Khóa luận: Thực trạng phát triển sản phẩm mới của công ty thú Y

Thực trạng hoạt động phát triển sản phẩm mới của công ty VINAVETCO

I: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY VINAVETCO.

1. Quá trình hình thành và phát triển.

Công ty cổ phần vật tư thú y TW1, được chuyển đổi từ Công ty Vật tư thuốc thú y TW1. Tiền thân của công ty là một doanh nghiệp thuộc bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản phẩm chính là thuốc vật thú y và vật tư dùng cho Chăn nuôi.

Trước những năm 1973, việc cung ứng vật tư và thuốc thú y là một bộ phận nằm trong Công ty thuốc trừ sâu và vật tư thú y. Năm 1973 theo Quyết Định số 97 NN /TCQĐ ngày 23/ 03/ 1973 của Bộ Nông nghiệp tách bộ phận cung ứng vật tư thú y thành lập công ty có tên gọi là Công ty vật tư thú y cấp I (Trực thuộc tổng công ty vật tư thú y).

Năm 1983 theo Quyết Định số 156/TCCB – QĐ ngày 11/ 06/1983 của Bộ Nông nghiệp chuyển công ty thành đơn vị cấp II (trực thuộc Bộ Nông nghiệp).

Năm 1989, do yêu cầu phát triển của ngành và thuận lợi trong quản lý, Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm cho trạm vật tư thú y cấp I đóng tại thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc công ty nhập với phân viện thú y Nam bộ thành Công ty thuốc thú y và vật tư thú y TWII. Còn lại các đơn vị trực thuộc công ty ở phía Bắc và miền Trung sát nhập với xí nghiệp thuốc thú y TW đóng ở huyện Hoài đức có tên gọi là Công ty vật tư thú y TWI.

Do đó việc bố trí cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ và phù hợp nhằm đảm bảo cho sản xuất và phát triển. Với số vốn đầu tư ban đầu là 12.000.000 (đ) nguồn vốn của công ty không ngừng phát triển qua các năm. Tính đến cuối năm 2024 nguồn vốn của công ty là 11.807.241.394 (đ). Như vậy nguồn vốn của công ty tăng lên đáng kể qua các năm. Bên cạnh đó đội ngũ lao động với 171 người trong đó nam 72 người (42,1%). Nữ 99 người (57,9 %). Đội ngũ lao động của công ty với trình độ chuyên môn khá cao, trên đại học 3 người ( 1,75%), đại học các loại 58 người (33,9%), trung cấp 16 người (9,35%), công nhân 94 người (54,95%). Do vậy, hơn 20 năm qua công ty đã trải qua bao thử thách thăng trầm và có nhiều biến đổi, Công ty đã xác định đúng trách nhiệm của mình và tự khẳng định được chỗ đứng của mình nên đã khắc phục được những khó khăn thiếu thốn về nhiều mặt để hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao cho.

Có thể thấy được sự phát triển của công ty qua một số chỉ tiêu chủ yếu ở biểu sau:

Biểu số.  

TT Chỉ tiêu 2022 2023 2024
1 Doanh thu tiêu thụ 21.407.219.799 27.089.384.547 31.169.721.594
2 Lợi nhuận 670.936.281 692.366.269 796.670.871
3 Nộp ngân sách 1.126.779.403 953.159.949 1.236.369.152
4 Lương bình quân 720.000 740.000 770.000
5 Thu nhập bình quân 1.400.000 1.430.000 1.540.000

Đảm bảo ngăn ngừa các dịch bệnh lây lan từ vật nuôi sang con người, làm nguồn thực phẩm sạch sẻ và an toàn cho người tiêu dùng.

  • Từ việc phân tích trên ta thấy sản phẩm thuốc thú y có những đặc trưng sau:
  • Là loại sản phẩm sử dụng phục vụ cho nhành chăn nuôi.
  • Là loại sản phẩm đòi hỏi đặc tính kỷ thuật cao, chất lượng bảo đảm.
  • Là một dạng sản phẩm thuốc nên đòi hỏi phải có sự bảo quản tốt, có thời hạn tiêu dùng nhất định.
  • Là một loại sản phẩm mang tính thời vụ cao.

Như vậy, qua phân tích vai trò và đặc điểm sản phẩm, ta thấy sản phẩm thuốc thú y mang tính đặc thù cao, có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ và phát triển ngành chăn nuôi nước nhà.

2. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh của công ty

Do đặc trưng ngành nghề, hiện nay nguyên liệu để sản xuất các loại thuốc kháng sinh, thuốc đặc trị … đều phải nhập ngoại. Sau khi có nguyên liệu bộ phận sản xuất sẽ kết hợp các thành phần tạo ra thuốc vắc xin, thuốc đặc trị dưới dạng thuốc bột và thuốc nước. Trong quá trình sản xuất chỉ có một số khâu tư động, còn lại là lao đông thủ công.

Công nghệ sản xuất thuốc bột và thuốc nước được phân ra nhiều giai đoạn:

  • Sơ đồ 2: công nghệ sản xuất thuốc bột
  • Sơ đồ 3: Công nghệ sản xuất thuốc nước

Trong mấy năm gần đây, do yêu cầu của ngành nghề cùng với xu hướng phát triển của công ty. Một số khâu trong sản xuất đã được tự động hoá và trang bị thêm một số máy móc thiết bị dùng cho việc sản xuất sản phẩm mới .

3. Cơ cấu tổ chức và quy mô của bộ máy công ty.

Bộ máy của công ty được tổ chức theo phân cấp tập trung từ trên xuống. Chức năng quản lý cao nhất là hội đồng quản trị, ban giám đốc thay mặt hội đồng quản trị trực tiếp chịu trách nhiệm điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Các phòng ban phải chịu trách nhiệm tham mưu cho giám đốc.

Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo hình thức phân cấp tập trung theo sơ đồ trang bên.

Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý cao nhất được các cổ đông bầu ra thông qua đại hội đại biểu cổ đông có trách nhiệm tập thể trong việc quản lý mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong phạm vi pháp luật và điều lệ của công ty quy định.

Ban giám đốc: Do hội đồng quản trị quyết định, là người trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị và pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.

Trung tâm nghiên cứu thú ý: Với chức năng là tham mưu cho giám đốc và hội đồng quản trị về nghiên cứu các sản phẩm mớ như: chế thử, thử nghiệm, pha chế, phối chế, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, hợp tác quốc tế và kiểm tra chất lượng sản phẩm với nhiệm vụ cụ thể là nghiên cứu các sản phẩm mới phù hợp với thị trường. Thiết kế và cải tiến sản phẩm cũ kể cả công thức, quy trình sản xuất, bao bì, nhãn mác, pha chế và bàn giao bán thành phẩm cho các phân xưởng sản xuất. Tổ chức quản lý, đăng ký sản phẩm theo đúng luật định. Tổ chức kiểm tra quy trình sản xuất chất lượng sản phẩm. Tham mư cho giám đốc, đề suất các chiến lược và thực hiện kế hoạch về thông tin quảng cáo, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nghiên cứu chiến lược thị trường trong nước và ngoài nước.

Phòng tổng hợp: Tham mưu cho giám đốc toàn bộ công tác tài chính kế toán, công tác tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, hành chính quản trị, các công tác khác với nhiệm vụ cụ thể là tham mưu cho ban giám đốc về giá mua bán các loại nguyên liệu, vật tư, hàng hoá. Tổ chức quản lý tiền vốn, hàng hoá, vật tư theo đúng pháp lệnh thống kê kế toán và nội quy quy chế của công ty. Tham mưu cho giám đốc về phương thức trả lương và đơn giá tiền lương. Tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động theo đúng quy định hiện hành. Tổ chức tốt công tác bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội, phòng cháy chữa cháy an toàn lao động. Tổ chức công tác hành chính quản trị cơ quan, theo dõi và tham mưu giúp giám đốc và hội đồng quản trị công tác thi đua, khen thưởng. Phục vụ hơi điện, nước, tổ chức bảo dưỡng máy móc thiết bị cho toàn bộ hoạt động của công ty.

Phòng kinh doanh: Tham mưu cho giám đốc về cung ứng nguyên liệu, vật tư cho sản xuất. Mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm, có thể mở thêm các nghề kinh doanh phụ. Với nhiệm vụ cụ thể là tham mưu cho ban giám đốc về giá mua, giá bán các loại nguyên liệu, vật tư, hàng hoá. Xây dựng, trình giám đốc kế hoạch và hợp đồng nhập khẩu, cung ứng vật tư nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh (kể cả hợp đồng mua bán). Xây dựng kế hoạch theo tuần, tháng, quý và phối hợp với trung tâm, phân xưởng để triển khai kế hoạch đảm bảo đáp ứng nhu cầu đơn hàng theo yêu cầu và tổ chức sản xuất hợp lý nhất. Đáp ứng đầy đủ, kịp thời vật tư, nguyên nhiên, liệu cho sản xuất theo đúng quy trình và quy định trong sản xuất. Tổ chức thực hiện các biện pháp cụ thể để mở rộng và duy trì thị trường. Hàng tháng tập hợp và báo cáo về tình hình hàng hoá đã xuất bán, những vấn đề cần xử lý: Chất lượng, quy cách hàng hoá, giá cả, những vấn đề liên quan đến khách hàng. Tổ chức và quản lý tốt nguồn hàng khai thác nhằm xử dụng hợp lý lao động góp phần tăng thêm lợi nhuận.

