Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải y tế, thực tiễn áp dụng trên địa bàn Hà Nội hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1.Quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý chất thải y tế

2.1.1. Trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo vệ môi trường đối với cơ sở y tế.

Trách nhiệm của chủ thể phát sinh nguồn chất thải y tế:

Chất thải y tế là các chất thải phát sinh từ hoạt động của cơ sở y tế nên chủ thể phát sinh nguồn chất thải cần phải chịu trách nhiệm pháp lý trước tiên chính là chủ đầu tư và người đứng đầu các bệnh viện, cơ sở y tế. Giám đốc, người đứng đầu cơ sở y tế phải thực hiện các đầy đủ và nghiêm túc các yêu cầu bảo vệ môi trường gồm:

Việc phân loại chất rắn y tế cần làm ngay tại nguồn; trong hoạt động thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý chất thải rắn y tế, nước thải y tế , khí thải phải bảo đảm đạt các quy chuẩn kỹ thuật môi trường;

Luôn chuẩn bị sẵn các kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứng phó với các sự cố môi trường do chất thải y tế gây ra;

Các chất thải có nguy cơ lây nhiễm phải được xử lý sơ bộ loại bỏ mầm bệnh trước khi chuyển về nơi lưu giữ, xử lý, tiêu hủy tập trung;

Các cơ sở y tế sử dụng thiết bị, dụng cụ y tế có chất phóng xạ phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật về an toàn bức xạ hạt nhân;

Đối với chủ đầu tư bệnh viện, cơ sở y tế có trách nhiệm xây dựng đầy đủ công trình vệ sinh, hệ thống thu gom, lưu giữ, xử lý chất thải. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Ngoài ra, người đứng đầu các cơ sở y cần phải có trách nhiệm tổ chức truyền thông, tổ chức đào tạo, phổ biến pháp luật về quản lý chất thải y tế cho tất cả các cán bộ nhân viên, viên chức và người lao động của các cơ sở y tế; hàng năm cần phải báo cáo kết quả quản lý chất thải y tế cho Sở Y tế, Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương được biết.

Đối với riêng việc quản lý chất thải phóng xạ thì trách nhiệm của chủ thể, người đứng đầu cơ sở y tế đã được quy định chi tiết tại Điều 12 Thông tư số 22/2014/TT-BKHCN ban hành ngày 25 tháng 08 năm 2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quản lý chất thải phóng xạ và nguồn phóng xạ đã qua sử dụng. Chất thải phóng xạ y tế là một trong những loại chất thải vô cùng nguy hiểm có sức ảnh hưởng rộng, gây nên những biến chứng nguy hiểm nên việc quản lý các chất thải phóng xạ cũng được Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chặt chẽ cho cả người đứng đầu cơ sở và người vận chuyển chất thải phóng xạ.

Tầm quan trọng của những người đứng đầu cơ sở y tế là điều không thể phủ nhận, có chặt chẽ trong việc quản lý chất thải y tế, đảm bảo các tiêu chuẩn yêu cầu được đặt ra thì chất thải y tế mới có thể được xử lý an toàn, hiệu quả.

Trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền:

Trong việc quản lý chất thải y tế, pháp luật đã quy định cụ thể Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng các Bộ, ban ngành địa phương liên quan phải tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm, hoạt động mai táng, hỏa táng; cần tổ chức việc thống kê nguồn thải, đánh giá mức độ ô nhiễm, xử lý chất thải của các cơ sở y tế và hoạt động khác trong lĩnh vực quản lý chất thải y tế.

Trách nhiệm của từng cơ quan trong quản lý chất thải y tế bao gồm:

Trách nhiệm của Bộ Y tế: hướng dẫn Sở y tế, các cơ sở y tế trong việc quản lý chất thải y tế; phê duyệt, thống nhất chương trình tài liệu đào tạo về quản lý chất thải y tế, đưa nội dung quản lý chất thải y tế vào chương trình đào tạo của các trường đào tạo y; phổ biến đào tạo cho các Sở Y tế, các cơ sở y tế; kiểm tra việc thực hiện các công việc trên.

Trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường: hướng dẫn Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện các quy định về quản lý chất thải y tế; phối hợp với Bộ Y tế tổ chức phổ biến pháp luật về quản lý chất thải y tế.

Trách nhiệm của Sở Y tế: hướng dẫn, tổ chức đào tạo, truyền thông, phổ biến pháp luật về quản lý chất thải y tế cho các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh; phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng, tổ chức, thanh tra, kiểm tra các hoạt động trong việc xử lý chất thải y tế của các cơ sở y tế; báo cáo kết quả quản lý chất thải y tế cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt.

Trách nhiệm của Sở Tài nguyên và Môi trường: phối hợp với Sở Y tế thực hiện các kế hoạch quản lý chât thải y tế; tổng hợp báo cáo quản lý chất thải nguy hại. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp: trực tiếp xem xét các kế hoạch, thanh tra, kiểm tra các hoạt động quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế trên địa bàn mình quản lý; phối hợp hoạt động với các tổ chức khác bao gồm Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Y tế, Sở Tài nguyên và Môi trường.

Ngoài ra, đối với việc quản lý chất thải y tế là chất thải phóng xạ còn có sự tham gia của Cục An toàn bức xạ hạt nhân và Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý, trong đó: [5]

Trách nhiệm của Cục An toàn bức xạ và hạt nhân: tổ chức, giám sát thu gom chất thải phóng xạ không xác định được chủ nguồn chất thải phóng xạ; hướng dẫn các biện pháp quản lý chất thải phóng xạ;thanh tra việc tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý chất thải phóng xạ trong phạm vi cả nước và xử lý đối với các vi phạm.

Trách nhiệm của Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: cùng tổ chức và phối hợp với Cục An toàn bức xạ và hạt nhân thu gom chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ được phát hiện trên địa bàn quản lý mà không xác định được chủ, thanh tra việc tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý chất thải phóng xạ và xử lý đối với các vi phạm; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động trên địa bàn địa phương về biện pháp quản lý chất thải phóng xạ.

Trên đây là những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm trong việc chỉ đạo các hoạt động quản lý chất thải y tế, nói một cách đơn giản thì họ như những “người lái đầu tàu” hướng dẫn các hoạt động quản lý chất thải y tế sao cho đảm bảo “con tàu” đi đúng hướng, không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh và sức khỏe cộng đồng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2. Quy định về phân loại, thu gom, lưu giữ, tái chế chất thải y tế.

Thông tư liên tịch số số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ban hành ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên môi trường quy định về quản lý chất thải y tế (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT) đã quy định chi tiết các khâu phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu và tái chế chất thải y tế đối với các loại chất thải: chất thải lây nhiễm sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao, chất thải giải phẫu, chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn, chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng, chất thải  tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế, chất thải thông thường phục vụ mục đích tái chế và nước thải. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Đối với các chất thải phóng xạ việc quy định về thu gom, lưu giữ được nêu rõ tại Thông tư số 22/2014/TT-BKHCN ban hành ngày 25 tháng 08 năm 2014 của Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quản lý chất thải phóng xạ và nguồn phóng xạ đã qua sử dụng (gọi tắt là Thông tư số 22/2014/TT-BKHCN).

