Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã từng bước hội nhập về kinh tế và thương mại với các nước khu vực và trên thế giới. Những biến đổi to lớn và sâu sắc trong nền kinh tế của đất nước đang tạo ra những thuận lợi cũng như những khó khăn thách thức. Để có thể tồn tại và phát triển các Doanh nghiệp phải có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là có lợi nhuận.

Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh phải có ba yếu tố cơ bản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Trong đó sức lao động là yếu tố có tính chất quyết định.

Lao động là hoạt động chân tay và hoạt động trí óc của con người nhằm biến đổi các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm cần thiết thỏa mãn nhu cầu của xã hội. Lao động là điều kiện đầu tiên cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Xã hội càng phát triển, tính chất quyết định của lao động đối với quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội càng biểu hiện rõ rệt.

Đi liền với lao động là phạm trù tiền lương, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí sức lao động của mình trong quá trình sản xuất nhằm tái sản xuất sức lao động, đáp ứng nhu cầu của người lao động về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nhu cầu về mặt vật chất cũng như tinh thần. Mặt khác tiền lương còn là bộ phận quan trọng cấu thành nên chi phí – giá thành sản phẩm. Do đó tiền lương trong các doanh nghiệp cần phải được sử dụng hiệu quả, hợp lý, một mặt phải đảm bảo nguyên tắc trả công theo lao động, mặt khác phải đảm bảo tiết kiệm, giảm chi phí trong giá thành. Đó không chỉ là yêu cầu mà còn là mục tiêu đối với mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Đối với người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu, giúp họ nuôi sống bản thân đảm bảo cuộc sống gia đình. Một chính sách tiền lương hợp lý sẽ khuyến khích người lao động yên tâm và hăng say làm việc.

Sau một quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng, được tìm hiểu về hoạt động sản xuất – kinh doanh của Công ty và trực tiếp làm việc với tập thể cán bộ CNV, em nhận thấy Công ty đã đạt được một số thành tựu đáng kể trong sản xuất – kinh doanh nói chung, công tác tiền lương nói riêng. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội thì Công ty cũng ngày càng một lớn mạnh, sản phẩm quạt điện “ Phong Lan” đã trở nên quen thuộc với người dân Hải Phòng cũng như người dân các Tỉnh, Thành phố lân cận. Công ty cũng rất chú trọng đến đời sống của cán bộ CNV, nhất là việc trả lương đầy đủ cho người lao động. Song bên cạnh những thành tựu đó, công tác tiền lương tại Công ty vẫn còn tồn tại một số vướng mắc.

Nhận thức đúng vai trò của việc hạch toán tiền lương, trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng, cùng với những kiến thức được trang bị tại trường và được sự quan tâm hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Lê Thị Nam Phương và các anh chị trong phòng kế toán Công ty, em mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu và hoàn thiện chuyên đề: “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng”.

Nội dung bài khóa luận gồm ba phần như sau:

  • Phần I. Những vấn đề lý luận chung về tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp.
  • Phần II. Thực trạng tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng.
  • Phần III. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tiền lương tại công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng.

PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

1.1.Những vấn đề chung về tổ chức kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

1.1.1.Sự cần thiết phải tổ chức kế toán tiền và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

Quá trình phát triển của xã hội loài người dưới bất kỳ chế độ nào, việc tạo ra của cải vật chất đều không tách rời lao động. Lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc sử dụng công cụ lao động, biến đối tượng lao động thành các sản phẩm có ích phục vụ cho cuộc sống. Vì vậy một doanh nghiệp, một xã hội được coi là phát triển khi lao động có năng suất, có chất lượng và hiệu quả kinh tế cao.

Lao động không chỉ là tiền đề cho sự tiến hóa của loài người mà còn là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của quá trình sản xuất. Do vậy trong các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp thì yếu tố con người luôn đặt ở vị trí hàng đầu, người lao động chỉ phát huy hết khả năng của mình khi sức lao động mà họ bỏ ra được đền bù xứng đáng dưới hình thức tiền lương và các khoản trợ cấp thuộc BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ, như ốm đau, thai sản….Mặt khác tiền lương cũng là đòn bẩy kinh tế quan trọng để quản lý lao động, quản lý tài chính, khuyến khích người lao động nhiệt tình, có trách nhiệm trong công việc từ đó mới đảm bảo chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất – kinh doanh. Bởi vậy không ngừng nâng cao mức sống của người lao động là động lực quan trọng để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.

Dưới mọi hình thức kinh tế xã hội tiền lương luôn được coi là bộ phận quan trọng của giá trị hàng hóa. Nó chịu tác động của nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội, lịch sử. Ngược lại tiền lương cũng tác động đối với phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và ổn định chế độ chính trị xã hội.

