Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1. Bối cảnh

Như chúng ta đã biết, để phát huy được vai trò của mình thì pháp luật cần phải được thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, qua thực tiễn xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật trong thời gian vừa qua đã cho thấy tình trạng quy phạm pháp luật chứa đựng quy định có nhiều nghĩa, nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến việc gây khó khăn cho hoạt động thực hiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật, đảm bảo tính thống nhất của pháp luật, nhu cầu giải thích pháp luật là rất lớn, đồng thời, hoạt động giải thích pháp luật đòi hỏi cần phải diễn ra thường xuyên, kịp thời.

Giải thích pháp luật được hiểu là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, phạm vi, ý nghĩa và mục đích của các quy định của pháp luật. Đây là một hoạt động tất yếu, có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo thực thi các quy định của pháp luật một cách chính xác và thống nhất. Hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta do Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đảm nhiệm, tuy vậy, hoạt động trên chưa thực sự có hiệu quả và đáp ứng được những yêu cầu giải thích pháp luật của xã hội. Để giải quyết kịp thời nhu cầu giải thích pháp luật mà thực tiễn đặt ra, những chủ thể khác (cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp) buộc phải thực hiện các hoạt động giải thích pháp luật. Rất gần đây, Tòa án nhân dân Tối cao được trao thẩm quyền ban hành án lệ, tuy nhiên việc thực hiện vẫn còn khá hạn chế. Hơn nữa, hiện nay việc giải thích pháp luật chưa được quan tâm đúng mức đã dẫn đến việc giải thích pháp luật không thống nhất, chồng chéo và ít có hiệu quả.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Nhận Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2. Tính cấp thiết của đề tài

Đề tài có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, xuất phát từ các lý do sau đây:

Thứ nhất, giải thích pháp luật là một trong những khái niệm cơ bản của khoa học pháp lý, việc nghiên cứu về giải thích pháp luận có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, một số vấn đề lý luận về giải thích pháp luật chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, thấu đáo và toàn diện, đó là những lý thuyết về giải thích pháp luật chưa có điều kiện để hệ thống lại, những quan điểm trên những phương diện căn bản chưa được thống nhất, việc giải thích pháp luật hiện nay cũng chưa được quan tâm đúng mức. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, hoạt động giải thích pháp luật ở nước ta do Ủy ban Thường vụ Quốc hội đảm nhiệm tuy đã có một số thành tựu nhưng chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu. Nghiên cứu về giải thích pháp luật vừa góp phần sáng tỏ về mặt lý luận, vừa có thể chỉ ra những điểm chưa hợp lý trong thực tiễn, để đưa ra những đánh giá, những giải pháp cụ thể, từ đó góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này.

Thứ ba, trên thực tế, để đảm bảo giải quyết kịp thời nhu cầu giải thích pháp luật thực tiễn đặt ra, những chủ thể khác (Tòa án) buộc phải thực hiện các hoạt động giải thích pháp luật. Cho đến nay Toà án đã được ban hành án lệ, tuy nhiên vẫn còn hạn chế (quy trình lựa chọn, công bố án lệ còn nhiều bất cập; số lượng án lệ chưa nhiều; thực tiễn tạo lập án lệ của Tòa án chưa thực sự tập trung vào việc nâng cao chất lượng của lập luận tạo lập án lệ…). Trong thời gian vừa qua, có thể thấy, Tòa án cũng đóng một vị trí, vai trò nhất định trong hoạt động giải thích pháp luật.

Việc mở rộng thẩm quyền giải thích pháp luật của Tòa án hiện nay vẫn còn có nhiều tranh cãi về mặt lý luận cũng như thực tiễn (Có nên mở rộng thẩm quyền giải thích pháp luật không? Thẩm phán nên có quyền giải thích pháp luật nhằm đáp ứng với các nhu cầu mới, hay thẩm phán buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt ý chí của nhà làm luật dù ý chí đó có lỗi thời, khiếm khuyết, hoặc không mang tính dự liệu tốt?)

Xuất phát từ những lý do trên, có thể thấy đề tài “Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay” là một đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.

3. Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích sau:

  • Tổng hợp và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận chung về giải thích pháp luật.
  • Đánh giá, xem xét tình hình giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay, những thành tựu đã đạt được, những hạn chế còn tồn tại, ưu điểm, nhược điểm… thông qua đó có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về hoạt động trên, đưa ra những giải pháp hoàn thiện hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam.

Trên cơ sở của mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của khóa luận được xác định như sau:

  • Những nội dung cơ bản về lý luận giải thích pháp luật (khái niệm, vai trò, mục đích, nguyên tắc, phương pháp giải thích…)
  • Thực tiễn giải thích pháp luật ở Việt Nam, thực tế hoạt động và những vấn đề đang đặt ra.
  • Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá tình hình giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam một cách phù hợp, nâng cao chất lượng giải thích pháp luật.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật mà chủ yếu là trên cơ sở quan điểm duy vật và phép biện chứng. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
  • Phương pháp cụ thể: Phương pháp thu thập tài liệu, hệ thống, so sánh (sử dụng trong chương 1, 3), phân tích (phân tích các quy định của pháp luật, từ đó đưa ra các thực trạng của hoạt động giải thích pháp luật), tổng hợp, liên hệ logic…

5. Kết cấu khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận chung, phần nội dung của khóa luận được kết cấu thành 3 chương như sau:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải thích pháp luật
  • Chương 2: Thực trạng giải thích pháp luật tại Việt Nam hiện nay
  • Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT

1.1. Khái niệm, đặc điểm về giải thích pháp luật

1.1.1. Khái niệm về giải thích pháp luật

Cho tới nay, giải thích pháp luật chưa phải là một khái niệm được định nghĩa thống nhất. Giải thích pháp luật được tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau, mỗi một quốc gia, mỗi một học giả lại có một cách tiếp cận, nhận định riêng về khái niệm này. Khái niệm giải thích pháp luật được một số tác giả đưa ra như sau:

