Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Techcombank, giai đoạn 2022 – 2025 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm đổi mới, đặc biệt là thời gian gần đây, khi quá trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đã hoàn thành thì hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ như: chính sách Nhà nước độc quyền về ngoại thương được bãi bỏ, Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu, giảm mạnh việc quản lý theo hạn ngạch, thu hẹp tối thiểu diện mặt hàng cấm nhập, cấm xuất, bãi bỏ các thủ tục phiền hà trong xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh tham quan du lịch, môi giới, hợp tác và liên doanh, xoá bỏ chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương… .Tất cả những thành tựu đó đã góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong hoạt động ngoại thương, những nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu của Việt Nam luôn gặp bất lợi về vấn đề thanh toán, Việt Nam vẫn còn là một nước nhập siêu nên trong nhập khẩu thường phải sử dụng thư tín dụng trả ngay, trong khi đó, các nhà xuất khẩu hầu như không được thực hiện thanh toán bằng thư tín dụng trả ngay, nhiều khi hàng được xuất trước khi mở L/C (do hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam toàn là hàng nông sản), rủi ro mà các nhà xuất nhập khẩu của Việt Nam phải đối mặt là rất lớn. Hoặc trong các phương thức khác như điện chuyển tiền hay nhờ thu cũng gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như nhập khẩu và ngay cả chính bản thân các ngân hàng của Việt Nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động thanh toán quốc tế đối với sự phát triển của các ngân hàng nói riêng và đối với sự phát triển của nền kinh tế trong tiến trình hội nhập và phát triển nói chung, cộng với quá trình thực tập và tìm hiểu tại ngân hàng Techcombank, là một sinh viên chuyên ngành Tài chính quốc tế thuộc khoa Tài chính – Ngân hàng, trường Đại học Ngoại Thương, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Techcombank, giai đoạn 2022 – 2025” để nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Techcombank.
Để đạt được mục đích nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Techcombank, khóa luận sẽ tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về ngân hàng thương mại, hoạt động thanh toán quốc tế và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại
- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra những mặt tồn tại và nguyên nhân những mặt tồn tại trong quá trình phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế tại Techcombank
- Đề ra những giải pháp cho Techcombank nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở ngân hàng thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam, Techcombank trong giai đoạn 2022 – 2025.
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, khóa luận gồm ba chương:
- Chương I: Lý luận chung về phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại
- Chương II: Thực trạng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Techcombank, giai đoạn 2022 – 2025
- Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại Techcombank
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới ThS. Nguyễn Vân Hà, người đã tận tình hướng dẫn và cung cấp nhiều chỉ dẫn khoa học có giá trị, cũng như thường xuyên động viên tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ để bài khóa luận tốt nghiệp này có thể hoàn thành tốt đẹp. Đồng thời, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Tài chính Ngân hàng và các thầy cô giáo của trường Đại học Ngoại thương nói chung đã cung cấp cho sinh viên những kiến thức bổ ích trong suốt bốn năm học tập tại trường, tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ trong quá trình học tập cũng như trong thời gian làm khóa luận.
Do thời gian có hạn và trình độ hạn chế của một sinh viên nên bài khóa luận này không thể tránh khỏi sai sót. Tác giả luôn mong nhận được ý kiến nhận xét, đóng góp và đánh giá của các thầy cô giáo để kiến thức được hoàn thiện hơn nữa.
Chương I: Lý luận chung về phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại
1. Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại (Commercial Bank) là những trung gian tài chính, nhận tiền gửi của các hộ gia đình (cá nhân) và cho các doanh nghiệp, cá nhân khác vay, cung cấp các dịch vụ về trao đổi ngoại tệ, chuyển tiền, các dịch vụ liên quan đến thư tín dụng, dịch vụ két an toàn…
Xét từ góc độ dịch vụ trung gian tài chính chủ yếu mà NH thực hiện, người ta chia các NHTM thành các loại: NH thông thường, NH tín thác và NH tín dụng dài hạn. Tuy nhiên, xu hướng chuyển đổi thành các trung gian tài chính kinh doanh tổng hợp đã khiến cho cách phân loại trên không còn được sử dụng nhiều. Ngay cả NH đầu tư, vốn được coi là loại hình NH khác NHTM, nay cũng trở nên không còn sự khác biệt nhiều. Ngoài ra NHTM còn được phân chia thành các loại theo hình thức sở hữu : NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh, NHTM nước ngoài.
1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế quốc dân
- Vai trò tập trung vốn của nền kinh tế Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là đem cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh. Nhưng những chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông. NHTM với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay.
Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Chức năng làm trung gian thanh toán
Chức năng này có nghĩa là NH tiến hành nhập tiền vào tài khoản hay chi trả tiền theo lệnh của chủ tài khoản. Khi các khách hàng gửi tiền vào NH, họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cách nhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khoản thanh toán có giá trị lớn, ở mọi địa phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém, khó khăn và không an toàn.
Khi làm trung gian thanh toán, NH tạo ra những công cụ lưu thông và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán…) đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa. Ở các nước phát triển phần lớn thanh toán được thực hiện qua séc và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thống NHTM. Ngoài ra việc đảm nhận chức năng là thủ quỹ của các doanh nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho NH thực hiện các nghiệp vụ cho vay.
- Chức năng tạo tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp
Vào cuối thế kỷ 19, hệ thống NH hai cấp được hình thành, các NH không còn hoạt động riêng lẻ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó NH trung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng; là NH của các NH. Các NH còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ hoạt động trong hệ thống các NH. Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanh toán trong hệ thống NH, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống NH trung ương mỗi nước.