Chính vì thế không chỉ ở tầm vĩ mô là Nhà nước mà ngay cả người chủ sản xuất, người lao động đều quan tâm tới chính sách tiền lương. Chính sách tiền lương phải thường xuyên được đổi mới cho phù hợp với điều kiện kinh tế chính trị xã hội của từng nước trong từng thời kỳ.

1.1.2. Khái niệm và bản chất của tiền lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

1.1.2.1.Khái niệm tiền lương

Trong sản xuất kinh doanh tiền lương là một yếu tố quan trọng của chi phí sản xuất, nó có quan hệ trực tiếp và có tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp.

Để xác định tiền lương, tiền công hợp lý cần phải có cơ sở tính đúng, tính đủ giá trị của sức lao động. Đó là giá trị của các yếu tố đảm bảo quá trình tái sản xuất sức lao động, đảm bảo cho người lao động hòa nhập với thị trường xã hội.

Để có nhận thức đúng về tiền lương, phù hợp với cơ chế quản lý mới khái niệm tiền lương phải đáp ứng một số yêu cầu sau:

Quan niệm sức lao động là một hàng hoá của thị trường yếu tố sản xuất. Tính chất hàng hoá của sức lao động có thể bao gồm không chỉ lực lượng lao động làm việc trong khu vực, lĩnh vực SX-KD thuộc sở hữu nhà nước mà cả đối với công chức, viên chức trong quản lí nhà nước, quản lí xã hội. Tuy nhiên do những đặc thù riêng trong việc sử dụng lao động của từng khu vực kinh tế và quản lý mà các quan hệ thuê mướn, mua bán, hợp đồng lao động cũng khác nhau.

Tiền lương là tiền trả cho sức lao động tức là giá cả hàng hoá sức lao động mà người sử dụng (nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, các doanh nghiệp…) và người cung cấp thoả thuận với nhau theo quy luật cung cầu, giá cả trên thị trường lao động.

Tiền lương là bộ phận cơ bản trong thu nhập của người lao động. Đồng thời là một trong các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp.

Nền kinh tế thị trường càng phát triển và được xã hội hoá cao thì quan hệ cung ứng và sử dụng sức lao động trên tất cả các lĩnh vực trở nên linh hoạt hơn, tiền lương trở thành nguồn thu nhập duy nhất, là mối quan tâm và động lực lớn nhất với mọi đối tượng cung ứng sức lao động. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Cùng với khái niệm trên, tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương. Tiền công gắn trực tiếp hơn với các quan hệ thoả thuận, mua bán sức lao động và thường sử dụng trong lĩnh vực SX – KD, các hợp đồng thuê có thời hạn.

Tiền công còn là tiền trả cho một đơn vị thời gian lao động cung ứng, tiền trả cho khối lượng công việc được thực hiện phổ biến trong những thoả thuận thuê nhân công trên thị trường tự do và có thể gọi là giá công lao động.

Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm về tiền lương như sau: “Tiền lương (hay tiền công) là số tiền thù lao lao động được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng công việc của họ trong quá trình sản xuất kinh doanh”.

Nói chung, khái niệm tiền lương có tính phổ quát hơn và cùng với nó là một loạt các khái niệm: tiền lương danh nghĩa, tiền lương thực tế, tiền lương tối thiểu.

Tiền lương danh nghĩa: Là khái niệm chỉ số lượng tiền tệ mà người sử dụng sức lao động căn cứ vào hợp đồng thoả thuận giữa hai bên trong việc thuê lao động. Trên thực tế. Mọi mức lương trả cho người lao động đều là lương danh nghĩa.Song bản thân tiền lương danh nghĩa lại chưa có thể cho ta một nhận thức đầy đủ về mức tiền công thực tế cho người lao động.

Tiền lương thực tế: Là số lượng tư liệu sinh hoạt và dịch vụ sinh hoạt và dịch vụ người lao động có thể mua được bằng tiền lương của mình, sau khi đã đóng các khoản thuế theo quy định của Chính phủ.

Tiền lương tối thiểu: Được xem là cái ngưỡng cuối cùng, để từ đó xây dựng các mức lương khác, tạo thành hệ thống tiền lương. Với quy định như vậy mức lương tối thiểu được coi là yếu tố rất quan trọng của một chính sách tiền lương, nó liên hệ chặt chẽ với 3 yếu tố: Mức sống trung bình của dân cư một nước, chỉ số giá cả hàng hoá sinh hoạt, loại lao động và điều kiện lao động.

