Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và thực tiễn tại khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường

Sau cuộc cách mạng tháng 8/1945 thành công, khi đất nước phần nào ổn định thì phát triển kinh tế được Nhà nước chú trọng hơn, do đó mà môi trường chưa thực sự được quan tâm. Nhưng chính sự phát triển đó đã tác động không nhỏ đến môi trường và trong thời kỳ pháp luật còn sơ khai thì chưa có một quy định pháp luật riêng nào cho lĩnh vực môi trường mà mới chỉ thấy công tác BVMT xuất hiện trong một vài Sắc lệnh, Chỉ thị như năm 1949, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 142/SL quy định về việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật BVMT, có thể coi đây là văn bản đầu tiên đề cập đến vấn đề BVMT. Tiếp theo đó như Nghị quyết 36/CP của Hội đồng Chính Phủ về viêc quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất; Chỉ thị số 127/CP về công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; Nghị quyết số 183/CP về công tác trồng cây gây rừng; Quyết định số 187- CT về kế hoạch quốc gia về Môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000 và cho đến sau thời kỳ đổi mới đất nước.

Và đến khi Hiến pháp năm 1980 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1959, thì vấn đề BVMT mới được ghi nhận một cách chính thức trong Hiến định. Điều 36, Hiến pháp quy định: “Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cải tạo môi trường sống.” Kế thừa tinh thần đó, Hiến pháp năm 1992 đã có những quy định mang tính nguyên tắc về BVMT. Khi đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất quy định về vấn đề này, thì lần đầu tiên Quốc Hội ban hành Luật BVMT năm 1993. Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung năm 2005 đã khẳng định hơn vấn đề BVMT là nghĩa vụ của tất cả mọi người. Đến ngày nay, Hiến pháp năm 2013 ra đời đã có sự thay đổi nhất định đối với hệ thống pháp luật Việt Nam. Và một trong những ngành luật có sự sửa đổi sớm nhất đó là pháp luật về môi trường. Hàng loạt các văn bản pháp luật mới được ban hành. Do đó, ngày 23/6/2014, Luật BVMT năm 2014 đã được ban hành gồm 20 chương và 170 điều, có hiệu lực thi hành ngày 1/5/2015. Luật BVMT năm 2014 đã kế thừa những nội dung cơ bản của Luật BVMT năm 2005 và khắc phục một số bất cập. Một số nội dung chính được sửa đổi, bổ sung như trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; quy hoạch môi trường; kế hoạch BVMT; ứng phó với biến đổi khí hậu; thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ và đặc biệt là vấn đề BVMT ở KCN, cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung đã được đề cập tới. Như vậy, Nhà nước đã ban hành Luật BVMT năm 1993, năm 2005 và đến nay là Luật BVMT năm 2014 đã thể hiện rõ sự gắn kết trong việc BVMT và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Hiện nay, có khoảng 33 luật và 22 Pháp lệnh có nội dung liên quan tới công tác BVMT như:

Luật bảo vệ và phát triển rừng, số 29/2004/QH11, ban hành ngày 03/12/2004, Luật này quy định về việc quản lý, sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng đối với cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời cũng quy định quyền của Nhà nước về phát triển rừng; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng.

Luật đa dạng sinh học, số 20/2008/QH12 quy định việc bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thải tự nhiên, các loài sinh vật, tài nguyên di truyền; kiểm soát loài ngoại lai xâm hại bên cạnh đó cũng quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.

Luật tài nguyên nước, số 17/2012/QH13 quy định việc khai thác, quản lý, bảo vệ nguồn nước, sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả do nước gây ra. Ngoài ra Luật cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm trong việc bảo vệ tài nguyên nước của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân.

Luật biển Việt Nam, số 18/2012/QH13, luật đưa ra những quy định về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia Việt Nam đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo và nghĩa vụ bảo vệ biển, đảo.

Luật đất đai, số 45/2013/QH13 gồm 14 chương, 212 điều nhiều hơn 66 điều so với Luật đất đai năm 2003, quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền và trách nhiệm của nhà nước đối với đất đai; công tác thu hồi, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, chú trọng quy định đến quyền và nghĩa vụ vủa người sử dụng đất đối với nhà nước….

Không chỉ vậy, để hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực môi trường cũng như hòa nhập với cộng đồng thế giới, Việt Nam cũng đã gia nhập khá nhiều các Điều ước quốc tế. Hiện nay có khoảng hơn 1000 điều ước quốc tế điều chỉnh về vấn đề BVMT. Bên cạnh đó, hàng loạt Hội nghị thế giới về môi trường được tổ chức, phải kể đến Hội nghị thượng đỉnh thế giới về môi trường và phát triển bền vững năm 1992 tại Rio De Janeiro, Brazil; Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 2007 và Hội nghị của Liên hợp quốc về con người và môi trường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển, năm 1972 với chủ đề “Môi trường và con người”, có thể được coi là bước phát triển trong chính sách về môi trường trên thế giới và là một sự kiện đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thế giới nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường. Cùng với sự tiến bộ của thế giới, chung tay bảo vệ môi trường đồng thời bảo đảm thực hiện quyền con người về môi trường, các Điều ước quốc tế có sự tham gia kí kết của Việt Nam, có thể kể đến như: Tuyên bố stockhom và Tuyên bố Riô De Janeiro; Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982; Công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế; Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra 1973/1978 (Marpol 73/78); Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất do ô nhiễm dầu (CLC1969/1992)…

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp trong giai đoạn hiện nay Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

2.2.1. Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp

Hội nhập quốc tế đem lại cho Việt Nam rất nhiều cơ hội cũng như thách thức trong mọi lĩnh vực. Và lĩnh vực kinh tế luôn đòi hỏi sự phát triển hơn nữa ở Việt Nam. Chính sự hội nhập kinh tế quốc tế đã xuất hiện hàng loạt KCN, nhà máy, cơ sở sản xuất, kinh doanh… chiếm lĩnh phần lớn nền kinh tế Việt Nam. Sự mọc lên mạnh mẽ của các KCN góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển không ngừng nhưng nó lại có những tác động nhất định đến môi trường mà BVMT hiện nay lại là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia. Tình trạng môi trường Việt Nam hiện giờ đang đứng ở mức báo động, vụ việc cá chết ở vùng biển miền Trung chưa kịp lắng xuống thì gần 20 tấn cá chết trong 3 ngày từ 4/5 đến 7/5 trên sông Bưởi của huyện Thạch Thành, Thanh Hóa lại là tâm điển trong vấn đề môi trường. Được biết nguồn nước sông bị ô nhiễm trầm trọng và nguyên nhân một phần do việc xả thải chưa qua xử lý của nhà máy đường Hòa Bình trong hơn 1 tháng vừa qua. Có thể thấy, tình trạng ô nhiễm như hiện nay phần lớn là do hoạt động của các doanh nghiệp, sự ô nhiễm ngay ở các KCN. Do vậy, việc quy định về BVMT ở KCN là vô cùng cần thiết.

Riêng về vấn đề BVMT ở KCN, trên thế giới có một số Điều ước quốc tế điều chỉnh và cũng ảnh hưởng nhất định đến pháp luật Việt Nam về BVMT ở KCN. Và việc tham gia những Điều ước quốc tế đó cũng giúp cho Việt Nam có cái nhìn khách quan hơn và trau dồi kinh nghiệm trong công tác BVMT ở KCN. Chẳng hạn:

Việc tham gia Công ước Basel, 1989 đã giúp cho Việt Nam thực hiện tốt hơn công tác quản lý chất thải nguy hại và tạo căn cứ để thực hiện tốt Công ước Basel. Công ước hướng đến mục tiêu cơ bản là kiểm soát và giảm thiểu các hoạt động vận chuyển chất thải, phòng ngừa và giảm thiểu sự hình thành chất thải, tích cực thúc đẩy việc chuyển giao và sử dụng các công nghệ sạch hơn. Chính việc tham gia này, đã tạo cho Việt Nam có cơ sở để ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật về quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại, góp phần bảo về môi trường. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Tuyên ngôn quốc tế về sản xuất sạch hơn, Việt Nam tham gia ký kết năm 1999. Các kế hoạch hành động về sản xuất sạch hơn sẽ đem lại hình ảnh môi trường có lợi cho doanh nghiệp, hỗ trợ phát triển các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Việc tham gia Tuyên ngôn cũng như hợp tác với UNEP đem lại thành công trong việc thực thi sản xuất sạch hơn, có ý nghĩa đối với tất cả các cơ sở công nghiệp.Thực hiện các hoạt động sản xuất sạch hơn, các doanh nghiệp có thể làm tăng ý thức BVMT của các cán bộ quản lý, chủ các cơ sở và người lao động, đồng thời xây dựng công tác quản lý và xử lý chất thải tốt hơn. Các hoạt động này còn giúp cho doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vậy, Tuyên ngôn đã có ảnh hưởng nhất định việc hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về BVMT ở KCN. Điều đó thể hiện ngay trong Quyết định số 1419/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ, phê duyệt “Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020” ban hành ngày 7/9/2009 cũng chỉ rõ mục tiêu khi áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp từ năm 2016 đến năm 2020. Cụ thể: “50% cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn; các cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn tiết kiệm được từ 8- 13% mức tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu trên đơn vị sản phẩm; 90% doanh nghiệp vừa và lớn có bộ phận chuyên trách về sản xuất sạch hơn.”

Bên cạnh việc tham gia, kí kết các Điều ước quốc tế thì Nhà nước cũng rất chú trọng đến việc thiết lập hệ thống pháp luật quốc gia về BVMT đặc biệt là các quy định về BVMT ở KCN nhằm điều chỉnh tốt hơn đến công tác BVMT tại các KCN. Khi Luật BVMT năm 2014 đã có những quy định riêng, cụ thể về vấn đề BVMT tại KCN thì kèm theo đó hàng loạt các Nghị định, Thông tư điều chỉnh về vấn đề này được ban hành. Cụ thể:

Nghị định 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT năm 2014. Nghị định hướng dẫn chi tiết các hoạt động BVMT như kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, BVMT làng nghề, cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, xử lý cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng….Và về vấn đề BVMT tại KCN, Nghị định có quy định chi tiết về vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Thông tư 35/2015/TT-BTNMT quy định về BVMT khu kinh tế, KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao (sau đây gọi là Thông tư 35/2015/TT-BTNMT) có hiệu lực ngày 17/8/2015, thay thế Thông tư 08/2009/TT-BTNMT. Thông tư quy định chủ yếu về nghĩa vụ BVMT và trách nhiệm BVMT ở các khu kinh tế, KCN, khu chế xuất và khu công nghệ cao. Thông tư đã quy định tách bạch trong vấn đề BVMT giữa các đối tượng, giữa khu kinh tế và KCN. Đặc biệt, là quy định trách nhiệm của ban quản lý cũng như các chủ đầu tư và chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN, khu kinh tế trong việc BVMT chung. Đây được coi là những quy định quan trọng và được áp dụng phổ biến tại các KCN.

