Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian qua thị trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán trên thế giới có nhiều biến động. Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. Tỉ giá ngoại tệ lên xuống thất thường theo. Trong vài năm gần đây, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng trở nên sôi động. Năm 2006 là năm đánh dấu sự phát triển mãnh mẽ của thị trường chứng khoán tuy nhiên cũng cho thấy sự phát triển thất thường đầy biến động của thị trường chứng khoán. Đối với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp thì việc sử dụng các công cụ phái sinh nói chung và hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn nói riêng để phòng ngừa rủi ro, bảo toàn vốn đầu tư và tăng lợi nhuận đang là một nhu cầu cấp thiết.

Trên thế giới giao dịch tương lai và quyền chọn đã được áp dụng từ lâu và phát triển rất mạnh mẽ. Thời gian gần đây Việt Nam đang bắt đầu tìm hiểu và áp dụng trước mắt là hợp đồng quyền chọn  trên thị trường ngoại tệ và trong tương lai sẽ phát triển  hai loại hợp đồng trên thị trường ngoại tệ và chứng khoán Việt Nam. Hiện nay không chỉ về phía nhà nước mà các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán, các doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng đang âm thầm nghiên cứu và chuẩn bị thực hiện hai loại hợp đồng này.  Với các lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài: “ Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn tại Việt Nam”

2. Mục đích nghiên cứu

  • Tìm hiểu về tình hình thực hiện thực tế hợp đồng quyền chọn trên thị trường ngoại tệ Việt Nam
  • Tìm hiểu và nhu cầu cũng như tiềm năng ứng dụng hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Qua đó đề ra một số giải pháp nhằm phát triển hai loại hợp đồng này trên thị trường ngoại tệ và chứng khoán Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Khoá luận tập trung nghiên cứu về “hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn trên thị trường ngoại tệ và chứng khoán Việt Nam: Thực trạng và giải pháp.” Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

4. Bố cục khoá luận

  • Chương 1: Một số lý thuyết về hợp đồng tương lai (future) và hợp đồng quyền chọn (option)
  • Chương 2: Hợp đồng tương lai và quyền chọn tại Việt Nam
  • Chương 3: Đề xuất phát triển hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn tại Việt Nam

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

CHƯƠNG I MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ HỢP ĐỒNG TƯƠNG LAI (FUTURE)  VÀ HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION)

I: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn.

1, Sự ra đời của các công cụ phái sinh.

Các nghiệp vụ tài chính phái sinh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển ngày càng sâu, rộng và đa dạng của thị trường tài chính. Sự biến động khó lường của giá cả hàng hoá, lãi suất, tỷ giá trên thị trường là những nguyên nhân gây ra rủi ro cho các nhà đầu tư trong các phi vụ mua, bán. Để hạn chế thấp nhất những rủi ro thua lỗ có thể xẩy ra, các nghiệp vụ tài chính phái sinh đã được hình thành, đó thực chất là những hợp đồng tài chính mà giá trị cuả nó phụ thuộc vào một hợp đồng mua bán cơ sở (hay còn gọi là chính phẩm). Từ sự khởi đầu đơn giản với hợp đồng tương lai (Futures) và hợp đồng kỳ hạn (Forwards),  theo một số tài liệu, các hợp đồng tương lai được ký từ sự thỏa thuận tại một hội chợ thời Trung cổ ở Flanders và quận Champagne giữa thế kỷ thứ 12 ở Châu Âu. Lúc đầu, đối tượng của các future trên thị trường là các mặt hàng tiêu dùng như đồ gốm, lúa mì hay cà phê. Các nhà đầu tư mua và bán các hợp đồng tương lai với mục đích nhằm giảm bớt sự lo ngại xảy ra những biến cố khiến giá bị đẩy lên cao hay xuống thấp trong những tháng sau đó. Hợp đồng tương lai thường được các nhà đầu tư xem là một phương thức tốt để hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Đến thập niên 80, các hợp đồng tương lai bắt đầu nở rộ và phổ biến trong các giao dịch thương mại và bao gồm nhiều loại khác nhau, như hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán (index futures), hợp đồng tương lai lãi suất (interest futures), hợp đồng tương lai ngoại hối (currency futures), hợp đồng tương lai nông sản (agricultural futures), hợp đồng tương lai kim loại và khoáng sản (metal and mineral futures)…

Bên cạnh hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn  là sự ra đời của những công cụ hiệu quả như quyền chọn (options) và giao dịch hoán đổi (swaps). Trên thế giới, người ta kinh doanh options hàng trăm năm nay. Đặc biệt, các hợp đồng quyền chọn đã phát triển rất mạnh kể từ khi Sở Giao dịch Option Chicago (CBOE) ở Mỹ thành lập tháng 4/1973. Từ đó thị trường này phát triển tăng vọt và ngày nay được thực hiện trên khắp thị trường tài chính thế giới. Các hợp đồng quyền chọn thường được giao dịch trên thị trường chính thức hoặc thị trường phi chính thức (OTC). Hiện nay, chủ yếu các hợp đồng quyền chọn được mua bán rộng rãi tại văn phòng thị trường chứng khoán (Chicago board Option Exchange-CBOE, Philadelphia ExchangePHLX, The American Stock Exchange-AMEX, The Pacific Stock Exchange- PSE, The New York Stock Exchange-NYSE…)

2. Khái niệm

2.1.Hợp đồng tương lai: Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Hợp đồng tương lai (Futures) là việc thoả thuận giữa các bên về những nghĩa vụ mua bán phải thực hiện theo mức giá đã xác định cho tương lai mà không phụ thuộc vào giá thị trường tại thời điểm đó.

Ví dụ: Vào đầu năm 2002, công ty A ký hợp đồng future với công ty B mua 100 tấn gạo với giá 2 USD/kg với thời điểm mua vào cuối năm 2003. Như vậy vào thời điểm mua, công ty B phải bán cho công ty A 100 tấn gạo với giá 2 USD/kg và công ty A phải mua 100 tấn gạo của công ty B với giá đó, cho dù giá gạo trên thị trường vào cuối năm 2003 là bao nhiêu chăng nữa.

Lúc đầu, đối tượng của các future trên thị trường là các mặt hàng đơn giản như lúa mì hay cà phê. Các nhà đầu tư mua và bán các hợp đồng future với mục đích nhằm giảm bớt sự lo ngại xảy ra những biến cố khiến giá bị đẩy lên cao hay xuống thấp trong những tháng sau đó.

Ví dụ: Công ty sản xuất sô-cô-la Hershay đã bao tiêu nguồn cung cấp ca-cao trên thị trường với các hợp đồng futures để giới hạn rủi ro nếu giá ca-cao tăng lên.