  • “Giải thích pháp luật được hiểu là việc làm sáng tỏ về mặt tư tưởng và nội dung của các quy phạm pháp luật; là nhằm xây dựng lại ý tưởng mà tác giả mong muốn truyền đạt qua các quy định của văn bản pháp luật đó” [11]
  • Hoặc “Về thực chất, giải thích pháp luật là việc xác định nội dung và phạm vi áp dụng của văn bản hay một quy định cụ thể của văn bản đó” [15, tr.3]
  • “Giải thích pháp luật là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền theo một quy trình pháp lý nhằm xác định chính xác
  • nghĩa, nội dung quy tắc xử sự trong văn bản quy phạm pháp luật (mà chủ yếu là những quy phạm pháp luật khi áp dụng gặp vướng mắc) để nhận thức, thực hiện pháp luật đúng đắn, thống nhất.” [14, tr.30]

Có thể thấy, có những định nghĩa tiếp cận vấn đề trên dưới góc độ ngữ nghĩa của thuật ngữ giải thích; có định nghĩa tiếp cận phạm vi giải thích pháp luật; hay tiếp cận dưới góc độc chung, phổ quát. Tuy nhiên dù tiếp cận từ góc độ nào thì khái niệm giải thích pháp luật cần thể hiện được các nội dung: tính thẩm quyền của hoạt động giải thích pháp luật; tính chất, phạm vi; đối tượng giải thích (quy phạm pháp luật hoặc quy tắc xử sự nào đó) và mục đích của việc giải thích pháp luật.

Như vậy, một cách chung nhất, có thể hiểu, giải thích pháp luật là việc làm rõ hơn về tinh thần, nội dung, ý nghĩa và mục đích các quy định của pháp luật so với nội dung ban đầu của chúng, giúp cho việc các cá nhân, tổ chức, cơ quan hiểu và thực thi các quy định pháp luật đó một cách chính xác và thống nhất. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

1.1.2. Đặc điểm về giải thích pháp luật

Giải thích pháp luật có những đặc điểm sau:

Giải thích pháp luật là một hoạt động tất yếu, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện pháp luật, giúp cho pháp luật được thực hiện một cách đúng đắn và thống nhất. Đây là một hoạt động giúp đưa pháp luật đi vào cuộc sống. Để thực hiện pháp luật, thì trước hết việc nhận thức pháp luật sao cho đúng và thống nhất cần phải được đặt ra, muốn làm được điều đó thì cần phải thực hiện giải thích pháp luật. Hoạt động giải thích pháp luật là hoạt động tất yếu để hoàn thiện hoạt động lập pháp, đưa những khái niệm tư duy trừu tượng đi vào thực tiễn.

Hoạt động giải thích pháp luật được thực hiện theo một quy trình nhất định. Để đảm bảo cho kết quả giải thích pháp luật hợp pháp, mang tính khoa học và khách quan thì các chủ thể giải thích và hoạt động giải thích cần phải được quy định và tuân theo một phương thức, quy trình nhất định. Đó là những phương pháp và cách thức tiếp cận các quy phạm pháp luật theo một trình tự chặt chẽ, từ việc xác định nhu cầu, nghiên cứu, phân tích, giải thích và công bố kết quả.

Hoạt động giải thích pháp luật là một hoạt động đòi hỏi sự tư duy, sáng tạo. Bằng những kĩ năng, trải nghiệm và kinh nghiệm của mình, các chủ thể giải thích pháp luật nghiên cứu, đưa ra những phân tích, những sản phẩm giải thích pháp luật với mục đích chính là nhằm xác định tinh thần, nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, giúp cho việc thực thi các quy định đó chính xác và thống nhất.

Bên cạnh đó, hoạt động giải thích pháp luật cũng có tính phụ thuộc vào bối cảnh. Để có thể giải thích đúng tinh thần của văn bản luật, cần phải căn cứ vào các điều kiện kinh tế – xã hội đương thời, đặc biệt phải đặt việc giải thích luật vào bối cảnh phù hợp với sự hình thành và tồn tại của văn bản luật.

1.2. Các hình thức giải thích pháp luật Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau, giải thích pháp luật có những hình thức cơ bản sau:

  • Căn cứ theo chủ thể tiến hành giải thích pháp luật, giải thích pháp luật có thể được phân loại:
  • Giải thích pháp luật của cơ quan lập pháp (Nghị viện, Quốc hội);
  • Giải thích pháp luật của các cơ quan hành pháp (Chính phủ);
  • Giải thích pháp luật của các cơ quan tư pháp (Tòa án);
  • Giải thích pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (các học giả, nhà khoa học, luật sư…)
  • Căn cứ theo tiêu chí đối tượng của giải thích pháp luật, giải thích pháp luật được phân thành giải thích Văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp, Luật…); giải thích tập quán pháp; giải thích tiền lệ pháp…

Căn cứ vào giá trị pháp lý của nội dung giải thích, giải thích pháp luật được phân loại thành giải thích pháp luật chính thức và giải thích pháp luật không chính thức. Có thể hiểu về giải thích pháp luật chính thức và giải thích pháp luật không chính thức như sau:

Giải thích pháp luật chính thức là hoạt động được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Nội dung giải thích thường được thể hiện dưới dạng văn bản, có giá trị pháp lý bắt buộc. Giải thích pháp luật chính thức lại được chia làm hai loại, bao gồm giải thích chính thức mang tính quy phạm và giải thích tình huống [12, tr.17-21]

Giải thích chính thức mang tính quy phạm là giải thích pháp luật được tiến hành bởi chủ thể có thẩm quyền theo trình tự nhất định, được thực hiện trên cơ sở khái quát từ thực tế của hoạt đông thực hiện và áp dụng pháp luật. Thông thường, trong thực tế, giải thích pháp luật chính thức mang tính quy phạm thường là giải thích các văn bản quy phạm pháp luật. Những văn bản thể hiện nội dung giải thích có giá trị pháp lý và mang tính bắt buộc chung.

