Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Quản trị hàng tồn kho tại Công ty TNHH Phát triển Thương mại NewStar dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế thị trường đang thay đổi từng ngày, nếu các Doanh nghiệp không thay đổi tư duy để thích ứng với sự thay đổi đó thì khó có thể tồn tại và phát triển nhanh được.

Thay đổi tư duy để thích ứng với môi trường không chỉ đúng với các Doanh nghiệp mà em thấy rằng nó còn đúng với mỗi sinh viên. Là sinh viên của trường Đại học Dân Lập Hải Phòng em thấy mình cần phải có sự thay đổi cách nghĩ trong nhận thức, trong học tập và làm việc. Thực tế cho thấy rằng hầu hết sinh viên đi thực tập đều lựa chọn các Công ty sản xuất hoặc thương mại đã hoạt động trong khoảng thời gian dài để có được số liệu đầy đủ. Nhưng kiến thức mà các bạn thu thập được thì liệu có được đầy đủ như các báo cáo không? Đối với bản thân em đây là một câu hỏi mà khiến em phải suy nghĩ và băn khoăn. Chính vì vậy mà em đã lựa chọn Công ty TNHH Tư vấn quản lý và Đào tạo Lê Mạnh để làm địa điểm thực tập và viết khoá luận. Đây là một Công ty vừa mới thành lập nhưng lại có rất nhiều việc để làm. Công ty hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, một lĩnh vực mà rất ít các bạn sinh viên lựa chọn để làm báo cáo.

Thời gian thực tập tại Công ty em đã được tham gia làm các công việc mà một nhân viên chính thức của Công ty phải làm. Trong thời gian này bản thân em giữ 3 vai trò: Một là, sinh viên thực tập. Hai là, nhân viên tập sự. Ba là, cộng tác viên. Là nhân viên của Phòng Nghiên cứu và phát triển, được Giám đốc cử xuống Công ty khách hàng để thu thập thông tin phục vụ cho công tác Tư vấn, em hiểu rõ nhiệm vụ của mình là phải làm gì và làm như thế nào. Được tập sự tại Công ty, được tham gia làm nhiệm vụ của Công ty nên em đã lựa chọn chính nhiệm vụ đó để làm đề tài khoá luận tốt nghiệp. Tên đề tài mà em lựa chọn là: “ Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Quản trị hàng tồn kho tại Công ty TNHH Phát triển Thương mại NewStar (Thực hiện công tác Tư vấn của Công ty TNHH Tư vấn quản lý và Đào tạo Lê Mạnh)”.

Qua thời gian thực tập và thực hiện nhiệm vụ này, em nhận thấy công tác Quản trị hàng tồn kho của Công ty TNHH Phát triển Thương mại NewStar còn nhiều điểm bất cập và chưa hợp lý. Em xin phép được đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả Quản trị hàng tồn kho của Công ty. Do thời gian không cho phép nên bài viết của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót.

Bài khoá luận tốt nghiệp của em có kết cấu như sau:

  • Chương I: Cơ sở lý luận chung về Quản trị hàng tồn kho
  • Chương II: Giới thiệu về Công ty TNHH Tư vấn quản lý và Đào tạo Lê Mạnh và nhiệm vụ Tư vấn cho Công ty TNHH Phát triển Thương mại NewStar
  • Chương III: Thực trạng công tác Quản trị hàng tồn kho tại Công ty TNHH Phát triển Thương mại NewStar
  • Chương IV: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Quản trị hàng tồn kho tại Công ty TNHH Phát triển Thương mại NewStar Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Trong quá trình thực tập và thực hiện nhiệm vụ bản thân em đã rất cố gắng trong việc tìm hiểu tình hình thực tế, thu thập số liệu chính xác và đầy đủ để hoàn thành tốt bài khoá luận này. Tuy nhiên do trình độ và kiến thức còn hạn chế nên bài khoá luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô trong Bộ môn Quản trị Kinh Doanh để bài viết của em được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn Giảng viên – Kỹ sư LÊ ĐÌNH MẠNH cùng toàn thể các cô, bác, anh chị trong Công ty TNHH Tư vấn quản lý và Đào tạo Lê Mạnh cũng như lãnh đạo và nhân viên của Công ty TNHH Phát triển Thương mại NewStar đã giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này.

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO

1.1. Cơ sở lý luận chung về Quản trị hàng tồn kho.

1.1.1. Khái niệm Hàng tồn kho.

Định nghĩa hàng tồn kho theo chuẩn mực số 2:

Hàng tồn kho bao gồm:

  • Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho, đã mua đang đi trên đường hoặc gửi đi gia công chế biến.
  • Hàng hoá mua để bán: hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi gia công, chế biến, hàng gửi bán.
  • Hàng hoá thành phẩm: thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi bán.
  • Sản phẩm dở dang: sản phẩm chưa hoàn thành hoặc sản phẩm hoàn thành nhưng chưa làm thủ tục nhập kho.
  • Chi phí dịch vụ dở dang.