Về vấn đề quản lý, xử lý chất thải, nước thải, khí thải cũng được chú trọng và quy định trong một vài văn bản quy phạm pháp luật như: Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Nghị định 80/2014/ NĐ-CP quy định về thoát nước và xử lý nước thải. Trong đó có quy định về xử lý nước thải công nghiệp. Nghị định chỉ ra các nguyên tắc, quy trình xử lý nước thải và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về xử lý nước thải.

Nghị định 38/2015/NĐ-CP quy định về quản lý chất thải và phế liệu đã có những quy định cụ thể về quản lý chất thải, đặc biệt là quản lý chất thải nguy hại. Quy định yêu cầu việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải cũng như điều kiện cấp giấy phép xử lý chất thải đối với các cơ sở. Đồng thời, Nghị định cũng lồng ghép quy định cụ thể về vấn đề xử lý khí thải công nghiệp.

Nghị định 18/2015/NĐ-CP quy định về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM, kế hoạch BVMT và Thông tư 27/2015/TT-BTNMT về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và kế hoạch BVMT cũng quy định cụ thể, chi tiết về các đối tượng, nội dung, quy trình thực hiện, việc thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và kế hoạch BVMT.

Để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định 179/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT thay thế cho Nghị định 117/2009/NĐ-CP. Nghị định quy những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT như vi phạm các quy định về xả nước thải; về thải bụi, khí thải; vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà không có kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc báo cáo đánh giá tác động môi trường…Cũng như quy định mức xử phạt đối với các hành vi đó. Những quy định này góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hành vi xảy ra và cũng có thể coi đây sẽ là biện pháp giáo dục ý thức người dân trong việc BVMT. Cùng với đó, với hình phạt nghiêm khắc hơn, Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định những loại tội phạm về môi trường: tội gây ô nhiễm, tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, tội vi phạm về phòng ngừa sự cố môi trường, tội hủy hoại rừng….

Ngoài ra, Thông tư 13/2015/TT-BTNMT về ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường cũng đưa một số các quy chuẩn Việt Nam: QCVN 12-MT:2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp giấy và bột giấy; QCVN 13-MT:2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp dệt nhuộm;…đã đưa ra mức giới hạn buộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải tuân theo khi có những hành vi xả thải ra môi trường.

2.2.2. Nội dung của pháp luật hiện hành về bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp

2.2.2.1. Các nghĩa vụ bảo vệ môi trường khu công nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Luật BVMT năm 2014 đã quy định cụ thể nghĩa vụ BVMT của tổ chức, cá nhân và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường. Và BVMT ở KCN đã được chi tiết hóa trong thông tư 35/2015/TT-BTNMT quy định về BVMT khu kinh tế, KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao. So với thông tư 08/2009/TT-BTNMT được sửa đổi bổ sung theo thông tư 48/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 quy định về quản lý và bảo vệ môi trường khu kinh tế, khu công nghệ cao, KCN và cụm công nghiệp thì có thể thấy, Thông tư hiện hành đã quy định chi tiết hơn, cụ thể, rõ ràng hoạt động BVMT đối với từng chủ thể chứ không quy định chung chung đối với cả khu kinh tế, KCN, khu công nghệ cao như Thông tư trước. Điều này tạo cho các chủ thể nắm bắt dễ dàng hơn các nghĩa vụ của mình trong hoạt động BVMT. Như vậy, với quy định hiện hành, nghĩa vụ cơ bản mà các chủ thể trong KCN phải thực hiện để BVMT, cụ thể bao gồm:

Nghĩa vụ BVMT trong việc thực hiện đánh giá tác động môi trường hoặc lập kế hoạch BVMT.

Việc thực hiện ĐTM hoặc kế hoạch BVMT có ý nghĩa rất lớn trong công tác BVMT ở KCN, nó như một sự ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường và là một quá trình phân tích, đánh giá và dự báo các ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên; kinh tế- xã hội; đến sức khỏe cộng đồng khu vực nơi thực hiện dự án. Từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường trong từng giai đoạn hoạt động cũng như thi công các công trình.

Khoản 23, Điều 3, Luật BVMT năm 2014 định nghĩa ĐTM là việc phân tích, dự báo, tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó. Nếu thuộc đối tượng phải thực hiện ĐTM thì chủ dự án có thể tự mình hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM và việc này phải được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Nghị định 18/2015/NĐ-CP về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và kế hoạch bảo vệ môi trường đã tóm gọn và xác định đối tượng phải thực hiện ĐTM tại phụ lục 2 liệt kê 113 loại dự án ít hơn so với quy định tại nghị định 29/2011/NĐ-CP trước đây là 146 nhóm dự án. Ví dụ như chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật BVMT khu công nghiệp phải thực hiện ĐTM đối với dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tập trung hay đối với các dự án xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN cũng phải thực ĐTM…

Thực hiện nội dung này có thể thấy Nhà nước đang yêu cầu chủ dự án phải lồng ghép vấn đề xây dựng, phát triển dự án với hoạt động BVMT bởi chỉ có vậy mới hạn chế được các tác động của dự án đến môi trường. Hơn nữa nếu như việc ĐTM của dự án mà gây ra nhiều tác động xấu đến môi trường, các biện pháp BVMT không có tính khả thi thì dự án có thể sẽ không được phê duyệt. Đặc biệt, sự tiến bộ của Luật BVMT năm 2014 đã đề cao hơn vai trò của cộng đồng dân cư khi quy định một điều khoản riêng về tham vấn ý trong quá trình thực hiện ĐTM là một điều kiện bắt buộc đối với tất cả các dự án thực hiện ĐTM, trừ nhóm dự án thuộc danh mục bí mật nhà nước. Việc thực hiện ĐTM sẽ bắt buộc chủ dự án phải có những chính sách BVMT, hạn chế những tác động của dự án đến môi trường và hơn hết khi thực thi dự án, chủ dự án phải đảm bảo thực hiện theo đúng nội dung như trong báo cáo ĐTM đã thực hiện để đảm bảo việc BVMT. Bởi nhằm khắc phục những hạn chế của Luật BVMT năm 2005, Luật BVMT năm 2014 quy định chủ đầu tư phải có trách nhiệm báo cáo với cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM kết quả thực hiện các công trình BVMT, có nguy cơ tác động xấu đến môi trường trước khi đưa dự án vào vận hành. Có thể coi đây là một công cụ quản lý môi trường có tính chất phòng ngừa, góp phần cho sự phát triển bền vững và cũng là cơ sở để đối chiếu khi thực hiện việc thanh tra môi trường KCN.

Nếu trong quá trình xây dựng và hoạt động của KCN khi có sự điều chỉnh quy mô, quy hoạch, hạ tầng kỹ thuật, các danh mục ngành nghề mà chưa đến mức phải lập lại báo cáo ĐTM thì chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng phải thực hiện nghĩa vụ sau: Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Khoản 7, Điều 16, Nghị định 18/2015/NĐ-CP về quy hoạch BVMT, đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và kế hoạch BVMT quy định: “Báo cáo bằng văn bản và chỉ được thực hiện những thay đổi liên quan đến phạm vi, công suất, công nghệ sản xuất, các công trình, biện pháp BVMT của dự án khi có ý kiến chấp thuận của cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM.” Như vậy, chủ dự án sẽ không phải lập lại báo cáo ĐTM mà chỉ cần gửi báo cáo về việc thay đổi liên quan đến công trình cũng như biện pháp BVMT tới cơ quan có thẩm quyền xem xét.

Còn đối với kế hoạch BVMT, theo Điều 29, Luật BVMT năm 2014 có quy định đối tượng phải lập là các dự án đầu tư không thuộc đối tượng phải thực hiện ĐTM; phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư. Ví dụ như các dự án, phương án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; phương án đầu tư mở rộng quy mô, nâng công suất các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải thực hiện ĐTM… Như vậy, một dự án không đồng thời phải thực hiện cả việc lập báo cáo ĐTM và lập kế hoạch BVMT. Tức là nếu thuộc đối tượng phải thực hiện ĐTM thì dự án đó sẽ không phải lập kế hoạch BVMT.

Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường.

Khoản 1, Điều 8, Thông tư 35/2015/TT-BTNMT quy định: “Hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường khu công nghiệp bao gồm: hệ thống thoát nước mưa, hệ thống xử lý nước thải tập trung (gồm hệ thống thu gom nước thải, nhà máy xử lý nước thải tập trung, hệ thống thoát nước thải), khu vực lưu giữ chất thải rắn (nếu có), hệ thống quan trắc nước thải tự động và các công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường khác.”

Việc thiết kế, xây dựng hạ tầng kỹ thuật BVMT khu công nghiệp là một công đoạn quan trọng, bởi đây sẽ là hệ thống quyết định đến chất lượng môi trường KCN. Toàn bộ các chất thải, rác thải, khí thải sẽ phải qua hệ thống kỹ thuật này để xử lý trước khi xả thải ra môi trường. Do vậy, việc thiết kế và xây dựng các công trình này phải rất cẩn trọng, đảm bảo theo quy chuẩn kỹ thuật cũng như quy định của pháp luật, tránh lãng phí cũng như tận dụng được các điều kiện tự nhiên khi xây dựng, hoạt động để vấn đề BVMT đạt hiệu quả tốt nhất. Hơn nữa, quá trình thiết kế, lắp đặt phải thống nhất với nhau từ khâu chọn chất liệu, vật liệu, máy móc để thuận tiện trong việc xây dựng, sửa chữa cũng như khi vận hành.

Để BVMT một cách tốt nhất từ hoạt động sản xuất công nghiệp, thì hạ tầng kỹ thuật BVMT khu công nghiệp phải đảm bảo các hệ thống sau: hệ thống thoát nước mưa, hệ thống xử lý nước thải tập trung, khu vực lưu giữ chất thải rắn (nếu có) và hệ thống quan trắc nước thải tự động. Chủ yếu các tác nhân chính gây nên ô nhiễm môi trường đó là chất thải, do vậy phải đảm bảo có được các hệ thống theo quy định thì mới xử lý được toàn bộ những nguồn gây ô nhiễm đó. Không thể xử lý đồng bộ các loại chất thải này vào cùng một hệ thống vì mỗi một loại chất thải có những đặc điểm và cách xử lý khác nhau, cho nên buộc các doanh nghiệp phải thiết kế những hệ thống tách biệt để đảm bảo việc xử lý nguồn thải một cách triệt để. Đặc biệt hơn các nhà máy xử lý nước thải tập trung phải thiết kế lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục để đảm bảo việc vận hành cũng như chất lượng xử lý. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

So với các Thông tư trước quy định về xây dựng hạ tầng kỹ thuật BVMT, theo Điều 6, Thông tư 08/2009/TT-BTNMT quy định: Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu kinh tế, khu công nghệ cao, KCN và cụm công nghiệp bao gồm hệ thống giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải, hệ thống cấp điện, chiếu sáng, hệ thống thông tin…Thay vì quy định rườm rà và đòi hỏi ở các doanh nghiệp một loạt các hệ thống kết cấu hạ tầng BVMT như vậy thì Thông tư 35/2015/TT-BTNMT quy định ngắn gọn mà đầy đủ vẫn đảm bảo được công tác BVMT ở KCN. Thông tư đã quy định đến những vấn đề chính và quan trọng, cần thiết cho việc BVMT do vậy nên đã tóm gọn và quy định lại về điều khoản này, giúp cho các doanh nghiệp xác định được nghĩa vụ quan trọng trong việc BVMT của mình.