Giái thích tình huống là hoạt động giải thích pháp luật được tiến hành khi phát sinh một tình huống, gắn liền với vụ việc cụ thể. Đây là hoạt động giải thích trong quá trình áp dụng pháp luật (ví dụ: giải thích của Tòa án trong khi xét xử một vụ án, giải quyết một tranh chấp để đưa ra phán quyết). Nội dung của giải thích tình huống không mang tính quy phạm, chỉ có giá trị pháp lý đối với các chủ thể trong vụ việc được giải quyết (có hiệu lực đối với các vụ việc pháp lý khác trong trường hợp khi giải thích này được xây dựng thành án lệ).

Giải thích pháp luật không chính thức là hình thức giải thích pháp luật có thể được thực hiện bởi bất kì cá nhân hoặc tổ chức nào, thường được thực hiện bởi các chủ thể như các cơ quan, tổ chức, cá nhân nghiên cứu khoa học… Có thể tìm thấy hình thức giải thích pháp luật không chính thức tại những bài báo, tạp chí nghiên cứu, sách chuyên khảo, bình luận… Những nội dung giải thích trong hình thức giải thích này có giá trị tham khảo, không mang tính bắt buộc thực hiện. Đây là loại giải thích phổ biến nhất, đa dạng nhất, vì ai cũng có thể giải thích được. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng loại giải thích pháp luật này có thể có những hạn chế như không chính xác, mang tính chủ quan, không thống nhất. Mặc dù vậy, chúng cũng có ảnh hưởng nhất định tới ý thức pháp luật, hành pháp lý của các chủ thể pháp luật và thông qua đó ảnh hưởng tới hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật của họ. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

1.3. Vai trò, mục đích của giải thích pháp luật

Giải thích pháp luật là một hoạt động tất yếu, đóng vai trò quan trọng trong việc đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống và mọi nhà nước đều phải thực hiện. Giải thích pháp luật ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động nhận thức, thực thi và áp dụng pháp luật. Giải thích pháp luật có một số vai trò có thể kể đến như:

Thông qua mục tiêu trực tiếp là làm sáng tỏ những nội dung chưa được hiểu thống nhất của các quy phạm pháp luật, công tác giải thích pháp luật nhằm xóa đi ngăn cách giữa pháp luật thành văn với thực tiễn, là cầu nối giúp cho các quy phạm có thể áp dụng đuọc trong thực tiễn [6, tr.41].

Giải thích pháp luật là một phương thức góp phần bảo vệ và phát huy những giá trị của pháp luật. Pháp luật nói chung chứa đựng những giá trị chính trị, xã hội sâu sắc. Tuy nhiên, chúng không tự bảo vệ và phát huy được những giá trị của mình, đặc biệt là trong trường hợp pháp luật có thể chứa đựng những yếu tố không rõ ràng. Pháp luật cũng không thể tránh khỏi những khiếm khuyết vô tình hoặc mang tính chủ quan. Vì vậy, chúng cần được bảo vệ và phát huy những giá trị của mình phù hợp với từng điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể thông qua hoạt động giải thích pháp luật.

  • Nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật, khắc phục, hạn chế sự tùy tiện trong việc hiểu, vận dụng pháp luật, sự vô ý hay cố tình hiểu sai các quy định của pháp luật với những động cơ, mục đích khác nhau
  • Nâng cao ý thức pháp luật của các chủ thể, đem lại nhận thức đúng đắn cho người dân về pháp luật; xây dựng một thái độ đúng đắn, bao gồm cả trong công tác lập pháp, hành pháp, tư pháp. [14, tr. 41-44]
  • Góp phần hoàn thiện hoạt động lập pháp, giúp cho hoạt động áp dụng pháp luật (đặc biệt là trong hoạt động xét xử của Tòa án) được chính xác, đúng với ý đồ của nhà lập pháp trong từng vụ việc cụ thể.

Sở dĩ giải thích pháp luật có vai trò lớn lao như vậy bởi vì những mục đích của hoạt động này: giải thích pháp luật là hoạt động làm rõ tư tưởng, nội dung quy phạm pháp luật được lựa chọn để ra quyết định áp dụng pháp luật đúng đắn. Giải thích pháp luật còn là hoạt động nhằm tạo ra sự nhận thức thống nhất và thực hiện đúng đắn pháp luật. Sự thống nhất trong việc thực hiện pháp luật là một yêu cầu của hệ thống pháp luật tại bất kì quốc gia nào, đó còn là minh chứng cho trình độ áp dụng pháp luật, chất lượng pháp luật… và những điều này phụ thuộc không nhỏ vào hiệu quả hoạt động giải thích pháp luật. Thông qua việc làm rõ nội dung, tư tưởng các quy phạm pháp luật, giải thích pháp luật giúp cho các chủ thể pháp luật có sự nhận thức thống nhất và đúng đắn về pháp luật, giúp cho pháp luật tăng cường tính nghiêm minh, hiệu lực và hiệu quả trong quá trình thi hành và áp dụng; qua đó, tăng cường pháp chế và bảo vệ trật tự pháp luật. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Với những vai trò và mục đích trên, giải thích pháp luật là một hoạt động cần được quan tâm đúng mức, nghiên cứu đầy đủ, thấu đáo, toàn diện. Giải thích pháp luật phải được thực hiện một cách đúng đắn, chính xác để có thể phát huy được tối đa vai trò của mình, đem lại hiệu quả tích cực và góp phần hoàn thiện pháp luật.