Future thường được các nhà đầu tư xem là một phương thức tốt để hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Đến thập niên 80, các hợp đồng futures bắt đầu nở rộ và phố biến trong các giao dịch thương mại và bao gồm nhiều loại khác nhau, như hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán (index futures), hợp đồng tương lai lãi suất (interest futures), hợp đồng tương lai ngoại hối (currency futures), hợp đồng tương lai nông sản (agricultural futures), hợp đồng tương lai kim loại và khoáng sản (metal and mineral futures)…

2.2.Hợp đồng quyền chọn:

Hợp đồng quyền chọn là thỏa thuận giữa hai bên, trong đó bên mua quyền chọn phải trả khoản tiền gọi là phí quyền chọn (option premium) để có quyền được mua hay bán nhưng không bắt buộc một số lượng nhất định hàng hoá cơ sở (hàng hoá cơ sở có thể là hàng hoá như dầu, lương thực, chứng khoán, chỉ số chứng khoán, ngoại tệ,vv..) theo giá thực hiện (strike price – exercise) ghi trong hợp đồng quyền chọn vào một ngày nhất định trong tương lai – expiration date (nếu áp dụng theo kiểu Châu âu – European style) hoặc được thực hiện trước ngày đáo hạn (nếu áp dụng theo kiểu Mỹ – American style). Bên bán quyền chọn nhận được khoản tiền phí bán quyền chọn nên có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng theo các điều kiện đã thoả thuận khi người mua quyền muốn thực hiện quyền đó.

Khi quyền chọn được trao cho người mua quyền có quyền mua một tài sản từ người bán quyền thì gọi là quyền chọn mua (call option). Khi người mua quyền có quyền bán một tài sản xác định cho người bán quyền thì gọi là quyền chọn bán (put option). Người mua bất cứ quyền dạng nào cũng được coi là ở vị thế người nắm quyền (the option holder), còn người bán ở vị thế người bán quyền (the option writer). Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Khoản tiền tối đa mà một người mua quyền có thể bị mất chính là giá quyền chọn (option premium), còn lợi nhuận có thể thu được là tiềm năng đáng kể. Trong khi đó, lợi nhuận tối đa mà người bán quyền có thể thu được là giá quyền chọn, còn rủi ro có thể phải chịu là đáng kể.

Options có 2 loại: Quyền chọn mua (call option) và quyền chọn bán (put option).

2.2.1. Quyền chọn mua (call option).

 Trong giao dịch quyền chọn mua có hai bên tham gia:

  • Người mua quyền chọn mua (buyer of call option_long call).
  • Người bán quyền chọn mua (seller of call option_short call).

Người mua call option sẽ trả cho người bán call option một khoản tiền, gọi là giá trị quyền chọn hay phí quyền chọn (option premium) và người mua call option sẽ có quyền được mua nhưng không bắt buộc phải mua một lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng hoá…) theo một mức giá đã được thoả thuận trước (strike price-exercise price) vào một ngày xác định trong tương lai-expiration date (theo kiểu Châu Âu) hoặc được thực hiện trước ngày đó (theo kiểu Mỹ). Người bán call option nhận được tiền từ người mua call option nên họ có trách nhiệm phải bán một lượng tài sản nhất định (chứng khoán chẳng hạn) theo một giá cả đã được thoả thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó, khi người mua call option muốn thực hiện cái quyền được mua.

Ví dụ: giá cổ phần ABC là 80.000 đồng, sau khi phân tích, ta dự báo rằng giá cổ phần ABC sẽ tăng lên trong thời gian tới. Vậy nếu ta muốn đầu tư 1.000 cổ phần ABC ta phải chi là 80 triệu đồng (80.000đ/cp x 1.000 cp). Nhưng nếu chẳng may, sau một thời gian, cổ phần ABC giảm xuống chỉ còn 60.000đ/cp hay 40.000đ/cp thì ta sẽ mất trắng 40 triệu VND. Trong trường hợp này, để an toàn, hạn chế rủi ro và vẫn thực hiện theo dự báo, ta nên đầu tư vào options, cụ thể là ta đi mua call option cổ phần ABC, giá thoả thuận trước (strike price) là 80.000đ/cp, thời gian là 2 tháng (25.8-25.10.2007), số lượng 1.000 cp với mức phí (options premium) là 2.000.000 đ (2.000đ/cp x 1.000 cp).

Trong thời gian này, nếu giá cổ phần ABC tăng trên 80.000 đ/cp theo đúng dự báo, ta-người mua call option có thể thực hiện quyền được mua chứng khoán của mình với giá thoả thuận trước là 80.000 đ/cp và đem ra thị trường bán với giá 100.000 đ/cp chẳng hạn, ta sẽ có lợi nhuận là 20.000.000đ [(100.000 – 80.000) x 1.000 cp], trừ đi chi phí 2.000.000đ tiền mua quyền chọn, ta sẽ có lợi nhuận ròng 18 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu thời hạn còn ta có thể bán lại call option với giá cao hơn và lợi nhuận của ta cũng sẽ tăng lên.

Nhưng nếu giá cổ phần ABC không tăng lên theo dự đoán của ta, nó giảm liên tục, cho tới ngày đến hạn trên hợp đồng giá vẫn giảm thì ta sẽ không thực hiện quyền chọn mua của mình và ta chỉ lỗ tiền mua cái call option mà thôi, tức là mất 2.000.000đ cho 1.000 cp. Do đó, chúng ta thấy rằng, người mua lỗ có giới hạn, lời thì vô cùng lớn.

Điểm hoà vốn call option = Giá cả thoả thuận + Phí quyền chọn mua 82.000 đ = 80.000 đ + 2.000 đ Break-even call option = Strike price + Call option premium Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

  • Ngược lại với người mua Call option, người bán Call option có vùng lời giới hạn, vùng lỗ rất lớn. Do đó thường những người bán options là các công ty tài chính khổng lồ.
  • Ta có:

2.2.2. Quyền chọn bán (Put option)

Trong giao dịch Put option cũng có 2 bên tham gia: người mua Put option  (Buyer of Put option) và người bán Put option (Seller of Put option).

Người mua Put option sẽ trả cho người bán Put option một khoản tiền – chi phí đó gọi là giá trị quyền chọn bán hay phí Put option và người mua Put option sẽ có quyền bán nhưng không bắt buộc phải bán một lượng chứng khoán nhất định theo một mức giá đã được thoả thuận trước (Strike price) vào một ngày xác định trong tương lai (kiểu Châu Âu) hoặc được thực hiện trước ngày đó (kiểu Mỹ).

Người bán Put option nhận được tiền từ người mua Put option, nên người bán sẽ có trách nhiệm phải mua một lượng chứng khoán nhất định theo một mức giá đã được thỏa thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó, khi người mua Put option muốn thực hiện cái quyền được bán của nó.