Quan trắc môi trường.

Tại khoản 20, Điều 3, Luật BVMT năm 2014 quy định: “Quan trắc môi trường là quá trình theo dõi có hệ thống về thành phần môi trường, tổ chức và hoạt động BVMT, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường.”

Như vậy quan trắc môi trường là một biện pháp để phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục phần nào tác động ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp. Việc thực hiện chương trình quan trắc môi trường KCN tuân thủ theo các quy định về quy trình là rất quan trọng, nhằm giảm thiểu những biến đổi môi trường, kiểm soát ô nhiễm do hoạt động của các doanh nghiệp gây ra cũng như cảnh báo kịp thời các diễn biến bất thường hay các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường có thể xảy ra, góp phần tạo cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý đưa ra các giải pháp để ngăn ngừa và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường. Theo quy định tại Điều 125, Luật BVMT năm 2014 quy định về chương trình quan trắc môi trường thì KCN phải thực hiện chương trình quan trắc chất phát thải và quan trắc các thành phần môi trường theo quy định, cụ thể gồm: môi trường đất; nước; không khí; tiếng ồn, độ rung, bức xạ, ánh sáng; phóng xạ; nước thải, khí thải, chất thải; hóa chất nguy hại và đa dạng sinh học. Sau khi thực hiện quan trắc theo quy định của pháp luật thì phải báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước về BVMT. Tại các KCN, chủ dự án và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN sẽ thực hiện quan trắc môi trường trong phạm vi dự án, cơ sở mình và thông báo kết quả cho chủ đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng KCN. Chủ đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng KCN vừa thực hiện chương trình quan trắc vừa tổng kết và báo cáo kết quả quan trắc, công tác BVMT toàn KCN, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gửi lên Ban quản lý KCN, Sở tài nguyên và môi trường vào ngày cuối cùng hàng năm.

Quản lý nước thải công nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Nước thải công nghiệp là nước thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN. Tại Khoản 7, Điều 2, Nghị định 80/2014/ NĐ-CP về thoát nước và xử lý nước thải quy định: “Nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạt động của con người xả vào hệ thống thoát nước hoặc ra môi trường.” Việc làm phát sinh nước thải chưa qua xử ý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn mà xả trực tiếp ra môi trường sẽ gây ra tác động lớn đến chất lượng đất, nguồn nước ngầm và nguồn nước sinh hoạt của người dân dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước. Hiện nay tình trạng ô nhiễm nguồn nước mà nguyên nhân chính là do nhiều KCN xả thải trực tiếp chất thải chưa qua xử lý ra môi trường đã xuất hiện ở các nơi. Chính vì thấy được hậu quả nặng nề do ô nhiễm nguồn nước gây ra mà Nhà nước đã quy định rất nghiêm ngặt trong việc quản lý nước thải ở các KCN. Ngoài việc phải đảm bảo một hệ thống xử lý nước thải theo đúng quy định thì các doanh nghiệp phải quản lý theo một quy trình nhất định. Đây là một trong những biện pháp nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường. Cụ thể tại khoản 1, Điều 9, Thông tư 35/2015/TT-BTNMT quy định:

Nước thải phải được xử lý theo điều kiện ghi trong văn bản thỏa thuận với chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp trước khi đấu nối vào hệ thống thu gom của khu công nghiệp để tiếp tục xử lý tại nhà máy xử lý nước thải tập trung bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường trước khi xả ra nguồn tiếp nhận, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều này;

Nước thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu công nghiệp chuyển giao cho đơn vị có chức năng xử lý phải có hợp đồng xử lý nước thải với đơn vị có chức năng phù hợp theo quy định hiện hành…

Như vậy, chủ doanh nghiệp phải đảm bảo việc quản lý nước thải cẩn trọng và xử lý theo đúng quy trình tại hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN, phải thực hiện đầu nối với hệ thống xử lý nước thải đó trừ trường hợp được miễn theo Khoản 4, Điều 9, Thông tư 35/2015/TT-BTNMT. Đối với việc chuyển giao xử lý nước thải cho đơn vị có chức năng thì cần phải đảm bảo có hợp đồng xác định cụ thể trọng lượng cũng như cách thức xử lý, tránh tình trạng xử lý nước thải không triệt để. Bên cạnh đó, để quá trình xử lý nước thải không ảnh hưởng đến môi trường thì hệ thống xử lý cần được bảo dưỡng và kiểm tra thường xuyên để tránh tình trạng hỏng hóc cũng như gây khó khăn trong quá trình vận hành. Ngoài ra, cán bộ vận hành nhà máy xử lý tập trung phải có kiến thức, trình độ nhất định về công nghệ môi trường, công nghệ hóa học… đảm bảo việc sử dụng máy móc, thiết bị thành thạo. Việc thực hiện tốt công tác quản lý nước thải công nghiệp sẽ góp phần bảo vệ môi trường nhất là nguồn nước.

Quản lý khí thải công nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Theo khoản 8, Điều 3, Nghị định 38/2015 về quản lý chất thải và phế liệu quy định: “Khí thải công nghiệp là chất thải tồn tại ở trạng thái khí hoặc hơi phát sinh từ hoạt động sản xuất, dịch vụ công nghiệp.”

Sau những bất cập về quản lý khí thải công nghiệp thì đến nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu cũng quy định rõ đối với việc quản lý khí thải công nghiệp, làm cơ sở pháp lý cho các doanh nghiệp thực thi. Theo đó, đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN mà phát sinh khí thải, tiếng ồn do hoạt động của máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển thì chủ các cơ sở phải lắp đặt hệ thống xử lý, giảm thiểu khí thải, tiếng ồn đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật môi trường cho phép. Tránh để tình trạng phát sinh khí thải ra môi trường gây ô nhiễm không khí. Đối với những loại khí thải lưu lượng lớn quy định tại phụ lục của Nghị định này thì phải thực hiện đăng ký chủ nguồn khí thải trừ trường hợp chủ nguồn thải có hoạt động đồng xử lý chất thải thuộc đối tượng được cấp giấy phép xử lý chất thải nguy hại. Ngoài ra chủ nguồn khí thải này phải lắp đặt thiết bị quan trắc khí thải tự động, liên tục và truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương. Như vậy, tùy vào thành phần trong khí thải mà các doanh nghiệp phải đưa ra hình thức quản lý cho phù hợp để đảm bảo môi trường không khí không bị ô nhiễm.

Quản lý chất thải.

Chất thải công nghiệp thường bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại. Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Còn chất thải nguy hại có thể hiểu đó là chất thải chứa các chất hoặc hợp chất có đặc tính như độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ… gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người. Các ngành phát sinh như ngành hóa chất, luyện kim, hóa dầu…

Đây là những nguồn có thể gây ô nhiễm rất lớn đến môi trường, bởi các chất thải này rất độc hại mà nếu để nó phát sinh ra ngoài môi trường thì sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người. Do vậy, mỗi loại chất thải, pháp luật đều có những quy định xử lý riêng. Cụ thể, với chất thải rắn thông thường thì các KCN có thể tự xử lý hoặc ký hợp đồng thu gom, xử lý với đơn vị có điều kiện xử lý theo quy định của pháp luật hoặc với sự phát triển của kinh tế như ngày nay thì các KCN có thể tái chế để tái sử dụng, biến các chất thải thành những thứ có ích, có thể sử dụng mà thân thiện với môi trường.

Còn đối với chất thải nguy hại, đây là loại chất thải đặc biệt bởi đặc điểm thành phần trong chất thải nên việc xử lý rất cẩn trọng, phải đảm bảo theo đúng trình tự quy định tại Thông tư 36/2015/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại và Thông tư 38/2015/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải và phế liệu, theo đó các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có hoạt động phát sinh chất thải nguy hại phải đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại với Sở tài nguyên và môi trường. Và chất thải nguy hại phải được phân loại rõ ràng; việc thu gom, vận chuyển chỉ được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân có giấy phép xử lý chất thải nguy hại; các phương tiện, thiết bị thu gom phải đáp ứng đúng theo yêu cầu kỹ thuật; quy trình quản lý.

Phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường trong KCN. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Theo khoản 10, Điều 3, Luật BVMT năm 2014 định nghĩa “sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.”

Do vậy để ngăn ngừa trước sự cố có thể xảy ra, pháp luật quy định các KCN phải xây dựng kế hoạch phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sự cố môi trường trong chương trình quản lý và giám sát môi trường ở KCN. Kế hoạch này phải xác định và đánh giá được nguy cơ xảy ra sự cố môi trường trong quá trình hoạt động, dự định được các tình huống có thể xảy ra trên thực tế để từ đó đưa ra được các biện pháp phòng ngừa, ứng phó và khắc phục nếu xảy ra. Ngoài ra, KCN cũng phải đảm bảo lực lượng để sẵn sàng ứng phó, hạn chế tối đa nhất các tác động tiêu cực đến môi trường. Để đảm bảo được hiệu quả của việc sử dụng lực lượng ứng phó thì tại các KCN nên tổ chức các buổi tập huấn, huấn luyện để tạo thành kỹ năng và khi có sự cố xảy ra việc ứng phó và khắc phục sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn. Bên cạnh đó, các KCN nên trang bị sẵn những thiết bị, công cụ, phương tiện cần thiết để đảm bảo ứng phó kịp thời sự cố môi trường. Và hầu hết các KCN phải đảm bảo thực hiện tốt nghĩa vụ này đặc biệt là các cơ sở sản xuất, kinh doanh hóa chất, bởi sự cố môi trường xảy ra không ai có thể dự định trước được, hoặc chỉ một sơ xuất nhỏ cũng dẫn đến tình trạng này. Do vậy, đây là nghĩa vụ BVMT cơ bản mà các KCN phải thực hiện vì môi trường sống trong lành.

Ngoài ra, tại các KCN để BVMT thì các chủ thể phải thực hiện nhiều hoạt động khác như BVMT trong việc sử dụng các thiết bị công nghệ thân thiệt với môi trường; nghĩa vụ nộp thuế, phí môi trường đồng thời sự đóng góp của các doanh nghiệp là nguồn cung cấp lớn cho hoạt động của quỹ môi trường nói chung, bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng phải thực hiện những hoạt động công ích về BVMT theo chính sách, chương trình nơi mà doanh nghiệp có trụ sở hoạt động phát động; phổ biến giáo dục pháp luật về BVMT trong nội bộ doanh nghiệp…. Nhưng tóm lại dù là những nghĩa vụ bắt buộc theo quy định của pháp luật hay là những hoạt động tự nguyện trong công tác BVMT thì các chủ thể trong KCN phải luôn ý thức được hành động, trách nhiệm của mình đối với việc BVMT, sức khỏe cộng đồng.

2.2.2.2. Trách nhiệm bảo vệ môi trường khu công nghiệp. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Thứ nhất, trách nhiệm của ban quản lý KCN, chủ đầu tư và chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN.