Phân xưởng sản xuất: Với chứng năng là xử lý bao bì, nhãn mác, đóng và hoàn thiện đến khâu cuối cùng. Tham mưu cho giám đốc về bố trí sắp xếp lao động, mặt bằng sản xuất. Với nhiệm vụ thực hiện tốt nội quy, quy định về an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy và vệ sinh công nghiệp. Tổ chức bố trí lao động hợp lý, quản lý lao động theo đúng quy định, thực hiện đóng gói hoàn thiện sản phẩm đúng quy trình kỹ thuật. Đề xuất cải tiến cơ cở vật chất, máy móc thiết bị để không ngừng nâng cao năng suất lao động. Quản lý tốt bao bì, nhãn mác, trang thiết bị máy móc trong xưởng theo quy định, quản lý tốt bán thành phẩm, các sản phẩm khi chưa nhập kho.

Các chi nhánh: Giám đốc chi nhánh thay mặt giám đốc công ty quản lý lao động, tài sản tiền vốn, vật tư, hàng hoá tại chi nhánh. Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh hàng hoá đảm bảo kinh doanh có lãi, thực hiện được nghị quyết của hội đồng quản trị. Với nhiệm vụ cụ thể là tổ chức cho người lao động sản xuất kinh doanh thuốc thú y theo đúng luật định. Quản lý sử dụng, sử dụng tiền vốn, vật tư, hàng hoá theo luật thống kê kế toán. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch của chi nhánh. Tổ chức bán bàng, mua bán các loại vật tư nguyên liệu cho công ty theo hợp đồng. Trên cơ sở uỷ quyền của giám đốc và quy chế của hội đồng quản trị, các chi nhánh tổ chức thực hiện việc tuyển dụng lao động và các vấn đề liên quan đến người lao động trong phạm vi cho phép. Chịu trách nhiệm trước giám đốc và hội đồng quản trị những phát sinh xảy ra tại chi nhánh với địa phương.

4. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty VINAVETCO trong mấy năm gần đây

4.1. Tình hình sản xuất một số loại thuốc chính trong 3 năm (2022 – 2024).

Để tiến hành phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trước hết chúng ta chọn mẫu một số sản phẩm chính về thuốc thú y để nghiên cứu.

Biểu số 2: Tình hình sản xuất một số loại thuốc chính trong 3 năm       (2022 – 2024)

Tên thuốc

 

ĐVT

 

2022

 

2023

 

2024

 

So sánh (%)
23/22 2024/23
I. Thuốc kháng sinh
1. Anidirae Kg 796.000 718.898 835.804 90,31 116,26
2. Penỉclli 1 TR Lọ 1.600.000 1.698.400 2.028.132 106,15 119,41
3. Spectamscc Lọ 298.730 357.950 337.640 119,82 94,33
4.Stocplomicin 1 GR ống 1.307.380 1.750.800 1.928.400 113,92 110.14
II. Vitamin
1. Vitamin B1 5cc   1.748.260 2.214.000 2.596.200 126,64 117,26
2.Vitamin C 5cc Gói 1.710.800 1.847.800 1.763.000 108,00 95,41
3. Điện giải Gói 34.632 62.038 123.000 113,56 198,27
III. KST, ST
1. CocistopESB3 Kg 122.000 123.247 173.000 101,02 140,37
2. Aidan Kg 63.000 69.647 110.000 108,96 160,24
3. Forinol Lít 69.000 72.923 90.000 105,69 123,42

(Nguồn: Phòng kinh doanh)

Nhìn chung tình hình sản xuất của công ty chịu sự chi phối của thị trường, tốc độ phát triển theo từng năm không đồng đều, ví dụ: Năm 2024 so với năm 2023 có loại sản phẩm đạt được 198,27% (Điện giải) nhưng có loại chỉ đạt được 94,33% (Spectam).

Điều này cũng dễ hiểu vì sản phẩm của công ty là thuốc nên rất hạn chế sản phẩm tồn kho, sản xuất tới đâu tiêu thụ tới đó, thị trường cần bao nhiêu, công ty sản xuất bấy nhiêu.