1.4. Nguyên tắc, phương pháp giải thích pháp luật

1.4.1. Nguyên tắc giải thích pháp luật

Giải thích pháp luật là một hoạt động phức tạp, đòi hỏi yêu cầu, kĩ thuật, phương pháp chuẩn xác. Khi giải thích pháp luật cần chú ý một số nguyên tắc cơ bản sau:

Khi tiến hành giải thích cần giữ vững nguyên tắc khách quan, trung thực, phải căn cứ vào văn bản, không được làm sai lệch nội dung, thêm bớt, không vì lợi ích riêng của một hoặc một nhóm chủ thể nào đó.

Về ngôn ngữ quy phạm: Cần nghiên cứu ngôn ngữ quy phạm của văn bản khi đặt trong bối cảnh của chúng, khi giải thích không làm thay đổi nội dung, ý nghĩa ban đầu của ngôn ngữ trong văn bản.

Tôn trọng ý chí của cơ quan lập pháp, mục đích khách quan của văn bản: khi giải thích cần tìm hiểu, bám sát ý chí, mục đích của cơ quan lập pháp; xác định ý nghĩa của văn bản trên cơ sở ý tưởng của chủ thể ban hành, tránh việc giải thích xa rời, sai lệch mục đích ban đầu của văn bản.

Hệ thống hóa, tập hợp các sản phấm giải thích pháp luật để dễ dàng sử dụng, đối chiếu, kiểm soát và quản lý.

1.4.2. Phương pháp giải thích pháp luật Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Là một công việc phức tạp và có những yêu cầu khắt khe, khi thực hiện giải thích pháp luật luôn cần tới những phương pháp giải thích. Những phương pháp này có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng và hiệu quả của hoạt động giải thích pháp luật. Để làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng và ý nghĩa của các quy phạm pháp luật, khoa học pháp lý đưa ra các phương pháp giải thích pháp luật sau:

Phương pháp giải thích ngôn ngữ, văn phạm (giải thích theo nghĩa đen): là phương pháp làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật bằng cách làm rõ nghĩa của từng chữ, từng câu, và xác định mối liên hệ ngữ pháp giữa chúng trong lời văn của quy phạm đó.

Đây là phương pháp phổ biến và không thể thiếu khi tiến hành giải thích pháp luật, đặc biệt là khi giảỉ thích những quy phạm mà trong đó có những câu chữ, ngôn từ chuyên môn mới lạ, được sử dụng lần đầu, không dễ nhận thức đối với những người không có chuyên môn trong lĩnh vực.

Phương pháp logic là phương pháp sử dụng những suy đoán logic để làm sáng tỏ nội dung quy phạm pháp luật. Thông qua những phán đoán, suy luận logic cho pháp người nhận thức đạt tới chân lý trong quá trình phân tích nội dung quy phạm pháp luật. Phương pháp này thường được sử dụng trong trường hợp lời văn của quy phạm không trực tiếp thể hiện rõ ý chí của Nhà nước.

Phương pháp giải thích chính trị – lịch sử là phương pháp tìm hiểu nội dung quy phạm thông qua việc nghiên cứu các điều kiện hoàn cảnh chính trị – lịch sử đã dẫn đến việc ban hành các quy phạm hoặc văn bản quy phạm pháp luật đó và nhiệm vụ chính trị mà Nhà nước mong muốn đạt được khi ban hành quy phạm đó.

Ví dụ, với cùng một quy định về chế độ sở hữu thì với điều kiện chính trị – lịch sử năm 1980 thì chỉ được hiểu gồm hai chế độ là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, nhưng với các điều kiện chính trị – lịch sử năm 1992 thì phải được hiểu gồm ba chế độ là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân [16, tr.17-21]

Thành tố chính trị – lịch sử đóng góp vào việc giải thích pháp luật thông qua việc căn cứ vào ý chí của nhà làm luật tại thời điểm ban hành văn bản luật. Hoàn cảnh ban hành và tồn tại của luật có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải thích pháp luật vì nếu muốn giải thích đúng tinh thần của văn bản luật, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế – xã hội đương thời, phải đặt việc giải thích luật vào bối cảnh phù hợp với sự hình thành và tồn tại của văn bản luật. Đây là một phương pháp cần được lưu ý đến trong hoạt động giải thích pháp luật, bởi xã hội không ngừng vận động và luôn luôn có những biến đổi quan trọng.

Phương pháp giải thích hệ thống là làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng quy phạm pháp luật thông qua việc đối chiếu với các quy phạm khác; xác định vị trí của quy phạm đó trong chế định pháp luật, ngành luật cũng như trong toàn bộ hệ thống pháp luật.

Phương pháp giải thích hệ thống có thể chỉ ra những mâu thuẫn, sự không thống nhất hay chồng chéo, thiếu sót của các quy phạm pháp luật cũng như các bộ phận trong hệ thống pháp luật.

Phương pháp giải thích so sánh, đối chiếu là phương pháp đưa ra những sự tương đồng, khác biệt (về quy định, cách thức điều chỉnh, cách giải quyết vấn đề) giữa các hệ thống pháp luật khác nhau, từ sự so sánh, đánh giá để rút ra những lập luận và giải thích có tính khoa học. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Ngoài ra, trong hoạt động giải thích pháp luật, căn cứ theo tiêu chí về khối lượng giải thích, phương pháp giải thích theo khối lượng gồm giải thích theo đúng nguyên văn; giải thích mở rộng; giải thích hạn chế cũng được sử dụng.

Về nguyên tắc, pháp luật phải được giải thích đúng nguyên văn. Tức là, nội dung của lời văn quy phạm pháp luật được hiểu theo từng câu, từng chữ của chúng. Đây là cách giải thích phổ biển trong thực tế.