  • a) Phân loại chất thải y tế

Phân loại chất thải y tế cần phải tuân theo các nguyên tắc bao gồm:

Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế thông thường phải được phân loại ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh để quản lý. Điều này đã được khẳng định ngay từ Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 tại điều 72 với yêu cầu phân loại chất thải rắn tại nguồn đúng các quy chuẩn kỹ thuật môi trường được đặt ra.

Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải gồm:

  • Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng;
  • Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng;
  • Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng;
  • Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu đen;
  • Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có nắp đậy kín màu đen;
  • Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh;
  • Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng.
  • Đối với các trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung.

Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với các chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất đó phải được thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

  • b) Thu gom chất thải y tế:

Việc thu gom chất thải y tế được quy định như sau.

Thu gom chất thải lây nhiễm: phải được thu gom riêng theo đúng quy trình thu gom (túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín đảm bảo không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom) từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế. Riêng đối với các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải được xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế.

Một ngày ít nhất một lần cần thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế; nếu lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 5kg/ngày thì tối thiểu một tháng một lần.

Thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm: được thu gom và lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế. Đối với các chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế vỡ,hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp đảm bảo không bị rò rỉ hay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường.

Thu gom chất thải y tế thông thường: các chất thải phục vụ mục đích tái chế và chất thải không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng.

Thu gom chất thải y tế sinh học (thuộc chất thải phóng xạ sinh học) hay còn gọi là chất thải phóng xạ trong y tế tuân theo các yêu cầu sau:

Đối với chất thải phóng xạ rắn: phải được thu gom từng loại riêng biệt; nếu đựng trong thùng phải có nắp đậy, đóng mở bằng bàn đạp chân có lót túi nylon ở bên trong, thiết kế thích hợp để bảo vệ chống chiếu ngoài cho nhân viên bức xạ và có dấu hiệu cảnh báo bức xạ dán bên ngoài. Bao, túi thu gom chất thải phóng xạ phải có màu khác nhau cho các loại chất thải phóng xạ khác nhau với thông tin ghi trên nhãn gồm: số nhận dạng của thùng, bao, túi đựng; nhân phóng xạ có trong chất thải; phân loại của chất thải; nơi phát sinh chất thải; các yếu tố nguy hiểm khác. Sau đó các chất thải phóng xạ rắn phải được thu gom lập thành hồ sơ. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Đối với chất thải phóng xạ lỏng (nước thải phóng xạ): phải được thu gom tách khỏi nước thải không phóng xạ vào các bể chứa hoặc các bình đựng đáp ứng đảm bảo các yêu cầu: bình phải được thiết kế che chắn thích hợp để bảo vệ chống chiếu ngoài cho các nhân viên và bảo đảm ngăn ngừa việc rò rỉ nước thải phóng xạ ra môi trường, bình đựng nước thải phóng xạ thu gom phải đặt trong một thùng kim loại, giữa thùng kim loại và bình phải đổ chất hấp thụ để hấp thụ nước rò rỉ, bình đựng và thùng bên ngoài phải có nắp đậy kín, có gắn dấu hiệu cảnh báo bức xạ. Các bình đựng thu gom nước thải phóng xạ phải dán nhãn thông tin nhận dạng như quy định đối với thùng, bao, túi thu gom chất thải dạng rắn trước khi chuyển vào nơi lưu giữ tạm thời; Nước thải phóng xạ thu gom phải được lập thành hồ sơ và lưu giữ.

  • c) Lưu giữ chất thải y tế

Các tiêu chuẩn lưu giữ chất thải y tế bao gồm:

Đối với các cơ sở y tế bố trí khu vực lưu giữ chất thải y tế trong khuôn viên đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật như: có mái che cho khu vực, không để nền bị ngập lụt, tránh nước mưa chảy tràn từ bên ngoài vào, không bị chảy tràn chất lỏng ra bên ngoài khi có sự cố rò rỉ, đổ tràn. Phân chia các ô hoặc có dụng cụ, thiết bị lưu giữ riêng cho từng loại chất thải hoặc nhóm chất thải có cùng tính chất. Có vật liệu hấp thụ (như cát khô hoặc mùn cưa) và xẻng để sử dụng trong trường hợp rò rỉ, đổ tràn chất thải y tế nguy hại ở dạng lỏng. Có thiết bị phòng cháy chữa cháy theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về phòng cháy chữa cháy.

Đối với dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại phải đáp ứng có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ chất thải; có hình biểu tượng loại chất thải lưu giữ; phải được làm bằng vật liệu không có phản ứng với chất thải lưu chứa và có khả năng chống được sự ăn mòn nếu lưu chứa chất thải có tính ăn mòn. Trường hợp lưu chứa hóa chất thải ở dạng lỏng phải có nắp đậy kín để chống bay hơi và tràn đổ chất thải.

BẢNG 2.1. BIỂU TƯỢNG TRÊN BAO BÌ, DỤNG CỤ, THIẾT BỊ

Các loại chất thải khác nhau phải được lưu giữ riêng tại từng khu vực.

Đối với chất thải lây nhiễm thời gian lưu giữ sẽ khác nhau: không quá 2 ngày trong điều kiện bình thường. nếu bảo quản lạnh dưới 8oC thời gian lưu giữ không quá 7 ngày; nếu có lượng chất thải lây nhiễm dưới 5kg/ngày lưu giữ không quá 3 ngày trong điều kiện bình thường; nếu chuyển từ cơ sở khác về phải xử lý luôn trong ngày nếu không phải lưu giữu dưới 20oC và trong thời gian không quá 2 ngày. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Đối với việc lưu giữ các chất thải phóng xạ trong hoạt động y tế thì chất thải phóng xạ dạng rắn và nước thải phóng xạ sau khi thu gom vào bình đựng phải được lưu giữ tại cơ sở phát sinh chất thải để chờ phân rã trước khi thải ra môi trường hoặc chờ để chuyển đi xử lý, hoặc chuyển đến cơ sở lưu giữ chất thải phóng xạ. Trường hợp nước thải phóng xạ nếu không được thu gom vào bình đựng phải được thu gom và lưu giữ trong các bể lưu giữ chờ xử lý hoặc chờ phân rã. Nguồn phóng xạ sau khi chấm dứt sử dụng phải được lưu giữ cho đến khi chuyển giao cho người sử dụng khác, chuyển giao cho cơ sở lưu giữ chất thải phóng xạ hoặc chuyển trả cho nhà sản xuất, nhà cung cấp nước ngoài.

  • d) Tái chế chất thải y tế

Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo tăng cường tái chế chất thải y tế nhằm mục đích tránh lãng phí, hạn chế gây ô nhiễm môi trường và lợi ích về kinh tế. Pháp luật Việt Nam cũng đưa ra các quy định nhằm khuyến khích hoạt động giảm thiểu, thu gom, tái sử dụng và tái chế chất thải.

Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/04/2015 quy định về quản lý chất thải và phế liệu tại điểm b Khoản 5 Điều 49 cũng quy định chất thải lây nhiễm nếu quá trình khử khuẩn xong thì sẽ được xử lý như đối với chất thải thông thường bằng các phương pháp phù hợp.

