Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Đề xuất phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

1. Định hướng phát triển thị trường vốn của nhà nước

Phát triển thị trường vốn đa dạng để đáp ứng nhu cầu huy động vốn và đầu tư của mọi đối tượng trong nền kinh tế, phấn đấu đến năm 2010 giá trị vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 50% GDP và đến năm 2020 đạt 70% GDP, đó là một trong những mục tiêu cụ thể mà Thủ tướng Chính phủ đề ra tại Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 về việc phê duyệt Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020.

Theo Quyết định này, mục tiêu tổng quát của Đề án là phát triển nhanh, đồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt Nam, trong đó thị trường chứng khoán đóng vai trò chủ đạo; từng bước đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính, góp phần đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển và cải cách nền kinh tế; đảm bảo tính công khai, minh bạch, duy trì trật tự, an toàn, hiệu quả, tăng cường quản lý, giám sát thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đầu tư; từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế. Phấn đấu đến năm 2020, thị trường vốn Việt Nam phát triển tương đương thị trường các nước trong khu vực.

Đề án đưa ra 4 giải pháp dài hạn nhằm phát triển thị trường vốn. Cụ thể, phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc, vận hành theo các thông lệ quốc tế, có khả năng liên kết với các thị trường khu vực và quốc tế; phát triển mạnh các kênh cung cấp vốn cả trong và ngoài nước cho thị trường; mở rộng hệ thống các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có tổ chức; kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa; tăng cường quản lý nhà nước, thực hiện có hiệu quả chức năng thanh tra, kiểm tra giám sát việc tuân thủ pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên thị trường.

Theo Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam, một trong những giải pháp trước mắt là: Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các loại hàng hoá để đáp ứng nhu cầu của thị trường cụ thể mở rộng quy mô và đa dạng hóa các loại trái phiếu, các phương thức phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường vốn. Đẩy mạnh chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp, tổng công ty nhà nước, tập đoàn kinh tế và các ngân hàng thương mại nhà nước; gắn việc cổ phần hóa với niêm yết trên thị trường chứng khoán; mở rộng việc phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn trên thị trường; đồng thời phát triển các loại chứng khoán phái sinh như quyền chọn mua, quyền chọn bán chứng khoán, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, các sản phẩm liên kết.

Từng bước hoàn chỉnh cấu trúc của thị trường vốn đảm bảo khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước. Tách thị trường trái phiếu ra khỏi thị trường cổ phiểu để hình thành thị trường trái phiếu chuyên biệt; Phát triển thị trường cổ phiếu theo nhiều cấp độ để đáp ứng nhu cầu phát hành cổ phiếu, niêm yết, giao dịch của nhiều loại hình doanh nghiệp; Phát triển các định chế trung gian và dịch vụ thị trường, nâng cao chất lượng hoạt động và năng lực tài chính cho các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán; mở rộng phạm vi hoạt động Trung tâm lưu ký chứng khoán; từng bước hình thành thị trường định mức tín nhiệm ở Việt Nam. Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

Ngoài ra, phát triển hệ thống các nhà đầu tư trong và ngoài nước, khuyến khích các định chế đầu tư chuyên nghiệp tham gia đầu tư trên thị trường theo quy định của pháp luật; Hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước, chủ động mở cửa, hội nhập với khu vực và quốc tế, thực hiện mở cửa từng bước thị trường vốn cho nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình hội nhập đã cam kết, đồng thời đảm bảo kiểm soát được luồng vốn vào, vốn ra; Chủ động mở cửa, hội nhập với khu vực và quốc tế, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia cũng là những giải pháp vô cùng quan trọng để phát triển thị trường vốn ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Đề xuất đối với thị trường ngoại tệ

2.1 Một số đề xuất đối với cơ quan quản lý: Tiếp tục và nhanh chóng hoàn thiện môi trường pháp lý.

Hiện nay sau Pháp lệnh ngoại hối thì chỉ có Quyết định 1452/2004/QĐNHNN ngày 10/11/2004 do Thống đốc NHNN ban hành về các giao dịch hối đoái nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho các giao dịch ngoại tệ, trong đó đặc biệt bổ sung thêm loại hình giao dịch mới là giao dịch Quyền lựa chọn tiền tệ giữa các loại ngoại tệ với nhau. Tuy nhiên cũng chỉ hạn chế một số tổ chức tín dụng nhất định được kinh doanh loại giao dịch này và đi kèm là những điều kiện khắt khe.