Giả sử rằng tất cả các NHTM đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức quy định, các séc không chuyển thành tiền mặt và các yếu tố phức tạp khác bị bỏ qua thì quá trình tạo thành tiền như sau: Giả thiết NH A có khoản tiền gửi mới là 1.000, dự trữ bắt buộc là 10% thì số tiền nó có thể cho vay là 900. Khoản tiền cho vay đó được đưa đến người vay, người vay tiền không bao giờ vay tiền về mà cất trong nhà vì như thế họ phải chịu lãi một cách vô ích, họ dùng tiền đó chi trả các khoản. Và số tiền đó đến tay người được chi trả, người chi trả đem số tiền đó gửi vào NH B, NH B lúc này sẽ có một lượng tiền gửi mới là 900. Dự trữ bắt buộc là 10%, số tiền có thể cho vay là 810. Số tiền này được cho người cần vay vay, người cho vay chi trả các khoản đến người được chi trả, người được chi trả đem số tiền được trả gửi vào NH C. Và cứ như thế tiếp tục… cho đến khi lượng tiền gửi mới bằng 0. Người ta tính được rằng lượng tiền gửi mới trong toàn hệ thống NH là 10.000, lượng tiền dự trữ bắt buộc là 1.000 và tiền cho vay là 9.000. Và do cách thức này mà tiền đã được tạo ra trong hệ thống NH 2 cấp.
1.3. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
NHTM là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán và các nghiệp vụ trung gian khác nhằm thu được lợi nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh khoản.
Có thể phân các hoạt động của NHTM thành ba hoạt động cơ bản là:
- Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động sử dụng vốn (cho vay và đầu tư).
- Hoạt động trung gian thanh toán và các loại hình dịch vụ khác.
Ba hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau và có vai trò quan trọng trong việc quyết định đến sự thành công trong hoạt động kinh doanh của NH.
- Hoạt động huy động vốn
Một đặc trưng quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM là đi vay để cho vay. Vì vậy, khác với các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực phi tài chính, huy động vốn là nghiệp vụ kinh doanh hết sức quan trọng của NHTM, bao gồm:
Vốn tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi một NH bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó NH huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư.
Vốn đi vay: Trong quá trình hoạt động, để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoặc giải quyết nhu cầu cấp bách về vốn, NH có thể tiến hành vay vốn từ NH trung ương, các tổ chức tín dụng khác hoặc thị trường tài chính trong và ngoài nước dưới các hình thức khác nhau.
- Hoạt động sử dụng vốn Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Sử dụng và khai thác các nguồn vốn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM và được thể hiện thông qua nhiều nghiệp vụ cụ thể như: tín dụng, đầu tư, hoạt động ngân quỹ…Trong đó, tín dụng là nghiệp vụ cơ bản nhất trong sử dụng và khai thác nguồn vốn của NHTM.
Hoạt động tín dụng: Tín dụng ngân hàng bao gồm các hình thức: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cho thuê tài chính và bao thanh toán. Trong đó hoạt động cho vay được xem là hoạt động sinh lợi chủ yếu của NHTM, song cũng chứa đựng mức độ rủi ro cao.
Hoạt động đầu tư: Hoạt động đầu tư của NHTM được thể hiện dưới nhiều hình thức như: đầu tư mua bán chứng khoán, đầu tư góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh liên kết… Nhờ có những hoạt động đầu tư này mà các NHTM có thể sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động, đa dạng hoá kinh doanh và phân tán rủi ro, tăng cường thanh khoản cho dự trữ của ngân hàng. Đồng thời, nó cũng mang lại nguồn thu nhập cho NHTM.
Hoạt động ngân quỹ : là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách hàng, nó bao gồm nghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các ngân hàng khác và ngân hàng Trung ương. Mặc dù hoạt động ngân quỹ là hoạt động không mang tính đầu tư, nhưng lại rất quan trọng đối với các NHTM bởi nó góp phần tăng cường khả năng thanh toán và chi trả với khách hàng.
- Hoạt động trung gian thanh toán và các loại hình dịch vụ khác
Tất cả các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá, dịch vụ và các hoạt động khác trong nền kinh tế đều được kết thúc bằng khâu thanh toán. Xét theo phạm vi, thì hoạt động thanh toán của NH được chia làm 2 loại : thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế. Trong đó, hoạt động thanh toán quốc tế chiếm tỷ trọng cao và đem lại cho NH nguồn lợi nhuận lớn thông qua các phương thức thanh toán đa dạng.
Bên cạnh đó các NHTM cũng cung cấp các dịch vụ có liên quan đến tài chính như dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ uỷ thác, mua bán và kinh doanh chứng khoán… Các hoạt động trung gian này có độ rủi ro thấp hơn hoạt động cho vay và đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho NH.
2. Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
2.1.Khái niệm và đặc trưng thanh toán quốc tế
- Khái niệm thanh toán quốc tế
Ngày nay, đối với mỗi một quốc gia quan hệ kinh tế đối ngoại có vai trò quan trọng hàng đầu và là con đường tất yếu trong phát triển kinh tế. Hoạt động kinh tế đối ngoại là hoạt động trao đổi hàng hoá và tiền tệ giữa các chủ thể của các quốc gia khác nhau.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại tài chính, tín dụng và dịch vụ phi mậu dịch giữa các tổ chức kinh tế, các hãng, các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng hình thức chuyển tiền hoặc các hình thức bù trừ trên tài khoản tại các NH.
TTQT hiểu theo nghĩa rộng bao gồm thanh toán các hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền ký kết giữa các nước, các hợp đồng mua bán ngoại thương, các phí dịch vụ (như phí vận tải, bảo hiểm…). thanh toán quốc tế có thể được chia thành:
- Thanh toán mậu dịch: là quan hệ thanh toán có liên quan trực tiếp, phát sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và dịch vụ thương mại quốc tế.
- Thanh toán phi mậu dịch: là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan đến hàng hoá, không mang tính chất thương mại: quan hệ về ngoại giao (như chi phí của các cơ quan ngoại giao tại nước sở tại), văn hoá, du lịch (chi phí vận chuyển và đi lại của các đoàn khách, chính phủ, tổ chức cá nhân…).
Trong giao dịch ngoại thương, sự trao đổi hàng hoá và tiền tệ giữa các chủ thể thuộc 2 quốc gia khác nhau vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia nên có sự khác nhau về quy chế mậu dịch, các điều kiện thương mại cũng như các tập quán thương mại. Vì vậy một cơ chế thanh toán mang tính thống nhất và đảm bảo an toàn lợi ích cho cả người mua và người bán là vô cùng cần thiết. Trong cơ chế thanh toán này, thông thường có một bên thứ ba độc lập làm trung gian thanh toán. Đó là các tổ chức tài chính trung gian (chủ yếu là các NH) có kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ, uy tín, khả năng tài chính, mạng lưới đại lý và quan hệ rộng… Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
- Đặc trưng của thanh toán quốc tế
Thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế đã xuất hiện từ rất lâu nhưng nó chỉ thực sự phát triển kể từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời và nó từ đó cho đến nay trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, hoạt động thanh toán quốc tế tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với các hoạt động khác của quan hệ kinh tế quốc tế.