Thuốc KS có 4 loại là tiêu thụ mạnh nhất. Cho nên số lượng sản xuất rất lớn. Đặc biệt là Streplomycin 1GR và Penicillin 1TR. Với lượng sản xuất đã lên đến con số 2.028.132 (lọ) vào năm 2024 đối với Penicillin 1TR tăng 119,41% so với năm 2023. Năm 2023 so với năm 2022 tăng 106,15% tương ứng với 98.400 (lọ). Tương tự Streplomycin 1GR lượng sản xuất cũng tăng dần theo các năm. Năm 2023 tăng 133,92% so với năm 2022, năm 2024 tăng so với năm 2023 là 110,14%. Còn lại Anidiare và Spectam 5cc tuy lượng sản xuất có ít nhưng cũng tăng dần theo các năm. Duy chỉ có Anidiare lượng sản xuất của năm 2023 giảm xuống còn 90,31% so với năm 2022 tương ứng với 77.202 (lọ).

Thuốc Bổ trợ và Vitamim có 3 loại chính, nhìn chung cũng biến động khá phức tạp, nhất là điện giải. Tỷ lệ tăng của năm 2024 so với năm 2023 là 198,27%, lượng sản xuất tăng gần gấp đôi, tương ứng với 60.962 gói. Nhưng Vitamin C và Vitamin B1 tốc độ tăng lại giảm. Đặc biệt Vitamin C lượng sản xuất đã giảm ở năm 2024 giảm so với năm 2023 là 95,41%.

KST, ST (KST, ST) gồm ba loại được sản xuất là nhiều nhất. Nhìn chung cả ba loại có lượng sản xuất tăng nhanh qua các năm. Với Cocistop năm 2022 lượng sản xuất là 122.000 (kg), đến năm 2023 lượng sản xuất tăng không đáng kể 123.247 (kg) tương đương 101,02%, năm 2024 lượng sản xuất đã tăng lên khá cao 173.000 (kg) tương đương với 140,37%. Tương tự, ta nhận thấy Azidan và Forinol đều không tăng mấy ở năm 2023 nhưng đến năm 2024 số lượng sản xuất lại tăng lên đột ngột như Azidan năm bằng 160,24%, còn Forinol là 123,42%.

Từ sự tìm hiểu và phân tích chúng ta có nhận xét là: Ngoài những lý do về thị trường tiêu thụ ra, những năm 2023, đặc biệt năm 2024, công ty đã trang bị công nghệ thiết bị tiên tiến, và tăng quy mô sản xuất, nâng cao năng suất lao động nên dẫn đến sản phẩm năm sau tăng lên rất nhiều so với năm trước.

4.2. Kết quả hoạt động sản xuất king doanh trong 3 năm (2022-2024).

Theo kết quả phân tích ở phần trên, cho ta thấy tình hình sản xuất của công ty tăng mạnh qua các năm. Việc tăng trưởng trong sản xuất sản phẩm có kéo theo các chỉ tiêu khác tăng lên hay không (doanh thu, lợi nhuận, lương bình quân của công nhân…) thì ta sử dụng bảng báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từ năm (2022- 2024) để phân tích.

Biểu số 3: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong 3 năm (2022 – 2024)

Năm 2022

 

2023

 

2024

 

So sánh (%)
Chỉ tiêu 23/22 2024/23
Doanh thu 21.407.219.799 27.089.384.547 31.169.721.594 131,12 115,06
Các khoản giảm trừ 1.170.264.449 916.830.683 972.136.272    
Doanh thu thuần 20.236.955.350 26.172.553.864 30.197.585.322 129,33 115,37
Giá vốn hàng bán 14.196.296.817 21.292.049.227 24.724.306.038    
Lãi gộp 6.040.658.533 4.880.504.637 5.473.279.284 80,79 112,15
Chi phí bán hàng và quản lý 5.411.330.458 4.284.249.628 4.800.825.576    
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 629.328.075 596.255.009 672.453.708    
Lợi nhuận bất thường 207.020.600 234.175.477 258.142.934    
Chi phí bất thường 41.700.000 32.000.000 38.409.000    
Lợi tức bất thường 152.048.421 202.157.477 234.169.044    
Lợi nhuận từ sản xuất 273.544.038 302.178.270 320.106.307    
Lợi nhuận trước thuế 1.068.192.713 1.100.590.756 1.212.293.349 103,03 110,15
Thuế 397.256.432 408.224.487 415.623.079    
LN sau thuế 670.936.281 692.366.269 796.670.871 103,2 115,07
Lương công nhân 720.000 740.000 770.000    

Nguồn: Phòng tài chính tổng hợp) 

Theo kết quả bảng trên: Doanh thu, lợi nhuận và lương bình quân của công nhân đều tăng qua các năm.

