Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Tài nguyên và hoạt động du lịch cộng đồng tại Làng Nghẹt – Xã Phú Thịnh – Huyện Yên Sơn – Tỉnh Tuyên Quang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch thiên nhiên

2.1.1. Vị trí địa lý

Làng Nghẹt thuộc vùng núi cao phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, nằm cách trung tâm xã Phú Thịnh 4 km, cách thị xã Tuyên Quang khoảng 10 km về phía Nam, cách Hà Nội 170 km. Để đi vào làng phải đi theo Quốc lộ 37, đến dốc Yên Ngựa, rẽ trái, và đi qua suối Húc. Đoạn đường từ thị xã Tuyên Quang đi đến làng là đường mới được làm lại nên khá thuận lợi. Làng được bao quanh bởi các ngọn núi có độ cao từ 300 đến 500 m so với mực nước biển, những cánh rừng bạt ngàn của cây Mỡ, cây Keo. So với các địa phương khác ở Tuyên Quang thì làng nằm khá gần trung tâm tỉnh. Đây là một điều kiện thuận lợi để làng có thể phát triển và giao lưu kinh tế với các địa phương khác.

2.1.2. Địa hình

Địa hình huyện Yên sơn nói chung và làng Nghẹt nói riêng khá phức tạp, hầu hết diện tích đất tự nhiên là đồi núi thấp, có độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh, gồm nhiều dạng địa hình như núi cao là ngọn Lũng Chảo 900m, đồi núi, thung lũng, sông suối….Nếu nhìn từ trên cao thì làng nằm trong một thung lũng rộng bao quanh là núi và rừng.

Một số cảnh đẹp tiêu biểu của làng là ngọn núi Húc, núi Nghẹt, núi Lũng Chảo, suối Đặng. Đặc biệt là thác Cả và suối Dạt thuộc địa phận của 5 thôn trong xã. Phần chảy qua làng Nghẹt chừng 1km. Từ lâu đã được nhân dân địa phương và du khách tới đây yêu thích vì vẻ đẹp hùng vĩ và nên thơ 31 nhưng cũng không kém phần thiêng liêng và huyền bí. Suối Dạt trải dài theo sườn đồi, tắm mát cho hơn 108 ha ruộng của 5 thôn mà nó chảy qua. Không chỉ được yêu thích bởi khí hậu trong lành, mát rượi mà suối còn có rất nhiều loài cá ngon. Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

2.1.3. Khí hậu

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, lượng mưa trung bình hằng năm ở đây rất lớn từ 1600 – 1800m; mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10. Thời kỳ này lượng mưa chiếm 70 đến 80% lượng mưa cả năm, độ ẩm cao. Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt hay thay đổi đột biến, thất thường. Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9. Nhiệt độ trung bình 28 độ C, nóng nhất có lúc lên đến 39 độ C. Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình 16 độ C, có lúc xuống 10 độ C. Nhiệt độ trung bình năm từ 22 -24 độ C. Tổng số giờ nắng trung bình năm khoảng 1500 giờ, độ ẩm không khí trung bình 80 – 82%. Điều kiện khí hậu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loại thực vật phát triển.

2.1.4. Thuỷ văn

Chế độ thuỷ văn của làng chịu ảnh hưởng của các con suối chảy qua làng. Nó dùng để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của làng. Vào mùa hè nước trong và rất nhiều cá. Du khách vào đây thích lội theo những con suối này. Tuy nhiên vào những ngày mưa to những con suối chảy qua làng nước chảy xiết, ngăn cách làng với bên ngoài. Điều này gây nhiều khó khăn cho bà con trong những năm qua.

2.1.5. Động thực vật

Do việc khai thác, săn bắn của cộng đồng nên trong rừng không còn nhiều động thực vật như trước nhưng rừng ở đây vẫn còn nhiều gỗ quý, nhiều loài chim thú quý, cùng những đàn bướm nhiều màu sắc và các giống côn trùng…Nhưng khách thật khó có cơ may nhìn thấy, ngoại trừ được nghe tiếng chim rừng và đôi khi tiếng nai, hoẵng gọi bầy…

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.2. Điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn

2.2.1.Điều kiện kinh tế xã hội

2.2.1.1. Cơ cấu kinh tế Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Nằm trong địa bàn của một huyện miền núi, cơ cấu kinh tế huyện là sản xuất nông, lâm nghiệp. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp năm 2000 là 77,27% GDP, tới năm 2005 là 42,8% GDP, dịch vụ chiếm 18,3% còn lại là công nghiệp khai thác khoáng sản. Như vây cơ cấu kinh tế của huyện đang có sự chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của nông nghiệp. Huyện đang đẩy mạnh việc phát triển các ngành dịch vụ nhất là du lịch, toàn huyện đã xây dựng một số chương trình du lịch và bước đầu có kết quả.

2.2.1.2. Hạ tầng cơ sở

Hệ thống đường giao thông từ thị xã Tuyên Quang tới đây đi trên Quốc lộ 2, đường khá đẹp nhưng từ chân núi Yên Ngựa đi vào làng thì đường rất xấu, chủ yếu là đường đất do bà con tự làm từ nhiều năm nay. Vào những ngày mưa đường lầy lội ảnh hưởng rất lớn tới sinh hoạt của bà con.

Hệ thống thông tin liên lạc trong những năm gần đây khá phát triển, mật độ điện thoại đạt 5,8 máy/100dân, mạng lưới di động cũng được phủ sóng khắp địa phương

Hệ thống điện: làng đã có điện từ năm 1998 và đến nay làng đã có trạm biến áp riêng phục vụ cho đời sống và sản xuất của bà con. 100% các gia đình đã sử dụng mạng lưới điện quốc gia.

Hệ thống nước sinh hoạt: dân làng vẫn dùng giếng, nước suối chảy qua làng để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất. Tỉnh đang chú trọng xây dựng các công trình cấp nước nhỏ cho nhân dân miền núi. Đây là điều đáng mừng vì bà con vẫn luôn mong muốn được sử dụng nguồn nước sạch để đảm bảo vệ sinh trong sinh hoạt và giữ vệ sinh môi trường.

2.2.2. Cơ chế chính sách Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Cùng với công tác quy hoạch, huyện đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá về du lịch, đồng thời chỉ đạo chính quyền các địa phương tổ chức tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về văn hoá, du lịch, tham gia giữ gìn vệ sinh môi trường tại các điểm du lịch, bảo đảm xanh, sạch, đẹp và văn minh để thu hút ngày càng đông khách du lịch đến tham quan.

Ngoài chính sách hỗ trợ theo quy định của nhà nước và của tỉnh, khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực du lịch, huyện tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, thành lập quỹ phát triển du lịch, hỗ trợ và khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia hoạt động du lịch, nhất là các loại hình du lịch tại các gia đình, thôn, bản, các làng văn hoá – du lịch. Trong kế hoạch phát triển du lịch đến năm 2010, Yên Sơn phấn đấu đạt tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 27% trong cơ cấu kinh tế của huyện, thu hút trên 100.000 lượt khách đến tham quan du lịch tại các điểm du lịch trên địa bàn, phát triển trên 200 khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, các điểm vui chơi, giải trí, đạt giá trị doanh thu trên 100 tỷ đồng, tạo điều kiện cho trên 1.000 lao động hoạt động trong ngành du lịch. Đây sẽ là điều kiện để có thể xây dựng mô hình du lịch cộng đồng ở các làng bản của huyện nói chung và làng Nghẹt nói riêng.