Để phát triển hai loại hình giao dịch này trên thị trường ngoại tệ, NHNN cần có định hướng cụ thể, ban hành ngay các thông tư, nghị định hướng dẫn thực hiện hợp đồng tương lai và quyền chọn ngoại tệ. NHNN cần nới lỏng các quy định hiện nay về thực hiện quyền chọn ngoại tệ. Đó là, mở rộng danh sách tổ chức tín dụng kinh doanh hai loại giao dịch này trên thị trường ngoại tệ để các ngân hàng không gặp khó khăn trong việc thực hiện các giao dịch đối ứng với các ngân hàng khác. Để khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thực hiện giao dịch tương lai và quyền chọn thì cần đơn giản hoá các thủ tục thực hiện.

2.2 Một số đề xuất đối với các ngân hàng thương mại

Thứ nhất, các  NHTM cần cải thiện cơ sở vật chất, thực hiện giao dịch trực tuyến để đảm bảo tính linh hoạt và nhạy bén của loại thị trường này.

Thứ hai, cần có các chính sách ưu đãi cho những doanh nghiệp thực hiện hợp đồng tương lai và quyền chọn ngoại tệ ví dụ như ưu đãi về phí hay tỉ giá để khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, khách hàng.

Thứ ba, NHTM cần kết hợp với việc quảng bá các công cụ phái sinh nói chung và hai loại giao dịch này nói riêng để doanh nghiệp cũng như các khách hàng có thể hiểu rõ được lợi ích của các giao dịch này.

Thứ tư, cần đào tạo nguồn nhân lực giỏi nghiệp vụ, không những am hiểu về thị trường ngoại tệ mà còn am hiểu về các thị trường tương lai và quyền chọn để có thể phục vụ tốt nhất khi khách hàng có yêu cầu hay thắc mắc.

2/3 Một số đề xuất đối với doanh nghiệp Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn là các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá và bảo toàn nguồn vốn khi có biến động về tỉ giá. Các doanh nghiệp cần trang bị kiến thức, hiểu rõ hai loại giao dịch này để sử dụng chúng như các công cụ giảm thiểu rủi ro và đầu tư sinh lời.

Hiện nay, một số ngân hàng thương mại đã thực hiện quyền chọn trên thị trường vàng, ngoại tệ và đã thu được một số kết quả nhất định. Các doanh nghiệp có thể liên hệ với các ngân hàng này tìm hiểu về giao dịch quyền chọn và tương lai.

3. Đề xuất với thị trường chứng khoán. 

3.1 Một số đề xuất đối với cơ quan quản lý

3.1.1. Tiếp tục và nhanh chóng hoàn thiện môi trường pháp lý

Luật chứng khoán 2006 chắc chắn chưa phải là bước đi cuối cùng của nhà nước để hoàn thiện môi trường pháp luật. Để chuẩn bị cho sự ra đời của thị trường chứng khoán phái sinh nói chung và quyền chọn và hợp đồng tương lai  nói riêng ở Việt Nam thì các văn bản luật cần đi trước một bước.

Bản thân luật chứng khoán  2006 cần được tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, theo lẽ cần tạo được sự bình đẳng pháp lý giữa chứng khoán thông thường và chứng khoán phái sinh, giữa những người tổ chức giao dịch và kinh doanh hai loại chứng khoán này. Muốn vậy, cần làm rõ thêm trong luật một số khái niệm liên quan tới chứng khoán phái sinh, bổ sung thêm các điều khoản về đối tượng được phép kinh doanh quyền chọn, điều kiện để kinh doanh quyền chọn và tương lai để tạo nên sự hiểu biết đầy đủ hơn về hai công cụ tài chính này.