Tuy nhiên, có những trường hợp cần giải thích theo cách phát triển mở rộng, hoặc giải thích hạn chế:

Giải thích pháp luật theo cách phát triển mở rộng có nghĩa là giải thích nội dung văn bản pháp luật rộng hơn so với nghĩa của từ ngữ văn bản, sao cho đúng với nghĩa đích thực mà nhà làm luật muốn thể hiện trong quy phạm (nội dung lời giải thích rộng hơn so với nội dung lời văn của quy phạm pháp luật mà nó giải thích).

Ví dụ: lời văn của quy định pháp luật là: “… thì sẽ bị xử lý theo luật định”, theo phương pháp giải thích mở rộng, nội dung giải thích đưa ra sẽ là “thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật” [4, tr.65]

Ngược lại với giải thích pháp luật theo cách phát triển mở rộng, giải thích hạn chế là cách giải thích nội dung văn bản pháp luật hẹp hơn so với nghĩa của từ ngữ trong văn bản sao cho đúng với ý nghĩa thực mà nhà làm luật muốn thể hiện trong quy phạm.

Ví dụ, lời văn của quy định pháp luật là: “… tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, theo phương pháp giải thích hạn chế, nội dung giải thích đưa ra là: “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và những người lao động khác”. Như vậy, chữ “nhân dân” sau khi được giải thích chỉ gồm những đối tượng trên, không bao gồm tất cả mọi người trong xã hội, hẹp hơn so với lời văn mà quy định nó chứa đựng. [4, tr.65]

Giải thích mở rộng và giải thích hạn chế là những trường hợp ngoại lệ, khi áp dụng không được tùy tiện để tránh làm sai lệch ý chí của nhà làm luật. Chúng được áp dụng để bổ sung, khắc phục những thiếu sót của kỹ thuật lập pháp, làm cho các chủ thể hiểu đúng, đủ nội dung thực sự của các quy định. Trong trường hợp, lời văn của quy định pháp luật thực sự rộng hơn hoặc hẹp hơn so với nội dung thật của nó thì đó gọi là giải thích mở rộng hoặc hạn chế, nếu không thì việc giải thích mở rộng hoặc hạn chế này là sự vi phạm pháp chế. Trong một số trường hợp, việc giải thích mở rộng hoặc hạn chế phụ thuộc vào điều kiện chính trị – lịch sử của đất nước.

Giữa các phương pháp giải thích pháp luật luôn có quan hệ mật thiết và không loại trừ lẫn nhau. Trong thực tế, khi tiến hành giải thích pháp luật, các chủ thể thường không sử dụng một phương pháp nhất định mà kết hợp một số phương pháp với nhau để mang lại hiệu quả cao. Việc lựa chọn này tuỳ thuộc vào nhận thức chủ quan, tư duy khoa học của người giải thích và mức độ tương ứng, phù hợp với từng loại quy định cần giải thích, hoàn cảnh giải thích, đồng thời cần phải cân nhắc đến sự thay đổi và quá trình phát triển liên tục của xã hội, thời điểm giải thích, mục đích giải thích, người đề nghị giải thích… Vậy nên, người giải thích pháp luật cần sử dụng, kết hợp những phương pháp thích hợp, phù hợp với từng vấn đề, từng giai đoạn giải thích để đem lại một sản phẩm giải thích pháp luật có chất lượng tốt nhất.

1.5. Một số mô hình giải thích pháp luật trên thế giới Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Chủ thể tiến hành giải thích pháp luật là yếu tố có tính quyết định trong nội dung của hoạt động này. Vì vậy có thể sử dụng tên của chủ thể giải thích pháp luật để gọi tên cho những mô hình giải thích pháp luật cơ bản trên thế giới. Hiện nay trên thế giới chủ yếu có 3 mô hình giải thích pháp luật cơ bản dựa trên các chủ thể chính tiến hành hoạt động giải thích:

  • Mô hình Tòa án giải thích pháp luật;
  • Mô hình cơ quan Lập pháp giải thích pháp luật;
  • Mô hình các cơ quan thuộc cả ba nhánh quyền lực nhà nước giải thích pháp luật.

1.5.1. Mô hình Tòa án giải thích pháp luật

Là một mô hình giải thích pháp luật khá phổ biến trên thế giới và là xu hướng chung hiện nay. Theo mô hình này, chủ thể giải thích pháp luật thuộc về Tòa án. Quyền giải thích pháp luật được trao cho Tòa án với mục đích nhằm hạn chế quyền lực Nhà nước và tạo ra sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực còn lại. Mô hình này có thể dễ bắt gặp tại các nước có cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước theo thuyết “Tam quyền phân lập”, điển hình như là Anh, Mỹ. Cách thức tổ chức và hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp các nước này có tính kiềm chế và đối trọng nhau. Đây cũng là các quốc gia có truyền thống sử dụng án lệ. Các quốc gia đề cao án lệ thường cũng chính là các quốc gia giao trọng trách giải thích pháp luật cho Tòa án. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Anh, các thẩm phán có thể tạo ra luật và đưa ra những quyết định để giải thích cho chính phán xét của họ. Hoạt động giải thích pháp luật chính là một phần trong những phán xét của Tòa án, được thể hiện thông qua việc trong các quyết định của Thẩm phán luôn luôn có phần giải thích đi kèm. Phán xét của Thẩm phán được chia thành 2 phần: Tranh luận và Quyết định. Phần Quyết định sẽ không được xem là án lệ bởi vì nó liên quan cụ thể đến từng trường hợp. Phần Tranh luận được xem là Án lệ bởi vì Thẩm phán đưa ra những lý do và ý kiến về trường hợp đó. Khi phán xét của Tòa án được cân nhắc thành Án lệ, giải thích pháp luật của phán xét cũng được tuân theo. Thẩm phán chính là người giải thích pháp luật cho chính phán xét của họ. Khi đó, giải thích pháp luật sẽ có hiệu lực và giá trị của giải thích pháp luật phụ thuộc vào Án lệ. Hơn nữa, hoạt động giải thích pháp luật của các Thẩm phán, bồi thẩm đoàn, luật sự, nhà nghiên cứu luật đều được tôn trọng. [10]