2.2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn của người Dao ở làng Nghẹt

2.2.3.1. Khái quát về người Dao ở làng Nghẹt

Nguồn gốc lịch sử của người Dao

  • Về nguồn gốc lịch sử

Các nhà dân tộc học Việt Nam đều khẳng định người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc. Họ mới chỉ có mặt ở nước ta ở khoảng thế kỷ thứ XIII. Trong sâu thẳm tâm linh của mình người Dao luôn coi Dương Châu là vùng “đất hứa”. Sau khi chết, chỉ linh hồn của người tốt mới được về Dương Châu, còn những người xấu xa linh hồn bị đày xuống mười tầng địa ngục.

Theo tác giả của công trình “Người Dao ở Việt Nam” những người Dao sinh sống ở vùng Đông Bắc và trung du Bắc bộ đi bằng đường thuỷ và thời gian thiên cư kéo dài từ thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XX.

Nhóm người Dao đang sinh sống ở Tuyên Quang đã từ Lưỡng Quảng đến Việt Nam vào thời nhà Minh, khoảng từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII. Dao Tuyên Quang có dân số khá đông, đứng thứ ba sau các dân tộc Kinh, Tày. Trên địa bàn tỉnh tuyên Quang có các ngành Dao: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài…

Đời sống của đồng bào người Dao Quần Trắng chứa đựng những yếu tố riêng, các giá trị văn hoá được thể hiện qua tiếng nói, chữ viết, nhà ở, trang phục, ăn, uống, mối quan hệ gia đình, làng bản, tín ngưỡng, văn hoá và tri thức dân gian tạo nên bản sắc riêng có phân biệt với các tộc người khác Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Một số hoạt động kinh tế – xã hội

  • Hoạt động kinh tế

Kinh tế của địa phương cho đến nay vẫn còn kém phát triển. Trồng trọt cây lương thực, trong đó cây lúa là chính, là hoạt động đảm bảo đời sống của họ. Ngoài ra còn có một số hoạt động khác như: chăn nuôi, thủ công, trao đổi buôn bán, trồng rừng. Trong những năm gần đây đời sống của đồng bào địa phương đã có nhiều thay đổi. Song những tập quán hoạt động mưu sinh mang tính tộc người của họ vẫn được giữ gìn, bảo lưu.

Trồng trọt: nương rẫy là đối tượng canh tác chính. Bên cạnh đó họ cũng canh tác ở ruộng nước và ruộng bậc thang.Trong canh tác họ vẫn dùng những dụng cụ thô sơ để chặt cây và gieo hạt.

Chăn nuôi: gồm có các loại trâu, bò, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng…

Thủ công gia đình: Họ có khá nhiều nghề thủ công như làm đồ trang sức, dệt vải, đan lát đồ mây tre. Các khâu kỹ thuật chủ yếu làm bằng tay và được tiến hành theo kinh nghiệm, truyền từ đời này qua đời khác, không có người chuyên để dạy.

  • Văn hoá vật chất
  • Nhà cửa

Đến nay nhà ở của người Dao Quần Trắng tuy đã có những thay đổi nhưng họ vẫn giữ lại những đặc điểm truyền thống để phân biệt với nhà của các dân tộc anh em. Kiểu nhà truyền thống của người Dao Quần Trắng là nhà sàn, thường được làm ba gian, cách chắp nối các câu kiện bằng nguyên liệu rời. Tuy nhiên, họ không phải dùng đinh trong quá trình lắp ghép nhà ở. Kiểu nhà này chỉ có một cầu thang lên xuống, cầu thang có số bậc lẻ; trong nhà thường có hai bếp. Nhà của họ thường có số gian lẻ, ít cửa sổ, bàn thờ được bố trí ở gian giữa, có cửa chính và cửa phụ.

  • Trang phục:

Về trang phục: so với các dân tộc khác thì dân tộc Dao được coi là còn giữ được nhiều nét bản sắc của mình với chất liệu bằng vải bông nhuộm chàm, màu xanh, đỏ, đen, tím than hoặc để trắng.

Đàn ông nơi đây mặc một loại quần ống túm màu trắng được may từ vải dệt tay. Quần trắng của nam giới có màu trắng tinh, thân quần phình to, ống quần ngắn nhỏ. Trên ống quần có thêu 5 đường màu đỏ giống như 5 ngón tay, ở giữa dài, hai bên ngắn.

Theo truyền thuyết của dân gian của Dao quần trắng, họ từng có một cuộc chiến với quan thổ ti Nam Đan. Tổ tiên Dao quần trắng bị đánh bại, rất nhiều người bị thương, bàn tay ướt đẫm máu. Bất ngờ, có một người đứng lên, ấn 5 ngón tay lên chiếc quần trắng. Để ghi nhớ lịch sử, con cháu đời sau của người Dao quần trắng đã xem chiếc quần in dấu tay máu là vật thiêng liêng đồng thời, trên ống quần của họ được thêu 5 đường hoa văn, tựa như hình bàn tay để con cháu đời sau ghi nhớ sự tàn khốc của chiến tranh. Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Phụ nữ Dao quần trắng lấy màu đen, xanh, trắng làm gam màu chủ đạo. Họ mặc kiểu áo tròng cổ, vạt trước và sau là một mảnh vải lớn. Đây là một kiểu trang phục cổ xưa nhất của con người. Từ nhỏ, các bé gái đã được mẹ dạy thêu thùa. Đó cũng là sự truyền thụ những giá trị văn hóa và lịch sử Dao Quần Trắng nổi bật là yếm rất to che kín cả ngực và bụng, ngày cưới cô dâu mặc quần trắng.

  • Ăn: Họ ăn cơm là chính. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước
  • Uống: họ uống rượu cất, và cả rượu không qua chưng cất, có vị chua, ít cay.
  • Vận chuyển: do đường sá đi lại rất khó khăn nên họ chủ yếu đi bộ với chiếc gùi đeo vai, đòn gánh bằng tre hoặc đeo túi vải. Nếu đem đồ nặng thì họ thường dùng ngựa thồ
  • Văn hoá xã hội

Người Dao cư trú tập trung thành từng bản làng riêng. Làng Nghẹt có hộ với gần 400 nhân khẩu. Trong thôn xóm chủ yếu tồn tại quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

2.2.3.2. Tín ngưỡng dân gian

Thờ cúng tổ tiên gia đình và cộng đồng gia đình người Dao bàn thờ tổ tiên được đặt trang trọng ở giữa nhà. Bàn thờ có hai dạng là bàn thờ của dòng họ và bàn thờ của mỗi gia đình. Bàn thờ tổ tiên dòng họ được đặt tại nhà ông trưởng họ với đầy đủ các dụng cụ cúng bái như các tranh thở, trống, chiêng, chuông, nhạc, sách cúng. Họ tiến hành cúng vào các dịp lễ tết hoặc khi các gia đình có chuyện. Tất cả người Dao đều tin rằng những người thân trong gia đình chết lành đều về với tổ tiên của họ ở Dương Châu, Trung Quốc nhưng vẫn giữ mối liên hệ với con cháu ở Việt Nam. Do đó thờ cúng tổ tiên là cách để duy trì mối liên hệ qua lại giữa con cháu và tổ tiên.

