Khóa luận: Giải pháp phát triển sản phẩm mới cho Công ty thú Y

Chiến lược phát triển sản phẩm mới cho Công ty thú Y VINAVETCO

I: CƠ SỞ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI CHO CÔNG TY VINAVETCO

1. Môi trường và thị trường.

Việt Nam hiện nay là một nước đang phát triển, đời sống người dân được nâng cao làm cho mức tiêu dùng về các sản phẩm tăng tạo thuận lợi cho nhiều ngành nghề phát triển. Mức sống càng cao làm cho mức tiêu dùng tăng, trong đó nguồn thực phẩm phục vụ tiêu dùng từ chăn nuôi cũng tăng, đồng thời cần phải đảm bảo vệ sinh chất lượng và những đòi hỏi của khách hàng. VINAVETCO là một công ty sản xuất sản phẩm phục vụ cho chăn nuôi để đảm bảo nguồn thực phẩm cung cấp cho người tiêu dùng, do vậy thị trường này ngày càng được mở rộng.

Cơ chế quản lý của nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lơi cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước.

Thị trường sản phẩm rất đa dạng môi trường cạnh tranh ngày một khó khăn, bên cạnh đó ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh sản phẩm thú y. Ngoài ra còn có một số lượng lớn sản phẩm nhập lậu vào Việt Nam.

Nhu cầu, đòi hỏi của khách hàng ngày càng cao về chất lượng lẩn giá cả.

Do vậy muốn đứng vững trên thị trường các công ty cần phải có những chính sách đầu tư hợp lý trước mắt và lâu dài nhằm tạo ra những sản phẩm tốt hơn, chất lưọng cao hơn, và giá thành lại rẻ hơn.

2. Nguồn lực của công ty.

2.1 Nguồn lực tài chính.

Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều cần phải có nguồn lực tài chính, tiềm lực kinh tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển của công ty. Nguồn lực tài chính giúp công ty vững vàng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thế mạnh về tài chính giúp công ty chủ động trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu vốn của công ty trong 3 năm qua (2022-2024) như sau.

Biểu số 6:Cơ cấu vốn của công ty trong 3 năm qua như sau.

Năm 2022 2023 2024
Chỉ tiêu Số tiền % Số tiền % Số tiền %
Vốn kinh doanh 11.329.537.594   11.503.474.094   11.807.241.394  
Theo nguồn vốn
– Cố định 4.135.075.241 36,5 4.180.097.739 36,34 4.240.347.766 35 , 91
– Lưu động 7.194.462.353 03,5 7.323.376.355 63,66 7.566.893.628 64 , 09
Theo cơ cấu vốn
– Vốn Nhà nước 7.869.149.594 69,46 8.016.113.094 69,68 1.771.087.394 15
+ Ngân sách 6.372.539.311   6.663.191.916      
+ Tự bổ sung 1.496.610.283   1.352.921.178      
– vốn vay 3.460.388.000 30,54 3.487.361.000 30,32 10.036.154.000 85
+ Tín dụng 2.197.523.000   2.372.408.000   2.543.635.000  
+ Công nhân 1.262.865.000   1.114.952.000   7.492.519.000  

(Nguồn: Phòng tài chính tổng hợp)

Việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả là một vấn đề quan trọng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của công ty. Chính vì vậy, việc huy động và sử dụng nguồn vốn đúng mục đích là yêu cầu cấp thiết đối với ban lãnh đạo công ty

Qua các chỉ tiêu ở bảng trên ta thấy công ty không chỉ hoạt động sản xuất, mà hoạt động của công ty là vừa sản xuất vừa kinh doanh. Vốn lưu động trung bình trong 3 năm chiếm khoảng 63(%). Cũng từ bảng phân tích nguồn vốn trong 3 năm (2022- 2024) cho ta thấy nguồn vốn tăng dần sau mỗi năm, tỷ lệ tăng qua các năm của nguồn vốn gần như không mấy thay đổi. Duy chỉ vào giữa năm 2024 theo xu thế cổ phần hoá thì cơ cấu vốn thay đổi rất lớn, năm 2022 và năm 2023 vốn Nhà nước chiếm khoảng gần 70(%) thì vào cuối năm 2024 cơ cấu vốn thay đổi rất nhiều vốn nhà nước chỉ chiếm 18(%) trong tổng số vốn của công ty.