1.1.2.2.Bản chất của tiền lương

Trong nền kinh tế bao cấp, tiền lương không phải là giá cả sức lao động, vì nó không được thừa nhận là hàng hóa, không ngang giá trị theo quy luật cung cầu. Thị trường lao động theo danh nghĩa không tồn tại trong nền kinh tế quốc dân và phụ thuộc vào quy định của Nhà nước.

Chuyển sang cơ chế thị trường thì sức lao động là một hàng hóa của thị trường yếu tố sản xuất. Tuy nhiên do đặc thù riêng trong việc sử dụng lao động của từng khu vực mà quan hệ thuê mướn, mua bán hợp đồng, thỏa thuận về tiền lương cũng khác nhau. Mặt khác tiền lương là tiền trả cho sức lao động tức giá cả hàng hóa sức lao động mà người lao động và người thuê lao động thỏa thuận với nhau theo quy luật cung cầu, giá cả thị trường. Tiền lương là bộ phận cơ bản của người lao động.

Tiền lương là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh và đối với chủ doanh nghiệp thì tiền lương là một phần cấu thành chi phí nên nó được tính toán, quản lý chặt chẽ.

Đối với người lao động thì tiền lương là thu nhập từ lao động của họ, là phần thu nhập chủ yếu đối với đa số người lao động và chính mục đích này đã tạo ra động lực cho người lao động nâng cao trình độ và khả năng làm việc của mình.

1.1.3. Vai trò và ý nghĩa của tiền lương

1.1.3.1.Vai trò của tiền lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Vai trò là đòn bẩy kinh tế trong sản xuất – kinh doanh, kích thích của tiền lương: Vì động cơ của tiền lương, người lao động phải có trách nhiệm cao trong công việc, tiền lương phải tạo ra được sự say mê nghề nghiệp, không ngừng nâng cao trình độ về chuyên môn và các lĩnh vực khác.

Vai trò điều phối lao động của tiền lương: Với tiền lương thỏa đáng người lao động tự nguyện nhận mọi công việc được giao dù ở đâu, làm gì hay bất cứ khi nào trong điều kiện sức lực và trí tuệ của họ cho phép.

Vai trò quản lý lao động của tiền lương: Doanh nghiệp sử dụng công cụ tiền lương còn với mục đích khác là thông qua theo dõi trả lương mà kiểm tra theo dõi giám sát người lao động làm việc theo ý đồ của mình, đảm bảo tiền lương chi ra phải đem lại kết quả và hiệu quả rõ rệt.

Đối với doanh nghiệp, tiền lương là một yếu tố của chi phí sản xuất. Đối với người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu. Mục đích của người sử dụng lao động là lợi nhuận còn mục đích của người lao động là tiền lương.

Đối với người lao động, tiền lương nhận được thỏa đáng sẽ là động lực thúc đẩy năng lực sáng tạo để làm tăng năng suất lao động.

Mặt khác khi năng suất lao động tăng thì lợi nhuận sẽ tăng, do đó nguồn phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động nhận được cũng sẽ tăng lên, nó là phần bổ sung thêm cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích cho người lao động.

1.1.3.2.Ý nghĩa của tiền lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương có vai trò quan trọng, là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy mạnh mẽ sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động, tạo điều kiện cơ bản tái sản xuất sức lao động. Do đó tiền lương có ý nghĩa rất lớn với cả doanh nghiệp lẫn người lao động.

Đối với người lao động: Tiền lương là một bộ phận cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động giúp họ và gia đình trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết.

Không ngẫu nhiên mà tiền lương trở thành chỉ tiêu đầu tiên, quan trọng của người lao động khi quyết định làm cho một tổ chức nào đó.

Đối với doanh nghiệp: Tiền lương là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, cấu thành nên giá thành sản phẩm. Do đó thông qua các chính sách tiền lương có thể đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc sử dụng lao động.

Đối với xã hội: Tiền lương là một phần quan trọng của thu nhập quốc dân, là công cụ kinh tế quan trọng để Nhà nước điều tiết thu nhập giữa người lao động và người sử dụng lao động. Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự thịnh vượng và phát triển của một quốc gia.

1.1.4.Yêu cầu và nhiệm vụ của tiền lương

Tiền lương là một chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh và hạch toán vào giá thành sản phẩm. Do đó việc kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải đảm bảo tính chính xác, trung thực, hợp lý.

Tổ chức ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian lao động, kết quả lao động của từng người, từng bộ phận một cách chính xác, kịp thời.

Tính và phân bổ chính xác tiền lương và các khoản trích theo lương cho các đối tượng sử dụng.

Hướng dẫn, kiểm tra các nhân viên kinh tế phân xưởng và phòng ban liên quan thực hiện đầy đủ việc hạch toán ban đầu về lao động, tiền lương theo đúng quy định.

Lập báo cáo về lao động và tiền lương kịp thời, chính xác.