Tất cả những thứ này được coi là hàng tồn kho và chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì doanh thu từ hàng tồn kho là một trong những nguồn cơ bản tạo ra doanh thu và những khoản thu nhập thêm sau này cho doanh nghiệp. Đó là những tài sản đã sẵn sàng để đem ra bán hoặc sẽ được đem ra bán.

Nếu để tồn hàng tồn kho quá lâu thì sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình kinh doanh, bởi vì doanh nghiệp sẽ phải tốn chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời, và thanh lý hàng hư hỏng. Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng là một rủi ro bởi vì doanh nghiệp có khả năng đánh mất những khoản doanh thu bán hàng tiềm năng hoặc thị phần nếu sau này giá lên cao mà doanh nghiệp không còn hàng để bán…

1.1.2. Khái niệm Quản trị hàng tồn kho.

Quản trị hàng tồn kho là việc thực hiện các chức năng quản lý để lập kế hoạch, tiếp nhận, cất trữ, vận chuyển, kiểm soát và cấp phát vật tư nhằm sử dụng tốt nhất các nguồn lực phục vụ cho khách hàng, đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp.

Quản trị hàng tồn kho là hoạt động kiểm soát sự luân chuyển hàng tồn kho thông qua chuỗi giá trị, từ việc xử lý trong sản xuất đến phân phối.

1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của công tác Quản trị hàng tồn kho. Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Vai trò:

  • Đảm bảo cung ứng, dự trữ, sử dụng tiết kiệm các loại vật tư có tác động mạnh mẽ đến các mặt hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đều đặn theo đúng kế hoạch.
  • Thúc đẩy quá trình luân chuyển nhanh vật tư, sử dụng vốn hợp lý, có hiệu quả và tiết kiệm chi phí.
  • Kiểm tra tình hình thực hiện cung cấp vật tư, đối chiếu với tình hình sản xuất, kinh doanh và tình hình kho tàng để kịp thời báo cáo cho bộ phận thu mua có biện pháp khắc phục kịp thời.
  • Đảm bảo có đủ hàng hoá, thành phẩm để cung ứng ra thị trường…

Ý nghĩa:

  • Công tác Quản trị hàng tồn kho có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Muốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành đều đặn, liên tục phải thường xuyên đảm bảo cho nó các loại vật tư, năng lượng đủ về số lượng, kịp về thời gian, đúng về quy cách phẩm chất chất lượng. Đó là một vấn đề bắt buộc mà nếu thiếu thì không thể có quá trình sản xuất sản phẩm được.
  • Doanh nghiệp sản xuất cần phải có vật tư, năng lượng mới tồn tại được. Vì vậy, đảm bảo nguồn vật tư năng lượng cho sản xuất là một tất yếu khách quan, một điều kiện chung của mọi nền hoạt động sản xuất xã hội.
  • Doanh nghiệp thương mại cần phải có hàng hoá thì mới tồn tại được, chính vì vậy cần phải đảm bảo có đủ hàng hoá để cung ứng cho thị trường và xã hội.

1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hàng tồn kho (tồn kho dự trữ).

  • Đối với các mức tồn kho dự trữ nguyên vật liệu, nhiên liệu thường phụ thuộc vào:
  • Quy mô sản xuất và nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu cho sản xuất của doanh nghiệp. Nhu cầu dự trữ nguyên vật liệu của doanh nghiệp thường bao gồm 3 loại: dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm, dự trữ thời vụ (đối với các doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ). Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.
  • Khả năng sẵn sàng cung ứng của thị trường.
  • Chu kỳ giao hàng quy định trong hợp đồng giữa đơn vị cung ứng nguyên vật liệu với doanh nghiệp.
  • Thời gian vận chuyển nguyên vật liệu từ nơi cung ứng đến doanh nghiệp.
  • Giá cả của các loại nguyên vật liệu, nhiên liệu cung ứng.
  • Đối với mức tồn kho dự trữ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, các nhân tố ảnh hưởng bao gồm:
  • Đặc điểm và các yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ trong quá trình chế tạo sản phẩm.
  • Độ dài thời gian chu kỳ sản xuất sản phẩm.
  • Trình độ tổ chức quá trình sản xuất của doanh nghiệp.
  • Đối với mức tồn kho dự trữ sản phẩm thành phẩm thường chịu ảnh hưởng của các nhân tố:
  • Sự phối hợp giữa khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
  • Hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và khách hàng.
  • Khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.