2.2. Nguồn nhân lực.

Tổng số lao động có mặt tại thời điểm (31/12/2024) là 171 người. Đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ tương đối cao, độ tuổi trung bình khoảng 30 (tuổi). Con người là một trong những yếu tố hàng đầu trong các chính sách phát triển của công ty, nó quyết định đến sự thành bại của công ty. Trong những năm qua công ty đã có những hoạt đông hết sức thiết thực trong việc tuyển chọn đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, chính sách đãi ngộ khuyến khích, thưởng phạt nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm và trình độ cho người lao động.

(Thể hiện qua bảng sau)

Biểu số 7: về cơ cấu lao động của công ty trong 3 năm qua (2022-2024)                                                                          

Năm 2022 2023 2024 So sánh
Chỉ tiêu SL % SL % SL % 99/98 2024/99
Tổng số lao động 131 100 155 100 171 100 118,3 110,3
Theo hợp đồng
– Không thời hạn 94 71,76 115 74,2 126 73,68 122,34 109,57
– Có thời hạn 37 28,24 40 25,8 45 26,32 108,1 112,5
Theo giới tính
– Nam 54 41,2 64 41,3 72 42,1 118,5 112,5
– Nữ 77 58,8 91 58,7 99 57,9 118,1 108,8
Theo tính chất LĐ
– LĐ gián tiếp 22 16,8 22 14,2 22 12,8 100 100
– Lao động trực tiếp 109 83,2 133 85,8 149 87,2 124,0 112
– Sản xuất 101 77,1 118 76,1 123 71,9 116,8 104,2
– Phục vụ 30 22,9 37 23,9 48 28,1 123,3 129,7
Phân theo trình độ
– Trên đại học 3 2,3 3 1,93 3 1,75 100 100
– Đại học, cao đẳng 49 37,4 55 35,5 58 33,9 11,2 115,4
– Trung cấp 11 8,4 13 43,8 16 9,35 118,1 123
– CN kinh tế 3 2,3 3 1,93 3 1,75 100 100
– Công nhân khác 68 51,9 81 11,6 91 53,2 119,1 112,3

(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính) 

Theo kết quả phân tích bảng trên, số lượng lao động qua mỗi năm đều tăng: năm 2023 tăng so với năm 2022 là 118,3%, năm 2024 tăng so với năm 2023 là 110,3%, không chỉ số lượng lao động tăng mà trình độ ý thức lao động và trách nhiệm của người lao động cũng tăng làm cho năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày một tăng.

2.3. Nguồn lực khoa học công nghệ.

Doanh nghiệp muốn thàng công trên thị trường thì sản phẩm của nó phải thoả mãn được người tiêu dùng. Mức độ hấp dẩn của sản phẩm càng lớn thì mức độ tiêu thụ càng cao. Sản phẩm phụ thuộc vào rất nhièu yếu tố trong đó có hai yếu tố có tính chất quyết định là chất lượng và giá cả của hành hoá.

Chất lượng và giá cả của sản phẩm được chi phối bởi rất lớn vào công nghệ sản xuất công tác quả lý nói chung, và công tác quản lý nói riêng.

Qua nghiên cứu chúng ta thấy được công nghệ sản xuất thuốc thú y ở Việt Nam chỉ có một số khâu tự động còn laị là lao động thủ công, bởi vì hầu như nguyên liệu nhập về đã là thuốc dưới dạng sơ chế.

Sơ đồ 7:Công nghệ nghiên cứu và sản xuất của công ty.