Doanh thu thuần năm 2023 tăng so với năm 2022 là 129,33% tương đương với 5.935.598.514 (đ), năm 2024 tăng so với năm 2023 là 115,37% tương đương với 4.025.031.458(đ). Lợi nhuận sau thuế của công ty năm 2023 tăng so với năm 2022 là103,2% tương ứng với 21.429.988(đ), năm 2024 tăng so với năm 2023 là 115,07% tương ứng với 104.304.602(đ).  Lương bình quân qua các năm của công nhân cũng tăng qua các năm: Năm 2022 là 720.000(đồng), năm 2023 là 740.000(đồng), nghĩa là mỗi tháng trong năm 2023 tăng thêm 20.000 (đ/tháng) so với năm 2022, năm 2024 là 770.000 nghĩa là tăng so với năm 2023 là 30.000 (đ/tháng). Quy mô sản xuất và doanh thu tăng qua các năm biểu hiện qua bảng sau.  (Biểu số trang sau)

Biểu trên cho thấy: Lượng tiêu thụ so với sản xuất qua các năm phần lớn là không đạt kế hoạch. Đặc biệt là năm 2024 và năm 2022. Duy chỉ có một số loại thuốc của năm 2023 lượng tiêu thụ so với sản xuất là đạt trên 100%. Bởi vì vào những năm 2023 và 2024 công ty đầu tư thêm máy móc, mở rộng quy mô sản xuất nên dẫn đến tiêu thụ hàng hoá nhiều hơn.

Loại thuốc KS nhìn chung lượng sản xuất qua ba năm đều tăng, Anidiare có lượng sản xuất năm 2023 giảm tăng so với năm 2022 là 9.69% tương ứng với 257.102 (kg), nhưng đến năm 2024 lượng sản xuất lại tăng lên 16,26% tương đương với 117.906 (kg). Loại thuốc này đã dần thích ứng với thị trường và có xu hướng tăng vào những năm tới. Điều này càng được thể hiện rõ hơn ở mức tiêu thụ tăng dần qua các năm 2023 và 2024. Tương tự hai loại thuốc của công ty là Penicillin 1TR và Streplomycin 1GR cũng tăng cả ở sản xuất và tiêu thụ. Những nguyên nhân chủ yếu làm tăng ba loại thuốc này là do công ty đã cải tiến mẫu mã và tăng chất lượng sản xuất, đáp ứng kịp thời nhu cầu người tiêu dùng. Duy chỉ có Spectam 5cc là cả lượng sản xuất và tiêu thụ đều giảm cả ở 3 năm. Loại thuốc này có nguy cơ mất sự cạnh tranh trên thị trường, vì doanh thu từ sản phẩm này không ảnh hưởng đáng kể, do giá loại thuốc này thấp, chi phí sản xuất lại cao nên dẫn đến không có hiệu quả khi sản xuất loại thuốc này. Vì vậy công ty đang dần thay thế bằng một loại thuốc khác có công dụng hơn và giá thành sản xuất thấp hơn.

Loại thuốc Vitamin có ba loại chính là Vitamin B1 5cc, Vitamin C 5cc và điện giải. Vitamin B1 5cc có lượng sản xuất và tiêu thụ đều tăng qua các năm. Nhưng lượng tiêu thụ lại giảm so với sản xuất. Còn lại Vitamin C 5cc có lượng sản xuất năm 2023 tăng lên 8,01% đến năm 2024 giảm 4,59%. Tương tự tiêu thụ cũng tăng ở năm 2023 tương ứng 8,63% và giảm ở năm 2024 là 11,69% tương đương với 216600 (ống). Lượng tiêu thụ so với sản xuất năm 2023 và 2024 đều không đạt, có tỷ lệ lần lượt là 99,73% và 92,81% ở năm 2023 lượng tiêu thụ đã vượt sản xuất là 0,3% tương đương với 5600 (ống). Nhìn chung ở loại thuốc Vitamin có lượng Vitamin B1 5cc và Vitamin C 5cc tiêu thụ nhiều nhất nhưng giá của chúng lại rất rẻ dẫn đến doanh thu ở hai loại thuốc này không đáng kể, còn điện giải lượng tiêu thụ nhỏ nhưng lại có giá rất cao vì thế công ty đã đẩy mạnh tiêu thụ loại này nhiều hơn. Điều này được thể hiện ở tốc độ tăng mạnh cả ở sản xuất và tiêu thụ. Đặc biệt năm 2023 có lượng sản xuất tăng 198,27% tương đương với 1750800 (lọ).