Về lâu dài, bộ tài chính cần nhanh chóng ban hành một số thông tư hướng dẫn chi tiết việc kinh doanh quyền chọn và tương lai giống như đối với cổ phiếu. Cụ thể cần hướng dẫn các doanh nghiệp, nhà đầu tư về cách thức phát hành quyền chọn và  tương lai, các thức tiêu chuẩn hóa hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, quy trình giao dịch và thanh toán cho loại chứng khoán này, chế độ hạch toán và báo cáo tài chính. Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

Để chuẩn bị cho giao dịch quyền chọn và tương lai, cần bổ sung ngay các quy định pháp lý để thúc đẩy các sự phát triển của các loại giao dịch đơn giản hơn là giao dịch kỳ hạn. Thực tế, không phải nước nào thực hiện giao dịch quyền chọn đã thành công ngay từ đầu. Một sự quá độ qua các loại giao dịch khác là đảm bảo tỷ lệ thành công cao hơn. Thậm chí ở Việt Nam, bắt đầu bằng thắt chặt quản lý, để phát triển mua bán chứng quyền hay bảo chứng phiếu cũng không phải là muộn và không có tác dụng đối với giao dịch quyền chọn chứng khoán một thời gian sau.

Trong thời gian tới, nhà nước cũng nên cho phép tiến hành giao dịch mua bán khống chứng khoán, như một công cụ điều tiết thị trường, cũng như khuyến khích sự phát  triển của các loại hình giao dịch tương lai, quyền chọn, giúp nhà đầu tư có thêm nhiều lựa chọn, tận dụng sự biến động của môi trường kinh doanh để nâng cao khả năng thu lợi nhuận

Song song với việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, hoạt động quản lý, theo dõi, thanh tra giám sát của nhà nước cần được tiến hành sát sao, chặt chẽ hơn nữa để đảm bảo tính thực thi cho các văn bản trên, làm cho hoạt động của thị trường chứng khoán ngày càng chuyên nghiệp, an toàn và hiệu quả.

3.1.2. Tạo cung và cầu cho thị trường chứng khoán nói chung và giao dịch tương lai và quyền chọn nói riêng.

Để đa dạng và bổ sung hàng hóa cho thị trường chứng khoán, nhà nước cần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn và các tổng công ty lớn đã được lên kế hoạch tái cấu trúc. Cổ phần hóa là một trong những lời giải cho thị trường chứng khoán. Kết quả của cổ phần hóa phải là tạo ra thêm nhiều loại cổ phiếu có chất lượng – cổ phiếu lớn, của công ty lớn, một mặt tăng quy mô cho thị trường, mặt khác thu hút thêm nhiều nhà đầu tư lớn, nhà đầu tư tổ chức tham gia thị trường.

Điều này đã đặt ra sức ép đối với tiến trình cổ phần hóa,và với các doanh nghiệp trong danh sách. Tuy nhiên cần cân nhắc giữa tiến độ của quá trình với chất lượng công tác cổ phần hóa, sao cho cổ phần  hóa có chất lượng, đảm bảo vốn nhà nước không bị thất thoát, đảm bảo chất lượng hoạt động doanh nghiệp sau cổ phần hóa.

Ngoài ra hiện tại thị trường chưa có các nhà tạo lập thị trường thực sự. Để hình  thành thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam, nhà nước cần khuyến khích một số công ty chứng khoán như VBCS hoặc ngân hàng tiếp tục tìm tòi, thử nghiệm đưa ra các sản phẩm quyền chọn, mục đích là tạo cung đồng thời thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư. Muốn vậy nhà nước cần có đưa ra các ưu đãi về tài chính như hỗ trợ vốn, cho hưởng thuế suất thu nhập ưu đãi; bên cạnh đó hỗ trợ các tổ chức này về nhân lực, kỹ thuật. Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

Để kích cầu, ngoài giải pháp trên một yêu cầu quan trọng là nhà nước đẩy mạnh phổ biến kiến thức về quyền chọn. Vấn đề hiện tại là nhà đầu tư Việt Nam chưa nhận thấy tác dụng của  hợp đồng quyền chọn với khoản đầu tư của mình, cho nên giải pháp nâng cao nhận thức có thể giúp giải quyết tới gốc rễ của vấn đề.

