Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Cùng với đó là sự tham gia đầy đủ của các loại hình ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài. Đây là cơ hội, động lực thúc đẩy sự phát triển, cải cách hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện gia tăng việc thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ trong các tầng lớp nhân dân thông qua các dịch vụ ngân hàng, tài chính hiện đại. Song, quá trình đó tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các ngân hàng, dần lộ ra những ngân hàng yếu kém còn đang có nguy cơ “sụp đổ” do không chống chọi nổi trong điều kiện thị trường cạnh tranh quá gay gắt. Trước tình hình đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra vấn đề trọng tâm của ngành ngân hàng là việc tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng, trong đó việc đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền đặt ra nhiều vấn đề cũng như được nhiều người quan tâm.

Đây có thể coi là phương án rất tốt nhằm gia tăng niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng bởi hệ thống ngân hàng có vững mạnh thì số tiền mà người gửi tiền gửi vào Ngân hàng thương mại mới được an toàn, quyền lợi trước mắt của họ mới được đảm bảo. Nhưng để hệ thống ngân hàng luôn được “an toàn” thì điều kiện tiên quyết đó là phải xây dựng được hệ thống các quy định pháp luật chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Hiện nay các quy định pháp lý về bảo vệ người gửi tiền chưa được quan tâm và hoàn thiện đúng mức, chưa có một văn bản pháp lý nào quy định một cách có hệ thống và cụ thể về việc bảo vệ quyền, lợi ích của người gửi tiền. Một số các quy định đã ban hành lại nằm rải rác và không thống nhất tại một văn bản pháp lý chuyên ngành nào, gây nhiều khó khăn cho việc quản lý điều hành, cho cơ quan tổ chức liên quan cũng như cho người gửi tiền. Để phù hợp với xu thế hội nhập đang diễn ra sâu rộng trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và trong hệ thống ngân hàng nói riêng, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền việc cần thiết phải nghiên cứu, đề xuất, góp ý sửa đổi quy định pháp luật về bảo về quyền lợi của người gửi tiền là nhiệm vụ bấp bách và cần thiết. Do đó, em đã chọn đề tài Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng hiện nay làm đề tài khóa luật tốt nghiệp nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chủ thể quan trọng này trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Một số nghiên cứu về bảo vệ người gửi tiền nhưng tập trung chủ yếu vào vai trò của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi dưới dạng luận văn, luận án, các bài nghiên cứu hay bài báo, tạp chí. Vấn đề bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại các ngân hàng thương mại nói riêng và trong hệ thống các ngân hàng cổ phần nói chung trong bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng đang diễn ra rất mạnh Việt Nam cũng đã được đề cập tại một số khóa luận tốt nghiệp nhưng chủ yếu là nghiên cứu dước góc độ kinh tế. Trên cơ sở tập trung nghiên cứu pháp luật về việc bảo vệ quyền lợi người gửi tiền khóa luật nghiên cứu từ góc độ lý luận cũng như thực trạng pháp luật về đối tượng này để qua đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng như hiện nay.

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cũng như sự cần thiết phải bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại Ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nhiệm vụ của khóa luận:

  • Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại Ngân hàng thương mại Việt Nam
  • Nghiên cứu thực trạng việc áp dụng pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, cho thấy những bất cập còn tồn tại và từ đó nêu ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quy định về vấn đề này.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhận xét về các điểm mạnh và những điểm chưa được của các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất các giải pháp để xây dựng pháp luật về vấn đề này ngày càng hoàn thiện hơn.

Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

  • Về không gian: đề tài nghiên cứu pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong phạm vi các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam
  • Về thời gian: trong phạm vi của khóa luận không thể nghiên cứu hết tất cả tình hình pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền từ trước đến nay nên đề tài tập trung nghiên cứu trong thời gian từ năm 2010 tới nay.

5. Phương pháp nghiên cứu 

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, sinh viên đã sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lê nin dựa trên đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước. Đề tài cũng kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê…. kết hợp nhuần nhuyễn kiến thức giữa lý luận và thực tiễn nhằm làm sáng tỏ vấn đề.