Thuốc KST, ST gồm ba loại được công ty sản xuất nhiều là Cocistop BSB3, Azidan và Forinol. Trong đó có Cocistop BSB3 là có lượng sản xuất và tiêu thụ lớn hơn cả. Lượng sản xuất tăng qua các năm, năm 2023 tăng 1,01% tương đương với 1247 (kg), đến năm 2024 lượng sản xuất đã tăng lên 173.000 (kg) tăng 140,37% so với năm 2023. Tương tự lượng tiêu thụ cũng tăng qua các năm. Azidan, Forinol tuy sản xuất với khối lượng nhỏ hơn Cocistop BSB3 nhưng đầu năm loại thuốc này cũng tăng lên đáng k ể đặc biệt Azidan năm 2024 lượng sản xuất tăng lên 60,24% tương đương 41353 (kg). Cả Azidan và Forinol đều có lượng tiêu thụ tăng qua các năm. Ở

Azidan, tỷ lệ năm 2023/98 là 116,91% tăng 9640 (kg), đến năm 2024/99 là 139,97% tăng 26635 (kg). Tượng tự Fornol cũng tăng lên nhưng không đáng kể, năm 2023/98 là 107,79% tăng 5329 (lít), năm 2024 là 114,50% tăng 10691 (lít). Ở loại thuốc Fornol có lượng tiêu thụ nhỏ hơn rất nhiều các loại thuốc chính khác, nhưng giá của nó lại cao hơn rất nhiều, nên dẫn đến doanh thu cao. Chính vì thế công ty cần phải có những chính sách hợp lý trong tiêu thụ những sản phẩm có giá trị cao, không nên chú trọng đến khối lượng sản xuất cũng như khối lượng tiêu thụ.

II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI CỦA CÔNG TY VINAVETCO

1. Thực trạng hoạt động Marketing.

Một trong những khó khăn là một doanh nghiệp nhà nước nên hạn chế các chi phí giao dịch, quảng cáo, bán hàng, tiếp khách… Bên cạnh đó sự chi phối của thị trường hiện tại cũng như lĩnh vực sản xuất kinh doanh nên các hoạt động Marketing của công ty còn rất hạn chế và chưa rõ nét. Các hoạt động Marketing và ngân sách dành cho nó rất hạn chế, đội ngũ nhân viên Marketing rất ít, kiến thức kinh nghiệm chưa nhiều. Trong những năm gần đây do yêu cầu của sự phát triển ngành và tình hình thị trường nên các hoạt động Marketing đã được công ty quan tâm đầu tư đúng hướng.

1.1 Chính sách sản phẩm

Sản phẩm của công ty cổ phần vật tư thú y TWI đa dạng và phong phú về chủng loại. Trong những năm qua công ty vẫn chỉ tập trung vào sản xuất những loại thuốc truyền thống. Chính vì thế, trong mấy năm gần đây, công ty đã chủ động sản xuất thêm các mặt hàng khác, đặc biệt là các mặt hàng cấp thấp, yêu cầu kỹ thuật đơn giản. Việc mở rộng sản xuất là một trong những kế hoạch phát triển của công ty, phù hợp với khả năng của công ty và nhu cầu hết sức phong phú của thị trường tiêu dùng. Cụ thể đối với các mặt hàng vitamin, bổ trợ, ngoài những mặt hàng truyền thống có chất lượng cao như vitamin B1 5cc, vitamin C5 cc, công ty đã có kế hoạch sản xuất thêm những mặt hàng khác. Với loại vaccin, loại sản phẩm khó bảo quản, công ty đã triệt để khai thác những loại thuốc có mức độ tiêu thụ lớn như Penicillin 1TR, Streplomycin 1GR và cocistop ESB3, đồng thời sản xuất thêm một số mặt hàng mới phù hợp với thị trường .

Chất lượng sản phẩm là một yếu tố hàng đầu trong chính sách phát triển sản phẩm của công ty. Vì thế trong mấy năm gần đây, ngoài việc đầu tư cho phát triển sản phẩm mới công ty còn chú trọng vào việc đầu tư cho phát triênr sản phẩm, đặc biệt là chất lượng sản phẩm.