Ví dụ: Giá cổ phần ABC là 80.000 đ, sau khi phân tích ta dự báo giá cổ phần ABC sẽ giảm trong thời gian tới. Vậy để có lời, ta sẽ vay cổ phiếu của người khác và bán nó đi. Sau đó nếu giá cổ phần giảm 80.000 đ, ta sẽ mua lại để trả cho khoản vay CP trước đó. Nhưng nếu thực tế giá trị CP ABC trên thị trường lên 100.000 đ/CP chẳng hạn, thì bạn sẽ ra sao? Vậy nếu ta muốn an toàn, ít rủi ro và vẫn thực hiện được dự báo của mình (cổ phiếu ABC giảm giá), ta thử đầu tư vào Put option, cụ thể ta mua Put option cho cổ phần ABC với giá thoả thuận trước là 80.000 đ /CP, thời gian giá trị là từ 25.8 – 25.9.2007, với mức phí là 2.000 đ cho 1 Put option 1 CP ABC, nếu đầu tư 1.000 CP thì phí Put option là 2.000.000 đ. Trong thời gian từ 25.8 – 215.9 nếu giá CP ABC giảm theo đúng dự báo thì ta (người mua Put option) sẽ có lợi. Ví dụ giá CP ABC giảm xuống còn 50.000 đ /CP, thì ta sẽ được quyền bán CP ABC với giá thoả thuận trước 80.000 đ/CP, so với giá thị trường ta sẽ có chênh lệch là 30.000 đ/CP, trừ phí mua Put option 2.000 đ/CP, ta sẽ có lợi ròng là 28.000 đ/CP, 1.000 CP thì ta sẽ có lợi nhuận là 28 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu thời hạn còn ta có thể bán lại put với giá cao hơn và lợi nhuận của ta cũng sẽ tăng lên. Nhưng nếu giá CP ABC tăng lên liên tục mà không giảm thì đến ngày đến hạn của hợp đồng ta sẽ không thực hiện quyền chọn bán mà chỉ mất phí đã mua put option mà thôi.

Quyền chọn được thực hiện trong các trường hợp:

Người nắm giữ quyền chọn (option holder) sẽ quyết định việc thực hiện quyền chọn (option), và việc thực hiện chỉ diễn ra khi họ có được lợi ích, khi đó quyền chọn nằm trong- mức – giá (in- the- money):

  • Quyền chọn mua (call option): chỉ được thực hiện khi giá S là mức giá mà người nắm giữ quyền chọn mua trên thị trường giao ngay (spot market) lớn hơn giá X là giá mà họ phải trả cho tài sản theo hợp đồng quyền chọn.
  • Quyền chọn bán (put option): chỉ được thực hiện khi giá S nhỏ hơn giá X.

Theo đó, thu nhập mà người nắm giữ quyền chọn có thu được:

  • Quyền chọn mua: (S- X) nếu S>X, 0 nếu S< X (vì lúc này người nắm giữ option sẽ không thực hiện hợp đồng vì nó ở ngoài- mức- giá). Như vậy, mức thu nhập có thể thu được chỉ nằm trong khoảng (0; S- X)
  • Quyền chọn bán: (X- S) nếu X> S, 0 nếu X<S (vì lúc này người nắm giữ option sẽ không thực hiện hợp đồng vì nó ở ngoài- mức- giá). Như vậy mức thu nhập có thể thu được nằm trong khoảng (0; X- S)

Mức thu nhập người bán hợp đồng (the option writer) thu được đối lập với mức thu nhập của người mua hợp đồng (the option holder).

Như vậy, người mua hợp đồng quyền chọn (người nắm giữ option) chỉ thực hiện hợp đồng khi có lợi nhuận và mức tối thiểu là 0, trong khi đó mức lợi nhuận tối đa mà người bán hợp đồng quyền chọn thu được là 0 (chưa tính tới phí quyền chọn). Vậy tại sao vẫn có những người bán hợp đồng quyền chọn? Đó là vì 2 lí do: Thứ nhất, hai bên có sự kì vọng trái ngược nhau về sự biến động của giá cả trong tương lai hoặc có rủi ro trái ngược nhau.Thứ hai, người bán hợp đồng quyền chọn sẽ nhận được phí từ phía người mua hợp đồng quyền chọn.

3. Lý do sử dụng hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

3.1. Hợp đồng tương lai 

3.1.1.Giảm thiểu rủi ro

Bảo hộ cho người bán hợp đồng:

Hình thức bảo hộ này thích hợp khi người bảo hộ đã sở hữu tài sản và đang chờ bán vào một thời điểm trong tương lai.

Ví dụ: Giả sử ngày 10-7 công ty X vừa mới ký hợp đồng bán một triệu tấn gạo vào ngày 10-10. Giả sử thoả thuận là giá bán là giá vào ngày này. Do đó công ty sẽ có lợi khi giá tăng và ngược lại. Giả sử giá gạo trên thị trường lúc này là 300USD/tấn gạo, và giá future tháng 10 là 280USD/tấn gạo. Mỗi hợp đồng cho phép mua hoặc bán 1000 tấn gạo, do đó để đảm bảo phòng ngừa rủi ro công ty quyết định bán 1000 hợp đồng future tháng 10. Nếu công ty đóng trạng thái vào ngày 10-10 tác động của chiến lược được chốt ở mức giá đóng cửa là 280USD/tấn gạo.

Giả sử gía giao ngay trên thị trường vào ngày 10-10 là 270USD/tấn gạo, công ty nhận được 270000USD theo hợp đồng. Công ty có lời một khoản là: 280-270=10USD/tấn gạo hoặc 10000USD từ việc bảo hộ bằng vị thế future ngắn hạn. Tổng số tiền công ty nhận được là 280000USD

Ngược lại nếu giá tăng lên là 313USD/tấn gạo thì công ty nhận 313000USD và bị lỗ khoảng 313-280=33USD/tấn gạo với vị thế ngắn hạn trên hợp đồng tương lai.

Bảo hộ cho người mua hợp đồng future:

Hình thức này thích hợp khi công ty biết chắc là sẽ mua một tài sản nào đó trong tương lai và muốn chốt mức giá ngay ngày hôm nay.

Giả sử hôm nay 1-7 giá một thùng dầu thô là 19USD/thùng. Công ty X biết chắc mình phải dùng dầu trong hai tháng tới để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo an toàn công ty quyết định mua 4 hợp đồng tương lai mà mỗi hợp đồng được mua 250 thùng dầu với mức giá tương lai là 17USD/thùng.

Giả sử đến 1-9 giá dầu là 18USD/thùng công ty sẽ có lãi là: 1000*(18-17)=1000USD

Ngược lại khi giá dầu giảm còn 16USD công ty lại bị lỗ một khoản là: 1000*(17-16)=1000USD

Như vậy trong mỗi trường hợp cụ thể giá hàng hoá lên xuống nhà đầu tư có thể thu được lợi nhuận hoặc bị lỗ không ít.