  • Lễ cúng Bàn Vương

Bàn Vương được coi là thuỷ tổ của người Dao. Họ cho rằng thờ cúng Bàn Vương liên quan tới vận mệnh của dân tộc, dòng họ, gia đình thậm chí là từng cá nhân. Trong tín ngưỡng của người Dao có hai lễ cúng liên quan đến cúng Bàn Vương là Chẩu đàngNhiàng chẩm đao. Trong “Quá Sơn bảng văn” có nói đến việc con cháu Bàn Vương phải cúng âm hồn của Bàn vương theo định kỳ: cứ ba năm phải cúng một lần và khi cúng thì phải cúng ba năm liền, hai năm đầu cúng nhỏ, đến năm thứ ba cúng to.

Khi cúng họ thường đọc quyển sách về Bàn Vương kể cề sự tích Bàn Vương và quá trình thiên di cùa người Dao.

  • Tết nhảy (Nhiàng chẩm đao) Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Tết nhảy là lễ hội lớn liên quan đến cúng Bàn Vương. Mục đích là cúng tổ tiên của dòng họ, cầu xin phù hộ, che chở cho mọi thành viên trong gia đình mạnh khoẻ, sản xuất phát đạt.

Người Dao tổ chức Nhiàng chẩm đao vào ngày mồng Một hoặc ngày mồng Hai tháng Giêng Âm lịch theo dòng họ và làm lễ tại nhà trưởng họ.

Tết nhảy phải mời hai thầy cúng giỏi trông coi các nghi thức, nghi lễ. Lễ vật cúng gồm có gà rượu, hương hoa, nến và một chiếc bánh dày trên cắm một nhánh hoa đào. Tất cả lễ vật được bày trên một chiếc bàn thờ nhỏ đặt trước bàn thờ. Xung quanh nơi đặt bàn thờ thường dán nhiều tờ giấy màu xanh, đỏ, vàng viết chữ Nôm kể tên tuổi của các chủ gia đình trong dòng họ. Trong lúc thờ cúng, mọi người phải tỏ thái độ thành kính, trang nghiêm, không được cười đùa, người ngoài họ không được tham dự và mọi người chỉ nói tiếng Dao (cấm nói tiếng dân tộc khác), nếu ai vi phạm sẽ bị xử phạt.

Tết nhảy ngoài những thủ tục chung như các nghi lễ khác đặc trưng nổi bật của nó là một vũ điệu “bắt ba ba”, diệt trừ yêu quái, luyện âm binh để bảo vệ dòng họ.

Sau khi khấn xong thấy cúng sẽ đứng múa trước bàn thờ tổ tiên hai điệu: điệu múa của thầy cúng và múa của thần linh. Điệu múa của thầy cúng là những điệu nhảy bình thường còn điệu múa của thần linh là khi thầy cúng “xuất thần” nhập vào thế giới thần linh, tổ tiên, thể hiện sự hiện diện của tổ tiên. Trong khi múa xuất thần, thầy cúng bị cuốn vào trạng thái ngây ngất trong tiếng nhạc rộn rã của kèn, trống, thanh la.

Điệu múa trung tâm của nghi lễ Nhiàng chẩm đao là điệu múa tập thể vòng quanh một cái mẹt. Họ múa cho đến khi rơi vào trạng thái xuất thần, có thể lăn lộn dưới đất hoặc bốc than hồng mà không sợ bị bỏng. Trong số họ, những người được ma tổ tiên nhập vào sẽ phán truyền cho con cháu trong họ rằng tổ tiên đã chứng giám nghi lễ, mong con cháu thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Kết thúc lễ hội là điệu múa giết ba ba (có nơi gọi là rùa) ăn thịt với ý nghĩa cầu may.

Cuối cùng thầy cúng sẽ thu âm binh, ngồi khán trước bàn thờ tổ tiên rồi đặt thanh đoản kiếm lên bàn chân và hất lên bàn thờ. Khi thầy hất được thanh đoản kiếm lên bàn thờ, nghi lễ mới chính thức hoàn tất.

2.2.3.3 .Phong tục tập quán tiêu biểu

  • Tục lệ cưới xin

Đối với người Dao Quần trắng, cô dâu mặc quần trắng, áo chàm, đội mũ thêu hoa văn rất cầu kỳ (gọi là mũ bồ đài). Số nam thanh niên phù rể cũng mặc quần trắng. Bắt đầu là lễ dạm hỏi (lễ “Nịnh nại” hay “Nại nhan“), sau đó đến lễ ăn hỏi (lễ “Ghịa tịnh“) rồi đến lễ cưới (lễ “Chịp nham“). Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Nhà trai cử một đoàn đi đón dâu với số lượng được chọn lọc và đảm bảo đủ các thành phần như: trưởng đoàn (gọi là “áy Tả“), chủ hôn (tức ông Mờ), người đứng vị trí tiếp theo là “Lại Coỏng” (ông Mối), tiếp đến chú rể và có hai em trai nhỏ dưới 12 tuổi đi phù rể làm nhiệm vụ dắt rể lên nhà gái sau đó dắt dâu về nhà trai. Cùng đi còn có 7 nam thanh niên trẻ, khỏe, khôi ngô, nhanh nhẹn và có tài hát đối cầm sáo theo để hát, tất cả đều mặc quần trắng, áo đen, khăn đen.

Đoàn đón dâu khi đến cách nhà gái chừng vài mét thì dừng lại và một nam thanh niên bắt đầu thổi sáo với làn điệu báo tin đoàn đã đến. Lúc này, chú rể được chùm lên đầu chiếc áo vàng (Gúy vằng), một em trai nhỏ cầm hai tay áo của chú rể, dắt chú rể vào cổng, đến chân cầu thang dừng lại để đội nam thanh niên hát bài chào hỏi và xin lên nhà. Khi nhà gái đáp lại, đồng ý đón chú rể thì hai em nhỏ làm nhiệm vụ dắt chú rể lên nhà, đưa đến tận buồng cô dâu rồi ngủ bạn cùng chú rể một đêm tại buồng, còn cô dâu lại được giấu tạm ở chỗ khác. Trong thời gian đó, bên ngoài vẫn diễn ra thủ tục, nghi lễ giữa trưởng đoàn, ông mối với người đại diện bên nhà gái và cuộc hát đối giữa nam thanh niên họ nhà trai với nữ thanh niên bên họ nhà gái.