Trong quan hệ thanh toán quốc tế giữa các chủ thể của các quốc gia khác nhau trên thế giới, đồng USD không còn là đồng tiền tiêu chuẩn duy nhất. Việc lựa chọn đồng tiền nào hoàn toàn do sự thoả thuận của bên mua và bên bán, có thể sử dụng đồng nội tệ của bên mua hoặc bên bán, hay cũng có thể lựa chọn một đồng ngoại tệ đối với cả bên mua và bên bán. Việc lựa chọn này phụ thuộc vào uy tín của nền kinh tế, so sánh tương quan vị thế giữa hai bên mua và bên bán, hoặc phụ thuộc vào tập quán thương mại quốc tế. thanh toán quốc tế ít sử dụng tiền mặt, chủ yếu được thực hiện bằng chuyển khoản giữa các NH liên quan.
Bất kỳ một nền kinh tế dù đang trong giai đoạn phát triển thịnh vượng cũng luôn tiềm ẩn yếu tố bất ổn như lạm phát, thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, mất cân bằng cung cầu ngoại tệ, sự bất hợp lý của các chính sách kinh tế vĩ mô hay sự biến động của tỷ giá theo hướng bất lợi cho nền kinh tế…Vì quan hệ thanh toán quốc tế là một bộ phận của quan hệ kinh tế nên nó cũng không nằm ngoài sự tác động của các yếu tố bất ổn trên.
2.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
- Đối với nền kinh tế
Trong bất kỳ một giao dịch kinh tế nào, thanh toán là khâu không thể thiếu. Nói một cách đơn giản thì thanh toán là việc người mua trả tiền cho người bán để nhận số hàng hoá hoặc dịch vụ từ người bán. thanh toán quốc tế cũng mang bản chất như vậy xong phức tạp hơn nhiều, nó liên quan đến chủ thể ở các quốc gia khác nhau, đến ngoại tệ và những vấn đề pháp lý quy định quan hệ thương mại giữa hai quốc gia…Với xu thế toàn cầu hoá và chuyên môn hoá như hiện nay thì hoạt động xuất nhập khẩu rất phát triển và kéo theo đó hoạt động thanh toán quốc tế cũng phát triển. Có thể nói hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế mỗi nước nói riêng.
TTQT ra đời từ những quan hệ kinh tế quốc tế và bản thân nó lại thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế. thanh toán quốc tế là khâu kết thúc một giao dịch buôn bán hàng hoá và dịch vụ, là cầu nối giữa người XK và người NK thông qua việc chi trả lẫn nhau trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế. Vì vậy, nếu hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện có hiệu quả nó sẽ rút ngắn thời gian chuyển vốn, thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. Khi hoạt động kinh tế đối ngoại được coi trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế thì thanh toán quốc tế có vai trò ngày càng quan trọng.
TTQT hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại. Do vị trí địa lý nên việc tìm hiểu năng lực tài chính, khả năng thanh toán của người mua gặp nhiều khó khăn, nếu tổ chức công tác thanh toán quốc tế tốt sẽ giúp cho các nhà kinh doanh XNK hạn chế được rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại. thanh toán quốc tế là một mắt xích, một cầu nối để các tổ chức kinh tế, các tổ chức thương mại và các quốc gia khác nhau trên thế giới thực hiện được các hợp đồng kinh doanh thương mại. Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
TTQT là một công cụ của Nhà nước nhằm hoạch định các chính sách về hoạt động ngoại thương. Hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng ngoại tệ dự trữ của một quốc gia và nếu không được kiểm soát thì quốc gia đó có thể sẽ lâm vào tình trạng thiếu hụt dự trữ ngoại tệ, điều này rất nguy hiểm đối với nền kinh tế. NH trung ương kiểm soát hoạt động thanh toán quốc tế thông qua việc theo dõi và thẩm định các hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM cũng như ban hành các quy định về hạn mức thanh toán quốc tế của các NHTM và hỗ trợ các NHTM khi cần thiết.
Đối với ngân hàng thương mại và doanh nghiệp:
- Đối với ngân hàng thương mại
Việc hoàn thiện và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế có vai trò và vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động của NHTM. Nó không chỉ là dịch vụ thuần tuý mà nó còn được coi là một trong những hoạt động kinh doanh của NH, nó bổ sung và hỗ trợ cho những mặt hoạt động khác của NH. thanh toán quốc tế là một hoạt động cung cấp dịch vụ nhằm thu phí của NH. Tiền phí thường là một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng giá trị hàng hoá.
Ngoài ra hoạt động thanh toán quốc tế còn làm tăng tính thanh khoản của NH. Trong quá trình thực hiện các phương thức thanh toán cho khách hàng, đối với từng loại khách hàng mà NH sẽ tính một tỷ lệ ký quỹ khác nhau. Đây là một nguồn tiền tương đối ổn định, phát sinh thường xuyên và là nguồn vốn có tính thanh khoản cao cho NH dưới hình thức tiền tệ tập trung chờ thanh toán khi chưa đến hạn thanh toán cho phía nước ngoài. Nguồn vốn ngoại tệ lớn và đa dạng thu được từ hoạt động thanh toán quốc tế giúp NH phát triển các hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh và các nghiệp vụ NH quốc tế khác.
Hơn nữa, nhờ đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế mà NH có thể mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ XNK cũng như tăng cường nguồn vốn huy động, đặc biệt là nguồn vốn ngoại tệ, do tạm thời quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp có quan hệ thanh toán qua NH.