6. Kết cấu của đề tài 

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm ba chương sau:

  • Chương 1: Khái quát chung về người gửi tiền và pháp luật về bảo vệ người gửi tiền
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật việt nam về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
  • Chương 3: Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƯỜI GỬI TIỀN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI GỬI TIỀN

1.1. Khái niệm và đặc điểm của người gửi tiền Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

1.1.1. Khái niệm của người gửi tiền 

Người gửi tiền là đối tượng quan trọng mà mỗi ngân hàng đều phải quan tâm, bởi lẽ không có người gửi tiền thì các ngân hàng không đủ vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy, để đảm bảo khả năng phát triển của mình, các ngân hàng phải luôn quan tâm đến nhu cầu, sở thích của người gửi tiền để thu hút số tiền gửi của đối tượng này. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi mà người gửi tiền có rất nhiều sự lựa chọn để đảm bảo về sự an toàn cũng như hưởng lợi được cao nhất cho số tiền của mình. Điều này đã dấy lên sự cạnh tranh gay gắt cũng như rất sôi động giữa các ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Để hiểu về pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trước hết phải làm rõ khái niệm người gửi tiền. Tuy nhiên, hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một văn bản chính thức nào đưa ra khái niệm cụ thể thế nào là người gửi tiền.

Người gửi tiền được hiểu thông thường là người có một khoản tiền gửi vào tài khoản của họ tại các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng. Vậy thì ta cũng cần phải hiểu tiền gửi là gì? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tiền gửi. Cũng còn tùy mục đích của người gửi tiền mà tiền gửi còn chia thành các loại khác nhau, nhưng thường sẽ có hai loại tiền gửi chính theo mục đích của người gửi tiền là: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán.

Theo định nghĩa tại Điều 6 Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN, quy định: “người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm”. Nếu theo mục đích thanh toán, cơ bản có thể hiểu tiền gửi là tiền mà người gửi không nhằm mục đích hưởng lãi và chỉ nhằm mục đích sử dụng các tiện ích thanh toán của loại tiền gửi này. Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 không sử dụng khái niệm tiền gửi mà sử dụng khái niệm “hoạt động nhận tiền gửi”. Theo khoản 13, Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”.

 Từ những cách tiếp cận trên có thể rút ra định nghĩa khái niệm tiền gửi như sau: tiền gửi là tất cả các khoản tiền của tổ chức, hoặc cá nhân gửi tại tổ chức nhận tiền gửi (không phân biệt mục đích, kỳ hạn, đối tượng) theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích và yêu cầu của khách hàng và của chính Tổ chức tín dụng đó. Từ đây có thể thấy mối quan hệ mật thiết giữa người gửi tiền và tiền gửi và quan hệ giữa người gửi tiền và các tổ chức tín dụng. Có thể coi quan hệ giữa người gửi tiền và các tổ chức tín dụng như là một hợp đồng đặc biệt hay đơn giản chỉ là một thỏa thuận giữa các bên cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi gửi tiền và nhận tiền gửi. Với đặc điểm như trên, cần phải đặt người gửi tiền vào vị trí của người sử dụng dịch vụ ngân hàng, hay người “mua hàng”, hay là “khách hàng” chứ không phải là người “bán hàng” trong quan hệ với ngân hàng.

Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách chung nhất, người gửi tiền là các cá nhân, tổ chức có một khoản tiền gửi tại các Tổ chức tín dụng dưới một hình thức nhất định theo như các bên thỏa thuận phù hợp với mục đích, yêu cầu của khách hàng theo quy định của pháp luật.

1.1.2. Đặc điểm của người gửi tiền Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Thứ nhất, người gửi tiền có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

Cá nhân và các tổ chức là hai chủ thể gửi tiền chính ở các Tổ chức tín dụng. Thông thường khi gửi tiền tại các Tổ chức tín dụng thì các cá nhân hay tổ chức thường nhằm mục đích tiết kiệm hay thanh toán. Theo quy định tại điểm a,b khoản 2 điều 2 quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN ngày 21 tháng 11 năm 2002 của Ngân hàng Nhà nước thì: ngân hàng mở tài khoản tiền gửi cho các đối tượng sau: cá nhân là công dân Việt nam, cá nhân nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự; tổ chức Việt nam, tổ chức nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Cũng theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước số 1160/2004/QĐ- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 13 tháng 9 năm 2004 về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm  quy định tại điều 7: Điều kiện thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm: (1) Cá nhân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; (2) Cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nhưng có tài sản riêng đủ để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của pháp luật.