Hôm sau, chú rể có thể về một mình hoặc cùng về với đoàn nhà trai chứ không cùng về với cô dâu. Khi chú rể rời buồng thì ít phút sau, cô dâu mới trở về buồng để ông trưởng đoàn và hai em trai nhỏ của nhà trai vào dắt tay ra, đưa xuống cầu thang. Khi về đến gần cầu thang nhà trai, một em trai cầm tay áo của cô dâu, một em đi theo sau dẫn hai cô phù dâu, chuẩn bị làm nhiệm vụ dẫn cả ba cô vào buồng. Lúc cô dâu đặt chân đến cầu thang, một bà cô hay chị gái chồng đem đến một chiếc áo dài màu chàm, một yếm thêu nền trắng và nữ trang khoác lên người cô dâu rồi chùm “Gúy vằng” lên đầu. Sau một ngày, cô dâu được về lại mặt bố mẹ đẻ, khi xuống cầu thang thì bà cô hoặc chị gái chồng lại ra cởi bộ áo ngoài để lại nhà chồng, cho đến lúc dâu trở về mới trao lại. Việc đó có ý nghĩa chính thức công nhận cô dâu là người nhà mình. Trong lễ cưới của người Dao Quần trắng, các vị đại diện cho quan viên hai họ bao giờ cũng được bố trí ngồi ở nơi trang trọng thuộc gian giữa. Trong tiệc rượu, các “Phiêu Chòi” (là người giỏi chữ) thường hát xướng những câu tục ngữ, thành ngữ hoặc những lời răn dạy thanh niên nam nữ như:

Gái khôn đừng nên khinh chồng,

Con làm nên không được khinh cha“.

Hay

Khéo nói thì người yêu“,

Ma chết mất miệng, người chết cạn lời“… Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Từ những lời hát của các Phiêu Chòi, mọi người đều rất vui và tự kiểm bản thân mình đã ăn ở như thế nào và phải làm thế nào để giữ được cốt cách người Dao.

Lễ cưới của người Dao Quần trắng có vẻ đẹp huyền bí và thiêng liêng. Ngày nay, trong nhịp sống mới, ở một vài nơi đã có phần cải tiến cho gọn nhẹ hơn, nhưng cơ bản vẫn giữ được những thủ tục và nghi lễ chính. Dự một lễ cưới của người Dao Trắng, có thể phân biệt được ngay so với các nhóm Dao khác.

  • Lễ cấp sắc (Chẩu đàng)

Theo truyền thống thì người đàn ông Dao được giáo dục, rèn luyện về nhiều mặt để làm trụ cột cho gia đình, dòng họ và cộng đồng. Phẩm chất của họ được kiểm nghiệm qua những kỳ lễ đặc biệt dành cho nam giới. Họ gọi đó là Lễ cấp sắc.

Đặc điểm chung nhất của Lễ cấp sắc là người thụ lễ được thầy cúng cấp cho một bản sắc bằng chữ Nôm Dao, trong đó ghi rõ lai lịch cá nhân, lý do cấp sắc, điều giáo huấn và tên tuổi những thầy cúng đã tham gia làm lễ cấp sắc cho người thụ lễ đó. Sau khi được cấp sắc lần đầu người đàn ông Dao phải tự học hỏi để được cấp sắc ở bậc cao hơn.

Đàn ông Dao phải qua một lần cấp sắc mới được coi là người trưởng thành. Trong xã hội người Dao nói chung có ý thức phân biệt trẻ già, đặc biệt giữa những người được cấp sắc và những người chưa qua cấp sắc. Họ quan niệm người trải qua lễ cấp sắc mới có tâm, có đức để phân biệt phải trái, mới được công nhận là con cháu của Bàn Vương, khi còn sống thì đủ tư cách thở cúng tổ tiên và khi chết thì hồn mới được đoàn tụ về với tổ tiên, không phải chịu kiếp đày đoạ ở âm phủ. Người được cấp sắc có âm binh và đủ uy lực điều khiển chúng bảo vệ gia đình, dòng họ.

Trong thực tế người được cấp sắc đều là những người am hiểu các phong tục tập quán và có khả năng hướng dẫn các sinh hoạt của cộng đồng theo các phong tục đó.

Cấp sắc phải theo nguyên tắc: cấp cho bố rồi mới cho con, cho anh rồi mới cho em. Anh em cùng họ có thể tổ chức cấp sắc một lần cho nhiều người. Hầu hết nam giới cấp sắc đều biết cúng. Những người thạo cúng thường được mời đi cúng. Họ là những người có hiểu biết rộng, biết đọc chữ Hán Nôm, có kinh nghiệm sản xuất, biết chữa bệnh.

Ông thầy trong Lễ cấp sắc phải chọn thầy cao tay, ngày tháng cấp sắc được chọn rất cẩn thận, người được cấp sắc phải thuần thục các nghi lễ quy định trong các bản sắc. Một buổi cấp sắc có thể làm cho một người hoặc vài người nhưng phải là số lẻ. Người đàn ông có vợ thường được chọn để cấp sắc trước, vì để được coi là người đàn ông trưởng thành bắt buộc phải qua lễ cấp sắc. Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Lễ cấp sắc có nhiều bậc, bậc đầu tiên được họ được cấp 3 đèn và 36 binh mã. Bậc 2 họ được cấp 7 đèn và 72 binh mã và cuối cùng là 12 đèn và 120 binh mã.

Ngày hành lễ cấp sắc thường tiến hành vào cuối năm. Trước khi hành lễ, người cấp sắc phải kiêng khem một số thủ tục như: không nói tục chửi bậy, không được quan hệ vợ chồng…Thời gian tiến hành lễ cấp sắc 3 đèn kéo dài 1 đến 2 ngày, cấp sắc 7 đèn kéo dài từ 3 đến 5 ngày.

Các nghi lễ chính trong lễ cấp sắc gồm có:

Lễ trình diện, gia chủ mổ lợn để tế lễ tổ tiên, các thầy cúng phải tẩy uế xong mới đánh trống mời tổ tiên về dự, sau đó thầy cúng làm lễ khai đàn, nhằm báo cho tổ tiên lý do của buổi lễ.

Tiếp đó, tại lễ thụ đèn, người được cấp sắc phải ăn mặc chỉnh tề ngồi trước bàn thờ, hai tay giữ một cây tre, nứa, ngang vai có đục và xuyên một thanh ngang dài vừa tầm vai để thầy đốt đèn, đặt nến để làm lễ.

Đặc biệt là trong lễ cấp sắc là cấp đạo sắc cho người thụ lễ với 10 điều cấm và 10 điều nguyện, tại đạo sắc này tên âm của người thụ lễ ghi luôn để khi chết về với tổ tiên.

Quan trọng nhất trong buổi lễ này là cấp pháp danh cho người thụ lễ. Người thụ lễ lấy vạt áo để hứng lấy gạo từ thầy cả và bố đẻ. Sau đó các thầy sẽ dạy cho người thụ lễ một số điệu múa.

Kết thúc nghi lễ, các thầy múa để dâng rượu, lễ vật để tạ ơn thần linh. Từ đây chàng trai được thụ lễ đã được coi như một người đàn ông trưởng thành hoàn toàn về thể chất cũng như tâm linh.

Có thể nói, lễ cấp sắc của người Dao có giá trị nhân văn cao. Tính giáo dục của lễ tục đó được thể hiện ở chỗ các điều giáo huấn ghi trong sắc cấp cho người thụ lễ đều hướng tới những điều thiện, người thụ lễ tuyệt đối không làm điều ác, điều xấu…Họ là người luôn tôn kính thầy dạy, biết ơn nghĩa cha mẹ, thuỷ chung với bè bạn, trọng nghĩa khinh tài, có lòng vị tha và dũng cảm, không lừa lọc, không dâm đãng…Trong lễ cấp sắc, nhiều điệu múa cổ truyền dân gian được trình diễn, với sự tham gia đông đảo của dân bản. Phần lớn các tiết mục văn nghệ độc đáo của dân tộc Dao được tiếp thu và cải biên để biểu diễn trên sân khấu hiện đại đều được trích từ các điệu múa trong lễ cấp sắc.

