Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường, thực tiễn tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với xu hướng phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa toàn cầu, Việt Nam đã không ngừng cố gắng phát triển về mọi mặt, đặc biệt là phát triển mạnh về kinh tế. Chính sự phát triển này đã tác động không nhỏ đến sự biến đổi của môi trường xung quanh. Những năm gần đây, ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí diễn ra ở nhiều khu vực; suy thoái; cháy rừng; hiệu ứng nhà kính; suy giảm tầng ôzôn; hay sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, quá trình biến đổi khí hậu vẫn đang diễn ra và một trong những tác nhân chủ yếu có thể gây ra những tác động đó, chính là hoạt động sản xuất ở các KCN, làng nghề. Bởi Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Có lẽ vậy, với tình hình phát triển kinh tế như ngày nay, môi trường càng phải chịu những tác động nặng nề bởi hoạt động ở các KCN. Gây chú ý nhất trong thời điểm này, đó là hiện tượng thực phẩm bẩn, thực phẩm giả tràn lan và hiện tượng cá chết hàng loạt ở sông tại tỉnh Thanh Hóa; ở các vùng biển miền Trung kéo dài từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế, đang là một thách thức lớn đối với môi trường và cuộc sống của người dân. Đặc biệt là tại vùng biển Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh có tới gần trăm tấn cá chết dạt vào bờ và ảnh hưởng vô cùng lớn đến hoạt động đánh bắt của người dân nơi đây. Tại cuộc họp bất thường của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên có thể do độc tố có độc lực mạnh như sinh học, hóa học gây ra. Được biết vùng biển này nằm cách khu công nghiệp Formosa 1 km, mà trước đó Formosa vừa tiến hành sục rửa đường ống bằng các loại hóa chất độc hại. Và nhiều ngư dân ở đây cho rằng, việc xả thải ra môi trường của KCN Formosa là mối nghi vấn lớn gây ra hậu quả trên. Đến nay các cơ quan chức năng vẫn đang khắc phục hậu quả đồng thời tìm ra chủ thể xả ra các hóa chất độc hại đó để xử lý kịp thời. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Hàng loạt các doanh nghiệp vì chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm đến môi trường sống của người dân xung quanh, xả thải ra môi trường không đúng quy định pháp luật biến những dòng sông xanh trở thành những dòng sông chết. Ngay tại thủ đô Hà Nội, nơi tập trung nhiều KCN lớn, ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động, từ ô nhiễm rác thải ở sông hồ đến báo động đỏ môi trường không khí và nguồn gây ô nhiễm lớn đó là chất thải từ các KCN. Và điều này ảnh hưởng vô cùng lớn đến đời sống, sức khỏe, tính mạng của người dân nơi đây. Một minh chứng rõ nhất cho những tác động của ô nhiễm môi trường đến quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân đó là “làng ung thư” và không chỉ ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại mà còn ảnh hưởng lớn đến thế hệ mai sau. Mặc dù theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 quy định được sống trong môi trường trong lành trở thành quyền con người. Ấy vậy mà tình trạng môi trường như ngày nay lại vô cùng ô nhiễm, tác động trực tiếp đến quyền con người. Để đảm bảo được quyền này thì hơn hết việc BVMT phải luôn được coi trọng. Và vấn đề bảo vệ môi trường công nghiệp cũng là một trong những yêu cầu hàng đầu trong thời buổi công nghiệp hóa-hiện đại hóa ngày nay. Vì vậy, một vấn đề tất yếu đặt ra là cần phải phân tích rõ hơn những quy định của pháp luật về BVMT để thấy được việc áp dụng pháp luật của các cá nhân, tổ chức trong giai đoạn hiện nay cũng như nguyên nhân dẫn đến việc môi trường bị ô nhiễm. Đồng thời thấy được các quy định pháp luật về BVMT bảo đảm như thế nào đối quyền con người được sống trong môi trường trong lành theo Hiến pháp năm 2013.

Một trong những công cụ quan trọng trong việc BVMT luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng đó là hệ thống pháp luật về BVMT. Do đó, Nhà nước luôn xây dựng, ban hành rất nhiều quy định pháp luật về BVMT, những quy định này với tính chất là cơ sở pháp lý, xác định rõ các quyền và nghĩa vụ về BVMT của các chủ thể cũng như là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc BVMT. Đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, đó là việc ban hành Luật BVMT năm 1993 và sau một thời gian thực hiện đã được thay thế bằng Luật BVMT năm 2005 đã xác định việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân. Đến nay, sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành thì Quốc Hội đã thông qua Luật BVMT năm 2014. Riêng về vấn đề BVMT ở KCN cũng ngày càng được chú ý, hàng loạt các Thông tư,

Nghị định về BVMT khu công nghiệp cũng đã được ban hành. Do đó, để hiểu rõ hơn các quy định mới trong lĩnh vực môi trường hiện nay cũng như nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường thì việc nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam về BVMT và việc áp dụng các quy định đó tại các KCN là điều cần thiết.