  • Theo Thông tư 35/2015/TT-BTNMT quy định ban quản lý KCN phải có trách nhiệm BVMT như sau:
  • Bố trí các bộ phận chuyên trách về BVMT. Hướng dẫn kiểm tra chủ đầu tư và doanh nghiệp trong KCN thực hiện các quy định về BVMT. Đồng thời định kỳ báo cáo công tác BVMT của KCN.
  • Phối hợp xây dựng quy chế với Sở Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp huyện trình UBND cấp tỉnh phê duyệt.
  • Công khai thông tin về môi trường KCN và tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật.

Phối hợp kiểm tra, thanh tra với cơ quan chức năng giải quyết các tranh chấp môi trường và xử lý các vi phạm môi trường đối với các chủ đầu tư cũng như chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.

Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN phải có trách nhiệm thiết lập một bộ phận chuyên môn về BVMT để thực hiện việc vận hành thường xuyên, liên tục công trình hạ tầng kỹ thuật và phải luôn đảm bảo được tối thiểu 10% diện tích trồng cây xanh trong KCN. Phải có trách nhiệm trong việc thực hiện và báo cáo kết quả quan trắc môi trường, công tác BVMT ở KCN. Đặc biệt là chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN có trách nhiệm xây dựng và thực hiện kế hoạch phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường.

Ngoài ra thì chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN phải thống nhất và ký văn bản thỏa thuận điều kiện đấu nối nước thải với chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN. Đảm bảo tại mỗi cơ sở đều có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tổ chức quan trắc nước thải và kê khai nộp phí bảo vệ môi trường…

Thứ hai, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với vấn đề BVMT ở KCN.

  • Thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM

Để một dự án được đi vào vận hành thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM. Do vậy, các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực môi trường phải thực hiện việc kiểm tra, thẩm định các báo cáo trước khi đưa ra quyết định phê duyệt, tức là các cơ quan nhà nước đang thực hiện trách nhiệm của mình trong việc BVMT. Bởi đây là công việc các cơ quan có thẩm quyền đánh giá, xem xét dự án có đảm bảo việc bảo vệ môi trường hay không, có những tác động gì đến môi trường và việc các chủ dự án đưa ra các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu đó có đảm bảo tính khả thi trên thực tế, có phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn mà pháp luật quy định. Việc quy định về thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM mới thúc đẩy quá trình lập báo cáo đảm bảo chất lượng và nghiêm túc hơn. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Đối với tùy loại dự án mà thẩm quyền thẩm định phụ thuộc vào từng cơ quan nhà nước. Ví dụ đối với dự án xây dựng kết cấu hạ tầng KCN có diện tích từ 200 ha trở lên; dự án xây dựng cơ sở luyện gang, thép công suất từ 200.000 tấn sản phẩm/năm trở lên…thuộc trách nhiệm thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM của Bộ tài nguyên và môi trường. Cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt có trách nhiệm xem xét, phân tích nội dung của báo cáo ĐTM, các phần nội dung liên quan đến việc dự báo các tác động cũng như các biện pháp khắc phục có mang tính khả thi hay không và sau đó đưa ra ý kiến thẩm định để làm cơ sở cho việc phê duyệt báo cáo ĐTM. Công tác thẩm định và phê duyệt một phần ràng buộc nghĩa vụ BVMT ở các KCN, tạo sự chủ động trong vấn đề bảo vệ môi trường nơi hoạt động dự án đồng thời cũng hợp thức hóa quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phát triển kinh tế- xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường.

  • Trách nhiệm trong việc quản lý và xử lý chất thải, nước thải.

Bộ tài nguyên và môi trường có trách nhiệm đề ra trình tự, thủ tục đăng ký, kiểm kê lượng chất thải, nước thải; ban hành các quy định về yêu cầu kỹ thuật, quy trình quản lý trong việc thu gom, phân loại, lưu giữ, vận chuyển và xử lý. Đồng thời chú trọng quy định việc sơ chế, tái sử dụng, tái chế các loại chất thải, nước thải có thể thực hiện để đảm bảo phòng ngừa, ngăn chặn phát sinh ra môi trường.

  • Thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về BVMT ở các KCN.

Để việc thực hiện nghĩa vụ BVMT ở các KCN đảm bảo và đạt kết quả thì việc thanh tra môi trường là rất cần thiết. Thanh tra môi trường là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, bên cạnh việc đưa ra các quy phạm pháp luật thì để pháp luật đi vào đời sống cần phải tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra. Theo đó, thanh tra việc thực hiện pháp luật về BVMT là quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định, phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về BVMT để từ đó phòng ngừa, xử lý các hành vi vi phạm này tiếp diễn, đảm bảo hiệu lực của pháp luật và sự tôn nghiêm của các quy phạm pháp luật. Đồng thời thấy được tình hình thực hiện pháp luật của các chủ thể, trên cơ sở thực tế áp dụng để tìm ra được những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện. Và trong hoạt động thanh tra đó, thì việc thanh tra thực thi các quy định pháp luật về BVMT ở các KCN luôn được coi trọng. Theo Luật BVMT năm 2014 quy định việc kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về BVMT thuộc về trách nhiệm của Bộ trưởng bộ tài nguyên và môi trường; Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh xử lý các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý, phát triển ngành công nghiệp và tổ chức triển khai thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực quản lý ngoài ra thì UBND cấp tỉnh cũng có trách nhiệm trong việc thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Nội dung thanh tra trong lĩnh vực BVMT tại các KCN tập trung vào việc chấp hành lập và thực thi các quy định về ĐTM hoặc đề án bảo vệ môi trường; xây dựng các công trình quản lý, xử lý các loại chất thải; chấp hành nộp phí bảo vệ môi trường đối; tỷ lệ diện tích đất được trồng cây, vườn hoa, sân cỏ trong KCN… Với mục đích nhằm đánh giá đúng thực trạng tình hình quản lý, sử dụng đất, bảo vệ môi trường ở các KCN theo quy định của pháp luật; các cơ quan nhà nước có chức năng nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung kịp thời chính sách, pháp luật của nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về môi trường. Đồng thời, phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần đưa công tác quản lý nhà nước về môi trường ở KCN đạt kết quả. Khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra thì cơ quan quản lý nhà nước có quyền yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp tài liệu, thông tin cần thiết cho việc thanh tra; tiến hành các biện pháp kiểm tra tại hiện trường và đặc biệt là khi phát hiện sai phạm trong việc BVMT, cơ quan quản lý nhà nước có quyền xử lý các vi phạm.

Chính nhờ hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước mà các vi phạm được phơi bày, ngăn chặn các hành vi vi phạm nghiêm trọng hơn. Theo thống kê qua thanh tra, kiểm tra, năm 2014 đã phát hiện nhiều vụ vi phạm môi trường nghiêm trọng tại các khu kinh tế, KCN, cụm công nghiệp, làng nghề như nước thải chưa xử lý đổ ra sông, hệ thống thoát nước mưa, chôn lấp chất thải nguy hại không đúng quy định… đã có 184 cơ sở bị xử phạt hành chính hơn 37 tỷ đồng, 37 cơ sở bị tạm đình chỉ hoạt động do gây ô nhiễm nghiêm trọng. Như vậy, có thể thấy rằng, từ việc phát hiện các vi phạm, cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sẽ áp dụng pháp luật để đưa ra giải pháp nhằm ngăn chặn các hành vi đó cũng như giáo dục các chủ thể trong việc BVMT. Việc xử lý các vi phạm môi trường đòi hỏi phải đúng người, đúng tội, công khai, minh bạch và hơn hết mức độ xử phạt phải thích đáng so với hành vi vi phạm. Đây sẽ là một biện pháp BVMT hiệu quả nếu như việc sử dụng nó khách quan, đúng theo pháp luật. Điều này buộc các cơ quan quản lý có thẩm quyền phải thực hiện nghiêm ngặt việc thanh tra và xử lý nghiêm minh, đúng theo pháp luật để phần nào răn đe, giáo dục tất cả mọi người trong việc BVMT.

2.3. Thực trạng ô nhiễm môi trường và công tác quản lý môi trường khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.3.1. Thực trạng ô nhiễm môi trường khu công nghiệp

Hiện nay, về tình trạng môi trường ở Việt Nam có nhiều biến động. Mặc dù Nhà nước đã thực hiện rất nhiều chính sách BVMT và cũng đạt được nhiều kết quả, môi trường được cải thiện. Như mới đây, Thủ tướng Chính Phủ quyết định phân bổ 361,76 tỷ đồng từ nguồn chi sự nghiệp môi trường đã được bố trí trong dự toán ngân sách năm 2015 để hỗ trợ 27 tỉnh thực hiện các dự án xử lý ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc khu vực công ích. Bên cạnh sự phát triển đó, thì cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Theo kết quả nghiên cứu vừa qua tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe. Không chỉ vậy, việc xử lý rác thải ở Việt Nam cũng gặp nhiều vấn đề như gây ô nhiễm nặng nguồn nước nhất là các nhánh sông Cầu, sông Nhuệ – Đáy và hệ thống sông Tiền và sông Hậu ở Tây Nam Bộ, ngoài ra, sông ở nhiều vùng nông thôn cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm nặng nề do rác thải sinh hoạt, rác thải nông nghiệp, rác thải làng nghề, rác thải từ các khu công nghiệp vẫn đang ngày đêm xả thẳng ra môi trường. Có thể thấy, đến nay nguồn nước, bầu không khí bị ô nhiễm vô cùng nghiêm trọng. Và những bệnh mắc nhiều nhất khi người dân sống ở những nguồn ô nhiễm đó, thường là liên quan đến hô hấp như viêm họng, viêm phế quản hay các bệnh ngoài da…

Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hàng năm theo thống kê của Bộ tài nguyên và môi trường, ước tính đến cuối năm 2015, trên cả nước có 304 khu công nghiệp được thành lập và trong số đó có khoảng 206 KCN đi vào hoạt động với tổng diện tích trên 57,9 ngàn ha; 97 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản, với tổng diện tích đất tự nhiên 26,1 ngàn ha.