2.2.3.4. Tri thức kinh nghiệm dân gian

Kinh nghiệm trong hoạt động kinh tế sản xuất vật chất

  • Kinh nghiệm trồng trọt Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Sinh sống trong môi trường miền núi, độ dốc lớn, địa hình chia cắt mạnh, rừng nhiệt đới hiểm trở, nhiều thung lũng, bồn địa thấp nên việc canh tác của họ khá thô sơ và gặp nhiều khó khăn.

Để mở rộng diện tích canh tác, sau dịp tết Nguyên Đán họ tận dụng các bồn địa, thung lũng chân núi để khai phá ruộng nước, đất có độ dốc thấp thành ruộng bậc thang. Cứ thế qua nhiều năm diện tích lúa nước của họ ngày càng tăng, canh tác nương rẫy chỉ mang tính chất hỗ trợ cho canh tác.

Để có nước đưa vào ruộng, họ dựa vào thiên nhiên, dựa vào địa hình núi đồi để đắp đập, đào mương, bắc máng hoặc dẫn nước từ các mỏ, khe trên núi cao về các khu ruộng. Và công việc này đã trở thành nếp sống từ nhiều đời nay của họ.

Việc thu hoạch lúa được tiến hành bằng liềm, cắt ngang cây, bó lại thành từng bó nhỏ, đập lúa ngay trên ruộng. Dụng cụ để đập lúa là thùng đóng bằng gỗ, được che kín ba phía (trước, phải, trái). Thóc đập ra được chuyển về nhà bằng gùi. Ngày nay khi mà máy móc tham gia vào hầu hết hoạt động sản xuất nông nghiệp thì cách làm truyền thống của bà con nơi đây khiến rất nhiều du khách tới đây thích thú và muốn khám phá.

  • Kinh nghiệm khai thác từ nguồn lợi tự nhiên

Công cụ săn bắt của họ khá thô sơ: để săn bắt thú họ sử dụng súng kíp, chiếc nỏ tự tạo và các loại bẫy (bẫy chông, bẫy đá, bẫy cặp, bẫy treo…)

Hoạt động ăn uống

  • Đồ ăn

Để làm xôi nhiều màu người ta cũng đem đồ như đồ xôi bình thường, nhưng trước khi đồ gạo nếp phải chia thành từng phần theo từng loại màu. Sau đó đem phần gạo định đồ màu đỏ ngâm vào chậu nước lá cây có màu đỏ, phần định làm xôi màu vàng thì ngâm vào chậu nước nghệ màu vàng, phần định làm màu xanh thì ngâm vào chậu nước cây cỏ màu xanh… còn phần xôi màu trắng thì ngâm vào nước lã. Hết thời gian ngâm, vớt gạo để vào chõ theo từng màu, màu trắng xếp trên cùng. Sau khi gạo màu các loại đồ chín, đem trộn với nhau sẽ được xôi nhiều màu. Đôi khi người ta cũng làm cơm lam.

Các món ăn của người Dao chủ yếu là các dạng xào, luộc, hầm, nấu, rán, nướng. Món xào chủ yếu đối với thịt lợn, lòng gan lợn, thịt chua, thịt ướp treo, thịt dê, thịt trâu và thịt thú rừng…Nhiều thứ như thịt chim, thịt chuột rừng, thịt ếch, châu chấu, nhộng ong…cũng được đem xào để ăn cho thơm. .. Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Món nướng gồm có mực nướng, cá nướng, thịt lợn nướng, chim nướng… ngoài cách nướng trực tiếp trên than cũng có loại được nướng bằng cách gói đồ nướng vào lá chuối hay lá dong sau đó vùi xuống tro nóng cho đến khi chín.

  • Đồ uống

Người Dao rất thích uống rượu và chủ yếu là rượu cất. Đáng chú ý là cho đến nay đồng bào vẫn duy trì tập quán uống rượu thuốc và chế biến rượu thuốc bằng việc ngâm rượu cất với một số loại rễ cây có vị bổ, nhất là ngâm với thuốc bắc hoặc những bộ phận quý hiếm quí một số loại chim thú săn bắt được.

Ngoài ra, người Dao thích nấu rượu bằng bột lấy từ than cây đao (tao), cây móc (khô long), cây bang. Đây là cây họ dừa mọc rất nhiều trong rừng nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình trong ngày lễ.

Kĩ thuật sản xuất ra bộ trang phục truyền thống

  • Kỹ thuật dệt vải

Người Dao có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng bông, thu hái, quay sa, kéo sợi. Sau khi sợi được cuốn thành con trước khi mắc vào khung cửi dệt, người thợ phải tiến hành nhiều công đoạn kỹ thuật như hồ sợi, lắp sợi vào gò bìa, gường, trục hoa…

  • Kỹ thuật nhuộm chàm

phục của người Dao là màu chàm và thêu các loại chỉ màu tạo hoa văn. Để có được màu xanh chàm truyền thống người Dao phải tiến hành một số công đoạn như trồng cây chàm, làm cao chàm và nhuộm chàm.

Kỹ thuật làm cao chàm và nhuộm chàm chủ yếu làm thủ công bằng tay và được tiến hành theo kinh nghiệm truyền từ đời này sang đời khác, không có người chuyên dạy.

Để có chảo chàm đạt tiêu chuẩn, trước khi nhuộm họ còn phải pha chế một số nguyên vật liệu khác nữa như lấy tro bếp ngâm trong nước, dùng mảnh và lấy khoảng 50 đến 60 lít nước đựng trong một cái chảo to. Cho 0,5 kg cao chàm, một chén rượu, ít gừng, củ riềng, củ phù hoá, một ít cây rau râm, vỏ cây lúc lác. Tất cả được đập nát rồi cho vào chảo nước tro lọc đun sôi lên khoảng một tiếng, để nguội rồi cho vải vào nhuộm.

Trước khi nhuộm họ phải giặt nước lã thật kỹ để vải hết hồ, mới dễ bắt màu và khi nhuộm không bị loang lổ, nước chàm ngấm đều. Muốn có màu chàm ưng ý họ phải nhuộm đi nhuộm lại nhiều lần trong ngày. Mỗi lần nhúng vải vào chảo nước chàm một giờ rồi vớt ra để ráo nước lại ngâm tiếp, làm như vậy khoảng 5 đến 7 lần mới vắt nước, phơi khô và nhuộm thêm một lần nữa mới kết thúc. Để giữ màu chàm bền đẹp họ còn phải ngâm vải chàm trong bùn non một lần, sau đó giắt sạch mới đem cắt may, thêu thùa. Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

  • Kinh nghiệm lấy nguyên liệu và nhuộm chỉ màu thêu hoa văn

Xưa kia người Dao dùng thuốc nhuộm chỉ thêu bằng các loại cây có sẵn trong rừng. Theo kinh nghiệm muốn lấy cây có màu vàng lấy từ cây “tàng tằng”, màu đỏ lấy từ cây “chồng mua”, màu nâu lấy từ cây “sồng mụa” hoặc củ nâu, màu xanh nhạt từ cây chít, màu tìm từ cây mâm xôi. Các loại cây này lấy về chặt nhỏ, đổ nước ngâm rồi đun sôi khoảng một tiếng đổ ra chậu, cho sợi vào nhuộm khoảng một phút, vắt khô đem phơi, và phải nhuộm ba lần, sợi thêu mới không phai. Khi nhuộm xong, đưa sợi ngâm trong nước tro bếp làm cho sợi săn và giữ màu tốt hơn.