Do vậy, tác giả chọn đề tài: “Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường, thực tiễn tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp như một đóng góp nhỏ vào công trình nghiên cứu về vấn đề này. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu.

Vấn đề BVMT là một vấn đề khá rộng và đến ngày nay thì nó trở thành nên vô cùng quan trọng. Từ trước đến nay, có rất nhiều học giả nghiên cứu về vấn đề này với rất nhiều công trình, tiêu biểu như:

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam (2013), Nguyễn Thị Tố Uyên, Luận văn Tiến sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp (2011), Đinh Phượng Quỳnh, Luận văn thạc sĩ, Luật học, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội.

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định về các tội phạm môi trường; công trình nghiên cứu của PGS, TS Đào Trí Úc, Khoa Luật-Đại học Quốc gia Hà Nội.

Các công trình nghiên cứu đã làm rõ một số vấn đề về môi trường và hoạt động BVMT nói chung ở Việt Nam một cách toàn diện, tổng thể. Cũng có một vài công trình đã đi sâu hơn về các quy định pháp luật cũng như công tác BVMT từng lĩnh vực, khía cạnh cụ thể như trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, làng nghề. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ ra hiện trạng môi trường, những vấn đề bất cập và từ đó đề xuất một vài giải pháp khắc phục nhằm cải thiện môi trường. Riêng về vấn đề BVMT ở KCN cũng có một vài công trình đi sâu phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam. Cụ thể như:

Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại và thực tiễn áp dụng trên địa bàn Hà Nội (2012), Lê Phương Linh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp- Pháp luật và thực tiễn (2011), Lê Hoàng Vẹn Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Luật- Trường đại học Cần Thơ.

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường khu công nghiệp Thụy Vân, Việt Trì, Phú Thọ (2012), Lưu Đình nghĩa, Trường đại học Bách Khoa Hà Nội… Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Viết về vấn đề này, các tác giả cũng chỉ ra quy định pháp luật về công tác BVMT ở các KCN nói chung, phân tích các quy định pháp luật về nghĩa vụ của các chủ thể trong KCN. Nhưng ở mỗi công trình nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu đến một khía cạnh, một mảng cụ thể, ví dụ như quy định về quản lý chất thải, đánh giá tác động môi trường…mà chưa có tính khái quát và chưa đưa ra tổng thể các nghĩa vụ cũng như trách nhiệm BVMT ở các KCN, đặc biệt việc áp dụng các quy định đó ở các KCN tại Hà Nội. Hơn nữa, do sự thay đổi của điều kiện kinh tế, thực trạng môi trường, đặc biệt là các văn bản pháp luật mới được ban hành nên một số đề tài không còn phù hợp với tình hình pháp luật hiện hành. Chính vậy tác giả chọn đề tài “Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường, thực tiễn tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội” mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Vẽ ra một bức tranh tổng quát các quy định của pháp luật Việt Nam về BVMT đặc biệt là BVMT ở các KCN, điển hình ở Hà Nội.

3. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về BVMT. Nghiên cứu 1 cách có hệ thống nhằm xem xét, phân tích, đánh giá nội dung các quy phạm pháp luật hiện hành về BVMT ở KCN.

Khái quát được thực trạng môi trường KCN tại Hà Nội và việc áp dụng các quy định pháp luật về BVMT ở KCN tại Hà Nội. Qua đó chỉ ra được những bất cập, tồn tại trong các quy định pháp luật cũng như trong thực tiến áp dụng.

Đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về BVMT ở KCN đồng thời nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường tại các KCN ở Việt Nam.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Với đề tài: “Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường, thực tiễn tại các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội” có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật Việt Nam về BVMT, đặc biệt là các quy định về BVMT ở KCN. Thực trạng áp dụng các quy định đó tại một số KCN ở Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi pháp luật Việt Nam về BVMT như Luật bảo vệ môi trường và một số các văn bản dưới luật như Thông tư, Nghị định quy định về vấn đề bảo vệ môi trường khu công nghiệp.

Về thời gian: Khóa luận nghiên cứu pháp luật Việt Nam về BVMT và thực tiễn áp dụng tại các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

Về nội dung: Do kiến thức và trong khuôn khổ thời gian cho phép nên bài khóa luận tập trung vào nghiên cứu, phân tích một số nội dung cơ bản trong các quy định pháp luật Việt Nam về BVMT ở KCN như vấn đề quản lý chất thải, nước thải, khí thải, công tác đánh giá tác động môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường…. Ngoài ra, bài khóa luận cũng hệ thống các quy định pháp luật Việt

Nam về BVMT nói chung trong giai đoạn hiện nay và đánh giá thực trạng các quy phạm pháp luật cũng như việc thực thi các quy định đó trên thực tiễn tại các KCN trên địa bàn Hà Nội. Khảo sát kinh nghiệm của một số quốc gia và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về BVMT ở KCN.