Tham gia phân tích tình hình quản lý, sử dụng lao động cả về số lượng, thời gian, năng suất. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động.

Phân tích tình hình quản lý, sử dụng quỹ tiền lương, xây dựng phương án trả lương hợp lý nhằm kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm.

1.2. Hạch toán số lượng, thời gian, kết quả lao động Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

1.2.1. Hạch toán số lượng lao động

Để quản lý lao động về mặt số lượng, các doanh nghiệp sử dụng sổ danh sách lao động. Sổ này do phòng Tổ chức hành chính – nhân sự lập( lập chung cho toàn doanh nghiệp và lập riêng cho từng bộ phận) để nắm bắt tình hình phân bổ, sử dụng lao động hiện có trong doanh nghiệp. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn căn cứ vào sổ lao động( mở riêng cho từng lao động) để quản lý nhân sự về số lượng và chất lượng lao động, về biến động và chấp hành chế độ với người lao động.

1.2.2. Hạch toán thời gian lao động

Muốn quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động cần phải tổ chức hạch toán việc sử dụng thời gian lao động.

Hạch toán thời gian lao động là công việc đảm bảo ghi chép kịp thời chính xác ngày công, giờ công làm việc thực tế cũng như ngày nghỉ việc, ngừng việc của từng lao động, từng bộ phận sản xuất, từng phòng ban trong doanh nghiệp. Trên cơ sở này tính lương phải trả cho người lao động. Bảng chấm công là chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời gian lao động.

1.2.3. Hạch toán kết quả lao động

Hạch toán kết quả lao động là nội dung quan trọng trong toàn bộ công tác quản lý và hạch toán lao động ở các doanh nghiệp. Công việc tiến hành là ghi chép chính xác kịp thời số lượng hoặc chất lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành của từng cá nhân, tập thể làm căn cứ tính lương và trả lương chính xác.

Để hạch toán kết quả lao động, kế toán sử dụng các loại chứng từ ban đầu khác nhau tùy theo từng loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp. Mặc dù sử dụng các mẫu chứng từ khác nhau nhưng các chứng từ này bao gồm các nội dung cần thiết như tên công nhân, tên công việc hay sản phẩm, thời gian lao động, số lượng sản phẩm hoàn thành nghiệm thu,….là các báo cáo về kết quả như:

Phiếu giao nhận sản phẩm, phiếu xác nhận sản phẩm, công việc hoàn thành, hợp đồng giao khoán, phiếu báo làm thêm giờ,…..

1.3. Các hình thức trả lương, quỹ lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

1.3.1. Các hình thức trả lương

Tiền lương trả cho người lao động phải quán triệt nguyên tắc phân phối lao động, trả theo số lượng và chất lượng. Việc trả lương theo số lượng và chất lượng có ý nghĩa rất to lớn trong việc động viên khuyến khích người lao động, thúc đẩy họ hăng say lao động, sáng tạo năng suất lao động nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất, nâng cao đời sống tinh thần vật chất cho mỗi công nhân viên.

Do ngành nghề công việc trong doanh nghiệp khác nhau nên việc chi trả lương cho các đối tượng cũng khác nhau như: trả lương theo sản phẩm, trả lương theo thời gian. Mỗi cách phân loại đều có tác dụng tích cực giúp cho quản lý điều hành được thuận lợi. Dựa vào nguyên tắc phân phối theo lao động và đặc điểm tính chất trình độ quản lý của doanh nghiệp mà doanh nghiệp trả lương theo hình thức sau:

  • Hình thức trả lương theo sản phẩm

Tiền lương theo sản phẩm là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ và số lượng, chất lượng sản phẩm họ làm ra và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm. Điều này thể hiện rõ sự kết hợp giữa thù lao lao động với kết quả sản xuất, giữa tài năng với việc sử dụng nâng cao năng suất máy móc để nâng cao năng suất lao động.

Việc trả lương theo sản phẩm có thể tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau như trả lương sản phẩm cá nhân trực tiếp, lương sản phẩm tập thể

  • Hình thức trả lương theo thời gian

Tiền lương trả theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và tiền lương bình quân ngày. Thường áp dụng cho lao động làm công tác văn phòng như: Ban lãnh đạo, lao động tại các phòng ban, các nhân viên bán hàng, bảo vệ, quản đốc….Tiền lương thời gian có thể được tính theo tháng – tuần – ngày – giờ làm việc của người lao động.

1.3.2. Quỹ lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Quỹ lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương mà doanh nghiệp trả cho tất cả lao động thuộc doanh nghiệp quản lý.