1.1.5. Các loại hàng tồn kho.

Đối với các Doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất kinh doanh như dự trữ – sản xuất – và tiêu thụ sản phẩm khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải lúc nào cũng được diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận sản xuất và bộ phận Marketing của một Doanh nghiệp sự linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ. Ngoài ra hàng tồn kho giúp Doanh nghiệp tự bảo vệ trước những biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối với các sản phẩm của Doanh nghiệp. Đối với các Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại như các Doanh nghiệp bán sỉ hay bán lẻ thì hàng tồn kho cũng có vai trò tương tự là một tấm đệm an toàn giữa giai đoạn mua hàng và bán hàng trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Các Doanh nghiệp sản xuất thường có 3 loại hàng tồn kho ứng với ba giai đoạn khác nhau của một quá trình sản xuất:

1.1.5.1. Tồn kho nguyên vật liệu.

Tồn kho nguyên vật liệu bao gồm các chủng loại hàng mà một Doanh nghiệp mua để sử dụng trong quá trình sản xuất của mình. Nó có thể gồm các loại nguyên vật liệu cơ bản, bán thành phẩm hoặc cả hai. Việc duy trì một lượng hàng tồn kho thích hợp sẽ mang lại cho doanh nghiệp sự thuận lợi trong hoạt động mua vật tư và hoạt động sản xuất. Đặc biệt bộ phận cung ứng vật tư sẽ có lợi khi có thể mua một số lượng lớn và được hưởng giá chiết khấu từ các nhà cung cấp. Ngoài ra khi doanh nghiệp dự đoán rằng trong tương lai giá cả nguyên vật liệu sẽ tăng hay một loại nguyên vật liệu nào đó khan hiếm, hoặc cả hai, thì việc lưu giữ một số lượng hàng tồn kho lớn sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp luôn được cung ứng đầy đủ, kịp thời với chi phí ổn định.

Bộ phận sản xuất trong việc thực hiện các kế hoạch sản xuất cũng như sử dụng hiệu quả các phương tiện sản xuất và nhân lực của mình cũng cần một số lượng hàng tồn kho luôn có sẵn thích hợp. Do vậy chúng ta có thể hiểu được là tại sao các bộ phận sản xuất và cung ứng vật tư trong các doanh nghiệp luôn muốn duy trì một số lượng lớn hàng tồn kho nguyên vật liệu.

1.1.5.2. Tồn kho sản phẩm dở dang.

Tồn kho sản phẩm dở dang bao gồm tất cả các mặt hàng mà hiện đang còn nằm tại một công đoạn nào đó của quá trình sản xuất. Ví dụ sản phẩm dở dang trong một vài công đoạn (như lắp ráp hoặc sơn); sản phẩm dở dang có thể đang nằm trung chuyển giữa các công đoạn, hoặc có thể đang được cất giữ tại một nơi nào đó, chờ bước tiếp theo trong quá trình sản xuất.

Tồn trữ sản phẩm dở dang là một phần tất yếu của hệ thống sản xuất công nghiệp hiện đại bởi vì nó sẽ mang lại cho mỗi công đoạn trong quá trình sản xuất một mức độ độc lập nào đó. Thêm vào đó sản phẩm dở dang sẽ giúp lập kế hoạch sản xuất hiệu quả cho từng công đoạn và tối thiểu hóa chi phí phát sinh do ngừng trệ sản xuất hay có thời gian nhàn rỗi. Vì những lý do này mà bộ phận sản xuất của các doanh nghiệp sẽ luôn muốn duy trì một mức tồn trữ sản phẩm dở dang hợp lý. Nói chung, khi một doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài hơn thì mức độ tồn trữ sản phẩm dở dang cũng lớn hơn.

1.1.5.3. Tồn kho thành phẩm.

Tồn kho thành phẩm bao gồm những sản phẩm đã hoàn thành chu kỳ sản xuất của mình và đang nằm chờ tiêu thụ. Ngoại trừ các loại thiết bị có quy mô lớn, các thiết bị đặc biệt như các máy móc công nghiệp, khí tài quân sự, máy bay và các lò phản ứng hạt nhân v.v…thường được hợp đồng đặt hàng trước khi sản xuất, còn lại các sản phẩm tiêu dùng và các sản phẩm công nghiệp đều được sản xuất hàng loạt và tồn trữ trong kho nhằm đáp ứng mức tiêu thụ dự kiến trong tương lai.

Việc tồn trữ đủ một lượng thành phẩm tồn kho mang lại lợi ích cho cả hai bộ phận sản xuất và bộ phận Marketing của một doanh nghiệp. Dưới góc độ của bộ phận Marketing, với mức tiêu thụ trong tương lai được dự kiến không chắc chắn, tồn kho thành phẩm với số lượng lớn sẽ đáp ứng nhanh chóng bất kỳ một nhu cầu tiêu thụ nào trong tương lai, đồng thời tối thiểu hóa thiệt hại vì mất doanh số bán do không có hàng giao hay thiệt hại vì mất uy tín do chậm trễ trong giao hàng khi hàng trong kho bị hết. Dưới góc độ của nhà sản xuất thì việc duy trì một lượng lớn thành phẩm tồn kho cho phép các loại sản phẩm được sản xuất với số lượng lớn, và điều này giúp giảm chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị sản phẩm do chi phí cố định được phân bổ trên số lượng lớn đơn vị sản phẩm được sản xuất ra.

1.1.6. Xác định lượng tồn kho nguyên vật liệu cần dùng cho kỳ kế hoạch (lượng vật tư cần dùng). Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Lượng vật tư cần dùng là lượng vật tư được sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm nhất trong kỳ kế hoạch. Lượng vật tư cần dùng phải đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu tổng sản lượng trong kỳ kế hoạch. Đồng thời cũng phải tính đến nhu cầu vật tư cho chế thử, dùng cho sửa chữa máy móc thiết bị.