Tuy nhiên trong một vài năm gần đây và kế hoạch của công ty trong tương lai là tăng cường trang bị các máy móc thiết bị, thay thế dần lao động thủ công. Kế hoạch của công ty được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hết sức ủng hộ, và đây là một trong những chiến lược cạnh tranh lâu dài của công ty, nhất là đối với các loại thuốc của nước ngoài hiện có mặt tại thị trường Việt Nam.

2.4. Nguồn lực Marketing.

Mặc dù hiện nay công ty chưa có phòng Marketing riêng nhưng có một bộ phận làm Marketing trực thuộc phòng kinh doanh. Công ty có một đội ngủ nhân viên phụ trách khâu phân phối và bán hàng 10 nhân viên thuộc biên chế công ty và một số nhân viên làm theo hợp đồng. Mặc dù kiến thức về Marketing còn hạn chế, nhưng bù lại họ biết nhiều về sản phẩm của công ty, biết nhiều về thị trường, khách hàng, có kinh nghiệm cũng như tinh thần trách nhiệm làm việc.

II: CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI CHO CÔNG TY VINAVETCO.

1. Hoạt động thiết kế và chế thử sản phẩm mới.

Hoạt động thiết kế và chế thử sản phẩm mới hoàn toàn gần như trung tâm nghiên cứu của công ty đảm nhiệm. Công ty cần đầu tư hơn nữa vào hoạt động nghiên cứu phát triển đồng thời cần phối hựp nhiều với phòng kinh doanh không chỉ ở khâu thiết kế và chế thử mà còn ở nhiều khâu khác.

Để tạo ra một phương án tốt cho sản phẩm mới, công ty cần phải hướng ra thị trường nhiều hơn để tìm hiểu nhu cầu và của người tiều dùng về sản phẩm của công ty, cần cân nhắc giữa giá thành và chi phí sản xuất đã dự toán.

Cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển và thử nghiệm chức năng trước khi đưa ra thử nghiệm trên thị trường. Sản phẩm của công ty thuộc loại dược phẩm do đó buộc công ty phải quan tâm nhiều đến thành phần, chất lượng, công dụng cũng như chức năng của nó. Cần phải làm tốt công việc kiểm định và thử nghiệm.

2. Hoạt động thử nghiệm sản phẩm mới trên thị trường.

Thử nghiệm trên thị trường cung cấp cho ta nhiều thông tin liên quan đến sản phẩm như: Người tiêu dùng, các trung gian, tiềm năng thị trường, hiệu quả hoạt động Marketing và nhiều vấn đề khác.

Sản phẩm của công ty đòi hỏi đặc tính kỹ thuật cao, cho nên cần phải tăng số lượng thử nghiệm trên thị trường và phối hợp nhiều với các cửa hàng đại lý các cở sở chăn nuôi để thực hiện có hiệu quả công việc thử nghiệm sản phẩm mới.

Việc tung sản phẩm mới ra thị trường có thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả thử nghiệm trên thị trường. Nếu kết quả chính xác sẽ đảm bảo cho sản phẩm thành công trên thị trường và ngược lai sản phẩm sẽ bị thất bại. Cho nên công ty cần phải chuẩn bị tốt các công việc trước khi thử nghiệm như: Chi phí cho quá trình thử nghiệm, xác định thêm tên nhản hiệu, bao bì, một chương trình Marketing sơ bộ…

Khi tung sản phẩm mới ra thị trường thử nghiệm công ty cần phải thực hiện tốt các hoạt động thử nghiệm, đồng thời phải kiểm tra chặt chẻ và đánh giá trung thực các kết quả thu được.

3. Hoạt động sản xuất sản phẩm mới.

Sau khi đã có dự án xác thực về sản phẩm mới công ty bắt đầu bắt tay vào sản xuất hàng  loạt các sản phẩm mới.

Công việc sản xuất sản phẩm mới được giao cho hai phân xưởng sản xuất đảm nhiệm. Hiện nay công nghệ sản xuất của công ty còn nhiều khâu làm bằng lao động thủ công. Đây là một trong những hạn chế cần phải được khắc phục.