5. Phương pháp nghiên cứu

Bài khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về bảo vệ môi trường. Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, chứng minh…Hay những phương pháp thực tế như phỏng vấn, khảo sát…

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Thứ nhất, khóa luận đã tổng quát được các quy định pháp luật về BVMT đồng thời khái quát được nội dung của các quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường khu công nghiệp.

Thứ hai, cung cấp một số liệu cụ thể về tình hình môi trường KCN tại Hà Nội hiện nay và chất lượng môi trường sống của người dân khu vực. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Thứ ba, qua việc chỉ ra được thực trạng môi trường cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về BVMT ở KCN tại thành phố Hà Nội, bài khóa luận cũng chỉ ra một vài bất cập trong các quy định pháp luật và đề xuất giải pháp khắc phục cũng như hoàn thiện pháp luật.Với những giải pháp đó, cũng có thể coi như một gợi ý, một ý kiến để xem xét cho những lần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới; bảo đảm chất lượng môi trường được cải thiện và hòa nhập thế giới.

Thứ tư, làm tài liệu tham khảo trong việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, bài tham luận cũng như làm cơ sở cho các bài nghiên cứu tương tự liên quan đến vấn đề BVMT.

7. Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, để đạt được mục tiêu phần nội dung của khóa luận bao gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lí luận liên quan đến pháp luật về bảo vệ môi trường.
  • Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và thực tiễn tại khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1. Bảo vệ môi trường và sự cần thiết của pháp luật về bảo vệ môi trường.

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản.

1.1.1.1. Môi trường:

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều những nhận định khác nhau về khái niệm môi trường. Các khái niệm về môi trường không hoàn toàn đồng nhất mà được thể hiện dưới nhiều phạm vi, khía cạnh khác nhau. Một số những định nghĩa hay được sử dụng trong các công trình nghiên cứu về môi trường như: Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

“Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế – xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người.” Theo quan điểm của UNEP – Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, 1980 1.

“Môi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vật hoặc một cơ thể nhất định đang sống, là mọi vật bên ngoài cơ thể nhất định.” – Theo G.Tyler Miler, Environmental Science, USA, 1988 [15, 3].

Hay theo định nghĩa của UNESCO (1981) “Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa…) và những cái vô hình (tập quán, niềm tin, nghệ thuật…), trong đó con người sống bằng lao động của mình, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình.”

Có thể thấy môi trường dường như là một thứ vô hình mà không ai có thể xác định cụ thể được nó. Bởi vậy, nó là môt khái niệm khá rộng và đa dạng. Và tùy theo chức năng của môi trường thường có thể bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo. Có thể hiểu:

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố ở thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học; là những thứ sẵn có, tồn tại ngoài ý muốn của con người và không phải do con người tạo ra nhưng lại chịu sự tác động của con người. Môi trường này cung cấp không khí, đất, tài nguyên, sinh thái… phục vụ đời sống của con người.

Môi trường xã hội đó là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, gắn kết với nhau tạo thành một tập thể con người ở các cấp khác nhau như quốc gia, tỉnh, huyện, xã…. Môi trường xã hội sẽ tạo cho con người một khuôn khổ sống, một nếp sống nhất định và ở đó có sự đoàn kết của tập thể người cho sự tồn tại và phát triển.

Đối lập với môi trường tự nhiên là môi trường nhân tạo, nó không tồn tại một cách tự nhiên mà bao gồm các nhân tố do chính con người tạo ra, hình thành nên như những vật dụng phục vụ cho cuộc sống: các phương tiện giao thông, máy móc, nhà cửa…Chính sự nhân tạo đó mà giúp cho cuộc sống của con người hoàn thiện, phong phú và phát triển hơn.

Và còn rất nhiều sự phân loại về môi trường nhưng tùy theo khía cạnh, chức năng mà mỗi cá nhân lại đưa ra những cách hiểu khác nhau về môi trường. Dường như không có một khái niệm hoàn chỉnh nào bao quát chung các vấn đề trong môi trường, thể hiện hết được vai trò, ý nghĩa của môi trường. Nhưng tựu chung lại có thể thấy khái niệm môi trường được định nghĩa tại khoản 1, điều 3, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã thể hiện được phần nào điều đó: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất, tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”

1.1.1.2. Hoạt động bảo vệ môi trường. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Từ thực tế tồn tại các yếu tố môi trường mà các nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau về môi trường, nhưng nhìn chung đều thể hiện mối liên hệ giữa môi trường và con người, sinh vật. Và để môi trường tồn tại như những gì vốn có của nó, chống lại những tác động do con người gây ra thì trong thời buổi ngày nay công tác bảo vệ môi trường là rất cần thiết.