Việc xác định lượng vật tư cần dùng là cơ sở để lập kế hoạch mua sắm vật tư. Lượng vật tư cần dùng được tính toán cụ thể cho từng loại, từng thứ tự theo quy cách, cỡ loại của nó ở từng bộ phận sử dụng sau đó tổng hợp chung cho toàn công ty.

Khi tính toán cần dựa trên cơ sở định mức tiêu dùng vật tư cho một đơn vị sản phẩm và nhiên liệu cho sản xuất, chế thử sản phẩm và sửa chữa cho kỳ kế hoạch. Tuỳ thuộc vào từng loại vật tư, từng loại sản phẩm đặc điểm kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp mà vận dụng phương pháp tính toán thích hợp.

  • Để xác định nhu cầu vật tư cho kỳ kế hoạch của doanh nghiệp cần căn cứ vào
  • Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của năm kế hoạch.
  • Định mức tiêu hao vật tư cho một đơn vị sản phẩm.
  • Tình hình giá cả vật tư trên thị trường.
  • Xác định lượng vật tư cần dùng cho năm kế hoạch đối với các sản phẩm có định mức vật tư theo công thức sau:

Trong đó:

  • Vcd : Lượng vật tư cần dùng cho năm kế hoạch.
  • Mij : Là định mức vật tư loại j dùng để sản xuất một đơn vị sản phẩm loại i hoặc cho một chi tiết sản phẩm loại i.
  • Qi : Là số sản phẩm loại i sản xuất trong kỳ kế hoạch, hoặc khối lượng chi tiết sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch.
  • : Là số sản phẩm mà công ty sản xuất trong kỳ kế hoạch.

Xác định nhu cầu vật tư dùng cho năm kế hoạch đối với các sản phẩm chưa xây dựng được định mức vật tư chính xác, để xác định nhu cầu vật tư có thể dùng phương pháp tính theo hệ số biến động theo công thức sau: Vcd=Nbc xTsx xHsd

Trong đó: Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

  • Vcd: Lượng vật tư cần dùng cho năm kế hoạch.
  • Nbc: Lượng vật tư đã sử dụng trong năm báo cáo.
  • Tsx: Nhịp độ phát triển sản xuất của kỳ kế hoạch.
  • : Hệ số sử dụng vật tư năm kế hoạch so với năm báo cáo.

Định mức tiêu hao vật tư

Định mức tiêu hao vật tư là quy định số nguyên vật liệu, nhiên liệu tối đa cho phép để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm trong những điều kiện tổ chức và kỹ thuật nhất định của thời kỳ kế hoạch. Định mức tiêu hao vật tư có những tác dụng sau:

Định mức tiêu hao vật tư là cơ sở để tính các chỉ tiêu kế hoạch, cân đối trong doanh nghiệp, từ đó xác định đúng đắn mối quan hệ mua bán và ký hợp đồng giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa các doanh nghiệp với các đơn vị kinh doanh vật tư.

Định mức tiêu hao vật tư là căn cứ để tổ chức cấp phát vật tư hợp lý, kịp thời cho các phân xưởng, đội xe, công trường, bộ phận sản xuất và nơi làm việc đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành cân đối nhịp nhàng và liên tục.

Định mức tiêu hao vật tư có vị trí quan trọng trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh. Điều quan trọng đối với cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp phải nhận thấy rằng định mức tiêu hao vật tư là chỉ tiêu biến động phải luôn được đổi mới và hoàn thiện theo tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự đổi mới và hoàn thiện của các mặt quản lý và trình độ tay nghề của công nhân không ngừng được nâng cao.

Phương pháp xác định định mức tiêu hao vật tư có ý nghĩa quyết định đến kết quả tính định mức vật tư, các định mức đã được xác định tuỳ theo những đặc điểm kinh tế kỹ thuật, điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà chọn phương pháp xây dựng thích hợp. Trong thực tế hiện có 3 phương pháp xây dựng định mức tiêu hao vật tư:

  • Phương pháp thống kê
  • Phương pháp phân tích tính toán
  • Phương pháp thử nghiệm sản xuất

1.1.7. Xác định lượng tồn kho nguyên vật liệu cần mua (lượng vật tư cần mua)

Sau khi đã xác định lượng vật tư cần dùng, cần dự trữ thì phải tiến hành tổng hợp và cân đối các nhu cầu để xác định lượng vật tư doanh nghiệp cần thiết phải mua trên thị trường trong nước và nước ngoài để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch của doanh nghiệp. Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Xác định lượng vật tư cần mua theo công thức sau: Vcm =Vcd +(Vd1 –Vd2)

Trong đó:

  • Vcm : Lượng vật tư cần mua.
  • Vcd  : Lượng vật tư cần dùng.
  • Vd2  : Lượng vật tư dự trữ đầu kỳ kế hoạch ( cuối năm báo cáo).
  • Vd1  : Lượng vật tư tồn kho cuối kỳ kế hoạch.