Thành phần quỹ lương bao gồm nhiều khoản như lương thời gian (tháng, tuần, ngày, giờ), Lương sản phẩm, phụ cấp (Cấp bậc, chức vụ, độc hại…), tiền thưởng trong sản xuất

Quỹ lương bao gồm nhiều loại và có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu như phân loại theo chức năng của lao động, phân theo hiệu quả của tiền lương.

1.3.3.Các khoản trích theo lương

Theo quy định hiện hành, bên cạnh chế độ tiền lương, tiền thưởng được hưởng trong quá trình lao động sản xuất – kinh doanh, người lao động còn được hưởng các khoản thuộc các quỹ: Bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), kinh phí công đoàn (KPCĐ) được hình thành chủ yếu từ hai nguồn: một phần do người lao động đóng góp, phần còn lại được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Các khoản trích theo lương là các khoản căn cứ vào tiền lương theo một tỉ lệ % nhất định để đưa vào các quỹ phục vụ cho hưu trí, khám bệnh và các hoạt động tổ chức công đoàn nhằm bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

  • Bảo hiểm xã hội (BHXH)

BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao đông, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.

Quỹ BHXH được hình thành do việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ.

Quỹ BHXH được trích lập nhằm trợ cấp cán bộ công nhân viên chức có tham gia đóng góp quỹ trong trường hợp mất khả năng lao động, cụ thể: Trợ cấp CNV ốm đau, thai sản, trợ cấp CNV khi bị tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp, khi về hưu, mất sức lao động, trợ cấp CNV về khoản tiền tuất, chi công tác quản lý quỹ BHXH.

Theo điều 91 Luật BHXH quy định mức đóng và phương thức đóng của người lao động như sau:

  • Hàng tháng người lao động sẽ đóng 5% mức tiền lương, tiền công vào quỹ hưu trí và tử tuất. Và từ năm 2027 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt đóng là 8%.
  • Riêng đối với người lao động hưởng tiền lương tiền công theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp thì phương thức đóng được thực hiện hàng tháng, hàng quý hoặc sáu tháng một lần.

Theo điều 92 Luật BHXH quy định mức đóng và phương thức đóng của người sử dụng lao động như sau:

  • Trích 3% vào quỹ ốm đau, thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ và thực hiện quyết toán hàng quý với tổ chức BHXH.
  • Trích 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
  • Trích 11% vào quỹ hưu trí và tử tuất. Và từ năm 2027 trở đi cứ hai năm một lần đóng thêm 1% cho đến khi đạt mức đóng là 14%. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Vậy từ ngày 01/01/2027, hàng tháng doanh nghiệp tiến hành trích lập quỹ BHXH theo tỷ lệ 22% trên tổng lương thực tế phải trả cán bộ công nhân viên chức trong tháng. Trong đó 16% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 6% trừ vào lương của người lao động.

Toàn bộ số trích BHXH được nộp lên cơ quan quản lý quỹ BHXH để chi trả các trường hợp nghỉ hưu mất sức lao động tại doanh nghiệp, hàng tháng doanh nghiệp trực tiếp chi trả qũy BHXH cho công nhân viên bị ốm đau, thai sản…trên cơ sở các chứng từ hợp lệ. Cuối tháng (quý) doanh nghiệp phải thanh toán với cơ quan quản lý quỹ BHXH.

  • Bảo hiểm y tế (BHYT)

BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tương có trách nhiệm tham gia theo quy đinh của Luật BHYT.

Quỹ BHYT được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên số tiền lương phải trả công nhân viên trong kỳ.

Theo luật BHYT thì mức trích lập tối đa của quỹ BHYT là 6% tiền lương, tiền công hàng tháng của người lao động, trong đó người lao động chịu 1/3( tối đa 2%), và người sử dụng lao động chịu 2/3( tối đa 4%).

Theo nghị định số 62/2026/NĐ-CP ban hành ngày 27/7/2026( Có hiêu lực thi hành ngày 01/10/2026) của Thủ tướng Chính phủ quy định mức trích lập BHYT từ ngày 01/01/2027 như sau: Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở nên người lao động và người quản lý lao động hưởng tiền lương( tiền công), cán bộ, công chức, viên chức, thì mức trích lập quỹ BHYT theo tỷ lệ 4,5% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả CNV trong tháng. Trong đó 3% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động; 1,5% trừ vào lương của người lao động. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Quỹ BHYT được trích lập để chi trả cho người lao động có tham gia đóng quỹ thông qua các hoạt động khám chữa bệnh. Toàn bộ quỹ BHYT được nộp lên cơ quan chuyên môn chuyên trách để quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế.

  • Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)

Theo Luật BHXH, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc áp dụng đối với đối tượng lao động và người sử dụng lao động như sau:

Người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp là công dân Việt Nam làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc mà các hợp đồng này không xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng đối với người sử dụng lao động.

Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh các thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và các nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động có sử dụng từ 10 lao động trở lên.

Quỹ BHTN được hình thành từ việc trích theo tỷ lệ quy định trên số tiền lương phải trả công nhân viên trong tháng.

Theo điều 102 Luật BHXH, quy định mức đóng như sau:

  • Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiệp
  • Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp
  • Hàng tháng Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm thất nghiêp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.

Theo chế độ hiện hành, doanh nghiệp trích lập quỹ BHTN theo tỷ lệ 2% trên tổng lương thực tế phải trả cán bộ công nhân viên chức trong tháng. Trong đó 1% tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động, 1% trừ vào lương của người lao động. Theo điều 81 Luật BHXH, điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Người lao động được hưởng BHTN khi có đủ điều kiện sau:

  • Đã đóng BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp
  • Đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức BHTN.
  • Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp.

Theo điều 82 Luật BHXH, mức trợ cấp thất nghiệp như sau:

Mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công hàng tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:

  • Ba tháng, nếu có từ đủ một năm đến dưới ba năm đóng bảo hiểm thất nghiệp.
  • Sáu tháng, nếu có từ đủ ba năm đến dưới sáu năm đóng bảo hiểm thất nghiệp.
  • Chín tháng, nếu có từ đủ sáu năm đến dưới mười hai năm đóng bảo hiểm thất nghiệp
  • Mười hai tháng, nếu có từ mười hai năm đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.

Quỹ BHTN được sử dụng:

  • Chi trả trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho người lao động được hưởng chế độ BHTN.
  • Chi hỗ trợ học nghề cho người lao động đang được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng với thời gian không quá 6 tháng.
  • Chi hỗ trợ tìm việc làm.
  • Chi đóng BHYT cho người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng.

Kinh phí công đoàn (KPCĐ)

Được hình thành từ việc trích lập theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả CNV trong kỳ. Hàng tháng doanh nghiệp trích 2% trên tổng số tiền lương thực tế phải trả CNV trong tháng và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh của các đối tượng sử dụng lao động.

Toàn bộ KPCĐ trích một phần nộp lên cơ quan công đoàn cấp trên, một phần để lại doanh nghiệp để chi tiêu cho hoạt động công đoàn tại doanh nghiệp.

Kinh phí công đoàn được trích lập để chi tiêu phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

1.4.Tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp

1.4.1.Tổ chức kế toán tiền lương Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Dựa trên cơ sở các chứng từ hạch toán thời gian lao động, kết quả lao động và các chứng từ khác có liên quan kế toán tiền lương tiến hành tính lương sau khi kiểm tra các chứng từ trên. Công việc tính lương, tính thưởng và các khoản khác phải trả cho người lao động theo hình thức lương đang áp dụng tại doanh nghiệp, kế toán tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương, bảng thanh toán tiền thưởng.

Bảng thanh toán tiền lương là chứng từ làm căn cứ thanh toán lương, phụ cấp cho người lao động làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh. Bảng thanh toán lương được thanh toán cho từng bộ phận tương ứng với bảng chấm công.

Trong bảng thanh toán tiền lương, mỗi công nhân được ghi một dòng căn cứ vào bậc lương, mức lương, thời gian làm việc để tính lương cho từng người. Sau đó kế toán tiền lương lập bảng thanh toán tiền lương tập hợp cho toàn doanh nghiệp, tổ đội , phòng ban.

Bảng thanh toán tiền lương cho doanh nghiệp sẽ chuyển sang cho kế toán trưởng, thủ trưởng đơn vị ký duyệt. Trên cơ sở đó kế toán viết phiếu chi và thanh toán lương cho từng bộ phận.

Việc thanh toán lương cho người lao động được chia làm hai kỳ trong tháng:

  • Kỳ 1: Tạm ứng.
  • Kỳ 2: Thanh toán phần còn lại sau khi đã trừ đi các khoản khấu trừ theo chế độ quy định.

Tiền lương được trả tận tay người lao động hoặc tập thể lĩnh lương đại diện do thủ quỹ phát. Khi nhận các khoản thu nhập, người lao động phải ký vào bảng thanh toán tiền lương.

Đối với người lao động nghỉ phép vẫn được hưởng lương thì phần lương này cũng được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Việc nghỉ phép thường đột xuất, không đều đặn giữa các tháng trong năm do đó cần thiết phải trích trước tiền lương nghỉ phép cho công nhân vào chi phí của từng kỳ hạch toán. Như vậy sẽ không làm giá thành sản phẩm bị biến đổi đột ngột.