Việc tái chế chất thải y tế chỉ dành cho các chất thải y tế thông thường và các chất thải lây nhiễm sau khi đã xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường. Đối với các chất thải y tế tái chế không được sử dụng để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm.[13] Việc quản lý chất thải y tế nói chung và quản lý chất thải y tế để phục vụ mục đích tái chế nếu không đúng quy định thì người đứng đầu cơ sở y tế phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

2.1.3. Quy định về vận chuyển, xử lý chất thải y tế. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

  • a) Quy định về vận chuyển các chất thải y tế

Đối với vận chuyển các chất thải y tế đã được quy định tại điều 11, điều 12 Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT và điều 8, 11, 23 Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ban hành ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại (gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT). Theo đó:

Đối với vận chuyển chất thải y tế nguy hại để xử lý theo mô hình cụm cơ sở y tế: thuê các đơn vị bên ngoài có giấy phép xử lý chất thải nguy hại hoặc giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại để vận chuyển chất thải của cơ sở y tế đến cơ sở xử lý cho cụm. Nếu cơ sở y tế tự vận chuyển hoặc không thuê đơn vị trên thì phải đáp ứng các quy định và được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải y tế trên địa bàn tỉnh.

Về phương tiện vận chuyển: sử dụng các xe thùng kín hoặc xe bảo ôn chuyên dụng để vận chuyển hoặc sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác để vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ cơ sở y tế đến cơ sở xử lý cho cụm với điều kiện Có thành, đáy, nắp kín, kết cấu cứng, chịu được va chạm, không bị rách vỡ bởi trọng lượng chất thải, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển, có biểu tượng về loại chất thải lưu chưa, đảm bảo không bị rơi đổ trong quá trình vận chuyển. Ngoài ra trước khi vận chuyển, các chất thải lây nhiễm phải được đóng gói trong các thùng, hộp hoặc túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán trên đường vận chuyển.

Đối với vận chuyển chất thải y tế để xử lý theo mô hình tập trung:

Khi vận chuyển các chất thải nguy hại không lây nhiễm thì các phương tiện, thiết bị lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại không lây nhiễm phải có hệ thống định vị GPS được kết nối mạng thông tin trực tuyến để xác định vị trí và ghi lại hành trình vận chuyển chất thải. Trừ các phương tiện vận chuyển đường biển, đường sắt, đường hàng không thì mỗi một phương tiện, thiết bị chỉ được đăng ký cho một giấy phép xử lý chất thải nguy hại.

Khi vận chuyển các chất thải lây nhiễm thì ngoài thực hiện các quy định như vận chuyển chất thải nguy hại không lây nhiễm thì cần đáp ứng các yêu cầu chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các bao bì, dụng cụ kín, bảo đảm không bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển; thùng của phương tiện chuyên dụng để vận chuyển là loại thùng kín hoặc thùng được bảo ôn; Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Cuối cùng đối với việc vận chuyển chất thải y tế thông thường được thực hiện theo các quy định về quản lý chất thải thông thường quy định các thiết bị lưu chứa phải có kích cỡ phù hợp với thời gian lưu giữ; trong quá trình vận chuyển phải đảm bảo không làm rơi vãi chất thải, gây phát tán bụi, mùi, nước rò rỉ.

  • b) Quy định về xử lý chất thải y tế

Pháp luật Việt Nam có quy định cơ sở y tế phải có trách nhiệm xử lý chất thải y tế đúng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Đối với việc xử lý chất thải y tế nguy hại phải được xử lý đạt đúng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, ưu tiên lựa chọn các công nghệ thân thiện với môi trường, mà vẫn đảm bảo xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Việc xử lý chất thải y tế nguy hại được xử lý theo thứ tự ưu tiên từ: thứ nhất là xử lý tại cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế; thứ hai là xử lý theo mô hình cụm cơ sở y tế; thứ ba là tự xử lý tại công trình xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế.

Hình thức xử lý chất thải y tế nguy hại theo mô hình cụm cơ sở y tế phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh với các nội dung về địa điểm, mô hình xử lý chất thải y tế nguy hại; phạm vi, phương thức thu gom, vận chuyển chất thải y tế nguy hại; thông tin về tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện việc thu gom, vận chuyển và xử lý chât thải y tế nguy hại đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế của từng địa phương và quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Việc xử lý chất thải y tế hiện nay chủ yếu là quá trình chôn, lấp hoặc đốt chất thải hoặc nếu cơ sở y tế nào có đủ điều kiện thì sẽ ưu tiên sử dụng các công nghệ không đốt.

Tại Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 6/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc thực hiện tăng cường công tác quản lý chất thải y tế trong bệnh viện cũng có quy định hệ thống xử lý nước thải y tế phẩn đảm bảo theo QCVN 28:2010/BTNMT và khí thải lò đốt chất rắn y tế của bệnh viện (nếu có) phải đảm bảo theo QCVN 02:2012/BTNMT. Trường hợp nếu không tự xử lý chất thải y tế, bệnh viện cần phải ký hợp đồng với tổ chức cá nhân có giấy phép phù hợp để thu gom và xử lý chất thải y tế theo đúng quy định của pháp luật. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Trước kia, ở Quy chế Quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế có một chương riêng là chương 9 quy định về việc xử lý nước thải và chất thải khí. Theo đó mỗi bệnh viện phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đồng bộ, nếu không có hệ thống xử lý nước thải phải bổ sung hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh, nếu bị hỏng không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả, phải tu bổ và nâng cấp để vận hành đạt tiêu chuẩn môi trường. Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện phải đáp ứng với các tiêu chuẩn môi trường, phải phù hợp với các điều kiện địa hình, kinh phí đầu tư, chi phí vận hành và bảo trì và phải được định kỳ kiểm tra chất lượng xử lý nước thải và lưu giữ hồ sơ xử lý nước thải. Đối với việc thu gom nước thải phải có hệ thống thu gom riêng nước bề mặt và nước thải từ các khoa, phòng; hệ thống cũng phải là hệ thống ngầm hoặc có nắp đậy và phải có bể thu gom bùn. Nay tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT có thay đổi về một số quy định quản lý nước thải y tế, điều 14 Thông tư quy định việc xử lý nước thải y tế được quản lý theo nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường và quy định thêm các sản phẩm thải lỏng được thải cùng nước thải đều được gọi là nước thải y tế cho dễ dàng trong việc áp dụng.

Đối với việc xử lý chất thải phóng xạ trong y tế sẽ tùy theo loại chất thải phóng xạ rắn hoặc lỏng để có biện pháp xử lý theo quy định. Các chất thải phóng xạ sinh học phải được xử lý tiệt trùng bằng hơi, bằng bức xạ, khử khuẩn bằng hóa chất hoặc xử lý nhiệt khô:

Chất thải phóng xạ dạng rắn sẽ được nén hoặc ép để giảm thể tích nếu được xác định là loại chất thải có thể nén, ép được và bảo đảm không chứa thành phần có thể gây phản ứng hóa học hoặc làm hỏng kiện chất thải khi điều kiện hóa; không có nguồn phóng xạ và bình áp suất lẫn trong chất thải; các thành phần có khả năng gây nhiễm bệnh đã được loại bỏ hoặc đã được khử trùng; chất thải đã được làm khô trước khi nén, ép.