Lượng vật tư tồn kho cuối năm báo cáo, đảm bảo cho hoạt động của công ty được tiến hành bình bình thường, được xác định ngay từ đầu năm kế hoạch.

Lượng vật tư tồn kho đầu kỳ được tiến hành theo công thức: Vd1=(Vk +Vnk) –Vx

Trong đó:

  • Vk : Lượng vật tư tồn kho ở thời điểm kiểm kê.
  • Vnk: Lượng vật tư nhập kho từ thời điểm kiểm kê đến cuối năm báo cáo.
  • Vx : Lượng vật tư xuất kho để dùng từ thời điểm kiểm kê đến cuối năm báo cáo.

1.2. Các chi phí liên quan đến tồn kho. Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Tại cùng một thời điểm khi một Doanh nghiệp được hưởng những lợi ích từ việc sử dụng hàng tồn kho thì các chi phí có liên quan cũng phát sinh tương ứng, bao gồm:

  • Chi phí đặt hàng (Ordering costs)
  • Chi phí tồn trữ (Carrying costs)
  • Chi phí thiệt hại do không có hàng (Stockout costs)

1.2.1. Chi phí đặt hàng (Ordering costs).

Chi phí đặt hàng bao gồm các chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển và chi phí giao nhận hàng. Chi phí đặt hàng được tính bằng đơn vị tiền tệ cho mỗi lần đặt hàng. Khi một doanh nghiệp đặt hàng từ một nguồn cung cấp từ bên ngoài thì chi phí đặt hàng bao gồm chi phí chuẩn bị một yêu cầu mua hàng, chi phí để lập được một đơn hàng như chi phí thương lượng (gọi điện thoại xa, và các thư giao dịch tiếp theo sau đó), chi phí nhận và kiểm tra hàng hóa, chi phí vận chuyển và chi phí trong thanh toán. Yếu tố giá cả thay đổi và phát sinh chi phí trong những công đoạn phức tạp như vậy đã ảnh hưởng đến chi phí cho mỗi lần đặt hàng của doanh nghiệp. Khi đơn đặt hàng được cung cấp từ trong nội bộ thì chi phí đặt hàng chỉ bao gồm cơ bản là chi phí sản xuất, những chi phí phát sinh khi khấu hao máy móc và duy trì hoạt động sản xuất.

Trên thực tế chi phí cho mỗi lần đặt hàng thường bao gồm các chi phí cố định và chi phí biến đổi, bởi vì một phần tỷ lệ chi phí đặt hàng như chi phí giao nhận và chi phí kiểm tra hàng thường biến động theo số lượng hàng đặt mua. Chính vì vậy trong nhiều mô hình quản lý hàng tồn kho đơn giản như mô hình hàng tồn kho EOQ người ta sẽ giả định chi phí cho mỗi lần đặt hàng là cố định và độc lập với số đơn vị hàng được mua.

1.2.2. Chi phí tồn trữ (Carrying costs).

Chi phí tồn trữ bao gồm tất cả các chi phí lưu trữ hàng trong kho trong một khoảng thời gian xác định trước. Chi phí tồn trữ được tính bằng đơn vị tiền tệ trên mỗi đơn vị hàng lưu kho hoặc được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng lưu kho trong một thời kỳ. Các chi phí thành phần của chi phí tồn trữ bao gồm: chi phí lưu giữ và chi phí bảo quản, chi phí hư hỏng và chi phí thiệt hại do hàng tồn kho bị lỗi thời, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí đầu tư vào hàng tồn kho.

Chi phí lưu giữ vào bảo quản bao gồm trong đó chi phí kho hàng. Nếu một doanh nghiệp thuê kho thì chi phí này bằng với tiền thuê phải trả. Nếu nhà kho này thuộc sở hữu của doanh nghiệp thì chi phí này bằng với chi phí cơ hội sử dụng nhà kho này. Ngoài ra chi phí lưu giữ và bảo quản cũng bao gồm chi phí khấu hao các thiết bị hỗ trợ cho hoạt động kho như băng chuyền và xe nâng chuyên dụng. Chi phí tồn trữ còn bao gồm tiền lương trả cho nhân viên coi kho và nhân viên điều hành.

Hàng tồn kho chỉ có giá trị một khi nó có thể bán được. Chi phí lỗi thời thể hiện cho sự giảm sút giá trị hàng trong kho do tiến bộ của khoa học kỹ thuật hay thay đổi kiểu dáng và tất cả các hoạt động này làm cho hàng tồn kho trở nên khó có thể bán được. Chi phí hư hỏng thể hiện sự giảm giá trị của hàng tồn kho do các tác nhân lý hóa như là chất lượng hàng hóa bị biến đổi hoặc bị gãy vỡ. Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Các thành phần khác của chi phí tồn trữ như là chi phí bảo hiểm hàng tồn kho trước các hiểm họa như mất cắp, hỏa hoạn, và các thảm họa tự nhiên khác. Ngoài ra, một doanh nghiệp phải trả các loại thuế tài sản và các loại thuế khác theo quy định của địa phương và quy định của chính phủ trên giá trị hàng tồn kho của doanh nghiệp.