Về lâu dài không chỉ chỉ cần 1 vài công ty đứng ra cung cấp sản phẩm quyền chọn, mà cần có hình thành một thị trường quyền chọn tập trung. Như vậy sớm muộn cần xây dựng một sở giao dịch tương lai và quyền chọn riêng. Để làm được như vậy cần tham khảo mô hình của các nước, điển hình như Hoa Kỳ, nơi hợp đồng tương lai và quyền chọn được giao dịch tại các sở giao dịch hàng hóa. Làm được việc này sẽ thúc đẩy được sự phát triển của quyền chọn đồng thời tạo ra nơi giao dịch tập trung của rất nhiều loại hàng hóa khác.

3.1.3. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế 

Thị trường chứng khoán ra đời sau, nên còn rất non trẻ. Trong khi giao dịch quyền chọn chứng khoán đã được tiến hành ở Mỹ từ những năm 70 thì ở Việt Nam chúng ta mới đang tìm tòi để xây dựng thị trường. Nhiều nước trong khu vực cũng thực hiện thành công giao dịch quyền chọn như  Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore. Bài học kinh nghiệm của các nước này rất quý báu. Nhà nước cần đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia này trong lĩnh vực chứng khoán, tổ chức các chuyến đi thực tế tìm hiểu tình hình thị trường, mô hình kinh doanh, quy định pháp lý; mời các chuyên gia sang Việt Nam giảng dạy và tư vấn xây dựng thị trường.

3.2 Một số đề xuất đối với các công ty chứng khoán

Trước tiên, công ty chứng khoán cần xác định vị trí của mình trong mô hình giao dịch. Liệu công ty có khả năng trở thành nhà tạo lập thị trường được chỉ định hay không? Lấy Công ty chứng khoán Sài Gòn SSI làm ví dụ. Ra đời năm 2000, là một trong 3 công ty chứng khoán đầu tiên được thành lập của TTCK Việt Nam, SSI được đánh giá là công ty chứng khoán uy tín nhất tại Việt nam. Công ty hiện đang quản lý khoảng 68% tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài mở tại thị trường chứng khoán (TTCK) Việt nam. Thị phần môi giới của SSI đạt trên 27% thị trường cổ phiếu niêm yết. Khối lượng cổ phiếu lưu ký tại SSI chiếm hơn 50% tổng khối lượng lưu ký của toàn thị trường. Chỉ sau 6 năm hoạt động, từ 1 doanh nghiệp tư nhân với số vốn nhỏ bé nhất (6 tỷ đồng), SSI đã trở thành doanh nghiệp đứng số 1 về quy mô vốn; về uy tín và tầm ảnh hưởng trên TTCK Việt Nam. lợi nhuận sau thuế của SSI năm 2007 sẽ vượt kế hoạch 800 tỉ đồng (lợi nhuận sáu tháng đầu năm của SSI là 668 tỉ đồng/vốn điều lệ 800 tỉ đồng). SSI hiện có tổng tài sản 5.000 tỉ đồng và sẽ tăng vốn lên 1.200 tỉ đồng vào quí 4-2007 từ nguồn thặng dư. Công ty cũng vừa có giấy phép thành lập công ty quản lý quỹ và đang thỏa thuận với đối tác Thụy Sỹ xung quanh việc huy động vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Hơn nữa, SSI lại có các đối tác chiến lược hết sức hùng mạnh. ANZ, HSBC, Credit Suisse, Indovinabank, PJbank, PVFC. Hệ thống quản trị rủi ro – kỹ thuật quan trọng nhất với một Option writer nằm trong cam kết mua cổ phần của ANZ. Vì thế SSI là lựa chọn số một cho vị trí DPM hiện nay.