Hiệu quả sản xuất phụ thuộc nhiều vào khâu chẩn bị nguyên vật liệu, công tác quản lý sản xuất, tay nghề người lao động và trang thiết bị máy móc. Do vậy công ty muốn nâng cao hiệu quả sản xuất cần phải:

  • Chuẩn bị tốt nguyên vật liệu đầu vào. Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất gần như nhập ngoại 100%, công ty cần phải quản lý tốt nguồn nguyên vật liệu, đồng thời cần có kế hoạch tìm kiếm và khai thác nguồn nguyên liệu trong nước.
  • Quản lý công tác sản xuất sản phẩm như: Quản lý chặt chẽ các vật tư các chi phí liên quan đến sản xuất, quản lý tốt lực lượng sản xuất.
  • Khai thác công suất hiệu quả máy móc trang thiết bị, tạo môi trường cho các phòng pha phối chế đóng thuốc tốt nhất trong các điều kiện có thể.
  • Khuyến khích bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao động. Tạo ý thức lao động, xây dựng ý thức tinh thần trách nhiệm cho người lao động.
  • Việc quan trọng nữa là tăng cường đầu tư mua sắm máy móc trang thiết bị hiện đại thay thế dần lao động thủ công, phục vụ tốt cho quá trình sản xuất.

4. Hoạt động tung sản phẩm mới ra thị trường.

Khi tung sản phẩm mới ra thị trường công ty cần có những quyết định chào bán hợp lý. Thường sản phẩm của công ty được chào bán tại các cửa hàng đại lý của công ty và một số cửa hàng đại lý ở các tỉnh thành phố đã được dự kiến trước.

Một số sản phẩm công ty mang tính chất thời vụ nên công ty cần có những quyết định tung sản phẩm mới ra thị trường vào những thời điểm hợp lý nhất.

Người tiêu dùng các sản phẩm của công ty là những hộ gia đình, các cơ sở chăn nuôi gia súc gia cầm phân bố nhiều ở các khu vực khác nhau. Do vậy công ty cần có những chương trình quảng cao, khuyến mãi, khuyếch trương trước khi  tung sản phẩm mới ra thị trường.

Hiện nay các chương trình phân phối những sản phẩm mới của công ty chỉ mới tới các cửa hàng đại lý của công ty và một số cửa hàng đại lý khác. Công ty cần mở rộng thêm một số cửa hàng đại lý tại các tỉnh thành lớn và đặc biệt là các hộ gia đình, cơ sở chăn nuôi gia súc gia cầm.

Ngoài ra khi đưa sản phẩm mới ra thị trường công ty cần phải thực hiện tất tốt các công tác quản lý, kiểm tra giám sát tiến độ xâm nhập thị trường của sản phẩm, kiểm tra hoạt động của các thành viên tham gia vào hoạt động phát triển sản phẩm mới.

5. Một số hoạt động liên quan đến hoạt động phát triển sản phẩm mới.

Thị trường thuốc thú y Việt Nam rất đa dạng. Đã có tất cả gần 250 cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc thú y từ 25 nước với 3000 sản phẩm được sản xuất và nhập khẩu lưu hành trên thị trường. Muốn cạnh tranh được trên thị trường không những công ty phát triển sản phẩm mới mà còn phải:

  • Đa dạng hoá danh mục chủng loại hàng hoá phải tạo ra những danh mục với chủng loại hàng hoá hợp lý tạo điều kiện hỗ trợ tài chính giữa các sản phẩm, làm cho tổng mức doanh thu tăng ổn định qua từng năm.
  • Nâng cao chất lượng sản phẩm, công ty coi chất lượng sản phẩm: là vấn đề sống còn, là công ăn việc làm của người lao động. Công ty phải thường xuyên tu bổ nâng cấp nhà xưởng, máy móc trang thiết bị cho sản xuất. Tìm cách khắc phục những nguyên nhân làm giảm chất lượng sản phẩm. Tăng cường công tác quản lý nâng cao chất lượng, nâng cao năng suất lao động.
  • Công ty cần phải thực hiện tốt các hoạt động phát triển bao bì nhãn hiệu nhằm tạo ra những nét mới cho sản phẩm, tạo ra ấn tượng tốt cho khách hàng, tạo sự tò mò chú ý của khách hàng.
  • Công ty cần phải coi trọng và đầu tư đúng hướng vào chính sách con người, coi đây là một chính sách làm cơ sở cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
  • Công ty cần có những hoạt động Marketing hữu hiệu làm cơ sở cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển trong đó có hoạt động phát triển sản phẩm mới.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ.

1. Giải pháp đối với công ty VINAVETCO.

1.1. Tăng cường hoạt động nghiên cứu và dự báo thị trường thuốc thú y ở Việt Nam.

Hiện nay Nhà nước cho phép các công ty cổ phần hoá và có những chính sách mở cữa làm cho thị trường thuốc thú y trong nước ngày càng sôi động. Bên cạnh đó mặc dù số lượng gia súc gia cầm theo dự báo có xu hướng tăng qua các năm nhưng thị trường thuốc thú y trong tương lai phát triển chậm do tình hình dịch bệnh ngày càng giảm.

Trong một vài năm trở lại đây có rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước sản xuất thuốc thú y gia nhập vào thị trường với số lượng ngày càng tăng do Nhà nước đang có các chính sách khuyến khích phát triển ngành chăn nuôi. Với số lượng các hãng sản xuất kinh doanh thuốc thú y ngày càng nhiều tạo nên một môi trường cạnh tranh gay gắt.

Muốn đứng vững trên thị trường các công ty cần phải có các hoạt động nghiên cứu dự báo nhằm đo lường, ước tính, dự đoán thị trường hiện tại cũng như trong tương lai, cần phải có những dự báo chính xác về tiềm năng thị trường nhằm đầu tư đúng hướng và thu được hiệu quả cao.

Theo những kết quả phân tích trên chúng ta có thể dự báo thị trường sản phẩm thuốc thú y trong tương lai như sau.  

Biểu đồ: Kết quả và dự báo tăng trưởng (%) của thị trường thuốc

Bảng trên cho thấy thị trường thuốc thú y ở Việt Nam từ năm 2020 đến năm 2024 đều tăng nhưng tỷ lệ tăng năm sau giảm so với măm trước, năm 2020-2021 tăng mạnh còn từ năm 2021-2024 tăng rất chậm.

Dựa theo kết quả phân tích và nghiên cứu thực tế thị trường thuốc thú y từ năm 2020 đến năm 2024, chúng ta có thể dự báo thị trường thuốc thú y từ năm 2001 đến năm 2004 là tăng nhưng tăng rất chậm với tỷ lệ năm sau thấp hơn năm trước. Tuy nhiên nếu xét trong mối tương quan với mức tăng số lượng gia súc gia cầm qua mỗi năm thì thị trường thuốc thú y có chiều hướng giảm tương đối mạnh qua các năm.

Do vậy công ty cần phải có những kế hoạch mang tính chất chiến lược trước mắt cũng như lâu dài để duy trì và mở rộng thị trường. Cần phải không ngừng nâng cao công tác nghiên cứu dự báo thị trường, thường xuyên nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và đặc biệt là hướng ra thị trường nhiều hơn nữa để tìm hiểu nhu cầu đòi hỏi của thị trường.

1.2. Các giải pháp về Marketing-Mix.

Công ty cần phải có một bộ phận Marketing hoạt động độc lập, tạo điều kiện cho các hoạt động Marketing có hiệu quả hơn. Bộ phận Marketing của công ty hiện vẩn thuộc vào quản lý của phòng kinh doanh, các hoạt động của họ đang còn yếu kém. Vì thế cần bổ sung thêm lược lượng, nâng cao nhận thức trình độ Marketing. Công ty cũng cần quan tâm đến vai trò và các chức năng của Marketing đồng thời phải biết vận dụng nó trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Giá cả: Giá cả là biến số quan trọng trong chính sách Marketing, nó phản ánh chất lượng cũng như thu nhập của công ty.