  • Kỹ thuật tạo hoa văn

phục nam giới của người Dao không thêu thùa để nguyên màu chàm đen, còn y phục nữ giới thêu hoa văn sặc sỡ. Hoa văn thêu chủ yếu được trang trí trên áo, khăn, yếm, xà cạp, tạp dề với nhiều hoạ tiết trang trí khác nhau thể hiện bản sắc dân tộc.

Hoa văn ghép vải (chùn cháo) là khâu ghép các dải vải khác màu lên trên nền vải chàm. Hoa văn ghép vải được thực hiện trên tay, nẹp ngực, gấu áo, hai bên nách áo và ở yếm. Các dải vải thường được cắt nhỏ theo chiều dài và được gấp viền mép rồi khâu lên nền vải chàm tạo thành các dải dài ngắn, to nhỏ khác nhau, chạy song song xen kẽ nhau.

Cách thêu hoa văn của người Dao: Họ không thêu vắt các đường chỉ lên sợi vải mà thêu luồn chỉ vào các kẽ sợi ở mặt trái vải, hoạ tiết hoa văn sẽ hiện lên mặt phải. Họ thêu không có bản mẫu sẵn mà các đồ án hoa văn đều dựa vào trí nhớ do quá trình trao truyền kinh nghiệm của người mẹ, người chị hoặc bạn bè cùng trang lứa từ khi 9, 10 tuổi. Khi thêu họ phải đếm từng sợi và khéo léo, bình tĩnh để tính toán cẩn thận từng đường kim, mũi chỉ dọc ngang trên vải. Khoảng cách mũi chỉ bao nhiêu phụ thuộc vào việc thêu hình gì, to nhỏ, cao thấp ra sao…

Hoa văn thêu của người Dao rất phong phú về màu sắc, loại hình và có đặc điểm là: Các mẫu hoa văn thêu ghép trên y phục có tính thống nhất về mặt tộc người rất cao. Đây là hệ quả của quá trình truyền bá kiến thức bản địa trong phạm vi cộng đồng. Các dạng mẫu hoa văn, các kỹ năng thực hành được truyền từ đời này qua đời khác một cách tự nhiên, không khiên cưỡng. Nó trở thành một thói quen, thành yếu tố tâm lý, thẩm mỹ mang tính cộng đồng, mặc nhiên được thừa nhận và duy trì từ đời này sang đời khác.

  • Kỹ thuật chế tác đồ trang sức Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Trang sức của dân tộc Dao chủ yếu là người phụ nữ để tăng thêm vẻ đẹp của giới tính và có ý nghĩa tín ngưỡng xã hội sâu sắc. Trang sức của phụ nữ gồm có: đồ bằng bạc hoặc đồng, nhôm như khuyên tai, vòng cổ, vòng tay, nhẫn, xà tích, cúc bạc…

Kỹ thuật chế tác trang sức: để làm trang sức trước tiên phải có lò than hồng, nung kim loại cho nóng chảy, gắp nồi kim loại đổ vào khuôn đúc tạo thành các thanh dẹt. Miếng kim loại này tiếp tục cho vào lò nung nóng lên, sau đó mới uốn rèn thành các loại trang sức. Để có các loại hoa văn trên trang sức người thợ phải dùng đục nhỏ, chạm khắc tỉ mỉ tạo thành các đường nét tinh vi, sắc sảo. Đối với đồ trang sức dẹt, mỏng như cúc bạc, hoa bạc, hình sao… có nhiều hình nổi hay chìm nhỏ tinh vi họ dùng khuôn đã có sẵn hoa văn để dập. Cuối cùng sản phẩm được giũa các gờ, vỉa, đánh bóng. Cách đánh bóng của họ cũng khá độc đáo, sản phẩm sau khi đã hoàn chỉnh, đưa vào nồi nước có pha dung dịch kiềm hoặc muối đun sôi khoảng một giờ thì vớt ra khi đó sản phẩm mới bóng đẹp.

2.2.3.5. Ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật dân gian

  • Ngôn ngữ

Tiếng nói của người Dao khá phong phú và đa dạng cả về số lượng từ cũng như cách phát âm. Tiếng Dao khi phát âm những tiếng nặng như tr, s, th, kh…thường khó vì thế người Dao nói tiếng Việt hay bị ngọng, thiếu chính xác. Do vậy khi dịch thuật không phải câu nào, từ nào cũng dịch nguyên văn tiếng Dao. Có rất nhiều khách thích học tiếng của họ để có thể hiểu họ giao tiếp với nhau như thế nào.

  • Truyện kể dân gian

Người Dao còn lưu giữ truyền nhiều câu chuyện kể về quá trình thiên di của họ. Đó là chuyện Quá hải đồ, Quá sơn bảng văn, đặc biệt là truyện dài bằng thơ Đặng Hành và Bàn Đại Hộ. Nếu như Quá Sơn bảng vănQuá hải đồ là những truyện kể về lý do người Dao sống trên núi thiếu đất canh tác, được triều đình Trung Quốc cấp giấy để vượt núi, vượt sông, qua biển tìm đất làm ăn thì truyện Đặng Hành và Bàn Đại Hộ kể về chuyến đi tìm đất của người Dao từ Trung Quốc đến Việt Nam.

Về nguồn gốc dân tộc có truyện Bàn Cổ, Quá Sơn bảng văn hay còn gọi là Bình hoàng khan điệp

Ngoài ra còn có truyện kể về nguồn gốc của điệu “múa ba ba” trong Tết Nhảy truyền thống của người Dao, truyện kể về các hiện tượng xã hội như : người mồ côi, con cáo biết hát, con cóc, dê và chó sói…

  • Văn nghệ Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Hát đối đáp (pá dung): thường hát trong lễ cưới, vào nhà mới…nơi có khách từ địa phương khác thường có trò chơi hát đối đáp. Trò chơi này có đặc điểm là người chơi phải biết giao tiếp bằng ca, có đủ nghị lực hát vì ngoài người hát còn có người nghe và bình luận. Người Dao quen tổ chức hát ở ngay trong nhà, bên bếp lửa hoặc trong mâm rượu. Nội dung hát khá phong phú, có thể về giao duyên, kinh nghiệm sản xuất…

  • Dân vũ (Thiếu nhẹ)

Điệu nhảy múa của người Dao thường theo thể tự do hoà nhịp với các nhạc cụ như thanh la, não bạt, trống, chuông lắc…Nội dung các điệu nhảy múa thường thể hiện chủ đề về lịch sử, về sinh hoạt hàng ngày được hình tượng hoá bằng các động tác nhảy múa kết hợp với ca hát để Bàn Vương và tổ tiên dòng họ xem như điệu múa về quá trình di dân của dân tộc bằng đường biển vào Việt Nam như thế nào hoặc các điệu múa diễn tả về hạ cây làm nương rẫy, chọc lỗ tra hạt, chặt củi làm nhà, điệu múa bắt ba ba…Các động tác nhảy múa được kết hợp nhuần nhuyễn giữa tay và chân theo vòng tròn trước đàn lễ, có thể kéo dài hàng giờ liền và được cả làng đến xem đông vui như hội.