Chất thải phóng xạ dạng rắn sẽ được đốt nếu được xác định là loại chất thải có thể đốt được và bảo đảm không có nguồn phóng xạ và bình áp suất lẫn trong chất thải; có công nghệ đốt kiểm soát được việc đốt cháy hoàn toàn các thành phần ẩm ướt và xử lý khí thải đạt mức cho phép thải ra môi trường và có giải pháp để quản lý đối với tro phóng xạ tạo ra.

Nước thải phóng xạ sẽ được xử lý để tách các nhân phóng xạ khỏi thành phần nước thải bảo đảm hoạt độ phóng xạ còn lại trong nước thải sau khi xử lý nhỏ hơn hoặc bằng mức để được phép thải ra môi trường, bảo đảm phương pháp xử lý phù hợp với đặc tính của nước thải phóng xạ;

Do tính chất nguy hại, nên pháp luật quy định tất cả các chất thải y tế nguy hại đều phải được xử lý triệt để và nghiêm ngặt, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng (theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới và cũng đã được Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định tại mục 2 chương 9). Việc thu gom và xử lý chất thải y tế đúng và triệt để cũng là góp phần phòng chống lây lan dịch bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần tích cực và trực tiếp vào việc đảm bảo môi trường, an sinh, xã hội.

2.1.4. Xử lý các hành vi vi phạm pháp luật quản lý chất thải y tế Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) tại điều 182 có quy định về tội gây ô nhiễm môi trường, theo đó chỉ cần việc xả thải ra môi trường nước, không khí và đất “vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác” thì các hành vi cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, trong thực tế các nhà thi hành luật gặp khó khăn trong quá trình xử lý tội gây ô nhiễm môi trường. Bởi, Luật quy định, dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm gây ô nhiễm môi trường là phải có hành vi “thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ”. Hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi kèm theo một trong ba trường hợp: Vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng; Làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng; hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.

Pháp luật hiện nay lại chưa có văn bản hướng dẫn giải thích về các trường hợp nói trên. Do đó hiện nay đối với việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường chủ yếu dựa trên các xử phạt vi phạm hành chính.

Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (gọi tắt là Nghị định số 179/2013/NĐ-CP) được áp dụng cho cả trên lĩnh vực xử lý hành vi vi phạm quản lý chất thải y tế. Mức phạt cao nhất có thể lên đến 1.000.000.000 đồng đối với các hành vi xả nước thải có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép (khoản 8 điều 14); hoặc hành vi thải khí, bụi có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật cho phép (khoản 6 điều 16); hoặc đối với các hành vi chôn lấp, đổ, thải chất thải phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường (khoản 10 điều 21). Tại điều 4 của Nghị định có quy định rõ tổng hợp các mức phạt đối với cá nhân là 1.000.000.000 đồng và đối với tổ chức là 2.000.000.000 đồng.

Thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý chất thải y tế bao gồm:

  • Công an nhân dân cấp tỉnh
  • Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường
  • Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện
  • Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Chánh thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường và chức danh tương đương được Chính phủ giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo thẩm quyền và trách nhiệm kiểm tra, thanh tra về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý Chánh thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Cục trưởng Cục Kiểm soát ô nhiễm và chức danh tương đương được Chính phủ giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành bảo vệ môi trường có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo thẩm quyền trên phạm vi cả nước

Đối với các hành vi nghiêm trọng này đều bao gồm các hình thức phạt bổ sung như: đình chỉ hoạt động cơ sở, tịch thu tang vật phương tiện vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm: Khôi phục lại tình trạng môi trường ban đầu; Buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, đo đạc và phân tích mẫu môi trường theo định mức, đơn giá hiện hành đối với các vi phạm quy định; thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường trong thời hạn do người có thẩm quyền xử phạt ấn định.

Tại Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 6/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế (sau đây viết tắt là Chỉ thị số 05/CT-BYT) về việc tăng cường quản lý chất thải y tế trong bệnh viện đã nêu rõ: “Tăng cường phối hợp liên ngành, tiến hành thanh tra, kiểm tra giám sát công tác quản lý chất thải y tế để bảo vệ môi trường; kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu bệnh viện”. Do đó khi có phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế thì người đứng đầu bệnh viện là người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.

Ngoài ra, Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương; là cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án xây dựng bệnh viện tại địa phương (theo thẩm quyền) và kiểm tra xác nhận việc hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường (bao gồm hệ thống xử lý nước thải, các biện pháp xử lý chất thải rắn y tế nguy hại) của bệnh viện trước khi đi vào hoạt động. Sở Y tế có trách nhiệm phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan chức năng của tỉnh để thanh tra, kiểm tra giám sát về công tác quản lý chất thải của các bệnh viện trên địa bàn tỉnh. Khi có vấn đề về môi trường xảy ra, Uỷ ban nhân dân tỉnh phải chịu trách nhiệm kiểm tra thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc để xảy ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn quản lý.[22]

2.2. Thực tiễn áp dụng trên địa bàn Hà Nội hiện nay. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Trong phần này, tác giả có đề cập khái quát đến tình hình quản lý chất thải y tế tại Việt Nam, tập trung nêu lên các vấn đề thực tiễn tại Hà Nội và ví dụ cụ thể về công tác quản lý tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; ngoài ra còn có một số vụ việc điển hình liên quan đến vấn đề thực thi pháp luật tại Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung đã được dư luận quan tâm trong thời gian gần đây cũng đã được đưa vào để làm nổi bật về thực trạng áp dụng pháp luật quản lý chất thải y tế hiện nay.

2.2.1 Về tình hình chung ở Việt Nam

Tại Hội nghị triển khai Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011- 2015 và hướng đến năm 2020 do Bộ Y tế kết hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức: theo PGS. TS Phạm Thành Long, mỗi ngày có khoảng 350 tấn chất thải rắn phát sinh từ các cơ sở y tế, trong đó có 40,5 tấn là chất thải rắn nguy hại, mức độ gia tăng khoảng 7,6%/năm. Vì vậy, tính đến năm 2015 lượng chất thải này khoảng 600 tấn/ngày và đến năm 2020 sẽ vào khoảng 800 tấn/ngày. Có khoảng 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại và 90,9% bệnh viện đã thu gom hàng ngày nhưng việc phân loại và thu gom vẫn chưa được thực hiện đúng quy định, còn hiện tượng phân loại nhầm chất thải gây nguy hiểm cho môi trường cũng như tốn kém trong việc xử lý. Tỷ lệ bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải y tế đảm bảo yêu cầu vệ sinh theo quy định mới đạt khoảng 45,3% tổng số bệnh viện trong toàn quốc. Hiện mới có 73,3% bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bằng các lò đốt, nhưng công nghệ đốt hiện đại mới chỉ được áp dụng tại một số bệnh viện lớn, còn lại 26,7% bệnh viện thiêu đốt chất thải y tế nguy hại ngoài trời hoặc chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện hoặc bãi chôn lấp chung của địa phương. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Theo thống kê chưa đầy đủ, lượng chất thải lỏng phát sinh tại các cơ sở y tế vào khoảng 150.000 m3/ ngày đêm, dự kiến đến năm 2015, lượng này lên tới 300.000 m3/ ngày đêm. Hiện có khoảng 74% các bệnh viện tuyến Trung ương, 40% các bệnh viện tuyến tỉnh và 27% các bệnh viện tuyến huyện có hệ thống xử lý nước thải. Tuy nhiên, các hệ thống này sử dụng những phương pháp đã cũ như: Lọc sinh học nhiều tầng, Aeroten truyền thống, ao sinh học, lọc sinh học nhỏ giọt… đã xuống cấp, không còn đảm bảo quy chuẩn cũng như tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Nước thải của một số bệnh viện ô nhiễm nặng vượt quá nhiều lần tiêu chuẩn cho phép: 82,54% tụ cầu vàng, 15% trực khuẩn mủ xanh, 52% E.coli… Chúng có hàm lượng vi sinh cao gấp 1.000 lần cho phép với nhiều loại vi khuẩn nấm, ký sinh trùng, virut bại liệt… mà khi hòa vào nước thải sinh hoạt, sẽ bị phát tán, có khả năng xâm nhập các loại thủy sản, vật nuôi, nhất là rau thủy canh và trở lại với con người. Việc tiếp xúc gần với nguồn ô nhiễm còn làm nảy sinh nguy cơ ung thư và các bệnh hiểm nghèo khác cho con người.