Các chứng từ ban đầu được sử dụng để tính tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp cũng là cơ sở để tính trích quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ bởi vì các khoản này tính theo % của tiền lương và các khoản thu nhập khác của người lao động. Ngoài ra, khi người lao động được hưởng BHXH, kế toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người.

Cuối tháng kế toán căn cứ vào các chứng từ tính lương và các khoản trích theo lương để lập “Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương”, cho toàn doanh nghiệp. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

1.4.1.1.Chứng từ kế toán sử dụng

Để hạch toán kết quả lao động, kế toán sử dụng các lọai chứng từ như:

  • Bảng chấm công (mẫu số 01 – LĐTL)
  • Bảng thanh toán tiền lương (mẫu số 02 – LĐTL)
  • Bảng thanh toán tiền thưởng (mẫu số 03 – LĐTL)
  • Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành (mẫu số 05 – LĐTL)

1.4.1.2.Tài khoản kế toán sử dụng

  • TK 334: Phải trả người lao động, TK chi tiết gồm:
  • TK 3341: Phải trả công nhân viên
  • TK 3348: Phải trả người lao động khác

Tài khoản này được dùng để phản ánh các khoản phải trả và tình hình thanh toán các khoản phải trả cho người lao động của doanh nghiệp về tiền lương, tiền công, tiền thưởng, BHXH và các khoản phải trả khác thuộc thu nhập của người lao động.

  • Nội dung kết cấu của TK 334

1.4.1.3.Trình tự hạch toán

  • Sơ đồ 1.1:Sơ đồ hạch toán tổng hợp tiền lương

1.4.2.Tổ chức các khoản trích theo lương

Sau khi tính và thanh toán lương cho người lao động, cuối tháng kế toán tiến hành phân bổ lương và các khoản trích theo lương trong tháng vào các đối tượng chịu chi phí

Hàng tháng kế toán tiến hành tổng hợp tiền lương phải trả người lao động trong kỳ theo từng đối tượng sử dụng và tính trích BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ theo quy định trên cơ sở tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương được thực hiện trên “Bảng phân bổ lương và các khoản trích theo lương”. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

1.4.2.1.Chứng từ kế toán sử dụng

  • Bảng kê trích nộp các khoản trích theo lương (mẫu số 10 – LĐTL)
  • Bảng phân bổ lương và các khoản trích theo lương (mẫu số 11 – LĐTL)

1.4.2.2.Tài khoản kế toán sử dụng

  • TK 338: Phải trả, phải nộp khác

Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình thanh toán về các khoản phải trả, phải nộp ngoài nội dung đã phản ánh ở các tài khoản khác thuộc TK 33 (từ TK 331 đến TK 337).

Tài khoản này cũng được dùng để hạch toán doanh thu nhận trước về các dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng, chênh lệch đánh giá lại các tài sản đưa đi góp vốn liên doanh và các khoản chênh lệch giá phát sinh trong giao dịch bán thuê lại tài sản là thuê tài chính hoặc thuê hoạt động.

  • TK 338 sử dụng chi tiết gồm:
  • TK 3382: Kinh phí công đoàn
  • TK 3383: Bảo hiểm xã hội
  • TK 3384: Bảo hiểm y tế
  • TK 3389: Bảo hiểm thất nghiệp

Nội dung kết cấu của TK 338

1.4.2.3.Trình tự hạch toán

  • Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán các khoản trích theo lương

1.4.3.Tổ chức kế toán tổng hợp chi phí phải trả

Trong các doanh nghiệp sản xuất, hàng năm công nhân viên được nghỉ phép theo chế độ trong thời gian nghỉ phép doanh nghiệp phải trích trả lương nghỉ phép cho công nhân viên và hạch toán vào chi phí sản xuất trong tháng. Đối với tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất nghỉ phép không đều đặn giữa các tháng trong năm. Doanh nghiệp phải trích trước tiền lương nghỉ phép theo kế hoạch vào chi phí sản xuất hàng tháng để khỏi ảnh hưởng đột biến đến giá thành sản phẩm giữa các tháng.

Cuối năm phải thanh toán, quyết toán đã trích trước theo kế hoạch với tiền lương nghỉ phép thực tế trong năm của công nhân sản xuất nhằm đảm bảo chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được chính xác.

Đối với doanh nghiệp có số công nhân nghỉ phép tương đối đều đặn giữa các tháng trong năm thì tiền luơng nghỉ phép của họ trực tiếp hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh của tháng. Kế toán tổng hợp chi phí phải trả sử dụng TK 335.