Kéo theo đó là tình trạng ô nhiễm môi trường KCN cũng đáng báo động hiện nay, chủ yếu là ô nhiễm môi trường nước, không khí và nguyên nhân gây ô nhiễm là do chất thải công nghiệp. Ví dụ như ở Ninh Bình người dân đang phải chịu cảnh ô nhiễm không khí do nhà máy nhiệt điện, các nhà máy vật liệu xây dựng, lò vôi gây ra; ở Hải Phòng, ô nhiễm không khí nặng ở khu nhà máy xi măng, nhà máy thủy tinh, sắt tráng men; hay tại thành phố Hồ Chí Minh theo thống kê từ năm 2010 đến 2012 được thực hiện trên địa bàn 24 quận/huyện với nguồn thải, chỉ có khoảng 60% nguồn thải có hệ thống xử lý nước thải, các nguồn thải còn lại chỉ qua xử lý sơ bộ trước khi xả thải ra môi trường. Điều đáng lưu ý là trong số các nguồn thải được khảo sát thì có đến 44% các nguồn thải có lưu lượng nước thải từ 50m3/ngày đêm, đây là nguồn thải đóng góp đến 90% cả về lưu lượng và tải lượng ô nhiễm. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

  • Tại Hà Nội

Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập và theo phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, thành phố Hà Nội sẽ có 33 KCN. Trong số đó 8 KCN đang hoạt động trong giai đoạn hiện nay, đó là KCN Thăng Long; KCN Nội Bài; KCN Nam Thăng Long; KCN Sài Đồng B; KCN Thạch Thất- Quốc Oai; KCN Phú Nghĩa và KCN Hà Nội- Đài Tư. Nhưng thời gian vừa qua, Thủ tướng Chính Phủ đã đồng ý chủ trương chuyển đổi chức năng KCN Hà Nội – Đài Tư thành khu đô thị tại quận Long Biên. 5 KCN đã có quyết định thành lập, đang trong giai đoạn triển khai xây dựng với tổng diện tích 1.265 ha bao gồm: KCN phụ trợ Nam Hà Nội; Phụng Hiệp …; 5 KCN có trong danh mục quy hoạch phát triển các KCN của cả nước đến năm 2020 nhưng đang trong giai đoạn lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch, với tổng diện tích khoảng 1.468 ha, bao gồm: KCN Bắc Thường Tín…

Với số lượng lớn các doanh nghiệp kinh doanh nhiều loại ngành nghề khác nhau ở Hà Nội, không những gây xáo trộn về mặt xã hội mà còn làm ô nhiễm trầm trọng môi trường tại thủ đô. Hoạt động của các KCN đang tạo ra nhiều thách thức lớn đối với môi trường và con người quanh khu vực. Theo thống kê, thực trạng ô nhiễm tại các KCN là rất lớn, tốc độ tăng trưởng này còn cao hơn rất nhiều so với các khu vực khác. Đặc biệt là ô nhiễm và chủ yếu là ô nhiễm môi trường nước, không khí do chất thải rắn, nước thải chứa nhiều hóa chất độc hại và khí thải công nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của người dân.

  • Ô nhiễm môi trường không khí: Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Rất nhiều cơ sở gây ô nhiễm không khí, có khoảng 147 trên tổng số 400 cơ sở sản xuất tại Hà Nội có nguy cơ thải ra chất thải gây ô nhiễm không khí, khoảng 80.000 tấn khói bụi, 9000 tấn SO2, 19000 tấn khí NO2 14. Phần lớn xuất phát từ khói thải của các xe chuyên chở nguyên liệu và các ống thoát khí trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp. Chất lượng không khí suy giảm, nồng độ chất độc hại, bụi trong không khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1- 2 lần, nhiều nơi vượt từ 5-7 lần. Điều này làm cho chất lượng không khí tại Hà Nội ngày càng xấu và có thể rơi vào mức nguy hại. Theo kết quả quan trắc định kỳ hàng năm về môi trường không khí xung quanh tại 9 vị trí trong KCN Thăng Long cho thấy thông số bụi vượt 1,3 lần so với QCVN 05:2013/BTNMT. Và ô nhiễm môi trường không khí tập trung nhiều ở các KCN cũ, bởi tại đây, các KCN còn sử dụng máy móc, thiết bị công nghệ sản xuất lạc hậu.Việc ô nhiễm này được người dân phản ánh: rất nhiều khi họ thường phải ngửi thấy những mùi chất liệu, hóa chất chạy máy móc hay mùi những sản phẩm công nghiệp… Theo kết quả khảo sát chỉ số AQI (chỉ số dùng để đánh giá chất lượng không khí và khả năng tác động sức khỏe) tại Hà Nội vào tháng 3/2016 vừa qua có thời điểm chỉ số này lên tới 388, nồng độ bụi mịn PM2,5 cao gấp hơn 3 lần mức khuyến cáo theo quy chuẩn quốc gia về chất lượng không khí xung quanh và gấp 7 lần so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới 15. Con số thật đáng giật mình về chất lượng môi trường không khí tại Hà Nội. Mặc dù, hoạt động sản xuất công nghiệp không phải là nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng trên nhưng lượng khí thải xả trực tiếp ra môi trường tại các KCN lại độc hại hơn nhiều so với các nguồn thải khác.

  • Ô nhiễm môi trường đất, nước:

Không chỉ vậy, môi trường còn chịu tác động bởi một lượng lớn chất thải, nước thải công nghiệp chưa qua xử lý xả thải trực tiếp ra môi trường, ảnh hưởng không chỉ đến bầu không khí mà còn ảnh hưởng lớn đến môi trường nước, đất. Khoảng 70% trong số hơn một triệu mét khối nước thải ngày, đêm phát sinh từ các khu công nghiệp được xả thẳng ra môi trường mà không qua xử lý 16. Với chất thải rắn công nghiệp nguy hại và chất thải rắn thông thường, theo số liệu thống kê mới đây cho thấy, tổng khối lượng chất thải rắn công nghiệp trên địa bàn thành phố, trung bình mỗi ngày thải ra khoảng 750 tấn, trong đó, khoảng tấn chất thải rắn thông thường không nguy hại và chất thải công nghiệp nguy hại khoảng 97-112 tấn/ngày. Tuy nhiên, công tác thu gom chất thải rắn công nghiệp mới đạt được khoảng 637- 675 tấn/ngày, đạt 85-90% và xử lý được khoảng 382-405 tấn/ngày. Riêng chất thải công nghiệp nguy hại chỉ thu gom được khoảng 58-78,4 tấn/ngày, chiếm 60- 70%. Hằng ngày, lượng chất thải rắn có nhiều thành phần phức tạp, khó phân hủy cũng có khi được xả trực tiếp ra môi trường khiến những khoảng đất trống giờ trở thành những nơi chứa đựng phế thải của các KCN mà không thể khai thác, sử dụng được. Tình trạng này diễn ra khiến hàng chục hécta đất nông nghiệp quanh KCN bị bỏ hoang; lúa, hoa màu canh tác bị ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng.

Có bao dòng sông chết ở Hà Nội vì ngập ngụa chất thải, nước thải công nghiệp theo ống cống đổ ra như Tô Lịch, sông Nhuệ…Với màu nước đen, đục ngàu khiến bao sinh vật không thể tồn tại, bốc mùi hôi thối ảnh hưởng đến người dân sống quanh đó. Mà nguyên nhân một phần cũng từ việc xả thải của các doanh nghiệp trong KCN như KCN Nội Bài, nước thải sinh hoạt của một số nhà máy được thu gom xử lý tập trung trong khi nước thải sản xuất chứa nhiều dầu mỡ, kim loại nặng thì lại do các nhà máy tự xử lý và có khi xả thải ra môi trường, tại KCN Thạch Thất – Quốc Oai, trạm xử lý nước thải đang hoạt động có công suất 1.500 m3/ngày đêm. Trong khi đó, tổng lượng nước thải của cả khu công nghiệp là 10.000 m3/ngày đêm18. Câu hỏi đặt ra, vậy lượng nước thải còn lại được quản lý như thế nào, xử lý ra sao? Mà các chất có trong nước thải xả ra môi trường rất độc hại có thể kể đến như các hóa chất, acil, thủy ngân, dầu mỡ công nghiệp… Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Trước những thực trạng trên thì ô nhiễm môi trường càng trở thành một vấn đề cấp bách, mang tính toàn cầu. Nó không những làm ô nhiễm, suy thoái môi trường mà còn đe dọa trực tiếp đến các thành quả về phát triển kinh tế – xã hội, cũng như ảnh hưởng khá lớn đến đời sống, sức khỏe con người và đặc biệt là quyền con người được sống trong môi trường trong lành được ghi nhận tại Điều 43, Hiến pháp năm 2013 đã bị xâm phạm. Ô nhiễm nguồn nước tác động chủ yếu đến nguồn nước uống, sinh hoạt, thực phẩm bẩn, chất hóa học và gây ra các bệnh nguy hiểm như ung thư; viêm nhiễm, các bệnh ngoài da. Không khí ô nhiễm có thể gây ra các bệnh về đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm họng, đau ngực, tức thở… Điều này khiến cho bao người dân vô cùng bức xúc, có bao trường hợp gửi đơn tố cáo, khiếu nại tới cơ quan có thẩm quyền để ngăn chặn phần nào nguồn gây ô nhiễm, cũng có trường hợp người dân tự mình thực hiện như trường hợp cuối năm 2015, người dân Bình Thuận đã phải chặn đường không cho xe đổ rác vào bãi vì quá ô nhiễm.

2.3.2. Công tác quản lý môi trường trên địa bàn thành phố Hà Nội

Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như phát triển bền vững kinh tế- xã hội quốc gia . Tại Hà Nội, công tác quản lý môi trường luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trường; khắc phục, chống suy thoái, ô nhiễm môi trường; bảo vệ sự đa dạng sinh học; phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với việc bảo vệ môi trường. Trên cơ sở đó, Hà Nội cũng thực hiện công tác quản lý môi trường KCN nói riêng để đảm bảo công tác BVMT đạt kết quả như:

Thứ nhất, quản lý môi trường bằng pháp luật và chính sách.

Hệ thống pháp luật BVMT nước ta khá phong phú, gồm rất nhiều văn bản pháp luật quy định về các biện pháp BVMT xung quanh; việc khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường cũng như việc giữ gìn đa dạng sinh học và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên. Riêng công tác BVMT ở các KCN cũng được quy định cụ thể trong Luật BVMT năm 2014; Nghị định; Thông tư…Điều đó buộc các doanh nghiệp phải thực hiện các quyết sách và hành động của mình theo đúng với tinh thần pháp luật. Trong nhiều năm qua công tác BVMTnói chung và ở KCN nói riêng đã đạt được kết quả bước đầu đáng ghi nhận. Các Bộ, các cấp, các ngành đã quan tâm nhiều hơn đến nghĩa vụ BVMT, đã thúc đẩy việc cải thiện môi trường. Thành phố đã chú trọng đầu tư cho công tác kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nên hầu hết các chỉ tiêu trong 5 năm qua đều đạt so với kế hoạch. Chất lượng môi trường đã được cải thiện rõ rệt, nhất là tại các khu công nghiệp, làng nghề. Hầu hết từ khi văn bản pháp luật mới được ban hành, các KCN có trách nhiệm hơn trong việc BVMT, ý thức BVMT từ ban quản lý, nhà đầu tư đến chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN cũng ngày được nâng cao. Tất cả các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội đều đã thực hiện việc xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung theo quy định của pháp luật. Công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM được coi trọng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Bên cạnh việc thực hiện theo các quy định của pháp luật thì đến nay thành phố đã đưa ra rất nhiều kế hoạch, đề án, chiến lược, chương trình BVMT. Hằng năm, UBND thành phố luôn tổ chức việc báo cáo công tác quản lý môi trường để chỉ ra những thành quả cũng như những mặt còn hạn chế để khắc phục. Về công tác BVMT ở KCN, thành phố đã đề ra rất nhiều kế hoạch, chiến lược như Kế hoạch quản lý ô nhiễm môi trường công nghiệp đến năm 2015; Quy hoạch xử lý chất thải rắn thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050 được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt năm 2014; Kế hoạch thực hiện chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn thành phố Hà Nội…Theo tinh thần này, các KCN đang hoạt động phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đến năm 2020 phải đạt con số 100%. Về vấn đề này thì đến năm 2015, tất cả các KCN đang hoạt động tại thành phố đã đảm bảo có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Thành phố đang thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước; phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát nguồn gây ô nhiễm, các khu vực gây ô nhiễm môi trường; kiểm soát ô nhiễm, xử lý chất thải…Năm 2014 đến nay, ban quản lý KCN đã phối hợp cùng sự giúp đỡ của Sở tài nguyên và môi trường, Sở công thương đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án xử lý nước thải ở các KCN; phối hợp với các huyện ngoại thành hướng dẫn quy trình xử lý chôn lấp rác thải có kiểm soát, hợp vệ sinh; triển khai đầu tư các dự án xây dựng nhà máy đốt rác thải công nghiệp tại Nam Sơn; dự án xây dựng ô chôn lấp rác thải theo công nghệ chôn lấp bán hiếu khí Fukuoka – Nhật Bản; …Điều này đã giúp cho thành phố giải quyết được phần nào vấn đề về rác thải. Để nâng cao hiệu lực quản lý môi trường hơn nữa, đến năm 2016, Sở tài nguyên môi trường tiếp tục triển khai nhiều chương trình công tác như dự án đầu tư xử lý nước thải đặc biệt là thực hiện công tác quản lý chất thải sinh hoạt trên địa bàn 17 huyện ngoại thành…