Chi phí đầu tư vào hàng tồn kho được đo lường bằng tỷ suất sinh lợi yêu cầu của nguồn vốn này. Bởi vì việc đầu tư vào hàng tồn kho được xem như có “rủi ro trung bình” nên chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp sẽ được sử dụng để xác định chi phí của nguồn vốn sử dụng đầu tư vào hàng tồn kho này. Nếu một doanh nghiệp hiện tại cho rằng đầu tư vào hàng tồn kho như là một khoản đầu tư có rủi ro cao hơn hoặc thấp hơn mức lương trung bình thì cần thiết phải có một vài điều chỉnh trong chi phí sử dụng vốn bình quân của nguồn vốn đầu tư để phù hợp với mức độ rủi ro khác biệt này.

Một vài doanh nghiệp gặp phải sai lầm khi sử dụng lãi suất vay ngắn hạn khi tính chi phí đầu tư vào hàng tồn kho. Khuynh hướng này đã đánh giá thấp chi phí thật sự, bởi vì một số lượng nợ vay có lãi suất thấp mà doanh nghiệp huy động được phải được bù trừ với một nguồn tài trợ tăng thêm có chi phí sử dụng vốn cổ phần cao hơn. Chi phí đầu tư vào hàng tồn kho tạo nên chi phí cơ hội thể hiện mức sinh lợi bị mất đi khi doanh nghiệp quyết định đầu tư nguồn vốn có giới hạn của mình vào hàng tồn kho cao hơn là vào những tài sản khác. Do đó, đối với hầu hết các quyết định đầu tư vào hàng tồn kho, chi phí cơ hội xấp xỉ như chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp.

Cũng giống như chi phí đặt hàng, chi phí tồn trữ cũng bao gồm trong đó các chi phí cố định và các chi phí biến đổi. Gần như tất cả các chi phí tồn trữ biến động tỷ lệ theo mức độ hàng tồn kho, nhưng có một phần trong đó như chi phí thuê kho hay chi phí khấu hao các thiết bị hoạt động trong kho là tương đối cố định trong thời gian ngắn hạn. Tuy nhiên, hầu hết các mô hình quản lý hàng tồn kho đơn giản như mô hình EOQ đều xem chi phí tồn trữ như là một chi phí khả biến trên mỗi đơn vị hàng tồn kho.

1.2.3. Chi phí thiệt hại khi không có hàng (hàng tồn kho hết) (Stockout costs).

Chi phí thiệt hại do hàng tồn kho hết xảy ra bất cứ khi nào doanh nghiệp không có khả năng giao hàng bởi vì nhu cầu hàng lớn hơn số lượng hàng sẵn có trong kho. Ví dụ khi nguyên vật liệu trong kho hết thì chi phí thiệt hại do không có nguyên vật liệu sẽ bao gồm chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng trệ sản xuất. Khi hàng tồn kho sản phẩm dở dang hết thì doanh nghiệp sẽ bị thiệt hại do kế hoạch sản xuất bị thay đổi và nó cũng có thể là nguyên nhân gây ra những thiệt hại so sản xuất ngừng trệ và phát sinh chi phí. Cuối cùng khi hàng tồn kho hết đối với thành phẩm có thể gây nên hậu quả là lợi nhuận bị mất trong ngắn hạn khi khách hàng quyết định mua sản phẩm từ những doanh nghiệp đối thủ và gây nên những mất mát tiềm năng trong dài hạn khi khách hàng quyết định đặt hàng từ những doanh nghiệp khác trong tương lai.

1.3. Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả – mô hình EOQ.

1.3.1. Mô hình EOQ. Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hàng tồn kho mang tính định lượng được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp, dựa trên cơ sở giữa chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Cụ thể, khi số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên, số lần đặt hàng giảm và dẫn đến chi phí đặt hàng giảm trong khi chi phí tồn trữ hàng tăng lên. Do đó, mục đích của quản lý hàng tồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng sao cho tổng chi phí tồn kho là thấp nhất.

Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng, khi hết hàng doanh nghiệp lạ tiếp tục đặt mua Q đơn vị hàng mới. Tại thời điểm đầu kỳ, lượng hàng tồn kho là Q và ở thời điểm cuối kỳ là 0 nên số lượng tồn kho bình quân trong kỳ là:

  • Gọi C là chi phí tồn trữ cho mỗi đơn vị hàng tồn kho thì tổng chi phí tồn trữ hàng tồn kho trong kỳ là :
  • Đường biểu diễn mối quan hệ giữa chi phí tồn trữ, chi phí đặt hàng, tổng chi phí theo các mức sản lượng tồn kho
  • Gọi S là lượng hàng tiêu thụ trong kỳ nên số lần đặt hàng trong kỳ là:
  • Gọi O là chi phí cho mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng trong kỳ là:
  • Gọi T là tổng chi phí thì:
  • Từ công thức trên ta có thể tính toán được số lượng vật tư, hàng hóa tối đa mỗi lần cần hợp đồng cung cấp như sau:
  • Đạo hàm 2 vế theo biến Q ta có:
  • Tổng chi phí tồn kho dự trữ sẽ là tối thiểu khi  = 0, khi đó:
  • Gọi Q* là lượng hàng dự trữ tối ưu, tức tại Q* là lượng hàng cho chi phí thấp nhất dẫn đến:
  • Đây cũng chính là số lượng vật tư, hàng hóa tối đa mỗi lần cung cấp (Qmax=Q*).