Công ty cần phải chủ động trong việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Chẳng hạn như khai thác tốt nguồn nguyên liệu rẻ tiền trong nước thay thế dần nguyên liệu nhập ngoại. Cải tiến phương pháp quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm. Công ty cần phải có những chính sách phân biệt ưu đãi giá với từng khách hàng cụ thể tạo mối quan hệ tốt với họ và thu hút nhiều khách hàng hơn nữa.

  • Phân phối: Kênh phân phối của công ty chủ yếu thực hiện qua các trung gian. Công ty cần bố trí phân phối hợp lý ở từng khu vực thị trường, tường giai đoạn khác nhau. Cần tạo mối quan hệ tốt với các trung gian phân phối. Bố trí các kênh phân phối hợp lý cho từng sản phẩm và có sự phối hợp giữa các kênh.
  • Xúc tiến: Công ty cần phải đưa ra các hoạt động xúc tiến phù hợp với từng thời kỳ cụ thể. Tăng cường công tác tiếp thị, làm tốt công tác tuyên truyền quảng cáo, tạo ra những chương tình khuyến mại không những phù hợp cho từng giai đoạn mà còn phù hợp với chiến lược lâu dài. Công ty có thể thực hiện quảng cáo thông qua các ấn phẩm trong và ngoài ngành.

Như vậy bất kỳ một sản phẩm nào, không chỉ đối với những sản phẩm mới cần phải có những hoạt động tốt về giá cả, phân phối, xúc tiến nhằm tăng khối lượng sản xuất và cả khối lượng tiêu thụ để tăng doanh thu cho công ty.

1.3. Các giải pháp về vốn, nhân lực và tổ chức sản xuất.

  • Giải pháp về vốn.

Để thực hiện tốt các mục tiêu, các chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh, công ty cần phải có vốn. Hiện nay vốn của công ty còn hạn chế làm cho công việc kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Để theo đuổi được những mục tiêu đã đề ra và đáp ứng nhu cầu thị trường khi có biến động thì công ty phải chú trọng vào việc huy động vốn. Huy động vốn bằng cách: Vay của công nhân, thu hút đầu tư, vay vốn của các bạn hàng trong và ngoài nước mà đả có quan hệ làm ăn lâu dài, hình thức hữu hiệu nhất là cổ phần hoá công ty. Đặc biệt là sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, nâng cao hiệu quả đồng vốn.

  • Giải pháp về nhân lực.

Lao dộng của công ty chủ yếu là thủ công, lao động trực tiếp chiếm 81,2(%), do đó trình độ lao động cần phải được chú trọng.

Như vậy công ty cần phải có những chính sách phát triển, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho lao động. Phải có những chế độ đãi ngộ, khuyến khích, thưởng phạt để nâng cao ý thức trách nhiệm trình độ và tinh thần làm việc của người lao động. Công ty cần phải mở thêm các khoá đào tạo hoặc thường xuyên gửi đi đào tạo, đồng thời quản lý tốt nguồn nhân lực của công ty.

  • Tổ chức sản xuất.

Các phân xưởng sản xuất nên tuyển những công nhân có đủ trình độ năng lực và sức khoẻ. Cần chuyên môn hoá các khâu trong sản xuất, cơ cấu hợp lý các khâu trong quá trình sản xuất. Quản lý, kiểm tra chặt chể các công đoạn sản xuất, chủ động tăng hiệu suất, tăng năng suất của máy móc thiết bị…. Ngoài ra công ty cần quan tâm nhiều tới việc đầu tư thêm máy móc, áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất để tăng năng suất chất lượng sản phẩm, giảm tỷ lệ lao động thủ công.