3.1.2.Đầu cơ: Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Giả sử bây giờ tỷ giá VND/USD là 15580. Người B nhận định tỷ giá đó còn tăng nữa người B quyết định đầu tư với số vốn cho phép là 150 triệu. Có hai phương án:

  • Người B dùng toàn bộ số tiền mình có và mua USD gửi ngân hàng chờ khi nào giá USD tăng thì rút ra và bán. Ngoài ra người B còn được hưởng một khoản tiền lãi nhất định của ngân hàng
  • Người B mua 3 hợp đồng tương lai mỗi hợp đồng 50 triệu và giả sử tỷ giá future là 15500

Kết quả hai tháng sau như sau:

  • Nếu tỷ giá là 16000 thì người B thu lãi từ phương án thứ nhất là: 16000-15580=420VND/USD

Và với phương án thứ hai người B thu lời là: 16000-15500=500VND/USD

  • Nếu tỷ giá là 14600 thì ở trường hợp thứ nhất người B bị lỗ: 15580-14600=980VND/USD nếu như người B rút tiết kiệm và bán.

Trường hợp hai người B lỗ: 15500-14600=900VND/USD

Như vậy xét một cách tổng thể thì hai phương án đều giúp nhà đầu tư thu lợi nhuận nếu tỷ giá tăng và ngược lại. Nhưng so với phương án thứ nhất nhà đầu tư phải bỏ ra một khoản vốn rất lớn thì ở phương án thứ hai người B chỉ tốn một khoản tiền nhất định để ký quỹ. Và như thế người ta nói thị trường future cho phép nhà đầu cơ sử dụng đòn bẩy tài chính, với một lượng tiền nhỏ để ký quỹ nhà đầu tư sẽ có vị thế dài hạn.

3.2 Hợp đồng quyền chọn 

Đối với hợp đồng quyền chọn, khi có bất cứ rủi ro nào xảy ra thì người sử dụng sẽ chỉ phải gánh chịu khoản mất mát bằng đúng giá đã trả để có được hợp đồng này, nhưng nó vẫn cho phép người sử dụng hưởng toàn bộ những khoản lợi nhuận có được khi mức giá của tài sản trong hợp đồng biến động theo hướng có lợi. Do đó nhiều doanh nghiệp lựa chọn hợp đồng quyền chọn với lý do muốn duy trì mức lợi nhuận trong trường hợp giá cả tài chính vận động theo dự tính. Hợp đồng quyền chọn được xem là công cụ tương đối linh hoạt trong việc thiết kế các phương án tự bảo hiểm hoặc nhắm tới các mục tiêu đầu tư. Với hợp đồng quyền chọn khách hàng sẽ dễ dàng mua được khả năng tự bảo hiểm khi cần thiết và bán đi khi không cần nữa. Hơn nữa, do các loại hình bảo hiểm này có thể được xây dựng trên cơ sở kết hợp các công cụ được tiêu chuẩn hoá một cách tương ứng nên các loại hình bảo hiểm này thường được tái kết cấu nếu thông tin về quy mô hay thời gian về rủi ro thay đổi hoặc khi những thay đổi về chính sách quản lý rủi ro của doanh nghiệp đòi hỏi khả năng tự bảo hiểm cao hơn hoặc thấp hơn trước. Hợp đồng quyền chọn có thể được trao đổi trên sàn giao dịch hoặc trên thị trường chứng khoán phi tập trung OTC, do vậy người sử dụng cuối cùng có được sự linh hoạt đáng kể trong việc lựa chọn thị trường.

3.2.1.Giảm thiểu rủi ro Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Quyền lựa chọn được sử dụng để bảo vệ lợi nhuận.

Ví dụ: Với XYZ đang có giá thị trường là 44.000 đồng, người sở hữu 100 cổ phần XYZ bán một quyền chọn mua XYZ 44.000 với giá quyền là 400.000 đồng.

Nếu giá thị trường của XYZ giảm xuống 40.000 đồng, người bán sẽ được bảo vệ trước khoản thua lỗ nhờ có 40.000 đồng nhận được từ việc bán quyền chọn. Nếu XYZ tiếp tục giảm giá thì đương nhiên người bán sẽ mất tiền. Như vậy khoản thu 40.000 đồng từ việc bán quyền lựa chọn tạo ra một sự bảo vệ cụ bộ đối với tình trạng sụt giá.

Nếu trong 6 tháng tới giá XYZ vẫn giữ nguyên, quyền sẽ không được thực hiện. Khoản thu phụ trội 40.000 đồng là một thu nhập bổ sung trên tổng đầu tư.

3.2.2.Đầu cơ

Quyền lựa chọn cho phép nhà đầu tư thu được tỷ lệ % lợi tức trên vốn đầu tư cao nhất.

Ví dụ: Giả sử thị trường hiện nay của cổ phiếu XYZ là 42.000 VND/cổ phần, và bạn dự đoán sau nửa năm nữa, giá cổ phiếu XYZ sẽ tăng mạnh, lên tới 50.000 VND. Giả sử các quyền lựa chọn có liên quan đến giao dịch cổ phiếu XYZ được niêm yết, bạn có thể mua một quyền chọn mua cổ phiếu XYZ với giá 40.000 VND/cổ phần.

Trong vòng 6 tháng giá cổ phiếu XYZ tăng lên 50.000 VND/cổ phần. Bạn có thể buộc người bán giao 100 cổ phần XYZ cho bạn với giá 40.000 VND/cổ phần, sau đó bán chúng ra thị trường với giá 50.000 đồng.

Như vậy bạn đã tạo ra một lợi nhuận đáng kể. Trên thực tế bạn đã thu được lợi nhuận 60.000 đồng trên khoản đầu tư 40.000 đồng, vậy lợi suất là 150%, trong khoảng thời gian là 6 tháng.

4. Đặc điểm

4.1.Hợp đồng tương lai 

Về cơ bản hợp đồng tương lai có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Về tính chất: Hợp đồng tương lai tồn tại một sở giao dịch. Điều này có nghĩa thay vì chỉ giao dịch với nhau một cách độc lập những nhà đầu tư không nhất thiết phải gặp mặt nhau nữa. Họ đến sở giao dịch và nhờ nhà môi giới bán hoặc mua một khối lượng hàng hoá nào đó và với mức giá mà mình cho là phù hợp. Và khi nhu cầu của hai nhà đầu tư cá nhân hay tổ chức gặp nhau hợp đồng tương lai sẽ được kí kết. Việc hình thành một sở giao dịch như vậy vô hình chung đã tạo nên một sự an toàn hay giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư. Bởi lẽ, khi đã tham gia giao dịch trên sở giao dịch này mỗi nhà đầu tư phải có một khoản tiền kí quỹ để đảm bảo khả năng thanh toán của mình. Ngoài ra do có một trung gian làm nhiệm vụ thanh toán nên quá trình thanh toán giữa các khách hàng cũng diễn ra nhanh chóng hơn tạo nên tính thanh khoản cho các hợp đồng loại này. Nói tóm lại nhờ có sở giao dịch mà thị trường hợp đồng tương lai tỏ ra hiệu quả hơn so với hợp đồng kỳ hạn thúc đẩy thị trường loại này phát triển. Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Thứ hai: Về tính tiêu chuẩn hoá hợp đồng: Hợp đồng tương lai có tính tiêu chuẩn hoá khá cao. Đây là kết luận có được khi so sánh hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn. Khác với hợp đồng kì hạn khi hợp đồng được kí kết với bất kì một loại hàng hoá nào, với một khối lượng tự do tuỳ ý thì hợp đồng tương lai có tiêu chuẩn về chủng loại hàng hoá giao dịch với chất lượng hàng hoá được quy định cụ thể. Ví dụ cùng là đồng ngoại tệ nhưng người ta chỉ giao dịch những ngoại tệ mạnh như USD hay EURO thay vì những ngoại tệ loại khác. Điều này đã hạn chế ít nhiều chủng loại hàng hoá trên thị trường tương lai và đối tượng khách hàng tham gia trên thị trường.