  • Công ty thường xuyên tu bổ nâng cấp nhà xưởng, kho tàng, trang thiết bị máy móc.
  • Phát triển những sản phẩm đa công dụng, đây là một nét mới thúc đẩy khả năng thâm nhập vào thị trường.
  • Tìm cách xác định mọi nguyên nhân dẫn đến không phù hợp của sản phẩm và khắc phục nó.
  • Đầu tư vào dây chuyền công nghệ sản xuất, đóng bao bì, và dây chuyền công nghệ kiểm định sản phẩm.
  • Trong quá trình quản lý chất lượng sản phẩm, quan điểm nâng cao chất lượng sản phẩm đượcquán triệt từ giám đốc tới các bộ phận quản lý và từng người lao động.
  • Trong chiến lược phát triển sản phẩm, công ty luôn quan tâm tới việc xác định một danh mục sản phẩm sản xuất, kinh doanh hợp lý.

Do có những chính sách hợp lý, trong những năm qua sản phẩm của công ty không những có một vị trí vững chắc trên thị trường, mà nó ngày càng phát triển mạnh mẽ, khối lượng sản xuất, khối lượng tiêu thụ cũng như doanh thu và lợi nhuận ngày càng tăng. Những kết quả đạt được đó chính là nhờ vào việc đầu tư đúng hướng của công ty.

1.2 Chính sách giá cả.

Giá là một yếu tố hết sức quan trọng trong hệ thống Marketing-mix nó phản ánh chất lượng của sản phẩm cũng như thu nhập của công ty. Nhận thức được điều đó, trong chính sách giá cả của mình công ty luôn coi trọng việc giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm qua đó nâng cao sức cạnh tranh cũng như tăng khối lượng bán của công ty.

Để giảm được giá thành sản phẩm công ty đã có những chính sách thiết thực đầu tư vào khâu sản xuất kinh doanh và quản lý như:

  • Công ty chủ động khai thác các nguồn nguyên liệu rẻ tiền, tìm kiếm những nhà cung ứng trong và ngoài nước. Tuy nhiên nguyên liệu ở đây chủ yếu là nhập ngoại.
  • Công ty đầu tư vào dây chuyền công nghệ để tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm.
  • Cải tiến phương pháp quản lý, kinh doanh, động viên khuyến khích công nhân làm việc, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
  • Công ty đã có những chính sách ưu đãi, phân biệt giá đối với từng loại khách hàng. Khách hàng ở đây chủ yếu là những người trung gian, cho nên công ty đã có những điều khoản về tài chính hợp lý tạo sự ràng buộc giữa công ty với những người trung gian.
  • Công ty còn có những chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ kinh doanh, quản lý, cũng như những chính sách mềm dẻo trong giá cả để thu hút thêm khách hàng và tăng tính cạnh tranh.

Mặc dù giá thành sản phẩm đã có xu hướng giảm qua cá năm nhưng tỷ lệ giảm rất ít qua các năm.

  • Nguyên liệu chủ yếu nhập ngoại, không tạo được sức ép về giá nguyên liệu đối với nhà cung ứng. Chưa có chính sách tối ưu cho việc tìm kiếm những nhà cung ứng trong nước thay thế cho các nhà cung ứng ngoài nước.
  • Việc sử dụng các chính sách trên và phối hợp chúng chưa hợp lý.
  • Trong điều kiện thị trường hiện nay, có rất nhiều cơ sở sản xuất thuốc thú y trong và ngoài nước. Cho nên việc giảm giá để tăng sức cạnh tranh trên thị trường là rất cần thiết đối với công ty.

1.3 Chính sách phân phối.

Hệ thống kênh phân phối của công ty chủ yếu được thực hiện qua các trung gian. Do vậy việc thiết lập quan hệ tốt, đồng thời kiểm soát được các dòng chảy trong kênh là vấn đề hết sức quan trọng trong chính sách phân phối của công ty. Chính vì điều này công ty đã xây dựng một hệ thống kênh phân phối và có những kế hoạch tốt để thực hiện nó nhằm đạt được hiệu quả tối đa như:

Sơ đồ 5: Hệ thống kênh phân phối của công ty

  • Công ty đã thực hiện phân phối sản phẩm hợp lý cho từng kênh, cho từng sản phẩm, cho từng thị trường khác nhau .
  • Sự phối hợp, xen kẻ các kênh với nhau để phân phối sản phẩm tối đa tới tường thị trường.
  • Những kênh ngắn chủ yếu công ty sử dụng cho những sản phẩm với thời gian sử dụng ngắn, kênh dài với những sản phẩm có thời gian sử dụng lâu hơn.
  • Công ty đã có những chính sách ưu đãi, khuyến khích tiêu thụ ở những thị trường tiêu thụ còn thấp.
  • Mỗi một nhân viên trong phòng kinh doanh phụ trách công việc quản lý kênh phân phối ở một vài tĩnh.