- Đối với các doanh nghiệp
TTQT đối với các doanh nghiệp XNK là khâu kết thúc của một hợp đồng ngoại thương, nó khép lại một chu trình mua bán hàng hoá, dịch vụ. Đây là một nghiệp vụ tổng hợp rất phức tạp. Rủi ro đến với nó có thể xảy ra bất cứ lúc nào, thậm chí còn nằm ngoài dự kiến của doanh nghiệp. Bởi vì, mặc dù việc thanh toán theo giá cả quốc tế đã được hai bên tham gia nhất trí áp dụng nhưng giao dịch ngoại thương diễn ra chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trên thị trường trong nước và ngoài nước như chính sách XNK, quản lý ngoại hối, tỷ giá, thuế… Do đó yêu cầu đặt ra cho thanh toán quốc tế là phải đảm bảo an toàn cho các hợp đồng XNK, thu hồi đầy đủ, đúng hạn tiền hàng để tiếp tục guồng máy sản xuất kinh doanh tạo ra lợi nhuận.
2.3. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu tại NHTM Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch, mua bán ngoại thương giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Trong quan hệ ngoại thương có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau, trong đó các phương thức chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ được sử dụng chủ yếu và phổ biến nhất.
- Phương thức chuyển tiền (Remittance/Transfer)
Định nghĩa: Phương thức chuyển tiền là phương thức mà trong đó khách hàng (Người yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (Người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng quy định.
Trình tự tiến hành nghiệp vụ
- Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ chuyển tiền
Chú thích
- Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng hoặc các thỏa thuận.
- Người yêu cầu chuyển tiền yêu cầu NH của nước mình chuyển tiền ra nước ngoài.
- NH chuyển tiền báo nợ tài khoản ngoại tệ của người yêu cầu chuyển tiền.
- NH chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho NH trả tiền ở nước người hưởng lợi.
- NH trả tiền báo nợ tài khoản NH chuyển tiền.
- NH trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi.
Nếu NH chuyển tiền và NH trả tiền không có quan hệ đại lý với nhau, KH phải cung cấp thêm thông tin về một NH trung gian có quan hệ đại lý với NH trả tiền. Tất cả các bước vẫn sẽ được làm như trên đối với trường hợp này.
- Phân loại Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Phương thức thanh toán chuyển tiền có thể được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu sau:
Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer, T/T) là hình thức trong đó lệnh thanh toán của NH chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện mà NH này gửi cho NH trả tiền qua fax, telex, hoặc thông qua mạng liên lạc viễn thông SWIFT. SWIFT là Hiệp hội viễn thông liên NH toàn cầu cung cấp các dịch vụ truyền thông an ninh và phần mềm giao diện cho các cơ quan chuyên bán buôn tài chính.
Chuyển tiền bằng thư (Mail transfer, M/T) là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán của NH chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư mà NH này gửi cho NH thanh toán qua bưu điện.
- Trường hợp áp dụng
Phương thức chuyển tiền thường là kết thúc của phương thức thanh toán khác như phương thức nhờ thu, ghi sổ, bảo lãnh NH, tín dụng chứng từ, tín dụng dự phòng, thư ủy thác mua. Tuy nhiên, phương thức này cũng được áp dụng một cách độc lập trong thanh toán phi thương mại như: chuyển kiều hối, chuyển tiền viện trợ tài chính không hoàn lại…
- Phương thức nhờ thu (Collection of payment)
Định nghĩa: Nhờ thu là một phương thức thanh toán, trong đó, NH tiếp nhận các chứng từ tài chính (bao gồm: hối phiếu, kỳ phiếu, séc hoặc các loại chứng từ tương tự khác dung để thu tiền) và/hoặc chứng từ thương mại (bao gồm: hóa đơn, chứng từ vận tải, chứng từ về quyền sở hữu hoặc bất kỳ một loại chứng từ tương tự nào khác miễn không phải là chứng từ tài chính) đã nhận được để:
- Thanh toán và/hoặc chấp nhận thanh toán (D/P), hoặc;
- Giao chứng từ để được thanh toán và/hoặc chấp nhận thanh toán (D/A), hoặc;
- Giao chứng từ theo các điều kiện khác đặt ra (D/TC).
Phân loại và trình tự tiến hành nghiệp vụ
- Phương thức nhờ thu trơn
Là phương thức thanh toán trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy nhận nợ hay công cụ thanh toán khác), còn các chứng từ thương mại (chứng từ vận tải, hóa đơn, bảo hiểm…) được gửi trực tiếp cho người nhập khẩu không thông qua NH. Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
- Trình tự tiến hành nghiệp vụ:
Chú thích
- Người XK hoặc người cung ứng dịch vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ và gửi trực tiếp chứng từ giao hàng cho người NK.
- Người XK hoặc người cung ứng dịch vụ kí phát một hối phiếu, hoặc hóa đơn đòi tiền người NK và viết lệnh nhờ thu ủy thác NH nước mình thu tiền từ người NK.
Sơ đồ 1.2: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu trơn
- NH chuyển ủy thác cho NH đại lý của mình ở nước NK bằng thư nhờ thu và kèm với hối phiếu hoặc hóa đơn yêu cầu NH này thu tiền từ người NK.
- NH đại lý xuất trình hối phiếu, hoặc hóa đơn yêu cầu người NK trả tiền, nếu là hối phiếu trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền nếu là hối phiếu trả chậm.
- NH đại lý chuyển tiền thu được cho người hưởng lợi, nếu nhờ thu hối phiếu trả chậm thì NH sẽ chuyển trả hối phiếu đã được nhà NK ký chấp nhận thanh toán.
- NH đại lý báo có tài khoản của NH chuyển.
- NH chuyển báo có tài khoản của người hưởng lợi.
NH chỉ đóng vai trò là trung gian thu hộ tiền cho KH mà không có bất cứ trách nhiệm gì với việc thu đủ và đúng hạn. Do đó, phương thức này chứa đựng nhiều rủi ro đối với người hưởng lợi, chỉ nên áp dụng khi hai bên tin cậy lẫn nhau.
- Phương thức nhờ thu kèm chứng từ Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Là phương thức thanh toán trong đó chứng từ gửi đi nhờ thu bao gồm: hoặc chứng từ thương mại cùng với chứng từ tài chính, hoặc chỉ chứng từ thương mại mà không có chứng từ tài chính gửi cùng. NH thu hộ chỉ trao bộ chứng từ cho người NK sau khi người này đáp ứng yêu cầu của lệnh nhờ thu.