Với các công ty chứng khoán còn lại, việc cần làm hiện nay là tự nâng cấp mình trong mọi lĩnh vực và nghiên cứu việc thực hiện quyền chọn vàng, ngoại tệ hay lãi suất để áp dụng cho quyền chọn chứng khoán. Rõ ràng, các công ty chứng khoán của các ngân hàng sẽ rất lợi thế trong trường hợp này, đặc biệt là SBS, ACBS, VCBS, BSC. Các công ty này sẽ đóng vai trò “third market maker” khi thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển tới giai đoạn cao hơn. Theo đề xuất của nhóm nghiên cứu, các khía cạnh cần đẩy mạnh nghiên cứu và lập kế hoạch triển khai cho những công ty này bao gồm:

3.3 Nghiên cứu sâu và chi tiết hơn về định giá quyền chọn và tương lai và hệ thống quản trị rủi ro. Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

Option là một nghiệp vụ rất đơn giản đối với người mua nhưng về phía người cung cấp lại hết sức phức tạp và nan giải. Option writer ở vị thế mà lợi nhuận tối đa là quyền phí còn khả năng lỗ là rất lớn. Làm thế nào để số phí thu được đủ bù đắp được giá trị các hợp đồng mà Option writer phải thực hiện. Trong trường hợp số giao dịch Option là lớn, các dự đoán từ phía nhà đầu tư theo quy luật số lớn sẽ bù trừ nhau, làm cho rủi ro của Option writer giảm đi đáng kể. Hơn nữa, khi số giao dịch lớn, quyền phí tương ứng sẽ giảm đi, tạo nên lợi thế cạnh tranh cho công ty. Đó là điều bất cứ Option writer nào mong muốn. Tuy nhiên trong bối cảnh thị trường Việt Nam số giao dịch Option không thể nhiều ngay được.

Cũng như vậy, xây dựng quy trình quản trị rủi ro là một vấn đề sống còn. Cần phân biệt rõ đây không phải là rủi ro trong kinh doanh chứng khoán nói chung nhìn từ góc độ nhà đầu tư mà là rủi ro nhìn từ phía nhà cung cấp quyền chọn rằng số quyền phí thu được không bù đắp được số tiền phải bỏ ra để thực hiện các Option. Công cụ cần sử dụng ở đây là các phép toán xác suất thống kê theo quy luật số lớn. Mỗi công ty có số lượng khách hàng cũng như các dự báo khác nhau về giá cổ phiếu từ các khách hàng đó khác nhau nên việc nghiên cứu cũng đòi hỏi khác biệt.

  • Lên kế hoạch giới thiệu nghiệp vụ này đến giới đầu tư.

Như trên đã phân tích, số lượng giao dịch càng lớn thì rủi ro của nhà cung cấp càng giảm. Đó là lý do nghiệp vụ này cần sự xúc tiến mạnh từ phía bộ phận Marketing của công ty chứng khoán. Trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhà đầu tư cá nhân chiếm 70%, phần đông số họ ít có hiểu biết sâu về các công cụ phái sinh dù đó là một công cụ hết sức hữu hiệu giảm thiểu rủi ro của họ. Việc tuyên truyền thông tin cho khách hàng có thể được thực hiện bằng cách công bố trên trang chủ của công ty, gửi email (nhắm vào khách hàng giao dịch online); phát tờ rơi cho khách hàng tới giao dịch trực tiếp, tổ chức hội thảo khách hàng (số lượng không nên quá nhiều, dao động từ 30-50 người/buổi). Các công ty chứng khoán cần nhận thức rõ: tiếp cận khách hàng càng nhanh, lợi nhuận thu về càng nhiều.