Về công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về BVMT ở các KCN cũng được tiến hành thường xuyên và nghiêm ngặt hơn. Trong giai đoạn 2011-2015, tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh được kiểm tra tại các cấp tăng dần từ 1631 cơ sở (năm 2013) lên 1916 cơ sở (năm 2014); phát hiện và xử phạt vi phạm hành chính từ 15-30% số doanh nghiệp được kiểm tra mỗi năm. Cụ thể, chỉ trong vòng 1 năm từ năm 2012 đến năm 2013, tiến hành thanh tra đối với 42 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn quận Long Biên và huyện Gia Lâm, đã phát hiện một số cơ sở sản xuất không có hệ thống xử lý nước thải như: Công ty Văn phòng phẩm Hồng Hà, Công ty Cổ phần Vận tải Petrolimex và xử phạt vi phạm hành chính đối với 21 cơ sở [24]. Như vậy, có thể thấy việc vi phạm pháp luật về BVMT ngày một tăng, do vậy, cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác thanh tra để phát hiện kịp thời hành vi vi phạm và hạn chế việc xảy ra của những hành vi đó.

Thứ hai, quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Đây là một trong những công cụ quản lý môi trường khá hiệu quả và được thành phố áp dụng phổ biến, nhằm tác động vào lợi ích của cá nhân và tổ chức có những hành vi tác động đến môi trường để thay đổi ý thức BVMT. Công cụ kinh tế rất đa dạng, gồm thuế tài nguyên, thuế môi trường, phí môi trường, ký quỹ môi trường, quỹ môi trường… Nó được áp dụng đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu công nghiệp như cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người thì phải nộp thuế môi trường. Với quy định của pháp luật về loại thuế này thì các doanh nghiệp thuộc đối tượng chịu thuế hàng năm vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế.

Các loại phí như phí BVMT đối với nước thải được quy định tại Nghị định 25/2013/NĐ-CP. Để cụ thể hóa việc thực hiện theo Nghị định thì UBND thành phố Hà Nội ban hành văn bản số 2513/HD-STNMT hướng dẫn việc thực hiện thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp cho phòng tài nguyên và môi trường các quận, huyện và thị xã trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Quỹ môi trường được hình thành từ nguồn vốn hỗ trợ khác nhau trong đó có nguồn đóng góp từ các doanh nghiệp, là nguồn kinh phí cho hoạt động BVMT, các dự án cải tạo môi trường. Quỹ môi trường Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 48/200/QĐ-UB ngày 15/2/2000 của UBND thành phố Hà Nội. Ban đầu quỹ chủ yếu được thành lập hỗ trợ tài chính để đầu tư công nghệ xử lý chất thải, đổi mới thiết bị máy móc cải thiện môi trường. Nhưng đến nay, quỹ đã tạo dựng được nguồn vốn đủ để thực hiện chức năng của mình và thực hiện nhiều hoạt động khác như cho các doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi, ví dụ: cho công ty giày Thượng Đình vay 400 triệu đồng cho dự án đầu tư nhằm giảm thiểu ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường và nâng cao sức khỏe cho người lao động, hỗ trợ các dự án BVMT không hoàn lại.

Ngoài ra một số doanh nghiệp phải thực hiện việc ký quỹ môi trường, tức là trước khi thực hiện một hoạt động đầu tư phải ký một khoản tiền hoặc kim loại, đá quý… tại ngân hàng hay tổ chức tín dụng nhằm bảo đảm sự cam kết về thưc hiện các biện pháp BVMT hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường.

Thứ ba, công cụ kỹ thuật quản lý môi trường.

Công cụ kỹ thuật được thực hiện thông qua vai trò kiểm soát, giám sát góp phần hỗ trợ tuân thủ việc thực hiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường. Công cụ kỹ thuật bao gồm đánh giá môi trường, kế toán môi trường, hệ thống quan trắc, hệ thống xử lý và tái chế sử dụng chất thải…Thành phố đã tiền hành quan trắc giám sát môi trường tại các KCN theo định kỳ 2 lần/năm nhằm đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường do chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các dự án sản xuất, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục hiệu quả, kịp thời. Để xử lý được khối lượng rác như hiện nay, Hà Nội đã xây dựng hệ thống xử lý chất thải công nghiệp để phát điện tại Nam Sơn, đây là một mô hình kiểu mẫu đầu tiên tại Việt Nam, áp dụng công nghệ lò đốt tiên tiến của Nhật Bản để tái sử dụng nguyên liệu chất thải, biến nó thành điện năng. Nhà máy đi vào hoạt động sẽ mang lại rất nhiều lợi ích trong việc tái chế sử dụng chất thải cho Hà Nội. Đây cũng là một công kỹ thuật quan trọng bảo đảm vấn đề xử lý chất thải nói chung và chất thải công nghiệp nói riêng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Thứ tư, công tác giáo dục và truyền thông môi trường.

Là một trong những cách quản lý môi trường nhằm giáo dục ý thức người dân trong việc BVMT. Hoạt động này nhằm hướng đến một lối sống, hành vi thân thiện với môi trường như vất rác đúng nơi quy định, tiết kiệm nước…Thủ đô cũng đã thực hiện khá nhiều chương trình, chiến dịch để giáo dục, tuyên truyền cách giữ gìn và BVMT thông qua các sự kiện như ngày môi trường thế giới, giờ trái đất, tuần lễ sạch, tết trồng cây…Mỗi chủ thể, mỗi ban ngành đều có những kế hoạch, chính sách riêng để chung tay thực hiện công tác BVMT, chẳng hạn, cuộc vận động gia đình “5 không, 3 sạch” do Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp thành lập các câu lạc bộ tuyên truyền về nước sạch và vệ sinh môi trường, phát động; tổ chức mô hình “điểm về xử lý, thu gom rác thải” của hội Nông dân thành phố; các doanh nghiệp có cán bộ chuyên trách, thực hiện nghiêm túc các thủ tục hành chính và phối hợp với cơ quan chức năng trong quá trình thanh, kiểm tra về lĩnh vực bảo vệ môi trường. Đồng thời thành phố cũng tổ chức khen thưởng những tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác BVMT. Những hoạt động này nhằm cho mọi người hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc BVMT, BVMT là bảo đảm chính quyền con người được sống trong môi trường trong lành; thúc đẩy sự chung tay giữ gìn một môi trường xanh- sạch- đẹp.

2.4. Đánh giá việc thực thi pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

2.4.1. Kết quả đạt được trong việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp

Từ sau khi Luật BVMT có hiệu lực thì Bộ tài nguyên và môi trường cũng như các Bộ, ngành, địa phương đã tập trung xây dựng, ban hành nhiều văn bản hướng dẫn Luật cũng như các Thông tư, Nghị định cụ thể về BVMT ở KCN. Và sau 1 năm thực hiện, với sự tham gia của đông đảo cá nhân,tổ chức, các doanh nghiệp, nhiều chương trình phổ biến, giáo dục, tuyên truyền về pháp luật BVMT cũng được thực hiện trên cả nước và từng bước đưa Luật vào đời sống. Mặc dù mới thực hiện được hơn 1 năm nhưng có thể thấy luật BVMT đã tạo thành một hành lang pháp lý để người dân thực hiện tốt hơn quyền được sống trong môi trường trong lành và khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân, mọi người dân tham gia vào công tác bảo vệ môi trường. Đến nay pháp luật về BVMT được hoàn thiện hơn, đã có những quy định cụ thể về BVMT tại các KCN. Quy định nhiều hơn đến nghĩa vụ, trách nhiệm BVMT và việc quản lý các chất thải công nghiệp, đặc biệt là quy định về các biện pháp xử lý hành vi vi phạm pháp luật về môi trường đã nâng cao nhận thức về BVMT ở KCN, ý thức bảo vệ đang dần trở thành thói quen, văn hóa doanh nghiệp. Bước đầu các KCN đã hạn chế được phần nào sự gia tăng ô nhiễm môi trường, chú trọng đến việc khắc phục ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môi trường. Điều đó được thể hiện: Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

100% các KCN đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung.

Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Sở Công thương, Ban quản lý các KCN Hà Nội đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án xử lý nước thải ở các KCN. Đặc biệt là từ khi Thông tư 35/2015/TT-BTNMT có hiệu lực đã cụ thể hóa các quy định về trách nhiệm bảo vệ môi trường tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ, cụ thể góp phần làm cho các doanh nghiệp hiểu và dễ dàng thực thi. Do vậy, một số KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thực hiện tốt các nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong vấn đề quản lý, xử lý chất thải, khí thải và nước thải theo đúng quy định pháp luật. Đến nay, 8/8 KCN đang hoạt động trên địa bàn thành phố đều được đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung, đáp ứng quy định về bảo vệ môi trường và gần đây nhất là lễ khởi công xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại cụm công nghiệp Ngọc Hòa, huyện Chương Mỹ. Tiếp tục thực hiện “Đề án đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các cụm công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội giai đoạn 2014-2015”; Uỷ ban nhân dân huyện Chương Mỹ đã thực hiện xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung phục vụ cho 11 doanh nghiệp và hộ sản xuất, kinh doanh đang hoạt động. Về vấn đề này, phải kể đến nhà máy xử lý nước thải tập trung của KCN Bắc Thăng Long được coi là công nghệ màng lọc hiện đại lớn nhất Đông Nam Á, đảm bảo khử trùng đạt quy chuẩn; được Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội xác nhận, đưa vào hoạt động từ tháng 9/2009. Không chỉ vậy, các cụm công nghiệp, các doanh nghiệp trong KCN đều tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về xử lý nước thải sơ bộ, lắp đặt các thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí cho các khu vực gây ra khói, bụi và kiểm soát tiếng ồn hiệu quả. Các doanh nghiệp còn phải báo cáo kết quả quan trắc kiểm soát chất lượng nước thải, khí thải đầu ra theo tháng, đảm bảo môi trường lao động an toàn theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, các doanh nghiệp cũng tham gia tích cực các chương trình bảo vệ môi trường của thành phố như trồng cây xanh trong khuôn việc KCN, góp quỹ môi trường…

Kịp thời thực hiện các biện pháp ứng phó sự cố môi trường.