Từ đây có thể rút ra kết luận chung về người gửi tiền qua hai quy chế này: Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ Luật dân sự được thực hiện mọi giao dịch, còn người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật thì chỉ được thực hiện các giao dịch thông qua người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật. Như vậy, mọi cá nhân đều có thể gửi tiền vào các ngân hàng tùy theo mục đích của mình: thanh toán hoặc tiết kiệm. Còn người gửi tiền là tổ chức là các doanh nghiệp, cơ quan, đoàn thể, đơn vị vũ trang Việt Nam được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt nam và các tổ chức nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật nước mà tổ chức đó được thành lập.

Thứ hai, mục đích của người gửi tiền tại Ngân hàng thương mại rất khác nhau và phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại tiền gửi mà họ sử dụng.  Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Mục đích của người gửi tiền thường gồm có mục đích thanh toán và tiết kiệm. Với mục đích thanh toán, người gửi tiền chỉ dùng để gửi tiền qua ngân hàng cho hoạt động thanh toán, có thể là thanh toán quốc tế hay thanh toán trong nước. Tiền gửi thanh toán là loại hình tiền gửi không kỳ hạn được sử dụng với mục đích chủ yếu là thực hiện các giao dịch thanh toán qua Ngân hàng bằng các phương tiện thanh toán như: séc lĩnh tiền mặt, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, chuyển tiền điện tử… Trong trường hợp này ngân hàng là trung gian thanh toán cho bên mua và bên bán. Việc thanh toán này mang lại cho ngân hàng một khoản như là tiền phí mà ngân hàng làm trung gian thanh toán này.

Với mục đích tiết kiệm gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhân tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về Bảo hiểm tiền gửi. Tiền gửi có kỳ hạn: đối tượng sử dụng loại hình dịch vụ này thường là các doanh nghiệp, cơ quan, công ty, các tổ chức có lượng tiền dư nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định, mà chưa có nhu cầu sử dụng đến. Nếu để tại quỹ của cơ quan thì nguồn tiền này sẽ không sinh lời, do đó cơ quan xí nghiệp này sẽ làm một hợp đồng tiền gửi (không phải sổ tiết kiệm) với ngân hàng trong khoảng thời gian nhất định (có kỳ hạn) có thể là một tuần, hai tuần, hoặc một hay hai tháng… Tùy vào kỳ hạn mà chủ doanh nghiệp chọn để có mức lãi suất tương ứng. Số tiền gửi sẽ hưởng lãi suất tương ứng với kỳ hạn đó. Tiền gửi không kỳ hạn: là tiền gửi khách hàng được gửi, rút nhiều lần và hưởng lãi suất không kỳ hạn theo số dư mỗi ngày.

1.1.3. Quyền lợi của người gửi tiền

Khi thực hiện việc gửi tiền vào ngân hàng thì người gửi tiền luôn có những quyền lợi do pháp luật quy định và ngân hàng phải thực hiện. Tuy nhiên, quyền lợi của khách hàng chỉ được đảm bảo khi ngân hàng thực hiện đúng các theo yêu cầu thanh toán của mình trong thời gian đó khi họ gửi tiền nhằm mục đích thanh toán hoặc được đảm bảo số vốn an toàn và có lãi khi mục đích của họ là gửi tiết kiệm hoặc có kỳ hạn. Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Vậy có thể hiểu quyền lợi của người gửi tiền là quyền được hưởng những lợi ích mà ngân hàng phải đảm bảo để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng phát sinh từ giao dịch gửi tiền. Các quyền cơ bản của người gửi tiền bao gồm:

  • Một là, quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản: Khi gửi tiền vào ngân hàng, khách hàng phải có mục đích nhất định có thể là mục đích an toàn và sinh lời, có thể là mục đích thanh toán, mục đích chuyển khoản… và tất cả mục đích đó phải được ngân hàng đảm bảo để thỏa mãn quyền của người gửi tiền.
  • Hai là, quyền được an toàn: là quyền được bảo đảm số tiền đó an toàn, tránh sự mất mát, rủi ro. Đến thời hạn rút tiền, ngân hàng phải đảm bảo cho khách hàng nhận số tiền gốc và lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng tiền gửi.
  • Ba là, quyền được cung cấp thông tin: người gửi tiền được quyền có các số liệu cần thiết để trên cơ sở đó lựa chọn việc thực hiện giao dịch của mình.
  • Bốn là, quyền được lựa chọn: người tiêu dung đ ược tự do lựa chọn sản phẩm phù hợp với yêu cầu của mình.
  • Năm là, quyền được đại diện: người gửi tiền được đưa ra các ý kiến với đại diện của mình trong việc hoạch định các chính sách của Chính phủ trong phát triển chính sách tiền tệ.
  • Sáu là, quyền được khiếu nại và bồi thường thiệt hại: người gửi tiền được quyền khiếu nại với ngân hàng đã gây ra thiệt hại cho mình.