  • Nhạc cụ dân tộc

Trống có hai loại là trống dài và trống ngắn trong đó trống ngắn được cộng đồng sử dụng khá phổ biến. Đây là nhạc cụ cơ bản, thường mỗi dòng họ có một chiếc. Nó được dùng trong đám tang, Chấu đàng, Cấp sắc, Tết nhảy đặc biệt là để đệm nhạc trong các điệu múa dân tộc và để gõ cúng tổ tiên vào ngày mùng Một, hôm Rằm, ngày lễ tết.

Thanh la còn gọi là chiêng vì nó hình dáng giống cái chiêng nhưng nhỏ hơn, được đúc từ đồng, có âm trầm cao và vang vọng xa. Nó dùng để đệm cho trống trong các điệu múa dân tộc nhất là múa hát.

Kèn dùng trong đám ma hoặc dùng trong đám cưới của người Dao. Trong đám cưới kèn hoà với tiếng trống, chiêng tạo âm thanh vui nhộn, còn trong đám ma thì kèn hoà với tiếng trống, chiêng, tù và tạo âm thanh buồn rầu

Ngoài ra người Dao còn chơi nhị và làm nhiều nhạc cụ khác để cho trẻ em chơi như gõ ống tre, sáo, đàn môi.

  • Trò chơi dân gian

Người Dao có rất nhiều trò chơi, có loại mang tính giải trí, có loại dùng trong nghi lễ. Một số loại trò chơi phổ biến nhất:

Chơi nhảy múa được xuất phát từ Lễ pút tồng. Thực chất của trò chơi này là nhảy múa mừng tổ tiên trong những ngày tết. Nghi lễ được tổ chức hàng năm tại nhà trưởng họ, nơi có bàn thờ dòng họ, có cụ già am hiểu về các bài múa cổ truyền dân tộc, có đủ nhạc cụ như trống, chiêng, chũm choẹ, chuông nhac, gậy múa. Các trò chơi nhảy múa thường diễn ra vào buổi tối.

Những người tham gia múa phải là nam từ 14- 15 tuổi, còn lại chưa đến lượt thì có thể thưởng thức, cùng chia sẻ niềm vui hoặc bình luận. Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Múa ba babài múa nhảy nhịp điệu là những bài múa không lời nhưng rất nhộn nhịp, diễn đạt được nhiều yếu tố vui chơi cho người múa và người xem. Trong các bài múa, mọi người tham gia múa đều tranh thủ khán giả để biểu lộ năng khiếu biểu diễn của mình. Chẳng hạn, trong bài múa bắt ba ba thì động tác vui và hấp dẫn là đeo ba ba, nhiều người múa đi giả ngã có tính trò hề để khẳng định rằng ba ba quá nặng so với sức khoẻ của mình. Những trò này được người xem thích thú, họ cười ầm ĩ. Còn trong bài múa nhảy nhịp điệu lại có nhiều động tác làm cho người xem bất ngờ hoặc hồi hộp lo lắng như các động tác nhào lộn qua người nhau hoặc kéo tay đối phương để biểu đạt sức mạnh của người múa.

Trò thi tài sử dụng nhạc cụ được thể hiện qua việc gõ chiêng theo nhịp trống. Trống thường đánh từng hồi, cứ ba hồi một lượt đánh, còn chiêng chỉ có nhiệm vụ đuổi theo nhịp trống. Khi trống dừng mà chiêng còn gõ thêm thì coi như người đó thua cuộc. Người đệm chiêng được coi là thắng chỉ khi gõ đến tiếng mà trống ngừng.

Trò chơi bắt dây bằng các ngón tay: dùng một chỉ nhỏ mềm buộc hai đầu với nhau để qua hai hoặc ba ngón của mỗi bàn tay, rồi kéo vừa căng cho người khác xỏ các ngón tay vào lại kéo ra. Nếu như người đó biết chơi thì không những không phá vỡ cách đan ban đầu mà còn tạo ra hình đan khác, còn nếu không biết chơi hoặc bắt nhầm thì dây sẽ bị tuột và trong mỗi bàn tay dây chỉ còn mắc ở một ngón hoặc không ngón nào. Người bắt nhầm coi như bị thua. Trò chơi này có thể có cả người lớn và trẻ em tham gia.

Tung còn thường được tổ chức vào những ngày tết Nguyên Đán, từ mùng 1 đến mùng 5 tại sân bãi của làng. Quả còn có đầu hình tròn dẹt to gần bằng nắm tay người lớn, được khâu từ các mảnh vải xanh đỏ, trắng trong đựng hạt ngô hoặc hạt bòng, bốn góc của đầu còn có trang trí các tua màu xanh, đen, đỏ, tím, vàng. Ở giữa dây và cuối dây được buộc các dây xanh đỏ tím trông rất đẹp.

2.3. Thực trạng hoạt động du lịch tại địa phương

2.3.1. Đặc điểm của lao động địa phương

Có thể nói chưa có hoạt động du lịch đúng nghĩa tại làng Nghẹt và chương trình du lịch cộng đồng tại địa phương cũng mới chỉ là dự án. Trong làng có gần 400 nhân khẩu thì chiếm 53 % trong độ tuổi lao động. Đa số lao động có trình độ thấp, chưa có hiểu biết gì về ngành du lịch. Một số người có những hoạt động phục vụ cho du lịch nhưng cũng chỉ mang tính chất tự phát, chưa được tập huấn hay hướng dẫn gì. Và một hạn chế rất lớn là họ không biết một ngoại ngữ nào.

Tham gia vào những hoạt động phục vụ khác du lịch chủ yếu là phụ nữ. Họ tham gia vào du lịch theo mùa vụ, khi nào hết mùa màng, nhiều thời gian rảnh rỗi thì họ mới dẫn đường cho khách hoặc làm các đồ thủ công bán cho khách, tổ chức giao lưu văn nghệ.

Chưa có bất kì sự liên kết nào khi cung cấp các dịch vụ phục vụ cho khách vì thế các dịch vụ mang tính nhỏ lẻ, thiếu sự chuyên nghiệp.

Họ có mong muốn được đào tạo về du lịch để có thể phát triển một ngành mới ở địa phương, nâng cao đời sống của đồng bào.