Trình tự tiến hành nghiệp vụ:
- Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ
Chú thích:
- Người XK hoặc người cung ứng dịch vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ nhưng không gửi chứng từ giao hàng cho người NK.
- Người XK hoặc người cung ứng dịch vụ lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu
- NH chuyển ủy thác cho NH đại lý của mình ở nước nhập khẩu thu hộ tiền bằng thư nhờ thu kèm chứng từ thương mại.
- NH đại lý xuất trình hối phiếu đòi tiền và yêu cầu người nhập khẩu thực hiện các điều kiện nhờ thu như: D/P, D/A, D/TC.
- Người trả tiền thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán.
- NH thu thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán.
- NH chuyển thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán.
So với phương thức nhờ thu trơn, NH trong phương thức này có thêm trách nhiệm khống chế chứng từ thương mại vì quyền lợi của người nhập khẩu, tuy nhiên, vẫn không có trách nhiệm đến việc thu tiền có đạt kết quả hay không.
Phương thức thư tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
- Định nghĩa
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một NH (NH mở thư tín dụng) theo yêu cầu của KH (Người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (Người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho NH một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định của thư tín dụng. Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
- Phân loại
Các loại thư tín dụng thương mại thường thấy trong thanh toán quốc tế gồm có:
- Thư tín dụng xác nhận: Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ, được một NH khác xác nhận trả tiền theo yêu cầu của NH phát hành L/C.
- Thư tín dụng miễn truy đòi: Là loại thư tín dụng mà sau khi người hưởng lợi đã được trả tiền thì NH phát hành L/C không có quyền đòi lại tiền người hưởng lợi L/C trong bất kỳ trường hợp nào.
- Thư tín dụng chuyển nhượng: Là thư tín dụng trong đó quy định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu NH phát hành L/C, hoặc là NH chỉ định, chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một hay nhiều người khác.
- Thư tín dụng tuần hoàn: Là loại thư tín dụng không thể hủy bỏ sau khi sử dụng xong thì nó lại tự động có giá trị như cũ, và cứ như vậy nó cứ tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện.
Ngoài ra còn một số loại thư tín dụng khác như : L/C điều khoản đỏ, L/C thanh toán dần dần về sau, L/C giáp lưng, L/C đối ứng…
Trình tự tiến hành nghiệp vụ
- Sơ đồ 1.4: Quy trình nghiệp vụ thư tín dụng chứng từ
Chú thích:
- Người nhập khẩu gửi đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng và tiến hành ký quỹ.
- Phát hành L/C qua NH đại lý cho Người XK hưởng lợi.
- NH thông báo tiến hành thông báo L/C và chuyển bản gốc cho người hưởng lợi.
- Giao hàng.
- Xuất trình chứng từ đòi tiền NH phát hành L/C.
- NH phát hành thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho Người yêu cầu.
- Người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanh toán.
- NH phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ.
Trường hợp áp dụng
Đây là phương thức thanh toán phổ biến và thông dụng nhất hiện nay và được coi là phương thức thanh toán sử dụng trong hầu hết các hợp đồng thương mại quốc tế với những đặc tính thuận lợi và hiệu quả của nó. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ phức tạp nhất trong các phương thức thanh toán quốc tế nhưng nó đảm bảo một cách chắc chắn quyền lợi và nghĩa vụ không chỉ của người bán, người mua và cả NH thông qua các đặc tính ưu việt và chặt chẽ của nó.
3. Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
3.1. Khái niệm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM
Hoạt động thanh toán quốc tế giữ một vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với nền kinh tế quốc dân mà với bản thân NHTM và doanh nghiệp tham gia vào đầu tư và kinh doanh quốc tế. Chính vì vậy việc tìm hiểu sâu về phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM là một vấn đề quan trọng và cần thiết được ưu tiên.
Theo chủ nghĩa Mác-Lê nin thì: “Phát triển là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật: hướng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn…”. Do đó, đối với định nghĩa phát triển hoạt động thanh toán quốc tế, có thể hiểu đơn giản:
Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM là một chuỗi các hoạt động có định hướng, có kế hoạch nhằm đẩy mạnh hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM sao cho hoạt động này trở nên nhanh chóng, thuận tiện mang lại nhiều lợi nhuận cho NHTM, nhiều lợi ích cho khách hàng và nền kinh tế.
Như vậy thì phát triển hoạt động thanh toán quốc tế bao gồm: phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo chiều rộng và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo chiều sâu.
Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo chiều rộng: là phát triển hoạt động thanh toán quốc tế dựa trên sự mở rộng của quy mô hoạt động thanh toán quốc tế (tăng nhờ số lượng) như: mở rộng thêm chi nhánh và phòng giao dịch đảm nhiệm chức năng tiếp nhận giao dịch thanh toán quốc tế của khách hàng, gia tăng các phương thức thanh toán quốc tế được áp dụng trong toàn bộ hệ thống NH, mở rộng mối quan hệ tới các NH nước ngoài, tăng số lượng các NH đại lý,…
Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo chiều sâu: là phát triển hoạt động thanh toán quốc tế dựa trên sự nâng cao chất lượng của hoạt động thanh toán quốc tế (tăng nhờ chất lượng) như: nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế cung ứng cho khách hàng, áp dụng những phương thức thanh toán quốc tế mới tiên tiến trên thế giới, phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động thanh toán quốc tế,…
3.2. Các tiêu chí đánh giá việc phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Khâu đánh giá việc phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM cũng hết sức quan trọng. Việc đưa ra các tiêu chí đánh giá sự phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM là khâu tiền đề có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp cho hoạt động thanh toán quốc tế phát triển. Dựa theo cách phân chia phát triển hoạt động thanh toán quốc tế thành hai hướng song hành theo chiều rộng và theo chiều sâu giúp cho việc đưa ra các tiêu chí đánh giá sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM được đơn giản hơn.