Là điển hình của trường phái Common Law, đối với hệ thống pháp luật Mỹ thì Tòa án cần phải diễn giải luật. Chánh án John Marshall là người đã tuyên bố công khai quyền xem xét lại theo thủ tục tư pháp qua vụ Marbury kiện Madison (1803), ông đã tuyên bố “Trách nhiệm và bổn phận chính của cơ quan tư pháp là giải thích luật”. Thậm chí, bổn phận đó còn bao hàm quyền của các Tòa án được bác bỏ những đạo luật của Quốc hội nếu những đạo luật này trái với Hiến pháp. Để đảm bảo được sự thống nhất và tính lường trước trong việc áp dụng pháp luật, các Tòa án Mỹ tự rằng buộc bởi nguyên tắc: “theo quyết định trước” – hay còn gọi là án lệ. Để giải quyết việc các Tòa án đưa ra những diễn giải khác nhau, thì Tòa án cấp cao hơn sẽ tìm cách giải quyết sự không thống nhất này. Và những phán quyết đó của các Toà án cấp cao có giá trị rằng buộc đối với bất kì Tòa án nào sau này nếu gặp phải vấn đề đó.

Quy trình chung của hoạt động giải thích pháp luật trong mô hình này về cơ bản nằm trong quy trình xét xử, sản phẩm giải thích được thể hiện trong nội dung của bản án, đặc biệt là phần lý lẽ. Là phần trọng tâm của bản án, phần lý lẽ chứa đựng các lập luận, luận cứ, cách giải thích pháp luật, các giải thích về phán quyết. Những lý lẽ này được đưa ra dựa trên nhiều nguồn khác nhau: các ý kiến, tranh luận của các thẩm phán; các dữ kiện từ các phán quyết trước…). Các tranh luận và quan điểm này thường được công bố (trong phiên tòa đối với Anh hoặc được tổng hợp lại và xuất bản đối với Mỹ).

Nhìn chung, theo mô hình Tòa án giải thích pháp luật thì đối tượng của giải thích pháp luật không bị hạn chế, đối tượng của giải thích pháp luật có thể là bất kì hình thức pháp luật nào (Hiến pháp, các đạo luật, văn bản dưới luật và những hình thức khác). Khi bản án trở thành một án lệ, thì hiệu lực của sản phẩm giải thích pháp luật cũng có giá trị áp dụng.

Giải thích pháp luật được trao cho Tòa án là xu hướng tất yếu trong cách thức tổ chức hoạt động giải thích pháp luật ở các quốc gia hiện nay. Mô hình này đã tồn tại và trở nên phổ biến bới những ưu điểm sau:

Trao quyền cho Tòa án trong việc giải thích pháp luật là một cách tốt hất để hạn chế việc lạm quyền, tạo nên sự cân bằng, đối trọng về quyền lực đối với hai nhánh quyền lực còn lại. Tòa án cần độc lập với hai nhánh trên để giữ vai trò trọng tài, và bản thân Tòa án ít có khả năng lạm quyền nhất, cũng là cơ quan có nhiều khả năng hạn chế sự lạm quyền nhất.

Nhu cầu giải thích pháp luật của Tòa án là luôn tồn tại, bởi Tòa án là nơi xét xử, giải quyết các vụ việc và trong quá trình đó luôn luôn phát sinh những tình huống mới. Tòa án cũng là cơ quan thực hiện việc giải thích pháp luật một cách tốt nhất, vì bằng những trải nghiệm và kinh nghiệm thực tiễn thông qua việc xét xử rất nhiều vụ việc, Tòa án là cơ quan sẽ thực hiện việc giải thích pháp luật một cách phù hợp và có hiệu quả. Việc trao quyền giải thích pháp luật cũng giúp cho Tòa án phát huy được thế mạnh của mình, nâng cao trách nhiệm và bổn phận của Tòa án, góp phần tạo được sự độc lập đối với nhánh Tư pháp; sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử của các Thẩm phán. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Đối với các nước có truyền thống sử dụng án lệ, khi giải quyết mỗi vụ việc cần xem xét, đánh giá và phân tích, giải thích các án lệ, quy định pháp luật có liên quan. Án lệ chính là nơi chứa đựng các nội dung giải thích pháp luật, và giữa án lệ và nội dung giải thích pháp luật có sự liên hệ với nhau. Khi sử dụng án lệ cũng có nghĩa là Tòa án có quyền giải thích và cần phải giải thích pháp luật.

1.5.2. Mô hình cơ quan lập pháp giải thích pháp luật

Theo mô hình này, chủ thể có thẩm quyền giải thích pháp luật một cách chính thức là các cơ quan lập pháp (Nghị viện, Ủy ban Thường vụ Quốc hội…). Các chủ thể này được ghi nhận chính thức về thẩm quyền của mình thông qua các văn bản pháp luật (Hiến pháp, các loại văn bản pháp luật khác).

Đối tượng giải thích chủ yếu trong mô hình này là các văn bản pháp luật như Hiến pháp, luật, một số văn bản pháp luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hay Nghị định của Chính phủ. Các đối tượng này được giải thích thông qua một quy trình giải thích pháp luật được quy định khá cụ thể và chi tiết.