Theo Khoản 3, Điều 3, Luật BVMT năm 2014 quy định “hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.”

Tóm lại, có thể hiểu đơn giản BVMT là những hoạt động nhằm giữ gìn môi trường trong lành, đảm bảo sức khỏe con người; sự đa dạng sinh học đồng thời sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên. Do đó, mà BVMT dần trở thành nghĩa vụ không chỉ của riêng một cá nhân, một tổ chức mà của tất cả mọi người, mọi quốc gia. Nhà nước luôn khuyến khích mọi người những hoạt động BVMT đã được cụ thể hóa trong Luật BVMT năm 2014, Luật quy định riêng một điều cụ thể về các hoạt động BVMT được khuyến khích và bên cạnh đó là các hành vi bị nghiêm cấm. Điều này giúp cho mọi người hiểu rõ hơn khái niệm về hoạt động BVMT, biết được những hành động nào là bảo vệ, là hủy hoại môi trường.

1.1.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động bảo vệ môi trường.

Việc sử dụng công cụ pháp luật để BVMT khu công nghiệp là tất yếu và phù hợp. BVMT có thể thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhưng không thể thiếu biện pháp pháp lý, bởi lẽ đây là công cụ hữu hiệu nhất trong việc điều chỉnh các hành vi của con người tác động vào môi trường. Nếu không có sự điều chỉnh của pháp luật thì công tác BVMT không thể đạt kết quả tốt. Vì vậy cần phải sử dụng pháp luật làm công cụ hàng đầu trong việc BVMT bởi:

Thứ nhất, pháp luật là những quy tắc xử sự chung, mang tính bắt buộc. Pháp luật là do nhà nước ban hành và được bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội. Bởi tính đặc trưng của pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự chung, là khuôn mẫu, mô hình xử sự cho tất cả các chủ thể trong xã hội, điều chỉnh mọi hành vi của các chủ thể đó. Các quy định pháp luật là bắt buộc đối với tất cả mọi người, thể hiện ở chỗ: pháp luật quy định cá nhân, tổ chức được làm gì, phải làm gì và cấm những hành vi nào. Trước những quy định đó thì không một chủ thể nào được vi phạm, mọi người phải tuân thủ nghiêm ngặt, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Vì vậy, khi pháp luật quy định BVMT là nghĩa vụ thì bắt buộc các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp phải thực hiện. Đặc điểm này của pháp luật góp phần làm cho công tác BVMT ở KCN đạt kết quả cao. Do đó, khi các biện pháp khác không thể điều chỉnh hành của con người thì pháp luật sẽ là công cụ bắt buộc họ phải tuân theo. Chính bởi tính bắt buộc mà các chính sách nhà nước đề ra trong việc BVMT mới được thực hiện triệt để, mới thúc đẩy sự tham gia của người dân và đồng thời cũng thay đổi được nhận thức của họ về việc bảo môi trường. Cũng bởi có sự điều chỉnh của pháp luật mà trước khi hành động mọi người luôn cân nhắc xem hành động này là những hành vi bị cấm hay không, điều này góp phần hoàn thiện hơn ý thức tuân thủ pháp luật của người dân. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Thứ hai, pháp luật được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.

Pháp luật do nhà nước ban hành và nhà nước cũng là chủ thể đặc biệt của pháp luật. Không chỉ có tính bắt buộc mà pháp luật còn có tính cưỡng chế. Điều này thể hiện khi pháp luật đã có những quy định cụ thể mà bất kỳ ai vi phạm thì đều bị các cơ quan có thẩm quyền xử lí bằng các hình thức xử phạt cụ thể được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Nếu như không chấp hành hình phạt theo quy định thì sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành. Điều này đảm bảo sự công bằng trong việc tuân thủ pháp luật. Và trong vấn đề bảo vệ môi trường cũng vậy, nếu như các chủ thể không tuân thủ đúng các quy định trong Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật có nội dung liên quan đến vấn đề BVMT thì Nhà nước sẽ áp dụng một số biện pháp cưỡng chế để đảm bảo việc thi hành, ví dụ như phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự cụ thể như đình chỉ hoạt động… Điều này càng nhấn mạnh tính nghiêm khắc của pháp luật và buộc tất cả mọi người phải tuân thủ nghiêm ngặt, hạn chế và ngăn ngừa các hành vi vi phạm.

Thứ ba, pháp luật mới bảo đảm và thúc đẩy quyền con người được sống trong môi trường trong lành.