- Các tiêu chí đánh giá theo chiều rộng Doanh thu từ hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
NHTM bản chất cũng là một doanh nghiệp vì vậy mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tạo giá trị gia tăng cao nhất cho cổ đông là mục tiêu, tiêu chí hoạt động cho toàn bộ NH. Việc đánh giá mức độ phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế của một NHTM trước hết sẽ phải nhìn vào hoạt động ấy đem lại doanh thu và lợi nhuận bao nhiêu cho NHTM đó.
Đây là một tiêu chí tổng quát nhất đòi hỏi các NHTM phải không ngừng nỗ lực để cung cấp cho khách hàng những dịch vụ thanh toán quốc tế có chất lượng, nhằm thu hút thêm thật nhiều khách hàng mới và giữ chân được những khách hàng vốn đã trung thành của NH mình. Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
- Số lượng giao dịch và số lượng khách hàng tham gia hoạt động thanh toán quốc tế
Số lượng khách hàng và số lượng giao dịch là con số cụ thể phản ánh cảm nhận của khách hàng một cách chính xác nhất về hoạt động thanh toán quốc tế của NH. Nếu như số lượng giao dịch lớn, nhưng lượng khách hàng không tăng điều đó thể hiện NH có công tác Marketing trong hoạt động thanh toán quốc tế chưa phù hợp, khiến hoạt động tốt nhưng ít khách hàng biết tới. Còn nếu như số lượng giao dịch thấp, nhưng lượng khách hàng lại lớn điều đó thể hiện hoạt động thanh toán quốc tế chưa thu hút được những khách hàng lớn, mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp,… .
Số lượng các phương thức thanh toán được sử dụng thể hiện trình độ phát triển một cách toàn diện hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM. Hầu hết sự chênh lệch giữa số lượng khách hàng sử dụng những phương thức thanh toán quốc tế cũ như chuyển tiền là tương đối lớn và hầu hết tồn tại ở tất cả các NHTM ở Việt Nam, sau đó là phương thức tín dụng chứng từ (L/C) và phương thức nhờ thu được sử dụng rất ít, không đáng kể. Đây là nghịch lý tồn tại rất lâu trong hầu hết các NHTM Việt Nam nhưng vẫn không có phương pháp nào được sử dụng triệt để.
Số lượng các ngân hàng đại lý, và số lượng các ngân hàng trong và ngoài nước mà ngân hàng thương mại có mối quan hệ bang giao thể hiện khả năng mở rộng thị trường của hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM, giảm bớt thời gian và tính phiền phức khi khách hàng muốn giao dịch thanh toán ở những quốc gia mà ngân hàng chưa đặt mối quan hệ.
- Các tiêu chí đánh giá theo chiều sâu
Thời gian xử lý một hợp đồng (hay một giao dịch) thanh toán quốc tế cần phải nhanh, tránh cho khách hàng sự chờ đợi khi tham gia giao dịch. Mặt khác dịch vụ thanh toán quốc tế là một dịch vụ trung gian để khách hàng là các bên XK hay NK, có sự liên quan đến khâu luân chuyển hàng hóa quốc tế vì vậy càng đòi hỏi tính gấp rút về mặt thời gian.
Tính chính xác trong khâu luân chuyển và xử lý hợp đồng đòi hỏi rất cao. Tránh sự tranh chấp, kiện tụng cho các bên liên quan (NH, nhà XK, nhà NK). Bởi lẽ, hoạt động thanh toán quốc tế rất phức tạp nó liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực của đời sống không chỉ là kinh tế mà còn về văn hóa – chính trị – xã hội (Có thể kể đến những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM ở phần tiếp theo). Nhất là khi trách nhiệm của NHTM ngày một cao hơn trong mỗi phương thức thanh toán quốc tế lại càng đòi hỏi NHTM phải xử lý hợp đồng, giao dịch một cách đúng đắn, rõ ràng và chính xác.
Phí dịch vụ cũng là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM. Một mức phí phù hợp với từng đối tượng khách hàng là một câu hỏi khó cho không ít NHTM không riêng gì ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Mức phí phù hợp phải nằm trong giới hạn chi trả của khách hàng và phải mang lại lợi nhuận cao cho NH (lợi nhuận trên quy mô chứ không xét lợi nhuận trên một giao dịch, hợp đồng) Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Tính thuận tiện đem lại cho khách hàng. Ví như, NH thỏa mãn được ba tiêu chí trên nhưng lại chỉ có một địa điểm duy nhất xử lý giao dịch thanh toán quốc tế (ở trung tâm thanh toán quốc tế chẳng hạn) thì sẽ gây bất cập cho khách hàng khi có nhu cầu. Khách hàng sẽ phải đi xa, gây tình trạng chen lấn, tắc nghẽn cục bộ khi xử lý giao dịch. Hay như NHTM đưa ra quá nhiều thông tin không cần thiết cho khách hàng kê khai khi muốn tham giao dịch thanh toán quốc tế gây cho khách hàng sự lúng túng, nhầm lẫn, phiền hà thì cũng không thể coi dịch vụ thanh toán quốc tế tại NH này phát triển được. Vì vậy tính thuận tiện đem lại cho khách là một tiêu chí đánh giá quan trọng nhưng lại khó đo lường và chỉ ra cụ thể. Chỉ có thể đánh giá tiêu chí này thông qua sự hài lòng về chất lượng dịch vụ thanh toán quốc tế tại NHTM mà thôi.
Áp dụng những phương thức thanh toán quốc tế mới hiện đại đem lại cho khách hàng nhiều lựa chọn hơn trong việc thực hiện giao dịch thanh toán quốc tế. Khách hàng sẽ dễ dàng lựa chọn được một phương thức thanh toán quốc tế đem lại nhiều lợi ích nhất và phù hợp với nhu cầu về giao dịch thanh toán quốc tế của mình.
Sự phát triển của các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động thanh toán quốc tế bao gồm:
- Phát triển khoa học công nghệ hỗ trợ cho hoạt động thanh toán quốc tế như: phát triển công nghệ thông tin giúp gắn kết các phòng ban thực hiện giao dịch thanh toán quốc tế nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí. Phát triển công nghệ trong máy rút tiền tự động ATM để có thể thực hiện được giao dịch thanh toán quốc tế.