2.3.2. Những hoạt động của người dân phục vụ du lịch Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Tuy hoạt động du lịch ở đây chỉ mang tính tự phát, người dân tự tổ chức các chương trình cho khách. Theo lời ông trưởng thôn thì cả làng có 12 hộ hay có khách tới. Mỗi gia đình mỗi tháng có khoảng 10 đến 15 khách. Khách tới đây chủ yếu là người nước ngoài như Pháp, Anh, Úc…Họ đi thường đi theo nhóm khoảng 4-5 người. Khách tới đây để nghi ngơi, thưởng ngoạn phong cảnh, tìm hiểu đời sống sinh hoạt cả đồng bào chỉ cần trả cho gia đình 40 ngàn/ người/ đêm. Một số hoạt động mà người dân cung cấp cho khách:

Cung cấp chỗ nghỉ ngơi, ăn uống

Đưa khách tham quan bản và tìm hiểu về đời sống của đồng bào

Hướng dẫn khách công việc nhà nông như trồng cây thực phẩm, gặt lúa, đập lúa bằng tay. Hoạt động này được rất nhiều khách thích thú.

  • Dạy họ các bài hát và điệu múa dân tộc Dao
  • Có một hoạt động mà khách rất thích khi tới làng Nghẹt là đi câu cá suối vì suối ở đây rất nhiều cá và khi câu xong họ lại được thưởng thức những con cá do chính mình câu được theo cách chế biến đặc trưng của địa phương.

Theo yêu cầu của rất nhiều khách tới làng thì họ đang tìm cách khôi phục lại những nghề thủ công truyền thống như làm đồ trang sức và dệt của làng. Hiện nay nghề dệt đã bước đầu được khôi phục.

Thu nhập từ du lịch thì chưa có sự thống kê nào nhưng khi hỏi những người đã làm du lịch thì họ khẳng định thu nhập cao hơn nhiều so với công việc trước đây của họ. Những gia đình làm du lịch mỗi tháng có thêm từ 1 đến 1,5 triệu từ khách du lịch. Năm 2006 thu nhập trung bình của bà con trong làng chỉ là 420 nghìn/ người/ tháng thì khoản thu được từ du lịch sẽ giúp đỡ rất nhiều cho đời sống của họ.

2.3.3. Ảnh hưởng của du lịch tới cộng đồng

Mặc dù du lịch cũng chỉ mới bắt đầu xuất hiện ở làng nhưng nó đã có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống của đồng bào

2.3.4. Tích cực Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Đối với du lịch:

  • Tạo ra một sản phẩm du lịch khá mới mẻ cho vùng, một hướng phát triển mới cho cộng đồng;
  • Góp phần thu hút khách du lịch;
  • Góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên du lịch nói riêng.

Đối với cộng đồng:

  • Tăng thu nhập cho đồng bào từ các dịch vụ du lịch. So với trước khi làm du lịch thì thu nhập của họ tăng thêm từ 1 đến 1,2 triệu/gia đình/ tháng.
  • Hoạt động du lịch đã nâng cao niềm tự hào của người dân trong làng về giá trị văn hóa bản địa đặc biệt là cho thế hệ trẻ. Tham gia vào du lịch giúp họ nâng cao nhận thức về mọi mặt của đời sống, là cơ hội để các thành viên có trách nhiệm trong việc bảo tồn tài nguyên môi trường và văn hoá.
  • Tạo thêm việc làm cho người dân địa phương nhất là phụ nữ và những lao động trẻ.
  • Phát triển cơ sở hạ tầng cho người dân như cải tạo nhà ở, đường sá, các công trình vệ sinh, hệ thống nước sạch, hệ thống truyền thông, bưu điện… góp phần thay đổi bộ mặt của địa phương.
  • Sử dụng nguồn lực vốn có của địa phương về cảnh quan, khí hậu, nước rừng, sông suối, phong tục tập quán vốn không được chú ý thì nay đã trở thành tiềm năng phát triển.
  • Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của địa phương đồng thời nâng cao vai trò làm chủ của cộng đồng đối với mỗi thành viên và toàn xã hội.
  • Môi trường vệ sinh trong bản ngày càng sạch đẹp, gọn gàng, ngăn nắp…
  • Là hướng phát triển để đảm bảo cho cuộc sống lâu dài và duy trì phát triển các thế hệ tương lại của họ

Tiêu cực

  • Trước sự xuất hiện của các vị khác lạ đã khiến cho việc khai thác nguồn lực và tài nguyên thiên nhiên một cách vô tổ chức khiến cảnh quan bị phá hoại, môi trường ô nhiễm, ô nhiễm nguồn nước, tăng lượng rác thải…
  • Xuất hiện các tệ nạn xã hội, lối sống không phù hợp với truyền thống của đồng bào.
  • Sự xung đột giữa người được hưởng lợi và người không được hưởng lợi từ du lịch. Đó là nguy cơ dẫn đến mất đoàn kết cộng đồng và nảy sinh nhiều tiêu cực khác

2.3.1.4. Thái độ của người dân địa phương Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

Khi nói chuyện với người dân địa phương về hoạt động du lịch, phần lớn họ đều tỏ thái độ nhiệt tình với hoạt động du lịch. Tuy nhiên, cũng có những người chưa làm du lịch và chưa co hiểu biết gì về du lịch cho rằng hoạt động du lịch không mang lại hiệu quả kinh tế gì, có khi còn làm mất đi bản sắc văn hoá của họ nên họ không nhiệt tình hưởng ứng với hoạt động du lịch ở địa phương.

Phần lớn người dân nơi đây tham gia vào hoạt động du lịch với mục đích tăng thu nhập cho gia đình, kiếm sống. Đó là động lực chính của họ, lợi ích kinh tế vẫn là trên hết với người dân địa phương.

Phiếu điều tra được phát cho 45 người. Kết quả thu lại được 40 phiếu.

Một số thông tin thu được từ phiếu điều tra:

  • 90 % dân trong làng làm nông nghiệp, 10% làm nghề khác chủ yếu là làm thuê trên thị xã. 10 % đó hoàn toàn là thanh niên
  • Có 35/40 người muốn làm du lịch chiếm 87%.
  • 60% khẳng định khách tới đây thích nhất là những phong tục của họ, 40% lại cho rằng họ thích đi làm nông cùng gia đình.
  • 100% khẳng định họ thiếu vừa thiếu vốn vừa thiếu kinh nghiệm lại không nhận được sự giúp đỡ nào của chính quyền
  • Có 9/40 người được hỏi đã tham gia hoạt động du lịch

Tiểu kết

Để triển khai thực hiện chương trình du lịch tại làng Nghẹt là một quá trình vận dụng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau từ vận động, giáo dục, khuyến khích để tạo ra chuyển biến nhận thức cho công đồng vốn gắn liền với các hủ tục lạc hậu. Cần phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa công tác bảo tồn văn hoá truyền thống với hoạt động du lịch để tổ chức khai thác, phát huy các di sản văn hoá; di sản văn hoá của người Dao Quần Trắng phải trở thành tài nguyên du lịch được khai thác có hiệu quả để thông qua đó tuyên truyền, quảng bá giới thiệu cho khác du lịch trong và ngoài nước về bản sắc văn hoá tiêu biểu của đồng bào. Đồng thời, qua việc khai thác các nguồn thu từ dịch vụ du lịch sẽ đầu tư trở lại cho công tác bảo tồn phát huy các giá trị di sản văn hoá truyền thống. Khóa luận: Hoạt động du lịch cộng đồng của người Dao.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng của người Dao

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x