Quyền con người được sống trong môi trường trong lành đã được ghi nhận tại Điều 43, Hiến pháp 2013 quy định: “mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường.” Như vậy, quyền này đã trở thành một quyền độc lập và cơ bản của con người. Vì thế bất kỳ ai cũng phải tôn trọng và bảo đảm việc thực hiện quyền. Cơ sở để đảm bảo quyền đó chính là môi trường trong lành. Để có môi trường trong lành thì vấn đề bảo vệ môi trường là vô cùng quan trọng. Hơn nữa, quyền này đã được cụ thể hóa trong luật BVMT năm 2014, đã được thể hiện thành một nguyên tắc riêng. Ta có thể thấy, sự điều chỉnh của pháp luật về BVMT không những được coi là một biện pháp BVMT mà mục đích sâu xa đó là bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành. Nếu như chỉ quy định quyền này trong Hiến pháp thì rất khó để thực hiện, vì vậy việc cụ thể hóa trong pháp luật về BVMT sẽ làm cơ sở để thực hiện tốt quyền này, mà không một biện pháp BVMT có thể làm tốt hơn. Và khi pháp luật điều chỉnh tốt vấn đề bảo vệ môi trường là gián tiếp bảo đảm, thúc đẩy quyền con người được sống trong môi trường trong lành. Đây chính là một trong những lý do mà cần sự điều chỉnh của pháp luật trong hoạt động BVMT.

Trong thời buổi hiện nay, tình hình môi trường ngày càng diễn biến phức tạp: ô nhiễm, suy thoái ngày một nhiều và nghiêm trọng hơn; khắc phục tình trạng đó cũng rất khó khăn không chỉ vậy tranh chấp môi trường cũng ngày một tăng; do vậy, luôn cần sự điều chỉnh thống nhất của hệ thống pháp luật để giải quyết các tình trạng đó.

1.2. Nguồn của pháp luật về bảo vệ môi trường. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Pháp luật là một phạm trù vừa mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội. Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện.

Pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Trong lĩnh vực môi trường, pháp luật là cơ sở pháp lý làm chuẩn mực cho các hành vi của con người khi tác động vào môi trường. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến môi trường như hoạt động khai thác, quản lý, sử dụng tài nguyên; bảo vệ môi trường….Nó quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi tác động vào môi trường. Những việc được làm và phải làm đối với công tác BVMT. Hay nói cách khác đó chính là nghĩa vụ của con người đối với môi trường. Và khi con người có những hành động làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái thì chính pháp luật lại là thước đo để xác định mức độ vi phạm, xử lý vi phạm và đồng thời ngăn chặn các hành vi đó. Pháp luật cũng trao quyền cho tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng cũng quy định việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên đó.

Như vậy, pháp luật về BVMT là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khai thác, quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng như bảo vệ, giữ gìn các thành phần môi trường, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành và sự phát triển của xã hội, góp phần BVMT toàn cầu.

Mặc dù ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực pháp luật khác, nhưng đến nay thì hệ thống pháp luật về môi trường cũng khá đồ sộ và phong phú. Nó được hình thành dựa trên các nguồn Luật chung, vừa đảm bảo sự phù hợp với thông lệ quốc tế vừa tạo ra sự hài hòa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nguồn của pháp luật là một trong những khái niệm cơ bản của lí luận nhà nước và pháp luật, cũng là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều học giả. Do đó có khá nhiều quan điểm khác nhau, nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn của pháp luật. Từ các cách hiểu khác nhau, dưới góc độ pháp lý và thực tiễn thì giáo trình lí luận chung nhà nước và pháp luật, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội có đưa ra một khái niệm chung nhất “nguồn pháp luật là những hình thức chính thức thể hiện các quy tắc bắt buộc chung được nhà nước thừa nhận có giá trị pháp lý để áp dụng vào việc giải quyết các sự việc trong thực tiễn pháp lý và là phương thức tồn tại trên thực tế của các quy phạm pháp luật.”

Mặc dù hiện nay, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng về cơ bản, nguồn của pháp luật về BVMT ở Việt Nam gồm:

1.2.1. Điều ước quốc tế Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Đây là một trong những nguồn cơ bản, quan trọng của pháp luật Việt Nam. Theo Khoản 1, Điều 2, Công ước Viên 1969 định nghĩa “Điều ước quốc tế là văn bản ghi nhận thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thỏa thuận được ghi nhận trong một văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của các văn kiện đó.” Có thể là các điều ước quốc tế song phương, đa phương, điều ước quốc tế có tính chất khu vực hoặc các điều ước quốc tế mang tính toàn cầu. Do đó, mà điều ước quốc tế thường có tên gọi khác nhau phụ thuộc một phần vào chủ thể ký kết ví dụ: các hiệp định, hiệp ước, công ước, nghị định thư…

Việc tham gia các điều ước quốc tế, Việt Nam đã chuyển hóa nội dung của nó thành các quy định trong các văn bản pháp luật, không chỉ vậy, cách thức giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế cũng giúp cho Việt Nam có thể học hỏi và rút ra kinh nghiệm để sửa đổi, hoàn thành công tác tư pháp. Ngay tại Điều 759 bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định việc áp dụng điều ước quốc tế như sau:

“Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.”