Tiền mà người gửi tiền luôn được bảo hiểm hay bảo đảm theo Luật bảo hiểm tiền gửi (BHTG) 2012. Theo Điều 6 Luật Bảo hiểm tiền gửi thì Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Do đó, khi mà người gửi tiền gửi tiền vào ngân hàng thì đồng nghĩa với việc số tiền đó được bảo hiểm hay người gửi tiền là người được bảo hiểm tiền gửi. Điều 11 Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định người gửi tiền: (i) Được bảo hiểm số tiền gửi của mình tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi; (ii) Được nhận tiền bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn; (iii) Yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, chế độ về bảo hiểm tiền gửi; (iv) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật; (v) Có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin về tiền gửi theo yêu cầu của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi khi thực hiện thủ tục trả tiền bảo hiểm”. Tuy nhiên, quyền lợi của người gửi tiền có được đảm bảo hay không cũng một phần phụ thuộc vào việc ngân hàng có thực hiện đúng nghĩa vụ của mình hay không. Do đó để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, Nhà nước phải quy định cụ thể trách nhiệm của các ngân hàng đối với khách hàng và được thể hiện trong điều 10 luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 bao gồm:

  • Thứ nhất, tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật và công bố công khai việc tham gia tổ chức bảo toàn, bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở chính và chi nhánh.
  • Hai là, tạo thuận lợi cho khách hàng gửi và rút tiền, bảo đảm thanh toán đủ, đúng hạn gốc và lãi của các khoản tiền gửi.
  • Ba là, từ chối việc điều tra, phong tỏa, cầm giữ, trích chuyển tiền gửi của khách hàng, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng.
  • Bốn là, thông báo công khai lãi suất tiền gửi, phí dịch vụ, các quyền, nghĩa vụ của khách hàng đối với từng loại sản phẩm, dịch vụ đang cung ứng.
  • Năm là, công bố thời gian giao dịch chính thức và không được tự ý ngừng giao dịch vào thời gian đã công bố. Trường hợp ngừng giao dịch trong thời gian giao dịch chính thức, ngân hàng thương mại phải niêm yết tại nơi giao dịch chậm nhất là 24 giờ trước thời điểm ngừng giao dịch. Ngân hàng không được phép ngừng giao dịch quá 01 ngày làm việc, trừ trường hợp tạm ngừng hoạt động do nguyên nhân bất khả kháng.

1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền 

Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển. Pháp luật được biểu hiện cụ thể là những qui phạm pháp luật. Do vậy, nó cũng là qui tắc xử sự chung cho phạm vi cá nhân hoặc tổ chức nhất định. Pháp luật được Nhà nước ban hành hay thừa nhận không chỉ dành riêng cho một cá nhân, tổ chức cụ thể mà áp dụng cho tất cả các chủ thể. Mối quan hệ giữa người gửi tiền và ngân hàng được xây dựng trên nguyên tắc tự do, thỏa thuận và bình đẳng. Tuy nhiên, trong quan hệ này, có thể do thiếu thông tin hoặc hạn chế về pháp luật nên nhiều quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền bị xâm hại nghiêm trọng. Trong điều kiện như vậy, cần phải có những quy phạm pháp luật cụ thể để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người gửi tiền. Vậy có thể hiểu pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền là: tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, điều chỉnh quan hệ giữa người gửi tiền và ngân hàng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.  

Ở Việt Nam, pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền có mối liên quan với nhiều ngành luật khác nhau và nằm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Bộ luật dân sự …

1.2.2. Đặc điểm của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền 

Thứ nhất, pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại ngân hàng điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giao dịch gửi tiền giữa các bên. Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Đúng như theo tinh thần của khái niệm thì pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại ngân hàng do nhà nước ban hành. Pháp luật được ban hành dựa trên nhu cầu tất yếu trong từng lĩnh vực, do đó, khi có giao dịch giữa người gửi tiền và ngân hàng thì pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa hai bên được ban hành để đảm bảo cho quyền và nghĩa vụ của hai bên được đảm bảo, và nhất là quyền lợi của người gửi tiền. Thường thì pháp luật sinh ra để bảo vệ quyền lợi cho bên yếu thế hơn, và bắt buộc bên có lợi thế hơn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Trong giao dịch giữa ngân hàng và người gửi tiền thì người gửi tiền là bên yếu thế hơn, do người gửi tiền tuy có tiền mang đi gửi tại ngân hàng để thực hiện mục đích của mình, đồng thời hai bên đều có thỏa thuận dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tự do. Tuy nhiên, người gửi tiền có thể không nắm hết hay hiểu rõ về pháp luật điều chỉnh cũng như các thông tin liên quan đến việc gửi tiền nên có thể bỏ qua nhiều quyền lợi mà không hay biết.