Mô hình cơ quan Lập pháp giải thích pháp luật tồn tại điển hình ở một số nước như Liên Xô cũ, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam…

Một ví dụ điển hình đó chính là Trung Quốc. Nhằm duy trì tính chất chính thống của học thuyết lập hiến ở Trung Quốc, Trung Quốc không áp dụng hệ thống tam quyền phân lập, toàn bộ quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và nhân dân thi hành quyền lực của mình thông qua các cuộc họp hội đồng nhân dân. [23, tr.203] Hiến pháp hiện hành của Trung Quốc ghi nhận Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và pháp luật [20]. Thực hiện quyền giải thích pháp luật của mình, kể từ năm 1982 Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã tiến hành giải thích pháp luật một số ít trường hợp [2, tr.35] :

  • Giải thích Điều 93 Luật hình sự 1997
  • Giải thích Điều khoản 228, 342 và 410 Luật Hình sự 1997 (31/08/2001)
  • Giải thích Điều khoản 294 Luật Hình sự 1997 (28/04/2002)
  • Giải thích Điều 384 Luật Hình sự 1997 (28/04/2002)
  • Giải thích Điều 313 Luật Hình sự 1997 (29/08/2002)
  • Giải thích những vấn đề chung về chủ thể trong “Tội thoái thác trách nhiệm” ở Chương IX Luật Hình sự 1997 (28/09/2002)
  • Giải thích cụm từ “Thẻ tín dụng” (29/12/2004) Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
  • Giải thích về cụm từ “Các hóa đơn hoàn thuế xuất khẩu khác và việc hoàn thuế” (29/12/2005)

Đối với Trung Quốc, khác với hệ thống “tam quyền phân lập”, luật pháp được định nghĩa “là bản tuyên ngôn của ý chí giai cấp thống trị” – định nghĩa này có ảnh hưởng nhất định tới cơ chế thi hành và giải thích pháp luật, khiến cho hệ thống tư pháp ở Trung Quốc đóng vai trò ít quan trọng hơn trong hoạt động giải thích pháp luật. Mặc dù vậy, hiện nay Tòa án Trung Quốc cũng đã đang được thực hiện nhiều hơn trong việc ủy quyền giải thích pháp luật, được thực hiện giải thích pháp luật trong một phạm vi nhất định. Tòa án Tối cao Trung Quốc đã ban hành các văn bản dưới luật (các thông tư) để thực thi luật, các văn bản làm rõ ý nghĩa của các quy định pháp luật cho các Tòa án cấp dưới. Như vậy, ngoài chủ thể chính thức có thẩm quyền giải thích pháp luật là Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Trung Quốc cũng đang dần có sự thay đổi, chuyển mình theo một lẽ tất yếu, mở rộng thẩm quyền giải thích pháp luật hơn cho Tòa án.

Cũng tương tự như Trung Quốc, các quốc gia có cùng mô hình giải thích pháp luật trên đều trao cho cơ quan lập pháp quyền giải thích pháp luật – mà ở đó quyền giải thích pháp luật của nhánh lập pháp là chủ yếu, đóng vai trò chính, quan trọng hơn so với hai nhánh quyền lực còn lại. Giải thích cho đặc điểm này là bởi lẽ, các quốc gia này cùng có những sự tương đồng, những đặc điểm chung cơ bản về tổ chức nhà nước, về nguyên tắc “tập quyền” – quyền lực là tập trung, thống nhất, không có hoặc ít có sự kiềm chế, đối trọng. Là cơ quan quyền lực cao nhất, Quốc hội (Nghị viện) đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là cơ quan lập pháp, với khả năng lý giải chính xác nhất ý chí, mục đích của văn bản quy phạm pháp luật được ban hành (Latin Quilibet verborum suorum optimus interpres – người giải thích từ ngữ tốt nhất chính là người viết [8, tr.55-62, 68]), thì theo sự lý giải này, thì cơ quan lập pháp là cơ quan được cho rằng có thể đảm nhiệm trọng trách giải thích pháp luật một cách tốt nhất.

Tuy nhiên, các quốc gia có mô hình giải thích pháp luật này cũng không còn giữ nguyên mô hình truyền thống với chủ thể giải thích pháp luật duy nhất là cơ quan lập pháp. Hiện nay, theo xu hướng chung, các quốc gia này đang dần dần có xu hướng mở rộng thẩm quyền giải thích pháp luật cho Tòa án, ủy quyền nhiều hơn cho Tòa án thực hiện chức năng này. Đây cũng là một xu thế tất yếu, ngày càng phổ biến trên thế giới.

1.5.3. Mô hình các cơ quan thuộc cả ba nhánh quyền lực nhà nước giải thích pháp luật Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Theo mô hình này, chủ thể giải thích pháp luật có thể là các cơ quan thuộc cả ba nhánh quyền lực nhà nước. Một số quốc gia có mô hình giải thích pháp luật này có thể kể đến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên bang Nga…

Nhật Bản là một trong các quốc gia theo hệ thống luật Civil law. Ghi nhận sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật và nhận định rằng “Trong quá trình lập pháp, các nhà lập pháp không thể lường được tất cả những tình huống cũng như những khó khăn khi mang văn bản quy phạm pháp luật nào đó áp dụng trong thực tế cuộc sống” [17, tr.74]. Việc giải thích pháp luật tại Nhật Bản được thực hiện như sau:

  • Nghị viện có thể giải thích đạo luật của chính họ bằng cách đưa ra một đạo luật sau đó.
  • Chính phủ cũng có thể giải thích pháp luật thông qua các văn bản chi tiết hóa các điều khoản trong luật.