Khi phát hiện ra sự cố môi trường, các doanh nghiệp đã thực hiện các biện pháp ứng phó, thông báo kịp thời cho Chi cục Bảo vệ môi trường, Cảnh sát môi trường Hà Nội để phối hợp cùng giải quyết. Đảm bảo khắc phục sự cố, không để tình trạng đó gây ô nhiễm môi trường. Điển hình như sự cố tràn nước thải có chứa Cr6+, Ni (chất thải nguy hại) của Công ty MAP (thuộc KCN Thăng Long) ra hồ số 6, thì ngay sau đó, công ty MAP đã huy động lực lượng, phương tiện kết hợp với cơ quan chức năng giải quyết nguồn nước bị ô nhiễm 20. Nhằm hạn chế một cách tối đa nhất những tác động đến môi trường, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường nước sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe dân cư quanh khu vực đó. Có thể thấy rằng các KCN đang hoạt động trên thành phố đã phần nào tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, đảm bảo môi trường sống trong lành cho người dân. Biểu hiện rõ nhất là KCN Thăng Long tự hào khi được nhận bằng khen và cúp về KCN điển hình tiên tiến về BVMT do Bộ Tài nguyên và Môi trường trao tặng vào tháng 12/2010.

2.4.2. Một số tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Pháp luật quy định khá cụ thể và chặt chẽ, việc thực hiện những quy định đó cũng đạt được kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn một số bất cập trong các quy định pháp luật nên gây khó khăn trong quá trình thực hiện pháp luật về BVMT hoặc cũng nhiều cơ sở chưa chấp hành tốt các quy định pháp luật về BVMT.

Một là, một số cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN chưa có hệ thống xử lý nước, chất thải hoặc đã triển khai xây dựng hệ thống xử lý nước thải nhưng không vận hành hoặc vận hành không hiệu quả. Mặc dù pháp luật đã quy định khá cụ thể về vấn đề này. Theo báo cáo số 5/BC-UBND về công tác quản lý môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội thì còn lại khoảng 20% lượng chất thải nguy hại phát sinh tại các cơ sở công nghiệp không được lưu giữ, thu gom, vận chuyển và xử lý theo đúng quy định pháp luật về bảo vệ môi trường. Một số doanh nghiệp trong KCN không thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu giữ chất thải, gây ô nhiễm cục bộ.

Hầu hết các doanh nghiệp vẫn còn quan điểm chú trọng đến lợi nhuận, tình hình hoạt động của doanh nghiệp hơn là việc BVMT. Do vậy, mà nhiều cơ sở không xây dựng hệ thống xử lý nước, chất thải và xả trực tiếp ra môi trường. Cũng có một số cơ sở đã xây dựng hệ thống xử lý nhưng vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, lỗi thời không đảm bảo theo quy chuẩn kỹ thuật dẫn đến việc vận hành không hiệu quả. Hay như nhiều doanh nghiệp “tiết kiệm” chi phí vận hành nên dù đã xây dựng xong hệ thống xử lý nhưng vẫn không đưa vào sử dụng mà lén lút xả thải ra môi trường. Điển hình tại thành phố Hà Nội, KCN Nội Bài vận hành trạm xử lý nước thải nhưng lại chỉ để xử lý nước thải sinh hoạt. Hay như tại KCN Quang Minh, đoàn kiểm tra của Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội phát hiện toàn bộ nước thải của khu công nghiệp này đang xả trực tiếp ra môi trường, trong khi đó hệ thống xử lý nước thải lại không hề vận hành. Tiếp đến tháng 12/2014 thì còn hơn 30 doanh nghiệp chưa thực hiện đấu nối vào hệ thống xả thải chung, đến nay thì còn dưới 10 doanh nghiệp chưa thực hiện đấu nối. Theo đánh giá của UBND thành phố Hà đi kiểm tra hoạt động đầu tư xây dựng KCN Quang Minh vào tháng 5/2015 cho biết KCN Quang Minh chưa hoàn thiện hệ thống xử lý nước, chất thải đã gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt khu dân cư ô, nhiễm môi trường. Cùng với đó, để sử dụng hệ thống xử lý nước thải, doanh nghiệp phải trả phí dịch vụ khá cao, do vậy nhiều doanh nghiệp xả thải tự do ra môi trường.

Không chỉ vậy, nhiều doanh nghiệp gây phát sinh khí thải, tiếng ồn vượt quá quy chuẩn cho phép khiến nhiều hộ dân xung quanh cảm thấy khó chịu. Hầu hết các chất trong khí thải như bụi, CO, SO2 do hoạt động sản xuất hoặc do các phương tiện vận chuyển gây ra. Qua kiểm tra trên thực tế tại cơ sở, đã phát hiện ra từ tháng 1/2015 công ty trách nhiệm hữu hạn DJ Việt Nam thuộc KCN Phú Nghĩa đã tự ý xây dựng thêm và đưa vào hoạt động phân xưởng mạ, đặc biệt là công ty chưa xây dựng hệ thống xử lý khí thải phát sinh từ phân xưởng mạ này. Điều này dẫn đến việc phát sinh mùi khó chiu gây ảnh hưởng tới các hộ dân xung quanh KCN. Tuy nhiên sau khi bị xử lý theo pháp luật thì đến cuối năm 2015, công ty đã xây dựng hệ thống xử lý khí thải nhưng kết quả quan trắc các thông số đo nhanh tại hiện trường cho thấy nồng độ HC vẫn vượt quá tiêu chuẩn cho phép gấp 2 lần. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Hai là, công tác ĐTM không đảm bảo chất lượng. Một số cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không lập báo cáo ĐTM. Nhiều báo cáo ĐTM có chất lượng chưa cao, còn nặng về hình thức. Như với bản báo cáo ĐTM trước đây của KCN Nội Bài khi phê duyệt quy hoạch đã không tính đến việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tập trung nên các cơ sở sản xuất tại đây đều xả nước thải vào mương thoát nước vượt quy chuẩn cho phép nhiều lần. Hay có rất nhiều trường hợp tùy thuộc 2 dự án khác nhau nhưng lại có bản báo cáo ĐTM như nhau hoặc có những nội dung trùng hợp mà điều kiện tự nhiên cũng như môi trường của 2 dự án hoàn toàn khác nhau. Mặc dù Luật BVMT năm 2014 rất chú ý đến việc quy định về nội dung này cũng như ban hành nhiều Nghị định hướng dẫn nhưng vẫn còn tình trạng thực hiện ĐTM chỉ là hình thức để dự án được thông qua.

Công cụ ĐTM được ban hành nhằm sàng lọc những dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Nhưng trên thực tế, sau quá trình thẩm định ĐTM, một số dự án đầu tư trong các KCN sử dụng công nghệ lạc hậu vẫn được chấp thuận đưa vào sản xuất, gây ô nhiễm kéo dài và khó giải quyết. Cũng nhiều trường hợp, khi báo cáo ĐTM được phê duyệt thì chủ các dự án lại không thực hiện hoặc thực hiện không đúng như các nội dung trong bản báo cáo. Có thể do mất nhiều chi phí hoặc điều kiện thực tế không đảm bảo cho việc thực hiện. Đây cũng chính là nguyên nhân mà gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường khu vực dự án.

Ba là, trách nhiệm BVMT của ban quản lý KCN; chủ đầu tư, chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chưa cao, quản lý môi trường chưa được triệt để. Nhiều trường hợp ban quản lý doanh nghiệp không đảm bảo tính minh bạch, công khai trong việc xác nhận kế hoạch BVMT. Hơn nữa, nhiều chủ đầu tư, chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn yếu kém về chuyên môn quản lý môi trường, khoa học, công nghệ, kỹ thuật môi trường…do vậy mà quá trình quản lý cũng như thực hiện công tác BVMT chưa thực sự được đảm bảo, đạt kết quả.

2.4.3. Nguyên nhân

Mặc dù hoạt động của các doanh nghiệp đã được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật cùng các biện pháp khác về BVMT nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều tồn tại, có thể do một số những nguyên nhân sau:

Do sự hạn chế về ý thức BVMT của các chủ thể trong KCN. Họ chưa xác định rõ được ý nghĩa của việc BVMT và trách nhiệm của bản thân trong công tác BVMT. Luôn có tư tưởng BVMT là trách nhiệm của cơ quan, những người có thẩm quyền, của tất cả mọi người chứ không phải của riêng mình. Hơn nữa, họ không phải là những người trực tiếp gánh chịu những hậu quả do ô nhiễm môi trường gây ra nên họ chưa thực sự coi trọng việc BVMT. Cũng nhiều doanh nghiệp họ quan tâm đến vấn đề lợi nhuận hơn, đến lợi ích cá nhân hơn là lợi ích cộng đồng. Họ sẵn sàng giảm bớt chi phí xử lý chất, nước, khí thải mà xả thẳng ra môi trường mặc dù họ biết hành vi đó có thể lấy đi sinh mạng của bao người dân, do vậy, nhiều cơ sở đã cố ý vi phạm, không tuân theo các quy định của pháp luật. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Việc kiểm, thanh tra về bảo vệ môi trường tại địa phương còn một số tồn tại hạn chế như lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra, thanh tra còn mỏng, năng lực còn hạn chế; chưa được trang bị đầy đủ các thiết bị, phương tiện cần thiết dẫn đến gây hạn chế trong quá trình thanh tra và khó khăn trong việc phát hiện sai phạm ở các doanh nghiệp.

Mặc dù pháp luật đã khắc phục được nhiều hạn chế, đến nay dường như đã được hoàn thiện hơn, nhưng qua áp dụng trên thực tiễn thì có thể thấy, quy định pháp luật về BVMT ở KCN cũng tồn tại một vài bất cập. Cụ thể:

Chưa có một văn bản chuyên biệt nào quy định về quản lý và xử lý khí thải. Mặc dù, đến nay việc quản lý khí thải đã được lồng ghép trong Nghị định 38/2015/NĐ-CP quy định về quản lý chất thải và phế liệu nhưng dường như vấn đề này đang gây khó khăn cho các KCN khi áp dụng. Gây ra tình trạng nhiều doanh nghiệp vẫn phát sinh khí thải ra môi trường. Phần lớn các tiêu chuẩn môi trường đã được chuyển đổi thành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

Tuy nhiên, một số quy chuẩn đã tỏ ra không phù hợp với thực tế và trình độ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, còn quá cao so với các nước trong khu vực. Cụ thể như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải, đặc biệt là nước thải và khí thải chỉ áp dụng với các cơ sở sản xuất, kinh doanh với quy mô lớn mà không phù hợp với các cơ sở sản xuất, kinh doanh với quy mô nhỏ và quy mô hộ gia đình. Do vậy mà vẫn còn tình trạng xả thải vượt quy chuẩn cho phép. Chưa có những quy định chặt chẽ về hạ tầng kỹ thuật BVMT nên còn nhiều doanh nghiệp nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu để xử lý và điều đó làm cho chất thải vẫn không được xử lý triệt để trước khi thải ra môi trường.

