụ về tài chính, chưa quan tâm đúng mức tới đối tượng khách hàng gửi tiền, nhất là khách hàng cá nhân. Các sản phẩm huy động vốn của ngân hàng chưa thật sự đa dạng, tính tiện ích chưa cao dù ngân hàng đã có những bước cải tiến, chú ý nhất định.

Địa bàn thành phố có cảng biển thuận lợi phát triển giao thương vận tải đường thủy, tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc mở rộng các hoạt động của mình song cùng với đó ngân hàng phải chấp nhận sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều ngân hàng, chi nhánh, phòng giao dịch trên địa bàn thành phố.

Những tồn tại trong hoạt động tín dụng: Mặc dù dư nợ cho vay nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng 20,46% song nhìn về cơ cấu cho vay trung và dài hạn còn thấp nên tổng mức dư nợ tại chi nhánh thường có biến động lớn do tỷ trọng vốn vay ngắn hạn cao. Qúa trình sử lí tài sản đảm bả còn chậm. Hạn chế trong hoạt động tín dụng phần nào ảnh hưởng đến năng lực cũng như uy tín của ngân hàng từ đó góp phần cản trở hoạt động huy động vốn của ngân hàng.

Về cơ sở vật chất hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng măc dù trong những năm qua đã có sự đầu tư đáng kể song vẫn có những hạn chế nhất định. Trong thời gian tới ngân hàng vẫn tiến hành dần từng bước thực hiện chương trình hiện đại hóa Ngân hàng trên mọi phương diện như: Đổi mới cơ sở vật chất, mạng lưới trang thiết bị, nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng,…

Trong thời gian qua tuy chi nhánh có quan tâm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nhân viên ngân hàng , tuy nhiên đội ngũ này còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn còn hạn chế.

Từ thực trạng nguốn vốn và công tác huy động vốn của NHTM Cổ phần Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Hải Phòng vấn đề đặt ra cần phải có các giải pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn đáp ứng yêu cầu không ngừng mở rộng, nâng cao kết quả kinh doanh của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng công tác huy động vốn tại LienVietPostBank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp công tác huy động vốn tại LienVietPostBank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x