Thứ ba: Về tính rủi ro của hợp đồng tương lai: Khi mà hai người mua và bán đều không biết nhau liệu rằng có sự đảm bảo nào cho việc thực hiện hợp đồng của họ. Trên thực tế khách hàng của sở giao dịch vẫn phải thanh toán đầy đủ cho khách hàng của mình trong bất cứ trường hợp nào. Chính sở giao dịch đã làm nhiệm vụ trung gian về thông tin, về thanh toán, về môi giới. Mọi nghiệp vụ thanh toán bù trừ đều được thực hiện qua sở giao dịch này. Điều này đảm bảo sự an toàn cho khách hàng trong thanh toán lẫn nhau vì mọi viêc đã được sở giao dịch thực hiện giúp, nhà đầu tư chỉ quan tâm đến phần lỗ lãi thực tế còn lại của mình sau khi đã trừ đi các khoản phí, hoa hồng hay thuế. Tính rủi ro được giảm thiểu chủ yếu là do đặt cọc và quá trình bù trừ của sở giao dịch.

Thứ tư: Về tính thanh khoản, như đã nói ở trên nhờ tồn tại một sở giao dịch mà hợp đồng tương lai có tính thanh khoản cao. Nếu như với hợp đồng kỳ hạn người đầu tư (ở đây chính là người mua và bán hợp đồng tương lai) phải gặp mặt nhau và thực hiện thanh toán cho nhau mọi khoản tiền theo nghĩa vụ của mỗi bên, thì với hợp đồng tương lai công việc đó do nhà trung gian thực hiện. Nhà đầu tư chỉ việc mở tài khoản hoặc nộp một khoản tiền kí quỹ tại sở giao dịch, sau đó nhà môi giới sẽ chịu trách nhiệm trung gian thanh toán cho họ. Điều đó có nghĩa sau mỗi thương vụ mua bán thành công ngay lập tức nhà đầu tư sẽ nhận được tiền nếu họ có lãi, và tất nhiên số tiền trong tài khoản của họ sẽ giảm sút trong trường hợp ngược lại. Và công việc này làm giảm bớt thời gian gặp nhau không cần thiết giữa các nhà đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tương lai.

Thứ năm: Ngoài những đặc điểm trên đây hợp đồng tương lai còn có những đặc điểm khác nữa. Cụ thể ở hợp đồng tương lai nhà đầu tư phải mở một tài khoản. Vì hợp đồng tương lai vốn gắn liền với rủi ro nên nhà môi giới thường yêu cầu bạn bảo đảm về giá trị thuần hay điều kiện cần thiết về thu nhập. Điều đó có nghĩa là bạn phải ký quỹ ngoài số tiền trong tài khoản giao dịch mà bạn bắt buộc phải mở nếu như muốn mua hay bán hợp đồng tương lai. Đây như là khoản tiền đặt cọc để đảm bảo khả năng thanh toán của bạn. Với mỗi một loại hàng hoá nhất định thì mức ký quỹ là khác nhau. Đơn giản là vì mức độ rủi ro không chỉ phụ thuộc vào từng khách hàng mà còn phụ thuộc vào loại hàng hoá mà họ giao dịch. Và số tiền ký quỹ cũng tuỳ thuộc vào vị thế của nhà đầu tư. Khi nhà môi giới nhận thấy nhà đầu tư đang ở vị thế thua lỗ, ngay lập tức họ gửi giấy yêu cầu nhà đầu tư phải tăng số tiền kí quỹ tuơng ứng với mức thua lỗ của họ để đảm bảo số tiền ký quỹ không quá nhỏ so với số tiền ban đầu của họ. Mặt khác khi mà giá cả của loại hàng hoá mà nhà đầu tư đang tiến hành đầu tư có sự biến động thì số tiền ký quỹ cũng thay đổi theo. Ví dụ khi giá của hàng hoá mà nhà đầu tư dự định mua tăng lên nhà môi giới cũng yêu cầu nhà đầu tư tăng số tiền ký quỹ của họ. Và ngược lại khi giá hàng hoá có xu hướng giảm nhà đầu tư có quyền giảm số tiền ký quỹ của mình. Nhưng trên thực tế để tránh nhầm lẫn, phiền hà họ thường giữ nguyên số tiền đó cho những trường hợp biến động khác của giá cả. Điều này xem như hơi phức tạp với nhà đầu tư vì họ luôn phải thay đổi tiền ký quỹ (mà thực chất ở đây là thường xuyên phải nộp thêm tiền vào quỹ). Tuy nhiên đây lại là biện pháp phòng ngừa rủi ro hữu hiệu đối với cả nhà đầu tư và người môi giới và là công việc bắt buộc để được mua bán hợp đồng tương lai trên thị trường tương lai.

4.2.Hợp đồng quyền chọn  Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Có thể nói so với hợp đồng tương lai thì hợp đồng quyền chọn có nhiều yếu tố tương đồng.

Thứ nhất: Khi xét trên về mặt tính chất thì hợp đồng quyền chọn được giao dịch chủ yếu trên thị trường OTC. Thị trường này gần như không tồn tại giám sát viên ngoài các nhà tạo lập thị trường nên các nhà đầu tư phải chấp nhận rủi ro tài chính có thể xảy đến bất cứ lúc nào. Tuy nhiên cũng hoàn toàn không phải không có hợp đồng quyền chọn được giao dịch trên thị trường tập trung hay sở giao dịch chứng khoán, nhưng số đấy là rất ít. Nhưng sự có mặt của nhà tạo lập thị trường của thị trường OTC đã đảm bảo rằng lệnh mua và bán có thể luôn luôn được thực hiện ở một vài mức giá mà không có bất cứ sự chậm trễ nào. Những người tạo lập thị trường, do vậy, đã làm tăng khả năng linh hoạt cho thị trường, họ cũng tự tạo ra lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giá mua và giá bán.