- Nâng cao chất lượng của hoạt động quản trị rủi ro, nhằm đảm bảo sự an toàn, tránh tổn thất cho khách hàng và cho cả NH, từ đó nâng cao uy tín của hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM.
- Mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ vì nhu cầu về ngoại tệ trong hoạt động thanh toán quốc tế là rất lớn và đòi hỏi phải được cung cấp một cách nhanh chóng khi khách hàng có nhu cầu.
- Xây dựng chính sách Marketing phù hợp giúp thông tin về hoạt động thanh toán quốc tế của NH đến được với khách hàng có nhu cầu và phù hợp với chiến lược cũng như năng lực của từng NHTM.
3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại NHTM Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
- Các nhân tố khách quan Cán cân thanh toán quốc tế:
Cán cân thanh toán quốc tế là bảng đối chiếu giữa những khoản tiền mà nước ngoài chi trả cho một nước và những khoản tiền mà nước đó chi trả cho nước ngoài trong một thời gian nhất định.
Nếu dư thừa cán cân thanh toán quốc tế sẽ dẫn đến sự ổn định của đồng nội tệ. Ngược lại, thiếu hụt cán cân thanh toán quốc tế làm cho tỷ giá hối đoái mất tính ổn định, giá trị đồng bản tệ giảm đi. Như vậy, có thể thấy cán cân thanh toán quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế các nước. Tình trạng của nó sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, đến tình hình ngoại hối của nước đó và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc gia, mà trước hết là ảnh hưởng đến ngoại thương và hoạt động thanh toán quốc tế tại các NH.
- Chính sách thương mại quốc tế:
Chính sách thương mại của mỗi quốc gia là một hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại của quốc gia trong một thời gian nhất định, nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong chiến lược phát triển ngoại thương của quốc gia đó. Nhiệm vụ của chính sách thương mại là điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng có ảnh hưởng và tác động đến sự phát triển của nhiều lĩnh vực khác nhau như: Đầu tư quốc tế, thanh toán quốc tế, bảo hiểm, XNK hàng hóa,… . Riêng đối với hoạt động thanh toán quốc tế, việc mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại làm phát sinh nhiều nhu cầu nghiệp vụ tiền tệ đối với các quốc gia khác. Đây là điều kiện thuận lợi để mở rộng và phát triển các nghiệp vụ và hoạt động thanh toán quốc tế. Bên cạnh đó, kinh tế ngoại thương phát triển sẽ yêu cầu nhiều hơn các loại hình dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển đáp ứng nhu cầu về thanh toán quốc tế ngày càng đa dạng của nền kinh tế. Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Như vậy, chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia khuyến khích kinh tế đối ngoại phát triển thì cũng đồng thời có tác dụng thúc đẩy hoạt động thanh toán quốc tế phát triển
- Sự biến động của tỷ giá hối đoái:
Giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước khác gọi là tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái còn được hiểu theo khía cạnh khác, đó là quan hệ so sánh sức mua giữa hai đồng tiền của hai nước với nhau.
Tỷ giá hối đoái có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, nó thực sự là một công cụ sắc bén để điều tiết kinh tế vĩ mô của bất kỳ một Nhà nước nào. Tỷ giá hối đoái lại càng đặc biệt quan trọng với các hoạt động kinh tế quốc tế, XNK và thanh toán quốc tế. Cụ thể:
Sự biến động của tỷ giá hối đoái luôn có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương, điều đó đồng nghĩa với việc ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế. Cụ thể, khi tỷ giá hối đoái giảm (có nghĩa là đồng tiền nội tệ trở nên có giá trị tương đối tăng lên so với đồng ngoại tệ) thì khối lượng hàng hoá NK vào nước đó có xu hướng tăng lên còn khối lượng hàng hoá XK lại có xu hướng giảm xuống. Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái tăng (tức là đồng nội tệ trở nên có giá trị tương đối giảm đi so với đồng ngoại tệ) thì khối lượng hàng hóa NK vào nước đó có xu hướng giảm xuống còn khối lượng hàng hóa XK sẽ có xu hướng tăng lên. Việc thực hiện các hoạt động ngoại thương thường đòi hỏi nhiều thời gian để hoàn tất và chính trong khoảng thời gian này, sự biến động về tỷ giá tất yếu dẫn đến việc gây thiệt hại hoặc cho người mua, hoặc cho người bán.
Sự thay đổi bất thường của tỷ giá hối đoái còn gây ảnh hưởng không tốt đến việc mua bán ngoại tệ của NH. Việc cân nhắc nên mua hay bán ngoại tệ trở nên khó khăn hơn nhiều khi thị trường có nhiều biến động bất thường. Hậu quả là nguồn ngoại tệ phục vụ cho hoạt động thanh toán quốc tế bị xáo trộn và nhiều khi để duy trì tốt hoạt động thanh toán quốc tế thì NH phải chịu những thiệt thòi lớn. Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Vì vậy trong hoạt động ngoại thương, các bên tham gia, đặc biệt là các NHTM luôn phải chú ý đến yếu tố tỷ giá, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng và dự đoán được những biến động của tỷ giá để hạn chế thấp nhất những rủi ro mà tỷ giá hối đoái gây ra, đồng thời cũng tận dụng được những biến động có lợi cho mình. Ngoại tệ mạnh là đồng tiền chủ yếu được sử dụng trong hoạt động thanh toán quốc tế. Tỷ giá ổn định là điều kiện đảm bảo cho việc mua bán, trao đổi ngoại tệ của NHTM và doanh nghiệp.
- Tình hình phát triển hoạt động thương mại dịch vụ trên thế giới:
Tình hình phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ của các quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thanh toán quốc tế của các NHTM. Nếu hoạt động thương mại giữa các nước diễn ra thuận lợi và phát triển mạnh thì sẽ tạo ra nhiều nhu cầu thanh toán quốc tế. Điều này tạo cơ hội cho các NHTM mở rộng và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của mình. Ngược lại, nếu tình hình phát triển hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia còn có những hạn chế, trì trệ sẽ làm giảm nhu cầu thanh toán quốc tế và thu hẹp hoạt động thanh toán quốc tế tại các NHTM. Chính vì vậy có thể nói, tình hình phát triển các hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên thế giới là một yếu tố khách quan có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến hoạt động thanh toán quốc tế.