Thứ hai, pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền được hợp thành bởi nhiều quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau (pháp luật dân sự, pháp luật ngân hàng, pháp luật tài chính…). Hiện nay, ở nước ta chưa có riêng Luật bảo vệ người gửi tiền mà hệ thống quy phạm pháp luật này nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Chúng được quy định tại Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng, Bộ luật dân sự, Luật Bảo hiểm tiền gửi và các các bản hướng dẫn thi hành… Do đó thực hiện pháp luật về bảo vệ người gửi tiền là thực hiện các quy định trong các văn bản khác nhau, là trách nhiệm của các chủ thể khác nhau trong xã hội. Chính vì vậy để thực hiện hiệu quả pháp luật này cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các chủ thể pháp luật đó.

1.2.3. Nội dung pháp luật bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian huy động vốn, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Nhờ có việc huy động vốn thì ngân hàng mới có thể thực hiện các hoạt động khác như: cho vay, đầu tư kinh doanh…. Đối tượng huy động vốn ở đây không ai khác chính là cá nhân, tổ chức hay chính là người gửi tiền. Trong đó người gửi tiền là người ủy nhiệm và ngân hàng là người được ủy nhiệm. Điều đó nói lên rằng mối quan hệ này đặt nền tảng rất lớn lên niềm tin của người gửi tiền vào ngân hàng.

Ngân hàng thì luôn muốn huy động được nhiều vốn để từ đó ngân hàng có vốn để thực hiện các dự án khác để mang về lợi nhuận để duy trì hoạt động. Còn về phía người gửi tiền, họ luôn mong muốn số tiền mình khi gửi vào ngân hàng trước tiên phải được đảm bảo an toàn cho đến khi họ lấy lại được số tiền vốn của mình. Đồng thời họ cũng quan tâm rằng ngân hàng có các biện pháp bảo đảm an toàn nào để giữ chân người gửi giữ, cơ chế nào họ có được để bảo vệ quyền lợi của mình hay chính là việc họ sẽ được cơ chế nào bảo đảm quyền lợi cho chính họ. Do vậy, đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng và bảo vệ người gửi tiền là những vấn đề lớn. Thông qua công cụ luật pháp và các công cụ kinh tế tài chính, nhà nước giúp ngăn chặn sự mạo hiểm quá mức của các ngân hàng mà cuối cùng chuyển rủi ro đến những người cho ngân hàng vay tiền. Về khía cạnh này, pháp luật nước ta luôn có những cơ chế để đứng về phía người yếu thế hơn hay chính là người gửi tiền. Từ những sự phân tích sau ta có thể thấy nội dung pháp luật về bảo vệ người gửi tiền gồm:

Một là, các quy định về phòng tránh rủi ro và đảm bảo an toàn, bảo hiểm tiền gửi dành cho người gửi tiền. Luật Bảo hiểm tiền gửi quy định về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền tại điều 6, 7, 11, 12. Theo đó, Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ Ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi. Nhà nước có chính sách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

Qua đó, quy định thêm về quyền và nghĩa vụ của người gửi tiền đồng thời cả nghĩa vụ của ngân hàng nhận tiền gửi. Luật quy định người gửi tiền có quyền: được nhận tiền bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn; yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức bảo hiểm tiền gửi cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, chế độ về bảo hiểm tiền gửi; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật.