Vẫn theo Bộ Y tế, khoảng 2/3 bệnh viện chưa áo dụng phương pháp tiêu hủy chất thải đảm bảo vệ sinh, hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn khi thải bỏ. Nhà lưu chứa không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng. Chất thải y tế ở một số địa phương, ngay ở các bệnh viện tuyến tỉnh hiện nay vẫn chưa có lấy một nơi tập kết chất thải, gây ra các vấn đề bức xúc cho người dân và cộng đồng. Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng các tỉnh, 81.25% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ nguồn nhưng do nhân viên tham gia công tác này chưa được đào tạo kỹ năng cơ bản nên việc phân loại còn phiến diện và chưa hiệu quả. Khi phân loại còn chưa đúng theo quy cách như tách các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế, còn lẫn nhiều chất thải y tế với chất thải rắn sinh hoạt và ngược lại. Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đúng quy chế quản lý chất thải y tế.

Hầu hết các địa điểm tập trung chất thải rắn y tế được bố trí trên một khu đất bên trong khuôn viên các cơ sở y tế có điều kiện vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do các vật sắc nhọn rơi vãi, côn trùng dễ dàng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện. Một số bệnh viện các điểm tập trung rác không có mái che, không có rào chắn bảo vệ, vị trí lại gần nơi đi lại, những người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập. Chỉ có một số ít bệnh viện có nơi lưu trữ chất thải đạt tiêu chuẩn. Tình trạng chung là các bệnh viện không có đủ các phương tiện bảo hộ khác cho nhân viên trực tiếp tham gia vào các quá trình phân loại, thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Về công tác xử lý chất thải y tế trên phạm vi cả nước đã có nhiều tỉnh thành được đầu tư xây dựng và lắp đặt hệ thống lò đốt rác y tế. Tuy nhiên việc hoạt động của các lò đốt rác lại đạt hiệu quả chưa cao, nơi đặt lò đốt gần các khu dân cư, khi vẫn hành lại không đúng kỹ thuật nên có khói đen và các mùi khó chịu, do đó vì nhân dân phản đối mà không thể vận hành được. Bên cạnh đó cũng còn rất nhiều bệnh viện, cơ sở y tế tuyến huyện, miền núi, vùng đồng bằng đều chưa có cơ sở hạ tầng để xử lý chất thải y tế nguy hại nên cách xử lý chủ yếu là thiêu đốt bằng lò thủ công hoặc chôn lấp trong các khu đất của cơ sở y tế.

2.2.2 Thực trạng quản lý trên địa bàn Hà Nội hiện nay.

Theo con số của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011 thì năm 2010, thành phố Hà Nội có 650 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế thành phố, trong đó có 40 bệnh viện, 29 phòng khám khu vực và 575 trạm y tế. Số giường bệnh trực thuộc sở Y tế Hà Nội là 11.536 giường, chiếm khoảng một phần hai mươi số giường bệnh toàn quốc; tính trung bình ở Hà Nội 569 người/giường. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều bệnh viện 1 giường bệnh có đến 2-3 bệnh nhân nằm điều trị là thường xuyên gặp.

Cũng theo thống kê năm 2010, thành phố Hà Nội có 2.974 bác sĩ, 2.584 y sĩ và 3.970 y tá. Do sự phát triển không đồng đều, những bệnh viện lớn của Hà Nội, cũng là của cả miền Bắc, chỉ tập trung trong khu vực nội ô thành phố. Các bệnh viện Việt Đức, Bạch Mai, Nhi Thụy Điển và Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đều trong tình trạng quá tải. Cùng với hệ thống y tế của nhà nước, Hà Nội cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân đang dần phát triển. Năm 2007, toàn thành phố có 8 bệnh viện tư nhân với khoảng 300 giường bệnh. Theo đề án đang được triển khai, đến năm 2010, Hà Nội sẽ có thêm 8 đến 10 bệnh viện tư nhân. Khi đó, tổng số giường bệnh tư nhân sẽ lên tới khoảng 2.500 giường.

Theo báo cáo của Sở Y tế Hà Nội, trung bình mỗi năm, tổng lượng rác thải y tế thải ra từ 41 bệnh viện công lập, 52 phòng khám đa khoa, 4 nhà hộ sinh, gần 600 trạm y tế ước tính khoảng 600.000 kg chất thải y tế nguy hại; 3 triệu kg chất thải thông thường và khoảng 1,8 triệu m3 nước thải. Trong đó, hơn 90% bệnh viện thực hiện phân loại chất thải rắn (CTR) y tế ngay tại nơi phát sinh, nhưng chỉ 50% trong số này thực hiện phân loại đúng từng loại chất thải theo quy định của Bộ Y tế.

Hầu hết các bệnh viện ở Hà Nội đều được xây dựng từ thế kỷ trước, một số bệnh viện mới được xây dựng nhưng khi thiết kết và xây dựng bệnh viện, cơ sở y tế lại chỉ chú ý đầu tư mua sắm trang thiết bị, mở rộng cơ sở, dịch vụ khám chữa bệnh mà “quên” xây dựng hệ thống xử lý chất thải, hạn chế nguy cơ lây lan, bảo vệ môi trường, để bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Bệnh viện không có phân loại rác thải, không có các sọt rác, các bao bì chuyên dụng cho rác nguy hiểm.