Thứ hai: Hàng hoá của hợp đồng quyền chọn cũng bị hạn chế. Thí dụ hàng hoá của hợp đồng có thể là ngoại tệ, chứng khoán, chỉ số chứng khoán hay hợp đồng tương lai. Và tất nhiên loại hình hợp đồng cũng yêu cầu khá chặt chẽ về chất lượng cũng như khối lượng hàng hoá giao dịch trong hợp đồng.

Thứ ba: Về tính thanh khoản hợp đồng quyền chọn chắc chắn không thanh khoản bằng hợp đồng tương lai. Lý do thì chúng ta đã biết. Do chủ yếu được giao dịch trên thị trường OTC không có nhiều phòng ban làm nhiệm vụ chuyên môn vì thế khả năng thanh toán ít nhiều bị giảm sút. Đây có lẽ cũng là nhược điểm đáng chú ý của hợp đồng quyền chọn.

Thứ tư: Về tính rủi ro, đây cũng có thể xem là loại hàng hoá có tính rủi ro trên thị trường chứng khoán. Do đối với hợp đồng quyền chọn nhà đầu tư có thể thực hiện hoặc không hợp đồng của mình tuỳ tình hình của thị trường có phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư hay không.

Thứ năm: nếu như hợp đồng tương lai yêu cầu nhà đầu tư phải ký quỹ hay mở tài khoản nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của mình, thì đối với hợp đồng quyền chọn nhà đầu tư phải mất một khoản phí nhất định cho mỗi quyền chọn mua hay bán. Cho dù hợp đồng có được thanh toán hay không thì nhà đầu tư cũng chịu mất khoản phí đó. Việc nộp phí này đã làm giảm thu nhập ròng của nhà đầu tư. Tuy nhiên việc sử dụng hợp đồng quyền chọn để đầu tư đã đem lại cho nhà đầu tư cái lợi lớn hơn đó là đòn bẩy tài chính. Với số tiền vốn ban đầu là rất nhỏ nhưng nó giúp nhà đầu tư thu một khoản lợi nhuận vô cùng lớn khi hợp đồng được thực hiện. Tất nhiên thì so với việc thực hiện hợp đồng thua lỗ cũng giảm đi nếu như hợp đồng không được thực hiện.

5. So sánh Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Tiêu chí Hợp đồng tương lai Hợp đồng quyền chọn
Địa điểm giao dịch Tập trung trên sàn của sở giao dịch Sàn giao dịch hoặc trên thị trường phi tập trung OTC
Giá trị một hợp đồng Được tiêu chuẩn hoá, cố định và không thương lượng được. Các giao dịch có độ lớn bằng bội số của giá trị một hợp đồng. Nếu thực hiện trên sàn thì được tiêu chuẩn hoá, còn nếu thực hiện trên thị trường OTC thì không được tiêu chuẩn hoá và là
một giá trị tuỳ ý; giá trị giao dịch được thoả thuận giữa người mua và người bán
Các đồng tiền giao dịch Hầu hết chỉ là các đồng tiền chính Không hạn chế
Những ngày  đến hạn Những ngày đến hạn được tiêu chuẩn hoá. Thông thường là vào thứ Tư của tuần thứ 3 của tháng 3;6;9;12 Không tiêu chuẩn hoá
Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng gắn với sở giao dịch. Rủi ro được phòng ngừa bằng biện pháp ký quỹ. Tài khoản ký quỹ được điều chỉnh hàng ngày theo mức lãi hay lỗ của hợp đồng.  Đây cũng có thể xem là loại hàng hoá có tính rủi ro trên thị trường chứng khoán. Do đối với hợp đồng quyền chọn nhà đầu tư có thể thực hiện hoặc không tuỳ theo tình hình của thị trường có phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư hay không
Tính thanh khoản Cao do việc thanh toán đã có nhà trung gian thực hiện Không cao bằng nếu thực hiện trên thị trường OTC
Tính thanh lý hợp đồng Phải thanh lý Có thể thanh lý hoặc không. Nếu người mua yêu cầu thực hiện hợp đồng thì người bán phải thực hiện còn nếu không người mua chỉ mất phí.

II: THỊ TRƯỜNG NGOẠI TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

1. Khái niệm

1.1.Thị trường ngoại tệ

  • Ngoại hối (foreign exchage): bao gồm các phương tiện tiền tệ sử dụng trong thanh toán quốc tế.
  • Điều 4 khoản 1 Pháp lệnh số 28/2005/PL-UBTVQH11 ngày 13-12-2005 của UB thường vụ Quốc hội nước CHXHCNVN.

 Ngoại hối bao gồm:

  • Ngoại tệ: Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực
  • Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
  • Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
  • Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;
  • Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.

Ngày nay do vai trò tiền tệ của vàng giảm đáng kể, chính vì vậy khi nói đến thị trường ngoại hối người ta thường hiểu đó là thị trường mua bán các đồng tiền khác nhau, hay mua bán ngoại tệ, nghĩa là thị trường ngoại hối thường được hiểu theo nghĩa hẹp là thị trường mua bán ngoại tệ

  • Thị trường ngoại hối:

Một trong những điểm khác nhau cơ bản giữa thương mại quốc tế và thương mại nội địa là:

  • Thương mại quốc tế thường liên quan đến việc chuyển đổi các đồng tiền khác nhau của các quốc gia khác nhau
  • Trong khi đó, thương mại nội địa thường chỉ liên quan đến nội tệ.

Một nhà nhập khẩu Mỹ thường được yêu cầu thanh toán cho nhà xuất khẩu Nhật bằng đồng yên Nhật, cho nhà xuất khẩu Đức bằng đồng EURO, cho nhà xuất khẩu Anh bằng đồng bảng Anh. . . Với lý do này, để thanh toán tiền hàng, nhà nhập khẩu Mỹ phải mua các ngoại tệ thích hợp, tức bán nội tệ trên thị trường. Nghĩa là, một trong hai bên (mua hoặc bán) phải liên quan đến mua bán đồng ngoại tệ

Giống như thương mại quốc tế, du lịch quốc té, đầu tư quốc tế, quan hệ tín dụng quốc tế và các quan hệ tài chính quốc tế khác đều làm phát sinh nhu cầu mua bán các đồng khác nhau trên thị trường.

Hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau được diễn ra trên thị trường, và thị trường này được gọi là thị trường ngoại hối( The Foreign Exchange Market – FOREX). Một cách tổng quát: thị trường ngoại hối là bất cứ đâu diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau. Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Trong thực tế, do các hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng(chiếm khoảng 85% tổng doanh số giao dịch), chính vì vậy, theo nghĩa hẹp(nghĩa thực tế) thì thị trường ngoại hối là nơi mua bán các đồng tiền khác nhau giữa các ngân hàng, tức thị trường liên ngân hàng(Interbank).

1.2.Thị trường chứng khoán

  • Chứng khoán:

Theo luật chứng khoán Việt Nam 2007, chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.

Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử bao gồm:

  • Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ
  • Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.

Thị trường chứng khoán:

Là một thí trường có tổ chức để mua và bán, là một thị trường mà nơi đó người ta mua bán chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.