Một thông tin khác cũng rất hữu dụng và đôi lúc được sử dụng thay thế là độ dài thời gian dự trữ tối ưu của một chu kỳ hàng tồn kho: đó là khoảng thời gian giữa hai lần đặt hàng kế tiếp nhau. Gọi T* là thời gian dự trữ tối ưu được tính bằng cách lấy số lượng đặt hàng tối ưu Q* chia cho nhu cầu sử dụng hàng tồn kho bình quân một ngày tức là S/365 (giả định rằng một năm có 365 ngày), đơn vị tính là ngày. Ta có công thức sau: Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

  • Công thức trên cũng có thể được viết lại như sau:

Mô hình EOQ mở rộng: Mô hình EOQ giả định dựa trên một số các giả định, bao gồm nhu cầu về hàng tồn kho, thời gian chuẩn bị giao nhận hàng bổ sung, nội dung ứng xử của chi phí đặt hàng và chi phí tồn trữ và chiết khấu theo số lượng. Tuy nhiên trong ứng dụng thực tế mô hình hàng tồn kho, một vài giả định không còn có giá trị. Do vậy để hiểu sự khác biệt về các giả định đã tác động đến phân tích số lượng đặt hàng tối ưu như thế nào là điều cần thiết và quan trọng.

Thời gian chuẩn bị giao nhận hàng khác 0. Mô hình EOQ giả định rằng việc cung cấp bổ sung hàng tồn kho sẽ được diễn ra ngay tức thời, như vậy thời gian chuẩn bị giao nhận hàng là bằng 0. Tuy nhiên trên thực tế thường có một khoảng thời gian trôi qua giữa thời điểm đặt mua hàng và thời điểm hàng được nhận tại kho. Khoảng thời gian chuẩn bị giao nhận hàng này có thể bao gồm khoảng thời gian cần thiết để sản xuất mặt hàng đó hay khoảng thời gian cần thiết để đóng gói và vận chuyển, hoặc cả hai.

Nếu thời gian chuẩn bị giao hàng là một con số nào đó không thay đổi theo thời gian và được biết chắc chắn, số lượng đặt hàng tối ưu Q* sẽ không bị tác động bởi việc đặt hàng lại. Trong thực tế một doanh nghiệp không bao giờ chờ đến cuối chu kỳ hàng tồn kho (nghĩa là hàng tồn kho tiến đến 0) mới đặt hàng lại. Thay vào đó, các doanh nghiệp sẽ tiến hành đặt hàng trước n ngày cho cuối mỗi chu kỳ dự trữ. Số ngày n được xác định bằng với thời gian chuẩn bị giao nhận hàng bổ sung (đơn vị tính là ngày). Điểm đặt hàng lại được xem như là mức độ tồn kho mà tại đó thực hiện một đơn đặt hàng kế tiếp. Giả định rằng nhu cầu về một loại hàng tồn kho nào đó là không thay đổi theo thời gian, điểm đặt hàng lại ký hiệu là Qr, điểm đặt hàng lại Qr được xác định bằng với thời gian chuẩn bị giao nhận hàng n (đơn vị tính là ngày), nhân cho nhu cầu sử dụng hàng tồn kho trong một ngày:

Với S/365 là nhu cầu hàng tồn kho trong một ngày. Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

  • Chiết khấu theo số lượng

Khi một doanh nghiệp đặt hàng với số lượng lớn thì thông thường sẽ được nhà cung cấp bán với giá chiết khấu bởi lẽ doanh nghiệp sản xuất sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm được sản xuất, tiết kiệm chi phí trên mỗi đơn vị khi thực hiện đơn hàng và chi phí trên mỗi đơn vị trong quá trình vận chuyển. Nhiều doanh nghiệp khuyến khích khách hàng của họ đặt một đơn hàng số lượng lớn bằng cách dành cho họ một tỷ lệ chiết khấu và được gọi là chiết khấu theo số lượng. Với cách thức chiết khấu theo số lượng, chi phí mua trên mỗi đơn vị hàng sẽ thay đổi và tùy thuộc vào số lượng hàng được đặt. Cách tiếp cận này có thể được sử dụng để xác định ảnh hưởng của trường hợp chiết khấu theo số lượng đối với số lượng đặt hàng tối ưu.