  • Sơ đồ 1.3: Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí phải trả

1.5.Phương pháp hạch toán Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Hàng tháng trên cơ sở tính toán tiền lương, tiền công phải trả công nhân viên

  • Nợ TK 622, 627, 641, 642
  • Có TK 334

Hàng tháng trích lập BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ tính vào chi phí

  • Nợ TK 622, 627, 641, 642
  • Có TK 338 ( 3382, 3383, 3384, 3389)

Phản ánh các khoản BHXH phải trả trực tiếp cho CNV như ốm đau, tai nạn, thai sản

  • Nợ TK 338 ( 3383)
  • Có TK 334

Cuối kỳ tính trả số tiền thưởng phải trả cho công nhân viên từ quỹ khen thưởng Nợ TK 353

Nếu tiền lương nghỉ phép đã trích trước cho công nhân sản xuất nhỏ hơn tiền lương nghỉ phép thực tế phát sinh thì

  • Nợ TK 622
  • Có TK 335

Nếu tiền lương nghỉ phép đã trích trước cho công nhân sản xuất lớn hơn tiền lương nghỉ phép thực tế phát sinh thì

  • Nợ TK 335
  • Có TK 622

Nộp BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ cho cơ quan quản lý quỹ

  • Nợ TK 338 ( 3382, 3383, 3384, 3389)
  • Có TK 111, 112

Chi tiêu KPCĐ, BHXH tại doanh nghiệp

  • Nợ TK 338 ( 3382, 3383)
  • Có TK 111, 112

Phản ánh KPCĐ, BHXH chi vượt mức được cấp bù

  • Nợ TK 111, 112
  • Có TK 338 ( 3382, 3383)

Số chi không hết phải nộp cho cơ quản quản lý quỹ

  • Nợ TK 338 ( 3382, 3383)
  • Có TK 111, 112

Cuối kỳ kết chuyển số tiền công nhân viên đi vắng chưa lĩnh

  • Nợ TK 334
  • Có TK 338 ( 3388)

1.6. Các hình thức sổ kế toán áp dụng trong doanh nghiệp

1.6.1. Hình thức kế toán Nhật ký chung

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung là tất cả các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều phải được ghi vào Sổ Nhật ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế (định khoản kế toán) của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.

Hình thức kế toán Nhật ký chung gồm các loại sổ chủ yếu sau: Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký đặc biệt, Sổ cái, Các sổ thẻ kế toán chi tiết.

  • Sơ đồ 1.4: Trình tự kế toán theo hình thức Nhật ký chung

1.6.2. Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ cái

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký – Sổ Cái: Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế (theo tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật ký – Sổ Cái. Căn cứ để ghi vào sổ Nhật ký – Sổ Cái là các chứng từ kế toán hoặc Bảng tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại.

Hình thức kế toán Nhật ký gồm có các loại sổ kế toán sau: Sổ Nhật ký – Sổ cái, Các sổ thẻ kế toán chi tiết.

  • Sơ đồ 1.5: Trình tự kế toán theo hình thức Nhật ký – Sổ cái

1.6.3. Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ là căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán tổng hợp là “Chứng từ ghi sổ”. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm: Ghi theo trình tự thời gian trên Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ, ghi theo nội dung kinh tế trên Sổ Cái. Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ kế toán hoặc Bảng Tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại, có cùng nội dung kinh tế. Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm (theo số thứ tự trong Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ) và có chứng từ kế toán đính kèm.

Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ gồm có các loại sổ kế toán sau: Chứng từ ghi sổ, Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ, Sổ cái, Các sổ thẻ kế toán chi tiết.

  • Sơ đồ 1.6: Trình tự kế toán theo hình thức Chứng từ ghi sổ

1.6.4. Hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ

Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ (NKCT) là tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của các tài khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo các tài khoản đối ứng Nợ.

Hình thức kế toán Nhật ký – Chứng từ gồm có các loại sổ kế toán sau: Nhật ký chứng từ, Bảng kê, Sổ cái, Sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết.

  • Sơ đồ 1.7: Trình tự kế toán theo hình thức Nhật ký chứng từ

1.6.5. Hình thức kế toán trên máy vi tính

Đặc trưng cơ bản của Hình thức kế toán trên máy vi tính là công việc kế toán được thực hiện theo một chương trình phần mềm kế toán trên máy vi tính. Phần mềm kế toán được thiết kế theo nguyên tắc của một trong bốn hình thức kế toán hoặc kết hợp các hình thức kế toán quy định trên đây. Phần mềm kế toán không hiển thị đầy đủ quy trình ghi sổ kế toán, nhưng phải in được đầy đủ sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định. Khóa luận: Kế toán tiền lương và các khoản trích tại Cty Điện cơ.

Các loại sổ của Hình thức kế toán trên máy vi tính: Phần mềm kế toán được thiết kế theo Hình thức kế toán nào sẽ có các loại sổ của hình thức kế toán đó nhưng không hoàn toàn giống mẫu sổ kế toán ghi bằng tay.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x