2. Đặc điểm

2.1. Thị trường ngoại hối:

Forex không nhất thiết phải tập trung tại vị trí địa lý hữu hình nhất định, mà là bất cứ đâu diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền khác nhau, do đó, nó còn được gọi là thị trường không gian( Space Market)

Đây là thị trường toàn cầu hay thị trường không ngủ. Do sự chênh lệch về múi giờ giữa các khu vực trên thế giới nên các giao dịch diễn ra suốt ngày đêm.

Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường ngân hàng InterBank, với các thành viên chủ yếu là các ngân hàng thương mại, các nhà môi giới ngoại hối và các NHTW. Doanh số giao dịch trên InterBank chiếm 85% tổng doanh số giao dịch ngoại hối toàn cầu.

Các thành viên tham gia thị trường duy trì quan hệ với nhau liên tục thông qua điện thoại, mạng vi tính, telex và fax. Do thông tin được truyền đi rất nhanh và hiệu quả cho nên tuy các thành viên tham gia thị trường ở rất xa nhau nhưng họ vẫn có cảm giác là đang cùng hoạt động dưới mái nhà chung. Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Do thị trường có tính toàn cầu và hoạt động hiệu quả cho nên các tỷ giá được yết trên thị trường khác nhau nhưng hầu hết là thống nhất với nhau ( có độ chênh lệch không đáng kể.)

Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong giao dịch là USD, chiếm 41.5% trong tổng số các đồng tiền tham gia, điều này cũng có nghĩa là tới 83% giao dịch trên Forex là có mặt của đồng USD.

Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội… nhất là các chính sách tiền tệ của các nước phát triển.

2.2. Thị trường chứng khoán:

Thị trường chứng khoán trong nền kinh tế hiện đại được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được diễn ra ở thị trường sơ cấp, khi người mua mua được những chứng khoán lần đầu từ những người phát hành và ở thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại những chứng khoán đã có sự phát hành ở thị trường sơ cấp. Vậy xét về mặt hình thức thị trường chững khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, chuyển nhượng, trao đổi các loại chứng khoán, qua đó thay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán. Nhưng xét về mặt bản chất thì:

  • Thị trường chứng khoán là nơi tập trung và phân phối các nguồn vốn tiết kiệm. Tập trung các nguồn tiết kiệm để phân phối lại cho những ai muốn sử dụng nguồn tiết kiệm đó theo giá mà người sử dụng sẵn sàng trả và theo phán đoán của thị trường từ khả năng sinh lời từ các dự án của người sử dụng. Chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.
  • Thị trường chứng khoán là định chế tài chính trực tiếp: Cả chủ thể cung và cầu vốn đều tham gia thị trường một cách trực tiếp. Ngược với cách tài trợ gián tiếp được thực hiện thông qua các trung gian tài chính, những người có vốn có khi có đủ điều kiện về môi trường tài chính pháp lý… sẽ trực tiếp đầu tư vào các sản xuất kinh doanh mà không cần qua các trung gian tài chính, mà chuyển vốn thông qua thị trường chứng khoán, một thị trường dẫn vốn trực tiếp từ người có vốn sang người cần vốn theo nguyên tắc đầu tư.
  • Với việc đầu tư qua các trung gian tài chính, các chủ thể đầu tư không thể theo dõi, quản lý vốn đầu tư của họ, do đó làm cho quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn tách rời nhau, làm giảm động lực, tiềm năng trong quản lý. Trái lại, với việc đầu tư qua thị trường chứng khoán, kênh dẫn vốn trực tiếp, các chủ thể đầu tư đã thực sự gắn quyền sử dụng và quyền sở hữu về vốn, nâng cao tiềm năng quản lý vốn.
  • Thị trường chứng khoán thực chất là sự vận động của tư bản tiền tệ. Các chứng khoán mua bán trên thị trường chứng khoán có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó sau một thời gian nhất định và được lưu thông trên thị trường chứng khoán theo giá cả thị trường, do đó bề ngoài nó được coi như một tư bản hàng hóa.
  • Có thể nói thị trường chứng khoán là nơi mua bán các quyền sở hữu về tư bản, là hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá.

Thị trường chứng khoán cũng gắn với thị trường tài chính ngắn hạn. Những người có chứng khoán có thể mua bán chứng khoán tại bất kỳ thời điểm nào trên thị trường chứng khoán, nên các chứng khoán trung và dài hạn cũng trở thành đối tượng đầu tư ngắn hạn.

III. Vai trò của HĐ tương lai và HĐ quyền chọn. Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

1.Tạo ra công cụ bảo vệ lợi nhuận và kiếm lời cho người đầu tư .

Nếu như không có công cụ chứng khoán phái sinh thì khi các nhà đầu tư có những dự đoán giá cả của những chứng khoán trong danh mục đầu tư sẽ biến động bất lợi thì họ chỉ còn cách là bán hết hoặc mua hết các loại chứng khoán này trên thị trường giao ngay. Điều này đòi hỏi họ phải bỏ ra những khoản chi phí lớn, mà tiềm ẩn rủi ro cũng rất lớn.

Bằng việc sở hữu quyền chọn, người đầu tư trên TTCK có thể cố định giá bán, mua chứng khoán của mình trong một khoảng thời gian nhất định (thời gian hiệu lực của hợp đồng quyền chọn). Do đó, nếu biết vận dụng các kỹ thuật mua bán chứng khoán kết hợp với quyền chọn, các nhà đầu tư có thể bảo vệ được lợi nhuận trong kinh doanh chứng khoán một cách hữu hiệu.

Quyền chọn chứng khoán được sử dụng nhiều trong các Quỹ phòng hộ (hedge-fund). Theo nhiều người, Quỹ phòng hộ là một phát minh lớn trên thị trường chứng khoán dùng để bù đắp lại rủi ro đầu tư. Tại quỹ này, các nhà đầu tư ưa thích sự an toàn sẽ tham gia và sử dụng quyền chọn chứng khoán để bảo vệ khoản tiền đầu tư của mình chống lại những tăng trưởng không dự tính trước cũng như sự sụt giá bất ngờ hay lên giá đột ngột chứng khoán. Và thế là các Quỹ phòng hộ liên tục xuất hiện và được điều hành bởi một công ty đầu tư huy động vốn của cổ đông rồi đầu tư vào các chứng khoán phái sinh nhằm thu lợi nhuận ổn định và đều đặn.

George Soros, nhà đầu cơ tài chính lớn nhất thế giới, là hình mẫu thành công khi áp dụng quyền chọn chứng khoán trên thị trường. Ngay trong những thời điểm khó khăn nhất vào cuối thập niên 1990 khi giá cả biến động liên tục, thì các Quỹ phòng hộ của Soros vẫn luôn đạt con số lợi nhuận trên 10% nhờ biết cách mua đi và bán lại hợp đồng quyền chọn. Với các danh mục đầu tư dàn trải trên nhiều thị trường khắp các châu lục, Soros luôn đảm bảo các hợp đồng quyền chọn của mình đem lại hết lợi nhuận này đến lợi nhuận khác. Nổi bật trong số những Quỹ Phòng hộ là Quantum Fund và Quota Fund thông qua công ty quản lý quỹ mang tên Soros Fund Management.