Do vậy, có thể thấy đối với pháp luật quốc gia thì điều ước quốc tế ngày càng có vị trí quan trọng và cần thiết trong việc áp dụng trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

Trong lĩnh vực môi trường, Việt Nam cũng đã tham gia nhiều công ước về bảo vệ môi trường như: Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên ; Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa, 1973; Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển (MARPOL 73/78); Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về sự biến đổi môi trường, 1992…Việc tham gia các công ước này giúp cho Việt Nam có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề BVMT, hơn nữa cho Việt Nam nhiều phương pháp, cách thức BVMT như việc thu gom, vận chuyển, tái chế các chất thải; giữ gìn và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn đa dạng sinh học…và đặc biệt là sự hợp tác với các quốc gia trên thế giới cùng giữ gìn, bảo vệ môi trường toàn cầu. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

1.2.2. Văn bản quy phạm pháp luật.

Đây là nguồn pháp luật chính thức và quan trọng nhất, bởi lẽ, các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam khi giải quyết các vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm quyền của mình đều chủ yếu dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia. Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện của các quy định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới một hình thức nhất định và chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh một loại quan hệ xã hội, được áp dụng nhiều lần trong thực tiễn đời sống. Việc thực hiện các quy phạm pháp luật trong văn bản đó không làm chấm dứt hiệu lực của nó. Do vậy, văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội tạo thành một trật tự pháp lý thống nhất, hoàn chỉnh và phù hợp.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta gồm nhiều loại có giá trị pháp lý khác nhau, cao nhất là Hiến pháp, đạo luật cốt lõi, làm tư tưởng, nguồn gốc cho ra đời các văn bản pháp luật ở từng lĩnh vực như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật hành chính…do Quốc Hội ban hành, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tiếp đó là hàng loạt các Nghị định của Chính Phủ, Thông tư của từng Bộ, Ngành. Các quy định được trình bày thành văn nên thống nhất, rõ ràng, cụ thể, đảm bảo dễ hiểu đối với tất cả các đối tượng. Nó là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để cơ quan có thẩm quyền áp dụng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên văn bản pháp luật cũng có nhiều hạn chế, do vậy đây không phải là nguồn pháp luật duy nhất bởi cũng có nhiều khi các quy phạm pháp luật không phù hợp với điều kiện thực tế, nó mang tính khái quát cao nên khó khăn trong việc áp dụng hoặc cũng nhiều trường hợp thực tế xảy ra nhiều tình huống mà quy phạm pháp luật chưa có quy định điều chỉnh nó, cũng có khi lại chính những lỗ hổng, khoảng trống trong các quy định pháp luật. Để xây dựng và thông qua một bộ luật cụ thể cần rất nhiều thời gian và hơn hết nó phải được phổ biến rộng khắp thì mới đảm bảo hiệu lực thực thi. Do vậy, văn bản pháp luật quốc gia sẽ trở thành nguồn quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam.

1.2.3. Tập quán quốc tế

Là hình thức biểu hiện các nguyên tắc xử sự, được hình thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế trong một thời gian nhất định và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận có giá trị pháp lý ràng buộc với mình. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi tập quán quốc tế trở thành một nguồn của pháp luật và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Pháp luật Việt Nam hiện nay thừa nhận tập quán quốc tế là nguồn của pháp luật Việt Nam. Ví dụ trong lĩnh vực thương mại, pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận và áp dụng các tập quán thương mại quốc tế; về vấn đề BVMT cũng vậy, như trong Tuyên bố Stockhom năm 1972 về các vấn đề môi trường cũng đưa ra các quy tắc và một số vụ việc giải quyết về tranh chấp môi trường hay xử lý vi phạm môi trường, Tòa Án cũng dẫn chiếu như một nguồn luật. Và việc áp dụng tập quán quốc tế cũng được cụ thể hóa trong Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định: “Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

1.2.4. Phong tục, tập quán Việt Nam. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Việt Nam- một đất nước giàu truyền thống dân tộc. Có những phong tục đã trở thành luật lệ, bắt buộc đối với nhiều nơi. Phong tục có thể hiểu là những hoạt động sống của con người, được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử và ổn định thành nề nếp, được mọi thành viên trong cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện có tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cộng đồng nhất định. Còn tập quán được hiểu dựa trên những nét cơ bản là những phương thức ứng xử giữa người với người đã được định hình và được xem như một dấu ấn, một điểm nhấn tạo thành nề nếp, trật tự trong lối sống của cá nhân, trong quan hệ nhiều mặt tại một cộng đồng dân cư nhất định.