Ngoài ra công ty cần xác định tốt mục tiêu, nhiệm vụ ngắn hạn cũng  như dài hạn. Công việc kế hoạch hoá phải được coi trọng như những chiến lược quan trọng khác. Thông qua nguồn thông tin thu được từ thị trường và các phòng ban để chuẩn bị triển khai kịp thời các kế hoạch sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn.

Cần phải chủ động hơn nữa trong việc thu thập thông tin từ thị trường. Cần áp dụng các hình thức quản lý sản phẩm một cách hợp lý và có hiệu quả nhất.

Chủ động mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư thêm máy móc trang thiết bị mới. Chấn chỉnh lại quy cách làm việc, ý thức trách nhiệm của đội ngũ lao động.

Kế hoạch đồng bộ các khâu trong quá trình sản xuất, theo dõi quản lý sát sao các hoạt động sản xuất. Nâng cao tinh thần trách nhiệm cho toàn thể người lao động, tổ chức lại hệ thống tổ chức cán bộ, phân phối thu nhập hợp lý cho lao động.

2. Một số kiến nghị với Công ty và Nhà nước.

2.1. Một số kiến nghị với công ty VINAVETCO.

Doanh nghiệp muốn phát triển chỉ dựa vào sự trợ giúp của Nhà nước thôi thì chưa đủ mà chủ yếu là tự vươn lên bằng chính mình. Sau đây là một số kiến nghị của tác giả đối với công ty.

Tổ chức cán bộ: Vì con người là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành bại của doanh nghiệp. Do vậy cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kinh doanh và quản lý. Khuyến khích người lao động làm việc, bố trí cán bộ có năng lực trìng độ nhằm đáp ứng yêu cầu của cơ chế hiện nay.

Tổ chức sản xuất: Cần phải quản lý chặt chẽ từng khâu trong quá trình sản xuất để giảm tối đa lượng phế phẩm. Đồng thời cần có các chính sách khen thưởng kịp thời để kích thích người lao động làm tăng năng suất hiệu quả sử dụng máy móc và góp phần làm giảm giá thành sản phẩm.

Tố chức tiêu thụ: Cần phải đa dạng hoá hơn nữa các mặt hàng, những chính sách cụ thể về Marketing, tổ chức lại mạng lưới tiêu thụ, tích cực mở rộng thêm các đại lý, đặc biệt là duy trì và nâng cấp các đại lý ở các tỉnh lớn nhằm tăng thêm doanh số bán ra. Mặt khác cần có những biện pháp quản lý các đại lý một cách có hiệu quả, cần sử dụng một số mẫu bao bì phù hợp cho công tác vận chuyển và nhu cầu của người tiêu dùng, tăng cường công tác tiếp thị, làm tốt các công tác tuyên truyền quảng cáo và các hình thức khuyến mãi.

Cần phải có những biện pháp hạ giá thành sản phẩm, chú trọng cả việc giảm chi phí vật chất và chi phí lao động sống, cụ thể là: Tìm kiếm nguồn nguyên liệu trong nước thay thế dần nguồn nguyên liệu nhập ngoại, sử dụng hiệu quả nguồn nguyên vạt liệu, tránh lãng phí trong sản xuất.

Bám sát thị trường, có những biện pháp kinh tế, kỹ thuật phù hợp để giữ vững và mở rộng thị trường, phấn đấu sản phẩm của công ty có mặt hầu hết các vùng trong cả nuớc.

Có những biện pháp nâng cao hiệu quả đồng vốn, tăng nhanh vòng quay vốn, giảm mức vay và chi phí lãi suất vay, cắt giảm những chi phí liên quan đến công tác quản lý và các chi phí không cần thiết.

Tăng cường đầu tư các công tác nghiên cứu để có những sản phẩm mới có tính đặc hiệu cao, khẳng định được tác dụng của thuốc qua công tác thử nghiệm, giao cho từng cán bộ khoa học nghiên cứu những chuyên dề nhỏ trong lĩnh vực mình phụ trách để giải quyết những khó khăn vướng nắc trong từng khâu.