Nhiều bệnh viện có tính chất chuyên khoa như Bệnh viện Lao phổi trung ương khi xây dựng thì ở ngoại ô thành phố nhưng do tốc độ đô thị hóa, qua bao năm đã vào trung tâm mà muốn giải quyết việc di dời bệnh viện ra khỏi trung tâm thì chưa có đủ kinh phí. Nếu di chuyển rác đi nơi khác thì cần phương tiện chuyên chở chuyên dụng mà nếu muốn xử lý tại chỗ thì phải có công nghệ cao mới xử lý được khói. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Một số bệnh viện thậm chí dù có hệ thống xử lý nước thải nhưng lại “lơ là”, buông lỏng việc vận hành, bảo trì hệ thống dẫn đến quá tải, xuống cấp rồi ngừng hoạt động. Nguy hiểm nhất là các bệnh phẩm từ các phòng điều trị, phòng mổ, khoa lây, khí thoát ra từ các kho chứa, nhất là kho chứa radium, khí hơi từ các lò thiêu; tiếp đó là các chất thải hóa chất sinh ra độc hại và nước thải y tế. Qua các xét nghiệm cho thấy, mỗi một gram bệnh phẩm nếu không được xử lý thì sẽ truyền 11 tỷ vi khuẩn gây bệnh ra ngoài.

Trước kia, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế nguy hại có đến 92,5% số cơ sở y tế thực hiện ký hợp đồng với Công ty cổ phần Môi trường đô thị và Công nghiệp (URENCO). Tuy nhiên, theo các cơ quan chức năng, việc quản lý chất thải y tế ở một số cơ sở thực hiện chưa đúng quy định của pháp luật; kinh phí cho các hoạt động xử lý chất thải y tế còn hạn hẹp dẫn đến xử lý chậm.

Trong khi đó nhân lực làm công tác bảo vệ môi trường của các bệnh viện chưa đáp ứng được yêu cầu, hầu hết là kiêm nhiệm. Mặt khác, phương tiện thu gom chất thải rắn nói chung, chất thải y tế nguy hại nói riêng như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ.

Chính vì vậy, thời điểm cuối năm 2015, Sở Y tế Hà Nội đã thành lập đoàn kiểm tra, giám sát về công tác quản lý chất thải y tế, quản lý vệ sinh lao động, sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp tiến hành kiểm tra tại 32 đơn vị, bao gồm 30 Trung tâm y tế (TTYT) quận, huyện, thị xã và Bệnh viện đa khoa Đức Giang, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec:

Qua công tác kiểm tra cho thấy với các bệnh viện việc chấp hành công tác quản lý chất thải bảo vệ môi trường thực hiện tương đối tốt. Tuy nhiên với khối trung tâm y tế (TTYT), mới chỉ có 7/30 đơn vị thực hiện đánh giá tác động môi trường, 2/30 đơn vị quan trắc môi trường định kỳ, 2/30 đơn vị đăng ký chủ nguồn xả thải nguy hại.

Đối với hoạt động phân loại, thu gom, xử lý chất thải rắn y tế, tất cả 32 đơn vị tổ chức phân loại, thu gom tại nguồn, tuy nhiên một số đơn vị thu gom chưa đúng mã màu quy định. Để xử lý chất thải rắn nguy hại có 6 đơn vị có lò đốt để xử lý tại chỗ, còn lại 26 đơn vị ký hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý. Phương tiện vận chuyển chuyên dụng chất thải y tế nguy hại chỉ có hai đơn vị là Trung tâm Y tế Sóc Sơn, Bệnh viện đa khoa quốc tế Vinmec có đầy đủ theo đúng quy định. Về lưu giữ rác thải, chỉ có 14/32 đơn vị có nhà lưu giữ rác nhưng năm nhà trong số 14 nhà đó nhà lưu giữ rác còn thiếu cửa và thiếu khóa.

Đối với chất thải lỏng: chỉ có 2 bệnh viện có hệ thống xử lý còn lại 27 Trung tâm Y tế quận, huyện, thị xã chưa có hệ thống xử lý nước thải hiện đại mà chỉ xử lý tại chỗ bằng cloramin B hoặc vôi bột sau đó xả thải ra môi trường. 43/51 phòng khám đa khoa ở 30 Trung tâm Y tế quận, huyện đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải, 3/4 nhà hộ sinh được đầu tư hệ thống xử lý nước thải, các nhà hộ sinh còn lại sử dụng phương pháp xử lý bằng hóa chất trước khi thải ra môi trường. Về cơ bản biện pháp này vẫn đảm bảo được vệ sinh nguồn nước và môi trường, song nếu quá trình xử lý nước thải chưa sạch, không được giám sát thường xuyên rất dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm, nhiều chất độc hại trong nước thải y tế chưa được xử lý kỹ đã đổ vào môi trường, là nguồn lây truyền bệnh rất nguy hiểm. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Vì vậy, để khắc phục những hạn chế, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị 05/CT-BYT yêu cầu giám đốc các sở y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thủ trưởng các Bộ, ngành tiếp tục tăng cường công tác tham mưu thực hiện công tác quản lý nhà nước về quản lý chất thải, bảo vệ môi trường, Sở Y tế Hà Nội đã chỉ đạo 100% các đơn vị đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ nhân viên về công tác quản lý chất thải y tế. Theo ông Nguyễn Văn Dung, Phó Giám đốc Sở Y tế Hà Nội cho biết, để quản lý chất thải y tế một cách chặt chẽ Sở đã yêu cầu các đơn vị y tế công lập và ngoài công lập xây dựng kế hoạch cụ thể và thực hiện nghiêm túc quy định về quản lý chất thải y tế; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy thực hiện, quy định và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên; rà soát toàn bộ các trang thiết bị y tế, thiết bị chuyên môn, phương tiện vận tải nhằm đảm bảo an toàn. Đối với chất thải rắn, bước đầu các đơn vị y tế đã thực hiện phân loại chất thải ngay từ khoa, phòng và thu gom ít nhất 1 lần/ngày. Hầu hết các đơn vị đã ký hợp đồng vận chuyển, tiêu hủy chất thải với công ty môi trường. Sở cũng tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác quản lý chất thải y tế, bảo vệ môi trường nhằm phát hiện kịp thời, ngăn chặn các hành vi vi phạm về quản lý chất thải và bảo vệ môi trường trong cơ sở y tế và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Đồng thời tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cũng như năng lực chuyên môn cho các nhân viên y tế trong xử lý chất thải tại các cơ sở khám chữa bệnh.

2.2.3 Thực trạng tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức: Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Dưới đây là một số thống kê về công tác áp dụng pháp luật về quản lý chất thải y tế, cụ thể là đối với chất thải rắn y tế – loại chất thải chiếm tỉ lệ chủ yếu trong lượng chất thải y tế được phát sinh, tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức (sau đây gọi tắt là Bệnh viện Việt Đức) tại địa chỉ số 40 – Tràng Thi – Hoàn Kiếm – Hà Nội, một trong những bệnh viện đầu ngành của y tế Hà Nội. Các số liệu đều được lấy theo Kết quả khảo sát 6 tháng cuối năm 2013 nằm trong “Báo cáo tổng kết năm 2103” của Bệnh viện Việt Đức.

Theo kết quả khảo sát tại bệnh viện Việt Đức, số lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh mỗi ngày trung bình là 608 kg/ngày, trong đó chất thải lây nhiễm là 512 kg/ngày chiếm 84,21%; chất thải hóa học là 96 kg/ngày chiếm 15,79%; không có chất thải phóng xạ.