Phong tục, tập quán vừa có thể là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật. Hiện nay, rất nhiều những phong tục, tập quán biến thể, lạc hậu nhiều người đã lợi dụng điều đó mà thực hiện những hành vi trái đạo đức. Ví dụ như số ít dân tộc thiểu số vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi một vài tập quán lạc hậu như vẫn còn tình trạng chuồng nuôi nhốt gia súc ở dưới gầm nhà của nhiều gia đình vùng cao huyện Mường Khương; các dân tộc Mông, Dao, theo đó nước thải, phân gia súc, gia cầm ngập ngụa tràn ra đường. Chính tập quán chăn nuôi vậy gây ô nhiễm môi trường, nước thải từ chăn nuôi không qua xử lý xả thẳng ra sông suối, rác thải không được thu gom vất trực tiếp bừa bãi ra đường gây ô nhiễm đất, nước. Điều này ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe và môi trường sống của người dân vùng cao. Những phong tục, tập quán trái với ý chí của nhà nước sẽ trở thành tiền đề để hình thành nên những quy phạm pháp luật thay thế chúng nhằm điều chỉnh, xóa bỏ nó ra khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, mà có những quy định về quản lý, xử lý nước thải, chất thải đã được ban hành…

Cũng nhiều những phong tục, tập quán tiến bộ, tốt đẹp được nhà nước thừa nhận sẽ trở thành nguồn của pháp luật. Việc áp dụng phong tục, tập quán là một trong những biện pháp cần thiết để bảo vệ bản sắc văn hóa và chuẩn mực đạo đức truyền thống của Việt Nam. Phong tục, tập quán và pháp luật có sự tác động lẫn nhau, phong tục tập quán được hình thành và tồn tại trước khi có pháp luật và đến khi pháp luật được hình thành thì phong tục, tập quán vẫn tồn tại và nó được coi như “nguyên liệu” tạo ra pháp luật, đồng thời cũng là công cụ bổ sung, hỗ trợ cho pháp luật.

Ngoài ra, phong tục, tập quán còn được coi là nguồn hình thức của pháp luật Việt Nam trong trường hợp nó được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế. Rất nhiều nơi người dân sử dụng những tập tục riêng của địa phương, của dân tộc họ để giải quyết tranh chấp khi xảy ra thì khi đó, tập quán được xem như là nguồn hình thức của pháp luật.

Riêng trong lĩnh vực BVMT, từ xa xưa đã có khá nhiều những phong tục về BVMT và nó làm tiền đề cho sự phát triển của luật BVMT sau này. Có những nơi họ thực hiện và đề cao phong tục hơn cả những quy định của pháp luật. Ví dụ, dân tộc H’Mông, họ có truyền thống gắn bó với rừng và có tục cúng rừng. Người dân H’Mông coi rừng cúng của thôn là rừng thiêng nên bảo vệ rất nghiêm ngặt theo hương ước do thôn đề ra và truyền qua nhiều đời bằng miệng. Hương ước này quy định: “Nghiêm cấm mọi người dân trong thôn kể cả người ngoài không được vào rừng cúng chặt cây, lấy củi, chăn thả gia súc vào rừng…, nếu ai vi phạm sẽ bị thôn phạt vạ bằng tiền, ngô hoặc gạo nộp vào quỹ.” 4 Hay tập quán của Người Thái quy định: “đối với rừng phòng hộ ở đầu nguồn nước thì tuyệt đối cấm khai thác; rừng dành cho việc khai thác tre, gỗ để dựng nhà, phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống thì tuyệt đối không được chặt đốt làm nương.” Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Như vậy, phong tục, tập quán được coi là nguồn thứ yếu của pháp luật Việt Nam, các quy định của nó chủ yếu tồn tại dưới dạng bất thành văn, thiếu rõ ràng, cụ thể nên khó đảm bảo sự thống nhất. Nhưng bên cạnh đó, chính phong tục, tập quán lại làm nền tảng góp phần bổ sung những thiếu sót trong các văn bản quy phạm pháp luật.

1.2.5. Nguyên tắc chung của pháp luật

Các nguyên tắc chung của pháp luật là những nguyên lý, những tư tưởng cơ bản làm cơ sở cho toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật trong thực tế 6. Những nguyên tắc chung của pháp luật sẽ được chuyển hóa trong các quy định của pháp luật để cụ thể hóa cũng như hiện thức hóa nguyên tắc đó. Ví dụ nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân và quyền con người đã được cụ thể hóa trong tất cả các văn bản quy phạm pháp luật ở bất kỳ ngành luật nào. Ngay trong Luật BVMT năm 2014 cũng đưa ra các nguyên tắc, các quy định về bảo vệ quyền con người. Theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành thì Luật BVMT năm 2014 đã cụ thể hóa quy định đó thành nguyên tắc chủ đạo cho cả bộ luật. Tại khoản 2, Điều 3 quy định: “Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành.”