Hơn nữa, việc ứng dụng giao dịch quyền chọn đem lại cho người đầu tư trên TTCK Việt Nam một công cụ đầu tư mới. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với người đầu tư ở Việt Nam bởi những lý do sau đây:

  • Hàng hóa trên TTCK Việt Nam hiện nay đang rất ít, cơ hội lựa chọn đầu tư của người đầu tư không nhiều;
  • Hơn nữa với tính cách khá thận trọng, người đầu tư Việt Nam ngại bỏ ra những khoản tiền lớn để đầu tư;
  • Trên thực tế, thu nhập đầu người ở Việt Nam còn rất thấp, nên một công cụ đầu tư với số vốn ban đầu bỏ ra tương đối ít sẽ rất thích hợp với đại đa số người đầu tư Việt Nam.

Chính vì vậy, với những đặc tính của hợp đồng quyền chọn chứng khoán, rõ ràng nó đã đáp ứng được những mong đợi của người đầu tư Việt Nam. Do đó, nếu quyền chọn chứng khoán được ứng dụng giao dịch trên TTCK Việt Nam sẽ thu hút thêm được rất nhiều người đầu tư vào thị trường. Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Ngoài ra, việc ứng dụng giao dịch quyền chọn cũng là cơ hội tăng thu nhập của các công ty chứng khoán (CTCK) thông qua việc thu phí từ giao dịch, tư vấn,… từ đó, tăng thêm khoản thu cho ngân sách Nhà nước bằng các khoản thuế.

Trên thị trường ngoại hối cũng vậy, tỉ giá luôn biến động khôn lường, nếu như không có các công cụ phái sinh thì các nhà xuất nhập khẩu vay ngoại tệ để kinh doanh sẽ bị bất lợi. Nhưng chỉ với 1 khoản chi phí chấp nhận được khách hàng có được một quyền lựa chọn về tỉ giá trên thị trường ngoại hối nhiều biến động. Đây là một công cụ bảo hiểm cho nhà đầu tư kiếm lời trên sự biến động tỉ giá với chi phí hữu hạn mà lợi nhuận không giới hạn.

2. Thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển

Với ý nghĩa quyền chọn cổ phiếu vừa là công cụ bảo vệ lợi nhuận, và là công cụ giảm thiểu rủi ro hữu hiệu và đồng thời là một loại hàng hóa có thể mua bán trên TTCK; nên khi ứng dụng giao dịch quyền chọn sẽ làm cho TTCK rất sôi động. Với vai trò là một công cụ bảo vệ lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, quyền chọn tạo tâm lý an toàn hơn trong đầu vào cổ phiếu, do đó thu hút được thêm nhiều người đầu tư còn e ngại về mức độ mạo hiểm, rủi ro trên TTCK mạnh dạn tham gia thị trường. Với vai trò là một hàng hóa trên TTCK quyền chọn cổ phiếu mang đến khát khao kiếm lợi nhuận nên khi quyền chọn được ứng dụng giao dịch, nhiều nhà đầu tư sẽ tham gia thị trường để kinh doanh quyền chọn. Hiện nay, môi trường đầu tư của Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện và ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài. Theo công bố của Bộ Tài chính, tính đến tháng 6/2006 đã có 19 quỹ đầu tư nước ngoài với tổng số vốn gần 2 tỷ USD hoạt động tại Việt Nam. Gần đây nhất, quỹ GrandFord (Anh), Azelea Fund, và một số tổ chức tài chính Hồng Kông, Trung Quốc cũng đã bắt đầu đặt chân đến TTCK Việt Nam. Khi nhiều người đầu tư tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà đầu tư có tầm cỡ sẽ làm cầu hàng hóa chứng khoán tăng. Điều này làm cho thị trường trở nên sôi động và cơ hội phát triển, mở rộng thị trường là rất cao.

Hơn nữa, việc ứng dụng quyền chọn sẽ giúp hoàn thiện dần cơ cấu hàng hóa trên TTCK Việt Nam. Hiện nay, TTCK Việt Nam được đánh giá là thị trường nhỏ bé nhất thế giới. Việc ứng dụng giao dịch quyền chọn sẽ đem lại một vị thế khác cho thị trường Việt Nam.

3.Tác động gián tiếp đến hệ thống ngân hàng, các công ty niêm yết và nền kinh tế Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

Để quyền chọn cổ phiếu một công ty được niêm yết thì công ty đó (công ty niêm yết – CTNY) phải đáp ứng được những điều kiện của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đề ra như số lượng cổ phiếu đang lưu hành, số lượng cổ phiếu được giao dịch trên thị trường, số cổ đông nắm giữ cổ phiếu, giá cổ phiếu… Hơn nữa, không một CTNY nào muốn quyền chọn bán cổ phiếu công ty mình được mua bán liên tục bởi đó là dấu hiệu cho thấy thị trường dự đoán giá cổ phiếu công ty sẽ đi xuống, và điều này cũng cho thấy uy tín của công ty trên thị trường đang giảm dần. Như vậy, công ty có thể nhìn vào xu hướng giao dịch quyền chọn trên thị trường mà nhận biết được sự đánh giá của thị trường đối với công ty mình, điều này giúp công ty có những điều chỉnh kịp thời trong chiến lược kinh doanh để giữ uy tín của công ty trên thị trường.

Như vậy, quyền chọn giúp người đầu tư giám sát gián tiếp hoạt động của các CTNY. Khi có thêm người giám sát, đòi hỏi CTNY phải nỗ lực hơn trong hoạt động kinh doanh. Mỗi một công ty với tư cách là tế bào của nền kinh tế phát triển thì nền kinh tế đó sẽ ngày càng vững mạnh. Hơn nữa, khi hàng hóa trên TTCK dồi dào hơn, giao dịch sôi động hơn thì các nhà đầu tư nước ngoài sẽ lại tiếp tục đặt chân đến với thị trường nhỏ bé nhưng đầy tiềm năng phát triển. Lúc bấy giờ, cơ hội đầu tư không chỉ mở ra ở TTCK mà còn ở các ngành nghề và lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác. Như vậy rõ ràng là nền kinh tế sẽ ngày càng phát triển

Cũng như vậy, thị trường tiền tệ Việt Nam vẫn còn là một thị trường non trẻ, việc phát triển 2 loại hợp đồng này sẽ góp phần phát triển thị trường tiền tệ Việt Nam cũng như đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải đổi mới gia tăng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu. Khóa luận: Hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn ở V.Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Hợp đồng tương lai và quyền chọn tại Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x