Qua đây có thể thấy rằng, Luật Bảo hiểm tiền gửi không quy định cụ thể và rõ ràng về quyền lợi của người gửi tiền. Nhưng việc quy định các tổ chức tín dụng nhận tiền gửi của các cá nhân phải tham gia Bảo hiểm tiền gửi đồng thời thực hiện các nghĩa vụ theo Luật, tức là Luật muốn ám chỉ rằng cá nhân, tổ chức gửi tiền tại ngân hàng chính là người gửi tiền có tiền được bảo hiểm bởi tổ chức bảo hiểm tiền gửi mà bên trung gian thay mặt người gửi tiền làm việc này là các ngân hàng nơi mà ngưởi gửi tiền gửi tiền vào đó. Nhà nước cần hoàn thiện, bổ sung các quy định về Bảo hiểm tiền gửi để góp phần bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và hoạt động lành mạnh của ngân hàng. Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Hai là, các quy định về cơ quan bảo vệ quyền lợi người gửi tiền. Một trong những quyền lợi cơ bản của người gửi tiền là quyền được khiếu nại. Để các chủ thể trong xã hội thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, cần xây dựng hệ thống cơ quan bảo vệ quyền lợi người gửi tiền hiệu quả. Phải đảm bảo sự hiện diện của cơ quan Nhà nước ở đầy đủ các khâu: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Bên cạnh đó, từ năm 2000, Nhà nước đã thành lập tổ chức bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Theo đó, tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (DIV), là cơ quan chuyên trách được Chính phủ thành lập, giao quyền thực hiện chính sách pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.

Ba là, các quy định về phương thức giải quyết tranh chấp giữa ngân hàng và người gửi tiền. Trong quan hệ hợp đồng, các bên đều mong muốn hợp đồng giao kết mang lại lợi ích cho các bên, đồng thời các bên cũng sẽ thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết. Nhưng không phải trong trường hợp nào thì các bên cũng sẽ làm đúng như đã cam kết trong hợp đồng được. Có những khi chủ thể các bên vì những nguyên nhân khác nhau mà vi phạm nội dung đã thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia. Mà việc vi phạm này chủ yếu đến từ phía ngân hàng, vì trong quan hệ này thì người gửi tiền là bên yếu thế hơn. Chính vì thế nên việc tranh chấp giữa ngân hàng và người gửi tiền thì chủ yếu là do ngân hàng xâm phạm đến quyền lợi của người gửi tiền. Vì vậy, pháp luật phải xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp giữa người gửi tiền và bên nhận tiền gửi là ngân hàng. Hiện nay có bốn phương thức giải quyết tranh chấp giữa ngân hàng và người gửi tiền: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và Tòa án.

Bốn là, các quy định về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền trong trường hợp các ngân hàng chấm dứt hoạt động. Trong trường hợp một ngân hàng chấm dứt hoạt động sẽ gây ra nhiều hệ lụy đối với cả nền kinh tế nhưng đối tượng phải chịu ảnh hưởng lớn nhất đó chính là người gửi tiền. Do vậy, trong trường hợp việc kinh doanh không còn tạo ra lợi nhuận, hay vì lí do khác, ngân hàng thương mại phải chấm dứt hoạt động thì thủ tục này cũng phức tạp và chặt chẽ hơn nhiều so với các chủ thể kinh doanh khác. Các trường hợp chấm dứt hoạt động của ngân hàng thương mại gồm: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản. Hậu quả pháp lí của mỗi trường hợp chấm dứt là khác nhau nên quyền của người gửi tiền trong từng trường hợp ấy cũng có cơ chế đảm bảo khác nhau, theo từng văn bản luật mà nhà nước quy định như Luật các Tổ chức tín dụng 2010….

1.3. Vai trò của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Một là, khuyến khích việc gửi tiền của người đang có nguồn tiền nhàn rỗi, góp phần duy trì kênh huy động vốn quan trọng và đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của các Ngân hàng thương mại, góp phần phát triển kinh tế xã hội đất nước.

Có thể thấy, việc gửi tiền của người gửi tiền xuất phát từ việc họ có nguồn tiền nhàn rỗi cũng như họ mong muốn có được một nguồn lợi từ nguồn tiền đó.  Nhưng nhiều người còn khá e ngại về vấn đề quyền lợi của mình sẽ được bảo vệ như thế nào, liệu số tiền đó của mình có được an toàn, hay nguồn lợi mình thu được có được đảm bảo … Chính việc pháp luật có quy định về những điều khoản quy định bảo vệ người gửi tiền làm cho người gửi tiền an tâm hơn khi gửi tiền, thúc đẩy họ gửi tiền nhiều hơn mà không lo lắng về vấn đề lợi ích không được đảm bảo.

Hai là, củng cố niềm tin cho người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng cũng như hệ thống pháp luật của nước ta. Con người thường muốn có cảm giác được an toàn và được bảo vệ. Người gửi tiền cũng vậy, khi họ có một khoản tiền thì nhu cầu họ cần được cảm giác an toàn lại càng cao hơn. Có thể nói, lúc này, ngân hàng nào mang lại cho người gửi tiền cảm giác được an toàn nhất thì họ sẽ gửi tiền vào đó. Nhưng nền tảng của niềm tin này xuất phát từ pháp luật quy định bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và nghĩa vụ của phía ngân hàng.