BẢNG 2.2. THÀNH PHẦN VÀ SỐ LƯỢNG PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI

Theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT quy định về mã màu sắc của túi/thùng đựng chất thải y tế thì: túi màu vàng là thu gom chất thải lây nhiễm, túi màu đen là thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm gồm có chất thải hóa học nguy hại. Kết quả được khảo sát ở cả 28 khoa của bệnh viện thì đối với chất thải lây nhiễm có 5 khoa phân loại sai chiếm 17.9%; đối với chất thải hóa học nguy hại có 2 khoa phân loại sai chiếm 7,14%.

Về thực trạng dụng cụ thu gom chất thải rắn y tế lây nhiễm, tại thời điểm khảo sát toàn bệnh viện có 60 dụng cụ được sử dụng để thu gom chất thải lây nhiễm nhưng trong đó chỉ có 20% thùng thu gom có in vạch quy định mức tối đa và 76,6% có sử dụng túi màu vàng dành cho thu gom chất thải lây nhiễm, tình trạng thùng thu gom bị dập vỡ chiếm 5%; tỷ lệ thùng có nắp đậy mới đạt 80% trong khi với tính chất đặt thù của chất thải là có khả năng lây nhiễm yêu cầu tất cả các thùng đựng chất thải lây nhiễm đều phải có nắp đậy.

Đối với công tác vận chuyển, lưu trữ chất thải rắn y tế nguy hại về kho rác của bệnh viện theo kết quả thông kê có tất cả 7 xe đều là xe chuyên dụng có thành, đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô nhưng chỉ có 4/7 xe là có nắp đậy. Chất thải y tế sau khi được phân loại sẽ thu gom tại nơi lưu giữ tạm thời của mỗi khoa, phòng sau đó mới được nhân viên làm sạch và hộ lý của các khoa vận chuyển về nơi lưu giữ chất thải tập trung của bệnh viện. Theo khảo sát có đến 40% số khoa phòng tại bệnh viện vẫn lưu giữ chất thải thông thường với chất thải rắn y tế nguy hại trong cùng một kho do khó khăn về cơ sở hạ tầng, bệnh viện nằm trong khu phố cổ với diện tích thiếu thốn, nhiều khoa như khoa khám bệnh chưa có kho rác nên chất thải lại được xếp tại một góc hành lang khu vực ngồi chờ khám bệnh. Đối với thời gian lưu chưa cả hai bệnh viện đều thực hiện tuân thủ chính xác. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Về thực trạng xử lý chất thải rắn y tế nguy hại được tổng hợp qua bảng sau:

BẢNG 2.3. KẾT QUẢ KHẢO SÁT BIỆN PHÁP XỬ LÝ VÀ TIÊU HỦY CHẤT THẢI RẮN Y TẾ NGUY HẠI

Theo như kết quả trên thì bệnh viện đã có lò đốt chất thải y tế nhưng do chất lượng lò đốt bị xuống cấp và hư hỏng nên bệnh viện đã ngưng sử dụng lò đốt trong những năm gấn đây. Hiện nay toàn bộ chất thải rắn của bệnh viện đều thuê và ký hợp đồng xử lý bên ngoài với Công ty môi trường và đô thị công nghiệp Urenco 10.

Khi khảo sát về kiến thức hiểu biết chung về pháp luật quản lý chất thải y tế thì 100% đối tượng là trưởng khoa đều có mức hiểu biết rất tốt, tuy nhiên đối tượng có mức độ ảnh hưởng lớn nhất về hiệu quả công tác phân loại tại nguồn và thu gom nguồn chất thải này là cán bộ y tế và nhân viên thu gom có mức độ hiểu biết một cách đầy đủ nhất về các kiến thức quản lý chất rắn y tế nguy hại còn thấp: tỉ lệ hiểu biết của cán bộ y tế là 55,28% trên tổng số người được hỏi, tỉ lệ của nhân viên thu gom còn thấp hơn cả là 50% trên tổng số người được hỏi. Như vậy vấn đề nâng cao hiểu biết ở bệnh viện là thật sự cần thiết, cần phải thực hiện thường xuyên các công tác tập huấn, đào tạo định kỳ về các hiểu biết quản lý chất thải y tế.

Trên đây là một trong số thống kê cơ bản chỉ về tình hình quản lý chất thải rắn ở các bệnh viện Việt Đức. Cũng đã có những điểm thực hiện tốt các quy định của pháp luật nhưng bên cạnh đó còn có nhiều sai sót trong quá trình hoạt động quản lý, ví dụ nổi cộm lên chính là việc thiếu hiểu biết của những người trực tiếp thực hiện các hoạt động thu gom phân loại chất thải y tế. Đối với một bệnh viện hàng đầu cả nước nhưng sự hiểu biết về chất thải y tế vẫn còn đang ở mức thấp thì đúng là vấn đề cần lưu tâm đối với các nhà quản lý.

Sự cố “tuồn” chất thải y tế của Bệnh viện Bạch Mai Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Chắc hẳn khi nói về chất thải y tế chúng ta chưa thể quên được vụ việc về chất thải y tế được “tuồn” ra từ bệnh viện Bạch Mai, một trong những bệnh viện lớn nhất cả nước sáng ngày 8/1/2016 được đưa lên hàng loạt các trang báo mạng lớn nhỏ đã làm rúng động cả dư luận. Sự việc bắt đầu từ khi một đoạn clip được tung lên các trang báo về thông tin hàng chục tấn rác thải y tế độc hại đang được “âm thầm” sơ chế tại Bệnh viện Bạch Mai. Theo đó, những phế phẩm vô cùng nguy hại này được tái chế thành sản phẩm nhựa tại những cơ sở sản xuất thủ công ngay ngoại thành Hà Nội, và rất có thể chúng trở thành những chiếc thìa nhựa, cốc nhựa mà người dân vẫn sử dụng hằng ngày. Ngay đến buổi chiều cùng ngày, bệnh viện Bạch Mai đã phải tổ chức họp báo thông tin về vụ việc, theo lãnh đạo bệnh viện, mỗi ngày bệnh viện thải ra môi trường 5,5 tấn rác thải, trong đó có 4,7 tấn rác thải thông thường và rác thải y tế có thể tái chế, ngoài ra còn có 800 kg rác thải độc hại và gần đây Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn giữ lại một phần để thử nghiệm quá trình xử lý diệt khuẩn tại bệnh viện giúp nó trở thành rác thải bình thường trước khi giao lại cho bên công ty xử lý rác thải. Những hình ảnh báo chí ghi được là một số quy trình trong giai đoạn xử lý trên. Nhân viên phải phân loại rác thải, dùng kéo cắt dây truyền máu; các xilanh phải bị làm vỡ, dây truyền phải được cắt đi để diện tích tiếp xúc với nhiệt lớn nhất mới có hiệu quả diệt khuẩn cao. Còn đối với quy trình xử lý rác lây nhiễm bằng máy thô sơ giống như tại các cửa hàng đồng nát, thì lãnh đạo bệnh viện cho biết việc làm biến dạng rác thải không phải là công nghệ, về lâu dài sẽ cần nhập máy móc đắt tiền để thực hiện công đoạn này còn hiện nay mới chỉ thử nghiệm nên chưa đủ điều kiện. Quay lại thời gian tháng 4/2014, bệnh viện Bạch Mai cũng đã từng bị các phóng viên, nhà báo ghi lại việc đem rác thải y tế mang ra ngoài, khi đó câu trả lời của lãnh đạo bênh viện thừa nhận có chuyện mang rác thải y tế đem ra ngoài bán nhưng đó là do các đối tượng bên ngoài ăn trộm rác, mang ra ngoài bán chứ không phải nhân viên trong bệnh viện thực hiện. Sự thật ở cả hai lần như thế nào, ai đúng ai sai thì chúng ta chưa thể biết rõ vì thực sự sau khi sự việc xảy ra cũng chỉ có ban lãnh đạo bệnh viện cử đoàn cán bộ của bệnh viện xuống kiểm tra, yêu cầu dừng nghiên cứu lại, kỷ luật các cán bộ có liên quan. Nhưng rõ ràng rằng, qua cả hai lần sự cố có thể đánh giá được một vấn đề nghiêm trọng: việc tuân thủ các quy định pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất thải y tế tại một trong những bệnh viện lớn nhất cả nước đang ở mức quá lỏng lẻo, hạ tầng cơ sở vật chất trong các quá trình xử lý đang ngày một xuống cấp nghiêm trọng. Chất thải y tế là một trong những nguồn chất thải gây nên nhiều ảnh hưởng tới môi trường và cuộc sống con người nên phải được quan tâm sát sao và có các biện pháp quản lý mang lại hiệu quả.