Trong thực tiễn áp dụng luật, các Thẩm phán của Tòa án cấp dưới có nhu cầu yêu cầu Tòa án cấp trên giải thích, hướng dẫn về các điều khoản khó của luật hiện hành trước khi áp dụng nó. Như vậy, Tòa án Tối cao có vai trò rất quan trọng trong việc giải thích pháp luật đối với hệ thống Tòa án cấp dưới. Tại Nhật Bản, án lệ được công nhận là một hình thức giải thích pháp luật, bổ sung cho những khiếm khuyết của pháp luật trong những trường hợp cần thiết. Và án lệ cũng được xem là một nguồn luật của pháp luật Nhật Bản. [10]

Tại Hàn Quốc, quyền tối cao về giải thích pháp luật được trao cho các cơ quan Tư pháp, các Tòa án và Tòa Hiến pháp. Cơ quan lập pháp và hành pháp cũng có quyền giải thích pháp luật trong một chừng mực nhất định, trong phạm vi thẩm quyền mà pháp luật cho phép. Hoạt động của các cơ quan này chủ yếu theo dạng kiêm nhiệm, với đối tượng giải thích chủ yếu là các sản phẩm pháp luật do chính họ ban hành và giải thích theo sự ủy quyền của các chủ thể khác. Tuy nhiên, giải thích pháp luật của bất kỳ chủ thể nào cũng có thể được xem xét lại bởi cơ quan tư pháp trong từng vụ việc cụ thể. Nếu giải thích pháp quy đúng thẩm quyền, giải thích đó sẽ được tòa án thừa nhận, còn ngược lại, nếu không đúng thẩm quyền, chúng sẽ bị hủy giá trị.

Quyền năng giải thích Hiến pháp và các văn bản luật khác được trao cho vài thiết chế nhà nước. Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền tối cao giải thích Hiến pháp và các văn bản luật khác. Tuy nhiên, cơ quan lập pháp và hành pháp cũng được ủy quyền giải thích hiến pháp và các văn bản luật. Trong chừng mực văn bản pháp luật không viện chứng giới hạn của luật cấp trên, cơ quan lập pháp và hành pháp có quyền giải thích Hiến pháp và văn bản luật” [22, tr.271]

Đối với Liên bang Nga, Tòa án Hiến pháp được công nhận là cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện giải thích Hiến pháp (“Với mục đích bảo vệ nền tảng của chế độ Hiến pháp, bảo vệ quyền và tự do cơ bản của con người và công dân, đảm bảo tính tối thượng và hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp Liên bang trên toàn bộ lãnh thổ Liên bang Nga, Tòa án Hiến pháp thực hiện giải thích hiến pháp Liên bang” Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Đối với giải thích văn bản pháp luật, thì hoạt động này không được pháp luật trao quyền cho cơ quan chuyên biệt nào mà tùy thuộc vào những quy định của pháp luật chuyên ngành mà một số cơ quan được trao quyền giải thích pháp luật. Ví dụ, các cơ quan như Tòa án tối cao và Tòa án trọng tài tối cao giải thích việc áp dụng pháp luật liên quan đến hoạt động xét xử; các cơ quan hành pháp như Chính phủ hay các bộ cũng có quyền giải thích pháp luật trong lĩnh vực quản lý của mình; các cơ quan công tố như Tổng chưởng lí có thể ban hành chỉ thị giải thích nội dung các quy phạm pháp luật để thi hành trong hoạt động của các cơ quan công tố. [1, tr.11]

Nhìn chung, đặc điểm bao trùm của mô hình này là đồng thời có nhiều chủ thể được trao quyền giải thích pháp luật. Đối với chủ thể thuộc nhóm cơ quan hành pháp thì đối tượng giải thích pháp luật chủ yếu là các văn bản được ban hành dưới thẩm quyền của họ, sản phẩm giải thích pháp luật có thể là các chỉ thị, thông bảo, hướng dẫn thi hành hoặc qua việc trả lời các câu hỏi… Còn đối với cơ quan lập pháp, họ giải thích pháp luật bằng cách ban hành chính các văn bản luật giải thích. Mặc dù vậy, Tòa án vẫn có vai trò quan trọng trong hoạt động giải thích pháp luật, bởi lẽ Tòa án có thể xem xét lại việc giải thích pháp luật của các cơ quan khác. Có thể thấy, nguyên tắc chung để vận hành cơ bản trong quyền lực nhà nước của các quốc gia này là nguyên tắc pháp quyền, đặc biệt nhấn mạnh đến sự cần thiết của hoạt động giải thích pháp luật và đề cao vai trò của Tòa án.

Dễ nhận thấy rằng, không có một khuôn mẫu chung cho các quốc gia về giải thích pháp luật, bởi cách thức tổ chức nhà nước, kinh nghiệm, trình độ phát triển, đời sống, văn hóa ở mỗi quốc gia là khác nhau. Tuy nhiên, có thể nhận thấy dù là theo mô hình nào, thì theo sự phát triển xu thế chung, vai trò của Tòa án ngày càng được chú trọng và nhấn mạnh hơn trong hoạt động giải thích pháp luật. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Với các nội dung chính đã được trình bày ở các tiểu mục, Chương 1 đã đề cập đến những nội dung cơ bản nhất của những vấn đề lý luận chung về giải thích pháp luật, những khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, hình thức, phương pháp và nguyên tắc của giải thích pháp luật cũng như tầm quan trọng của hoạt động này.

Đồng thời, Chương 1 cũng đã đề cập đến các mô hình giải thích pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Với nhiều cách thức tổ chức và tiến hành giải thích pháp luật rất đa dạng, tuy nhiên, nhìn chung đó đều thuộc những mô hình chung xuất phát từ chủ thể tiến hành hoạt động này. Đó là những mô hình do tòa án giải thích pháp luật, cơ quan lập pháp giải thích pháp luật và mô hình do các cơ quan thuộc ba nhánh quyền lực giải thích pháp luật. Mặc dù ở bất kì mô hình nào, cũng không thể phủ nhận vị trí, vai trò của Tòa án trong hoạt động giải thích pháp luật ngày càng trở nên quan trọng và đang trở thành một xu thế chung, phổ biến trên thế giới. Khóa luận: Giải thích pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng giải thích pháp luật tại Việt Nam hiện nay

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x