Ba là, pháp luật là hành lang pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Trong giao dịch giữa người gửi tiền và ngân hàng, người gửi tiền thường là bên yếu thế hơn. Chỉ nhờ có luật pháp mà ngân hàng mới làm tròn nghĩa vụ của mình đối với người gửi tiền, điều này giúp cho quyền lợi của người gửi tiền cũng được đảm bảo. Ngay cả trường hợp mà ngân hàng có bị phá sản hay mua lại hay sáp nhập, nói chung đó là những tình thế xấu nhất xảy đến với ngân hàng thì người gửi tiền vẫn còn có pháp luật để đảm bảo rằng số tiền mồ hôi công sức của mình gửi tại ngân hàng vẫn được an toàn hay sẽ được đền bù.

Bốn là, góp phần tăng trưởng kinh tế, giúp cho nền kinh tế đất nước phát triển bền vững. Người gửi tiền hiện nay chủ yếu là những người có tiền tạm thời chưa dùng đến được gửi vào các Tổ chức tín dụng như: ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân, công ty tài chính… để sử dụng trong tương lai và cũng không ngoài mục đích sinh lời. Họ là những người thiếu cơ hội kinh doanh, thiếu thông tin về thị trường, vì vậy, việc gửi tiền vào các tổ chức này là hình thức đầu tư phù hợp, tốt nhất. Có thể nói hoạt động tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của một quốc gia. Khi có một hệ thống pháp luật vững chắc, củng cố được niềm tin của người dân thì người dân sẽ tham gia vào hoạt động tài chính một cách sôi nổi hơn. Điều đó góp phần giúp cho các Ngân hàng thương mại có thể hoạt động tốt hơn, có nguồn vốn để đầu tư các hoạt động khác cũng như tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn để hoạt động. Điều này góp phần tích cực phát triển kinh tế, nâng cao sự ổn định và vững mạnh của quốc gia .

1.4. Bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng ở Việt Nam vài năm gần đây

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008 bắt nguồn từ hoạt động “cho vay dưới tiêu chuẩn” tại Mỹ đã nhanh chóng lan rộng sang các nước khác. Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn cầu rơi vào tháng 9/2008 và đã được đánh giá là “cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong một thế kỷ qua”. Theo ước tính ban đầu, tổn thất của các ngân hàng chưa được đánh giá chính xác nhưng lợi nhuận của các ngân hàng Mỹ giảm từ 35,2 tỷ đô la xuống còn 5,8 tỷ đô la trong quý IV/2007, giảm 83% so với cùng kỳ năm trước. Đến tháng 8/2008, tổn thất liên quan đến tín dụng và cho vay dưới tiêu chuẩn của các tổ chức tài chính toàn cầu là khoảng 500 tỷ đô la. Số ngân hàng đổ vỡ mà FDIC (cơ quan bảo hiểm tiền gửi Mỹ) phải chi trả năm 2008 đến tháng 4/2009 là 54 ngân hàng và còn tiếp tục tăng trong thời gian sau đó. Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu đến nay vẫn còn để lại hậu quả nặng nề ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam, điều đó buộc các quốc gia phải quan tâm, đánh giá lại toàn bộ hoạt động của các ngân hàng. Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã trở nên phổ biến và cấp thiết ở mỗi quốc gia, đảm bảo cho các ngân hàng thích nghi được với nhu cầu phát triển mới trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đầy biến động. Ở Việt Nam, khi mà thị trường chứng khoán chưa phát triển, gánh nặng về vốn còn dồn lên vai ngân hàng thì việc giữ cho hệ thống ngân hàng ổn định và lành mạnh càng cần phải đặc biệt quan tâm. Có thể nói, hiện nay nền kinh tế cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam đã cơ bản vượt qua cơn khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, những hệ lụy của nó đã bộc lộ nhiều vấn đề bất ổn trong lĩnh vực ngân hàng, đó là thanh khoản khó khăn, nợ xấu có dấu hiệu tăng cao, chất lượng quản trị điều hành hạn chế, sản phẩm dịch vụ nghèo nàn, lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng, rủi ro cao ảnh hưởng đến an toàn hệ thống. Bên cạnh đó hệ thống mạng lưới các Ngân hàng thương mại phát triển với tốc độ quá nhanh, số lượng nhiều, chất lượng hoạt động giảm sút, không ít ngân hàng hoạt động vì lợi ích cục bộ, chạy đua lãi suất gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ. Do đó, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời sẽ có nguy cơ xảy ra rủi ro gây mất an toàn hệ thống.