Việc đánh phí bảo vệ môi trường còn thấp đối với nước thải và chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn nguy hại. Bởi việc xử lý loại chất thải này phải sử dụng đến công nghệ, kỹ thuật rất tốn kém. Một bất cập nữa về vấn đề này, đó là việc thu phí đánh đồng giữa các doanh nghiệp có hệ thống xử lý nước thải và doanh nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải mà căn cứ thu phí chỉ tính trên tỉ lệ xả nước thải. Như vậy chưa khuyến khích được các doanh nghiệp đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải, nước thải đạt quy chuẩn. Bởi vì, doanh nghiệp không xây dựng hệ thống xử lý cũng chỉ phải chịu mức phí như doanh nghiệp đã xây dựng hệ thống xử lý chất thải, nước thải nếu vi phạm cùng một mức xả thải ra môi trường, điều này chưa đảm bảo sự công bằng. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Quy định về vai trò tham vấn cộng đồng trong công tác ĐTM còn mờ nhạt, do đó không đảm bảo được chất lượng báo cáo ĐTM. Mặc dù Nghị định số 18/2015/NĐ-CP đã khắc phục những hạn chế về vấn đề này, nhưng khi áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn thì gây rất nhiều khó khăn, như pháp luật quy định đối tượng được tham vấn là cơ quan, tổ chức, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bởi dự án nhưng việc xác định cụ thể đối tượng chịu tác động trực tiếp lại không đơn giản. Cộng đồng địa phương là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do ô nhiễm môi trường KCN gây ra. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có cơ chế nào bảo đảm cho sự tham gia của cộng đồng trong các dự án đầu tư vào các KCN đồng thời việc thực hiện tham vấn cũng còn tồn tại nhiều vấn đề. Cụ thể như chủ đầu tư thực hiện việc tham vấn ý kiến cộng đồng còn hình thức, chủ yếu là lấy ý kiến của người đại diện cho một khu vực, mà việc lấy ý kiến đại diện như vậy thì không thể đảm bảo tính khách quan. Pháp luật chưa có những quy định về tiêu chí xác định ý kiến khách quan và kiến nghị hợp lý mà chủ đầu tư phải tiếp thu.

Hiện nay, không có quy định riêng về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở khu công nghiệp. Khi xử phạt các chủ thể có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở KCN thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào các quy định pháp luật, xử phạt vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung. Do vậy, chế tài xử phạt vi phạm chung chung, còn nhẹ, chưa nghiêm, chưa đủ sức răn đe. Kể từ khi nghị định 179/2013 quy định về xử lý hành chính trong lĩnh vực môi trường được áp dụng thì tình hình vi phạm có chuyển biến tích cực hơn, mọi người có ý thức BVMT hơn. Nhưng hiện nay, những hành vi tác động xấu đến môi trường, gây ô nhiễm môi trường ngày một tinh vi và nguy hiểm hơn, nó không chỉ bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật về BVMT nữa mà nó còn là hành vi xâm phạm quyền con người được sống trong môi trường trong lành.

Như hành vi vi phạm về BVMT tại KCN Quang Minh là một ví dụ, đoàn kiểm tra của Chi cục BVMT Hà Nội đã lập biên bản kiểm tra và biên bản vi phạm hành chính công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và phát triển hạ tầng Nam Đức là chủ đầu tư và là đơn vị quản lý khu công nghiệp Quang Minh, về hành vi không vận hành thường xuyên trạm xử lý nước thải với số tiền phạt từ 130 đến triệu đồng. Mặc dù trước đó, công ty này đã bị nhắc nhở, xử phạt nhiều lần, lần 1 về hành vi xả thải không có giấy phép, lần thứ hai là thực hiện không đúng, không đầy đủ nội dung trong báo cáo ĐTM. Có thể thấy, đến 3 lần bị xử phạt vậy mà doanh nghiệp vẫn ngang nhiên vi phạm, phải chăng xử phạt hành chính còn quá nhẹ nhàng với các doanh nghiệp vi phạm này, chưa làm cho các doanh nghiệp phải “sợ”. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT tại các KCN chủ yếu là các tổ chức và cụ thể là các doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp thì việc xử phạt vi phạm mới chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính. Chính điều này tạo lỗ hổng, khiến cho các doanh nghiệp cố tình vi phạm, bởi có khi mức họ chịu phạt còn ít hơn nhiều so với chi phí họ bỏ ra để thực hiện công tác BVMT. Điển hình như với hàng loạt các sai phạm của KCN Sài Đồng B như:

Chỉ số ô nhiễm nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép theo quy định về TCVN 5945-2005;

Cũng theo số liệu của Bộ tài nguyên môi trường, mỗi ngày KCN Sài Đồng thải ra môi trường từ 2.000m3 – dưới 5.000m3 nước thải chưa qua xử lý. Đến nay đã hơn 17 năm từ khi KCN đi vào hoạt động, vẫn chưa có hệ thống xử lý chất thải đạt quy chuẩn cho hàng chục cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN.

Đặc biệt, khi chưa được cấp phép xả nước thải vào nguồn nước nhưng KCN vẫn ngang nhiên xả thải…

Ấy vậy mà, hơn 10 năm người dân phải sống trong ô nhiễm, khiếu nại và kiến nghị đến chính quyền địa phương rất nhiều lần thì đến năm 2013, mười sáu doanh nghiệp mới bị lập biên bản với số tiền phạt là 600 triệu đồng, tức là trung bình mỗi doanh nghiệp đóng chưa đến 40 triệu tiền phạt cho hành vi nhiều năm liền gây ô nhiễm. Cho đến nay qua 4 đợt quan trắc từ năm 2014 cho thấy, tại các vị trí lấy mẫu và các thời điểm lấy mẫu phần lớn các thông số đều vượt quy chuẩn cho phép, có từ 3 – 11 thông số trong 16 thông số phân tích không đạt quy chuẩn cho phép, do Trung tâm quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường Hà Nội thực hiện tại sông Cầu Bây. Dường như với mức xử phạt theo pháp luật hiện hành không làm cho các doanh nghiệp ngừng hành vi gây ô nhiễm của mình và liệu số tiền xử phạt đó có thích đáng với hành động và hậu quả mà các doanh nghiệp trong KCN gây ra như vậy không. Biến 1 dòng sông chảy dài qua địa phận huyện Gia Lâm và quận Long Biên giờ gần như thành con sông chết, làm hàng ngàn ha đất không canh tác được, người dân phải sống chung với ô nhiễm, hôi thối, thiệt hại nặng về kinh tế, nhưng lại chỉ xử phạt hành chính. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

Chính những lỗ hổng đó mà khiến cho các doanh nghiệp cố tình vi phạm, các hành vi sai phạm ấy lại gây ra tác hại vô cùng lớn: không chỉ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường mà sâu xa hơn nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sống của con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Có lẽ vậy, mà hơn 10 năm qua KCN Sài Đồng vẫn ngang nhiên xả thẳng ra sông Cầu Bây mà không quan tâm đến quyền sống trong lành của người dân nơi đây. Một minh chứng rõ nhất cho những tác động của ô nhiễm môi trường ở các KCN đến quyền sống trong môi trường lành của người dân nơi đây đó là “làng ung thư”. Không biết từ bao giờ cái tên làng ung thư, làng ô nhiễm lại xuất hiện. Vừa qua Liên đoàn Quy hoạch và điều tra tài nguyên nước miền Trung- Bộ tài nguyên và môi trường công bố danh sách 10 làng ung thư có nguồn nước bị ô nhiễm nặng nhất ở Việt Nam, trong số đó ở Hà Nội có 2 làng bị gắn với cái tên như vậy. Đó là làng Thống Nhất, xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa và làng Lũng Vỵ, xã Đông Phương Yên, huyện Chương Mỹ. Theo thống kê, có tới 80 người chết trong một năm, có nguồn nước ô nhiễm nặng được xác định do thải công nghiệp và làng nghề xảy ra ở làng Thống Nhất; hay như trong năm 2014, cả làng Lũng Vị với hơn 400 hộ gia đình nhưng có tới 14 người mất, trong đó quá nửa là người chết vì ung thư, tuổi thì đa phần dưới 55 24. Được biết đây là 2 ngôi làng đều nằm trong huyện có hoạt động của KCN Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ và hàng loạt các doanh nghiệp tại huyện Ứng Hòa. Những tác động vô cùng nguy hiểm đến tính mạng của người dân nhưng việc giải quyết những nguyên nhân gây nên hậu quả đó còn quá nhẹ, không đủ làm cho các doanh nghiệp sợ với những con số thống kê thiệt hại lớn đến vậy. Chỉ bằng hành động xả thải trực tiếp ra môi trường của các doanh nghiệp, việc không vận hành trạm xử lý chất thải chỉ vì tiết kiệm chi phí, việc không quan tâm đến môi trường mà các doanh nghiệp đã tự tay hủy hoại môi trường sống của hàng vạn người dân không chỉ thế hệ hiện tại mà cả thế hệ mai sau. Hậu quả gây ra cho những hành vi vi phạm pháp luật về BVMT nguy hiểm như vậy, nhưng hình thức xử lý chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính. Vậy sẽ còn biết bao gáng nặng mà người dân phải chịu bởi những hành vi tương tự như này gây ra nữa hay như mới đây vị đại diện KCN Formosa đã đưa ra lựa chọn giữa việc muốn bắt cá, bắt tôm hay là muốn xây một nhà máy thép hiện đại để giải thích cho những nghi vấn của xã hội về hiện tượng cá chết.

Tóm lại, hiện nay cũng còn một số nguyên nhân khắc khiến cho việc thực hiện công tác BVMT ở các KCN không đạt hiệu quả cao như do hạn chế về điều kiện khoa học- kỹ thuật trong việc quan trắc, đánh giá hiện trạng môi trường cũng như các công cụ, phương tiện để khắc phục sự cố môi trường; chi phí xây dựng, lắp đặt hạ tầng kỹ thuật BVMT cao trong khi nguồn tài chính cho công tác BVMT còn hạn chế….Và để khắc phục phần nào những hạn chế đó, thì quy định pháp luật hiện hành về BVMT ở KCN cũng đã hình thành một “xương sống”. Quy định nghĩa vụ BVMT đối với các chủ thể trong KCN cũng như trách nhiệm BVMT của cơ quan quản lý nhà nước. Mặc dù cũng tồn tại một vài bất cập, nhưng nhờ có sự điều chỉnh của pháp luật mà môi trường KCN hiện nay cũng được cải thiện rõ rệt. Khóa luận: Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp quy định pháp luật về bảo vệ môi trường

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x