Ngoài các yếu tố khách quan kể trên còn một số yếu tố khách quan khác cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế như: Quan hệ chính trị giữa nước NK và nước XK; Chính sách quản lý ngoại hối của Nhà nước; Các quy định trong bảo hiểm hàng hoá và vận tải hàng hoá,… . Tất cả các yếu tố này hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp tác động đến hoạt động thanh toán quốc tế. Chính vì vậy các NHTM, các doanh nghiệp XNK và cả Nhà nước đều phải quan tâm nhận thức đầy đủ và đúng đắn về các yếu tố trên để có những chính sách phát triển hợp lý hoạt động thanh toán quốc tế, từ đó phát triển kinh tế ngoại thương và phát triển nền kinh tế đất nước.
- Các nhân tố chủ quan
Trình độ kỹ thuật công nghệ áp dụng Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Trang thiết bị, các phương tiện vật chất kỹ thuật là yếu tố có ảnh hưởng khá lớn tới chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế cũng như tiến độ thực hiện nghiệp vụ của một nhân viên. Đặc biệt khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển, ngày càng nhiều thiết bị thông tin liên lạc được áp dụng thì các khâu trong hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ nói riêng ngày càng được rút ngắn và đơn giản hoá nhờ công nghệ hiện đại. Trình độ công nghệ cao tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ thanh toán, rút ngắn được thời gian xử lý công việc, giảm thiểu khả năng sai sót do các thao tác thủ công,… từ đó có thể nâng cao chất lượng của hoạt động thanh toán quốc tế và uy tín của NH.
- Năng lực của cán bộ nhân viên
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ nhân viên trực tiếp làm nhiệm vụ thanh toán quốc tế là nhân tố quan trọng quyết định tới hiệu quả công việc. Nếu cán bộ nhân viên chưa thành thạo nghiệp vụ sẽ làm chậm quá trình thanh toán và tạo ra những sai sót không mong muốn (qua đó gián tiếp tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng khi thực hiện thanh toán hợp đồng ngoại thương tại NH). Trình độ của đội ngũ nhân viên thanh toán có đồng bộ thì công tác thực hiện thanh toán mới diễn ra nhanh chóng, không bị gián đoạn và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng. Bên cạnh đó phong cách của mỗi cán bộ nhân viên trong khi thực hiện các giao dịch cũng ảnh hưởng khá lớn tới kết quả của hoạt động thanh toán quốc tế của mỗi NH.
- Mục tiêu và chiến lược phát triển của Hội đồng Quản trị
Mục tiêu và chiến lược phát triển do Hội đồng quản trị đề ra là một trong những nguyên nhân chủ quan trực tiếp ảnh hưởng và tác động đến các lĩnh vực hoạt động của NH. Mọi chiến lược, mọi chính sách và sự tập trung đầu tư và mở rộng hay thu hẹp các lĩnh vực hoạt động của NH đều do Hội đồng quản trị quyết định. Trong khi đó, hoạt động thanh toán quốc tế cũng là một trong những lĩnh vực hoạt động của các NHTM. Chính vì vậy có thể nói, mục tiêu và chiến lược phát triển của Hội đồng quản trị có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế.
- Uy tín của NH thương mại
Hoạt động của một NHTM nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế của một NHTM nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của NH đó ở cả trong nước và trên thế giới. Uy tín của một NHTM được thể hiện ở các mặt như: Kỹ thuật nghiệp vụ xử lý; khả năng thanh toán; thời gian thanh toán; khả năng đáp ứng các phương tiện thanh toán, sự cập nhập các dịch vụ mới và sự đa dạng về các sản phẩm dịch vụ,… . Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
Một NH có uy tín khi tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế sẽ được nhiều khách hàng tin tưởng và hợp tác hơn. Vì khâu thanh toán có thể nói là một khâu quan trọng nhất trong giao dịch buôn bán hàng hóa quốc tế và nó chứa đựng rất nhiều rủi ro. Chính vì vậy mà các nhà XNK luôn luôn muốn chọn một NH có uy tín lớn để thực hiện nghiệp vụ thanh toán. Như vậy, khi một NH có uy tín lớn cả ở trong nước và quốc tế sẽ có nhiều cơ hội hợp tác với các nhà XNK trong khâu thanh toán hơn và từ đó có cơ hội để mở rộng và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế hơn.
- Các nghiệp vụ NH khác có liên quan
Trong NH, các nghiệp vụ luôn có liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau. Nghiệp vụ thanh toán quốc tế cũng có quan hệ mật thiết với các nghiệp vụ khác trong NH, đặc biệt là nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và nghiệp vụ tín dụng ngoại tệ.
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ : Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM không những chỉ mang lại thu nhập cho NH thông qua chênh lệch tỷ giá giữa giá mua và giá bán mà còn ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thanh toán quốc tế. Các nghiệp vụ thanh toán quốc tế đều cần có nhiều ngoại tệ, một trong những nguồn ngoại tệ cần cho hoạt động thanh toán quốc tế ở đây là nguồn ngoại tệ phát sinh trong hoạt động mua bán ngoại tệ của NH. Nếu nguồn ngoại tệ này ổn định và đáp ứng đầy đủ cho hoạt động thanh toán quốc tế thì sẽ tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán quốc tế phát triển. Ngược lại nếu nguồn ngoại tệ này không đáp ứng đủ cho hoạt động thanh toán quốc tế thì sẽ gây ra không ít khó khăn và trở ngại cho hoạt động này.
Nghiệp vụ tín dụng ngoại tệ : Bản chất của thanh toán quốc tế là việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán, chi trả tiền cho nước ngoài. Vì vậy hoạt động thanh toán quốc tế chịu ảnh hưởng rất nhiều của hoạt động cho vay NH, đặc biệt là cho vay ngoại tệ. Đa số các hoạt động kinh doanh XNK đều dựa vào sự hỗ trợ vốn của NH. Như vậy bất kỳ một sự thắt chặt hay nới rộng hoạt động tín dụng của các NH đều có tác động tương tự đến hoạt động thanh toán quốc tế. Khóa luận: Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế ở Techcombank.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế Techcombank