Trước hết ta có mô hình EOQ như đã xác định ở trên. Ta tính toán mức sinh lợi ròng hàng năm khi số lượng đặt hàng được gia tăng từ tồn kho EOQ lên tới mức đặt hàng cần thiết để có thể nhận được khoản chiết khấu. Mức sinh lợi ròng hàng năm bằng với tiết kiệm từ hưởng chiết khấu trên tổng mức cầu hàng năm trừ đi bất kỳ một gia tăng nào trong chi phí liên quan đến hàng tồn kho như đã xác định. Nếu mức sinh lợi ròng tăng thêm hàng năm là dương thì số lượng đặt hàng tối ưu là số lượng đặt hàng cần thiết để có thể được hưởng mức chiết khấu. Nếu không, lượng đặt hàng tối ưu sẽ là giá trị EOQ.

  • Mô hình kiểm soát hàng tồn kho theo rủi ro

Trong mô hình EOQ, việc phân tích dựa trên những giả định như nhu cầu và mức độ sử dụng là đều đặn theo thời gian và được xác định trước, cũng như thời gian chuẩn bị giao nhận hàng cần thiết để bổ sung hàng tồn kho là không thay đổi. Tuy nhiên trong thực tế hầu hết các vấn đề phát sinh trong quản trị hàng tồn kho là những giả định này không phải lúc nào cũng diễn ra đúng như vậy. Thường thì nhu cầu hàng tồn kho biến động theo mùa vụ hay biến động có tính chu kỳ hoặc biến động bởi những ảnh hưởng ngẫu nhiên và những dự báo không chính xác mức cầu hàng tồn kho trong tương lai. Tất cả những điều này đều có thể xảy ra. Tương tự, thời gian chuẩn bị giao nhận hàng cũng bị tác động bởi những yếu tố như quá trình chuyên chở bị trì hoãn, đình công và các thảm họa tự nhiên khác. Với tất cả những tác động này, khả năng trường hợp hàng tồn kho bị thiếu hụt là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Để khắc phục sự thiệt hại trong những trường hợp như vậy, hầu hết các doanh nghiệp sử dụng cách thức bổ sung một lượng hàng tồn kho an toàn để sẵn sàng đáp ứng trước những biến động nhu cầu không thể lường trước hoặc khi có sự chậm trễ ngoài mong đợi trong thời gian chuẩn bị giao nhận hàng, hoặc cả hai.

Để xác định mức tồn kho an toàn và số lượng đặt hàng tối ưu trong những điều kiện thực tế như vậy là một quá trình phức tạp. Tuy nhiên, các yếu tố xem xét trong loại phân tích này có thể được tóm lược như sau: nếu tất cả những tác động khác được cân bằng thì hàng tồn kho an toàn tối ưu sẽ gia tăng khi có sự không chắc chắn cùng với nhu cầu sử dụng dự kiến gia tăng và thời gian giao hàng lên. Cũng như vậy, nếu tất cả các yếu tố khác không thay đổi thì mức tồn kho an toàn tối ưu sẽ gia tăng khi chi phí thiệt hại tăng do hàng trong kho hết. Việc xác định mức tồn kho tối ưu liên quan đến việc cân đối giữa chi phí thiệt hại dự kiến do hết hàng tồn kho so với chi phí tồn trữ hàng tồn kho bổ sung.

1.3.2. Hệ thống quản lý hàng tồn kho Just – In – Time (phương pháp tồn kho bằng không). Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

Hệ thống quản lý hàng tồn kho đúng lúc Just – In – Time là một phần của quá trình quản lý sản xuất nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động và thời gian sản xuất bằng cách loại bỏ bớt những công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí. Hệ thống cung ứng đúng thời điểm (tồn kho bằng 0) được dựa trên những ý tưởng cho rằng tất cả các mặt hàng cần thiết có thể được cung cấp trực tiếp cho các giai đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác cả về thời điểm giao hàng lẫn số lượng hàng được giao thay vì phải dự trữ thông qua tồn kho.

Mô hình tồn kho bằng 0 tỏ ra hiệu quả nhất đối với những doanh nghiệp có những hoạt động sản xuất mang tính chất lặp đi lặp lại. Một phần quan trọng của kỹ thuật Just – In – Time là thay thế việc sản xuất từng lô hàng với một số lượng lớn sản phẩm bằng cách sản xuất theo một dòng liên tục các sản phẩm được sản xuất ra với số lượng nhỏ. Việc sử dụng hệ thống tồn kho Just – In – Time đòi hỏi một sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà cung cấp, bởi vì bất kỳ một sự gián đoạn nào trong quá trình cung ứng cũng có thể gây tổn thất cho nhà sản xuất vì nhà sản xuất sẽ phải gánh chịu các chi phí phát sinh do ngừng trệ sản xuất hay mất doanh số bán.

Việc sử dụng kỹ thuật Just – In – Time sẽ cho kết quả giảm thiểu được thời gian sản xuất và chi phí tồn kho đối với cả những doanh nghiệp lớn lẫn những doanh nghiệp nhỏ. Khóa luận: Hiệu quả quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng Quản trị hàng tồn kho tại Công ty NewStar

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x