  • Tìm kiếm đối tác là các định chế tài chính (ngân hàng, quỹ đầu tư)

Lượng vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam hiện còn rất dồi dào. Nhà đầu tư nước ngoài đã nhìn thấy tiềm năng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chỉ tính từ tháng 4/2007 đến nay đã có thêm 13 quỹ đầu tư mới đi vào hoạt động, nâng tổng số quỹ thành lập từ đầu năm đến nay lên mức 22. Tổng số quỹ hiện diện và hoạt động tại Việt Nam như vậy vào khoảng 55 quỹ với tổng tài sản tương đương 6 tỉ USD – gần một nửa giá trị toàn bộ thị trường. Đó là cái đích cho những công ty chứng khoán nhắm tới các đối tác hùng mạnh về tài chính. Còn với những công ty chú trọng hơn về vấn đề công nghệ, kỹ thuật chuyên môn, các ngân hàng nước ngoài là một lựa chọn thích hợp hơn. Sau ANZ, HSBC sẽ là Citibank, Standard Chartered Bank, Deustch Bank, hay cả May Bank. Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

  • Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực

Vừa qua Viện quản trị và tài chính đã tổ chức Khóa học “Phân tích và định giá chứng khoán cho nhà đầu tư chuyên nghiệp” –  tháng 7/2007(chi tiết tại ifa.edu.vn). Khóa học không chỉ bao gồm phần lý thuyết mà học viên còn được thực hành giao dịch Option trên máy tính. Những khóa học kiểu này sẽ là giải pháp có tính ứng dụng cao, mang tính chiến lược và cần được phát huy liên tục.

  • Hoàn thiện qui trình và thiết bị hệ thống kĩ thuật

Các công ty chứng khoán cần thiết lập mối quan hệ với các công ty cung cấp giải pháp phần mềm, gói dịch vụ kỹ thuật để ít nhiều có được sự tự chủ về công nghệ. Trong trường hợp gặp khó khăn trong việc mua phần mềm đồng bộ từ bên ngoài, công ty có thể tìm đến các công ty tin học trong nước –  nơi dịch vụ được cung cấp với mức giá “mềm” hơn…

  • Một số đề xuất đối với  các nhà đầu tư

Giao dịch tương lai và giao dịch quyền chọn vẫn còn rất mới mẻ trên thị trường Việt Nam, và đặc biệt vẫn chưa được áp dụng trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Trong tương lai, chắc chắn hai loại giao dịch này sẽ phát triển mạnh mẽ. Vì vậy các nhà đầu tư cần trang bị cho mình những kiến thức cần thiết về hai loại giao dịch này để khi thị trường áp dụng có thể bắt nhịp ngay mà không bị bỡ ngỡ.

Các nhà đầu tư có thể tìm hiểu về hai loại hình giao dịch này trên thị trường vàng và ngoại tệ, hiện nay đang được áp dụng tại một số NHTM như Techcombank, Vietcombank, BIDV, …..

KẾT LUẬN Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

Có thể nói, tới thời điểm này trên thị trường ngoại tệ cũng mới thí điểm áp dụng quyền chọn còn thị trường chứng khoán Việt Nam chưa xuất hiện các công cụ chứng khoán phái sinh nói chung và nghiệp vụ Future và  Option nói riêng – hai công cụ giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư hết sức hữu hiệu – là hoàn toàn có thể hiểu được. Thị trường ngoại tệ Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển và so với các sở giao dịch chứng khoán chuyên nghiệp trên thế giới vào những ngày đầu, đó cũng không phải là hiện tượng bất thường. Nguyên nhân trực tiếp nhất của hiện tượng này là hiện chưa có các quy định pháp lý rõ ràng cụ thể từ phía Nhà nước, từ đó kéo theo sự tham gia chưa mấy mặn mà của cả các nhà cung cấp dịch vụ lẫn nhà đầu tư trong lĩnh vực này. Mặc dù còn có những hạn chế nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng việc bước đầu áp dụng giao dịch quyền chọn trên thị trường ngoại tệ đã thu được những kết quả.  Và thị trường chứng khoán Việt Nam đang trải qua thời khắc hết sức quan trọng: sức tăng trưởng nhanh, hàng hóa dần trở nên đa dạng, các định chế, quy chuẩn đang dần hình thành, hệ thống giao dịch cũng được nâng cấp, cải tiến để theo kịp chuẩn quốc tế. Đó là những tiền đề có ý nghĩa quyết định để các nghiệp vụ phái sinh được áp dụng mạnh mẽ trong tương lai. Khóa luận: Phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x