Ổ định bộ máy công ty sắp xếp lại các bộ phận chưa hợp lý, thường xuyên rà soát lại và bồi dưỡng cán bộ quản lý để có đủ trình độ năng lực đáp ứng được yêu cầu công việc.

2.2. Một số kiến nghị đối với Nhà nước.

Hiện nay ngành sản xuất thuốc thú y là một trong những ngành có đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc dân. Nó thúc đẩy ngành chăn nuôi trong Nông nghiệp phát triển. Theo số liệu thống kê năm 2024 có khoảng 60 doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y và đã giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động. Với quy mô phát triển như vậy, để đạt được hiệu quả cao thì nhất thiết phải cần đến sự giúp đỡ của Nhà nước trong việc đề ra các chiến lược và tạo ra một hành lang pháp lý cho ngành sản xuất thuốc thú y phát huy tối đa năng lực của mình. Trong những năm qua Nhà nước đã có nhiều cố gắng để đưa ra các chính sách phát triển ngành. Tuy nhiên, việc giải quyết các chính sách đó vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề, trong phạm vi đề tài mình tác giả xin mạnh dạn đề xuất một số kiện nghị trong việc quản lý Nhà  nước với ngành sản xuất thuốc thú y.

  • Với ban thanh tra thị trường phải kiểm tra chặt chẽ các cơ sở sản xuất kinh doanh hiên có trên thị trường Việt Nam.
  • Tổng cục hải quan cần nhanh chóng có những biện pháp và thủ tục tốt trong công tác quản lý, giám sát hoạt động xuất nhập khẩu nguyên liệu và thuốc thú y, cần có biện pháp cứng rắn đối phó với hàng nhập lậu.
  • Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cần giúp đỡ các chi cục triển khai các pháp lệnh thú y sâu rộng hơn để việc quản lý sản xuất lưu thông thuốc được thực hiện theo đúng quy định của pháp lệnh.
  • Bộ tài chính cần xem xét thuế nhập khẩu đối với sản phẩm thuốc thú y, cần có một chính sách về tỷ giá hối đoái hợp lý.
  • Nhà Nước cần có những chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam về vốn, khuyến khích đầu tư nước ngoài tạo điều kiện cho xuất nhập khẩu.
  • Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ cho việc phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam.

KẾT LUẬN

Chiến lược phát triển sản phẩm mới của công ty cổ phần vật tư thú y TWI (VINAVETCO) hiện tại đã có những đóng góp to lớn cho sự tồn tại và phát triển của công ty trong lĩnh vực sản xuất thuốc thú y. Qua nghiên cứu và tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đặc biệt là hoạt động phát triển sản phẩm mới trong chiến lược sản phẩm ta thấy được đây là một vấn đề mang tính chiến lược phát triển lâu dài của công ty.

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay việc thực hiện tốt các hoạt động phát triển sản phẩm nhất là phát triển sản phẩm mới là một trong những tiền đề cơ sở đảm bảo cho doanh nghiệp thành công trên thị trường. Chính vì điều này tôi chọn đề tài: “Chiến lược phát triển sản phẩm mới cho Công ty cổ phần vật tư thú y TWI (VINAVETCO)” nhằm đưa ra một số giải pháp tham khảo cho công ty trong hoạt động phát triển sản phẩm mới. Các giải pháp đưa ra chưa hẳn là tối ưu nhưng nó cũng đóng góp một phần nào đó vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển sản phẩm mới của công ty. Đề tài còn đưa ra một số kiến nghị với công ty cũng như nhà nước trong việc giải quyết những tồn tại vướng mắc mà lĩnh vực kinh doanh còn vấp phải.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Cao Tiến Cường, các cô chú trong phòng kinh doanh, phòng tài chính và ban giám đốc Công ty VINAVETCO đả tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x