Ngoài ra, hiện nay trên thế giới nhiều quốc gia trong hệ thống pháp luật Common Law cũng thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật. Nhưng trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, án lệ chưa chính thức được thừa nhận là nguồn của pháp luật, cũng không công nhận việc xét xử theo án lệ. Tuy nhiên, trong một vài lĩnh vực án lệ vẫn tồn tại dưới một số hình thức nhất định, như trong báo cáo tổng kết hướng dẫn nghiệp vụ xét xử hằng năm của Tòa án nhân dân Tối cao; các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm….Mặc dù chưa được thừa nhận nhưng nó có vai trò vô cùng lớn đối với pháp luật. Do vậy, ngày nay Việt Nam nên đẩy mạnh việc áp dụng án lệ và thúc đẩy nó trở thành một nguồn pháp luật chính thức.

1.3. Khái quát chung về khu công nghiệp Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

1.3.1. Khái niệm.

Nếu như trước đây, khái niệm KCN còn lạ lẫm với bộ phận người dân vùng nông thôn thì ngày nay nó trở nên rất quen thuộc đối với tất cả mọi người, bởi đó là nơi tạo cơ hội việc làm, đem lại nguồn thu nhập cho hàng triệu người dân Việt Nam. Theo quy định tại khoản 1, Điều 2, Nghị định 29/2008/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế được sửa đổi, bổ sung theo nghị định 164/2013/NĐ- CP thì “Khu công nghiệp” được định nghĩa là: “khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.”

Khu công nghiệp là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp, được thành lập theo quyết định của Chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ. Doanh nghiệp KCN gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. Trong đó, doanh nghiệp sản xuất là doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng công nghiệp phục vụ trong nước hoặc xuất khẩu ra nước ngoài, còn doanh nghiệp dịch vụ là doanh nghiệp thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng KCN, dịch vụ sản xuất công nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp đó đều được thành lập và hoạt động trong KCN, chịu sự giám sát của ban quản lý KCN và hoạt động theo phương hướng chung.

1.3.2. Đặc điểm khu công nghiệp

Từ quy định trên, ta có thể thấy KCN có những đặc điểm sau:

Về mặt pháp lý: các KCN được thành lập và hoạt động tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, ngoài ra với những doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu hoặc nhận đầu tư nước ngoài thì còn phải chịu sự điều chỉnh của luật đầu tư nước ngoài và có thể áp dụng quy chế pháp lý riêng. Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Về thành lập: nó không được thành lập một cách tự phát mà theo quyết định của Chính phủ trên cơ sở dự án, quy hoạch đã được phê duyệt. Nhà nước luôn thiết lập chính sách xây dựng và phát triển các KCN. Do vậy mà các KCN luôn được thành lập theo một hệ thống và cơ chế nhất định phù hợp với tình hình kinh tế, chính sách phát triển đất nước.

Về lĩnh vực hoạt động: KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Ví dụ như các ngành công nghiệp cơ khí, luyện kim, hóa chất hay công nghiệp hàng tiêu dùng…

Về không gian: có ranh giới địa lý xác định theo quy định, KCN được thành lập trên cơ sở diện tích lớn, có tính đặc biệt về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý thuận lợi và được phân bổ theo quy hoạch.

  • Phân loại:

Tùy theo tiêu chí mà các KCN được phân thành nhiều loại. Thông thường dựa vào tiêu chí chủ đầu tư, KCN gồm:

  • Các KCN bao gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong nước
  • Các KCN gồm các doanh nghiệp, dự án đầu tư trong và ngoài nước
  • Các KCN chỉ gồm các doanh nghiệp, dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài Căn cứ vào mục đích sản xuất, có thể bao gồm KCN và khu chế xuất. Khu chế xuất là một dạng của KCN chuyên làm hàng xuất khẩu.

Theo quy mô, KCN gồm KCN lớn, vừa và nhỏ. Việc phân chia như vậy dựa chủ yếu vào diện tích; số lượng, quy mô các doanh nghiệp trong KCN; nguồn vốn; số lượng lao động… Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Như vậy, có thể thấy rằng, KCN có những đặc điểm riêng biệt so với các khu kinh tế khác. Việc xây dựng các KCN nhằm phát triển sản xuất công nghiệp; thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; củng cố, tiếp thu, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ đồng thời tạo việc làm, giải quyết phần nào vấn đề kinh tế- xã hội cho đất nước.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x