Việt Nam thực hiện tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng (giai đoạn 2011- 2015). Khi thực hiện chủ trương tái cơ cấu, đã có các ngân hàng phải tái cơ cấu theo đề án Chính phủ phê duyệt. Đầu tiên phải kể đến: ngân hàng Sài Gòn (SCB), Ngân hàng Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và Ngân hàng Đệ Nhất (Ficombank) đã hợp nhất và kết quả hoạt động của năm 2014 được cho là khá khả quan. Ngân hàng Nam Việt (Navibank), sau khi tự cơ cấu lại đã đổi tên thành Ngân hàng Quốc dân (NCB). Tương tự Nam Việt, Ngân hàng Tiên Phong (TienPhongBank) và Đại Tín (TrustBank) cũng chọn cách tự tái cơ cấu thông qua việc tăng mạnh vốn điều lệ từ các cổ đông. Ngoài ra, Ngân hàng Nhà Hà Nội (Habubank) đã sáp nhập vào Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB). Bên cạnh đó, Ngân hàng Phương Tây (Western Bank) cũng đã tiến hành hợp nhất với Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí (PVFC). Ngoài ra, thị trường còn chứng kiến thương vụ hợp nhất tự nguyện giữa Ngân hàng Đại Á (DaiABank, trụ sở tại Đồng Nai) và Ngân hàng Phát triển TP.HCM (HDBank) vào thành một thương hiệu duy nhất là HDBank với mục đích nâng cao chất lượng hoạt động.

Năm 2015, hệ thống tổ chức tín dụng bước vào giai đoạn 2 của quá trình sắp xếp và tái cơ cấu, trong đó, nửa đầu năm 2015 được xác định là thời gian cao điểm và tất cả các ngân hàng lớn phải vào cuộc, xem như nhiệm vụ phải làm. Những thương vụ sáp nhập hoặc mua bán theo hình thức khuyến khích hoặc tự nguyện được tham gia được thị trường quan tâm có thể kể đến như thương vụ sáp nhập Ngân hàng Phương Nam vào Ngân hàng Sacombank; tái cấu trúc Ngân hàng Xây dựng (VNCB); sáp nhập vài ngân hàng nhỏ với Vietcombank và BIDV…. Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

Đặc biệt đang chú ý trong giai đoạn này, hoạt động chưa có tiền lệ là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã mua lại ba ngân hàng với giá 0 đồng: Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu (GPBank) ; Ngân hàng Xây Dựng – CB (tiền thân là Ngân hàng Đại Tín) và  Ngân hàng Đại Dương (OceanBank).Và cũng còn một số ngân hàng nhỏ, yếu có khả năng tái cơ cấu hoặc sáp nhập vẫn được dõi theo bao gồm: Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PGBank) và một số ngân hàng đã được phép tự tái cơ cấu từ giai đoạn 1 như Ngân hàng TMCP Quốc Dân, Ngân hàng TMCP Nam Á.

Nhìn từ  bối cảnh trong giai đoạn tái cơ cấu này có thể thấy sự cam go, quyết liệt cũng như sự cứng rắn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng các chính sách pháp luật trong việc điều tiết và cải tổ hệ thống ngân hàng. Và chính điều này đã thúc đẩy hệ thống ngân hàng được thanh lọc tốt hơn, chính những ngân hàng yếu kém sẽ bị loại trừ cũng như không còn tồn tại được như chính bản thân vốn có của nó nữa mà sẽ bị chuyển sang một hình thức hoạt động khác. Điều này cũng dấy lên một sự cạnh tranh gay gắt trong ngành ngân hàng nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung. Và bất kỳ một tổ chức tín dụng nào muốn được tồn tại thì phải có các chính sách cũng như tinh thần làm việc phải dựa trên pháp luật. Đồng thời việc tôn trọng người gửi tiền cũng là một yếu tố quan trọng bởi có thể nói người gửi tiền là nhân tố quan trọng mang tính sống còn của ngân hàng. Chắc chắn rằng việc “thanh lọc” này sẽ mang lại lợi ích trước hết là cho người gửi tiền và sau đó mới  là sự phát triển của hệ thống tín dụng Việt Nam. Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền ngân hàng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền lợi người gửi tiền

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x