Mặc dù tại Hà Nội hiện nay chưa có vụ việc nào về xử lý vi phạm hành chính đối với việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất thải y tế được công khai các thông tin trên báo chí truyền thông nhưng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam đã có những vụ việc diễn ra trên các địa bàn Tây Ninh, Bình Phước. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Vào tháng 07/2015, vụ việc bệnh viện đa khoa tư nhân Lê Ngọc Tùng ở tỉnh Tây Ninh chôn lậu hơn 63 tấn rác thải y tế nguy được phát hiện, theo quy định tại điểm h khoản 9 điều 21 và điều 10, điều 11 Nghị định 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì hành vi chôn lấp, đổ, thải chất thải nguy hại không đúng quy định về bảo vệ môi trường bị phạt tiền từ 700 triệu đến 800 triệu đồng đối với trường hợp chôn lấp, đổ, thải từ 5.000 kg trở lên chất thải nguy hại có chứa các thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại hoặc từ 20.000kg trở lên đối với chất chất thải nguy hại có chứa các thành phần nguy hại khác. Ngoài ra có thể bị đình chỉ hoạt động của cơ sở từ 6 – 12 tháng, khắc phục môi trường. Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 cũng quy định người đứng đầu bệnh viện có trách nhiệm xử lý chất thải rắn y tế đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về xử lý chất thải rắn y tế nguy hại thì Giám đốc bệnh viện phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật. Theo đánh giá của các cơ quan nhà nước đây là một vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất tại địa phương từ trước đến nay, bệnh viện có khả năng bị phạt ít nhất 1 tỷ đồng và đình chỉ hoạt động có thời hạn.

Tiếp đến, ngày 26/12/2015, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49), Công an tỉnh Bình Phước cho biết vừa phát hiện hàng loạt bệnh viện trên địa bàn có hành vi chôn lậu rác thải y tế nguy hại. Bao gồm: Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước (phát hiện 4 hố chôn chất thải y tế nguy hại (bơm, kim tiêm, vỏ chai đựng thuốc, mảnh vỡ thủy tinh, dây dịch truyền…) lên đến hàng chục tấn ngay phía sau bệnh viện); bệnh viện đa khoa thị xã Phước Long (phát hiện khoảng 600 kg chất thải y tế mới chôn lấp), bệnh viện đa khoa Thánh Tâm (khoảng 1,6 tấn chất thải), bệnh viện đa khoa huyện Bù Đăng (phát hiện chôn 3,6 tấn rác thải y tế nguy hại trong khuôn viên). PC49 đã buộc bệnh viện đào đưa toàn bộ số chất thải y tế này lên khỏi hố chôn để xử lý theo đúng quy định; đồng thời lấy mẫu nước thải y tế bệnh viện chảy ra môi trường không qua xử lý và các mẫu rác thải y tế đưa đi xét nghiệm để xác định mức độ ô nhiễm.

Cũng theo PC49, trước những sai phạm trên, mới đây Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước đã ban hành xử phạt Bệnh viên đa khoa Thị xã Phước Long 150 triệu đồng, phạt Bệnh viện đa khoa Thánh Tâm 200 triệu đồng… Hiện Bệnh viện đa khoa Phước Long, Bệnh viện đa khoa Thánh Tâm và Bệnh viện đa khoa huyện Bù Đăng (phát hiện chôn 3,6 tấn rác thải y tế nguy hại trong khuôn viên BV) đã ký hợp đồng xử lý toàn bộ số lượng chất thải y tế nguy hại vi phạm. Khi được hỏi về lý do dẫn đến các hành vi trên, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Bình Phước đã trả lời trước báo chí rằng nguyên nhân chính là do việc đầu tư khu xử lý chất thải y tế nguy hại rất khó vì không có kinh phí để thực hiện.

Kết luận: Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

Qua nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế hiện nay tại các bệnh viện hoạt động trên địa bàn Hà Nội nói riêng và ở Việt Nam nói chung hiện nay, tác giả nhận thấy việc chấp hành các quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế đều gặp phải khó khăn và chưa thực sự hiệu quả là do một số nguyên nhân chính sau:

  • Do nguồn kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải nguy hại còn hạn hẹp trong khi việc xử lý đòi hỏi phải có đầu tư cao về vốn và công nghệ khiến nhiều cơ sở y tế không có đủ tiềm lực để xây dựng.
  • Những hệ thống cũ của các cơ sở y tế được xây dựng từ lâu và đa phần đã xuống cấp không đủ khả năng để xử lý dẫn đến tình trạng tồn đọng rác thải và gây khó khăn cho công tác xử lý.
  • Nhân viên tại các cơ sở y tế chưa được đào tạo bài bản về chuyên môn nghiệp vụ dẫn tới việc vận hành cũng như phân loại rác thải chưa đúng với các quy định của pháp luật.
  • Người dân đi khám chữa bệnh vẫn chưa hiểu hết được sự nguy hại của các chất thải y tế, ngoài ra nhận thức đối với việc bảo vệ môi trường vẫn còn đang ở mức thấp.

Để giải quyết các vấn đề trên một số phương án giải quyết cần làm bao gồm:

  • Tăng cường hoạt động thanh tra kiểm tra của các Sở ban ngành địa phương
  • Cải thiện hệ thống phân loại, thu gom, lưu giữ, xử lý chất thải y tế hiện nay bằng các phương pháp đơn giản có thể thực hiện được trước mắt.
  • Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý chất thải y tế cho đồng bộ, không lan man, tăng cường quy định chi tiết thêm cho một số vấn đề khác.
  • Tìm kiếm các giải pháp tăng cường nguồn vốn cho công tác quản lý chất thải y tế ở cơ sở y tế
  • Ứng dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào trong quá trình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế.
  • Đào tạo các cán bộ nhân viên tại các cơ sở y tế về các vấn đề liên quan đến quản lý chất thải y tế

Nâng cao nhận thức của người dân trong việc tự bảo vệ chính mình trước rác thải y tế. Khóa luận: Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Hà Nội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x