Những chính sách trên đã tác động lớn đến vấn đề cân đối và tăng số lượng tiêu thụ trong mỗi kênh. Trong hai năm gần đây sản lượng tiêu thụ tăng lên rõ rệt trung bình mỗi năm tăng so với năm trước là 121%.

Những mặt còn hạn chế trong chính sách phân phối của công ty là:

  • Cơ cấu kênh phân phối chưa được hợp lý giữa các vùng khác nhau.
  • Việc kiểm soát các thành viên trong kênh còn rất hạn chế.
  • Mới chỉ đầu tư chiều rộng, chưa có đần tư chiều sâu cho hệ thống kênh phân phối.

1.4.Chính sách xúc tiến.

Chính sách xúc tiến của công ty cần phải được đặt ra trong từng bối cảnh cụ thể. Lĩnh vực sản xuất kinh doanh của công ty là phục vụ cho chăn nuôi, cho nên công ty đã có những chính sách xúc tiến hợp lý đặc trưng cho sản phẩm của mình như:

  • Giới thiệu sản phẩm, năng lực, hình ảnh và uy tín của công ty trên thị trường.
  • Quảng cáo qua truyền hình, ấn phẩm, trong và ngoài ngành như: Chương trình dành cho nông nghiệp, tạp chí nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, báo nhân dân…
  • Công ty đã có những chương trình giới thiệu, quảng cáo qua nhãn mác và bao bì của sản phẩm.
  • Công ty đã có những chương trình khuyến mãi vừa phù hợp với từng giai đoạn lại có chiến lược lâu dài.
  • Trong chương trình xúc tiến, công ty đã thiết lập được các mối quan hệ tốt với cơ quan chính quyền và nhân dân ở các địa phương.
  • Một trong những đặc điểm quan trọng của sản phẩm là tính thời vụ cao, điều này đã được công ty tận dụng một cách hiệu quả trong các chương trình xúc tiến.
  • Ngoài ra công ty còn tạo điều kiện và trợ giúp cho khách hàng thông qua việc bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao trình độ kinh doanh cho họ, cũng chư sự hiểu biết về sản phẩm.

Tuy nhiên hiện nay ngân sách dành cho chương trình xúc tiến còn rất hạn chế, các chương trình quảng cáo, khuyến mãi còn rất ít.

2.Thực trạng hoạt động phát triển sản phẩm mới.

Mọi công ty đều phả tiến hành phát triển sản phẩm mới, không chỉ riêng với bất kỳ một công ty nào đó. Cần phải phát triển sản phẩm mới để thay thế, duy trì khối lượng bán trong tương lai. Hơn nữa, khách hàng muốn có sản phẩm mới và các đối thủ cạnh tranh cũng nổ lực hết sức để cung ứng chúng.

Sản phẩm mới ở đây có thể là mới hoàn toàn, sản phẩm cải tiến, sản phẩm cải tiến và nhản hiệu mới mà công ty phát triển thông qua đầu tư dây chuyền công nghệ và nổ lực nghiên cứu phát triển. Sản phẩm mới ngoài sự đánh giá của công ty còn có sự đánh giá từ phía người tiêu dùng.

2.1. Danh mục sản phẩm của VINAVETCO.

Trong danh mục sản phẩm của công ty có hai nhóm chủng loại là: Thuốc thú y và vật tư trong chăn nuôi. Toàn bộ danh mục sản phẩm của công ty bao gồm 150 mặt hàng, trong đó nhóm thuốc thú y chiếm 120 sản phẩm các loại, tập trung nhiều vào 3 nhóm thuốc là: Kháng sinh, Vitamin,  KST, ST.

Việc phát triển một danh mục hàng hoá sao cho hợp lý thì công ty phải xem xét 4 vấn đề trong doanh mục hàng hoá là: Chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và mật độ danh mục sản phẩm. Hiện nay công ty chỉ mới tập trung vào phát triển chiều rộng và chiều dài danh mục sản phẩm cụ thể là: Ngoài việc tập trung sản xuất những sản phẩm truyền thống chủ yếu, công ty đả có kế hoạch thực hiện sản xuất thêm một số sản phẩm cấp thấp, yêu cầu kỷ thuật đơn giản và sản xuất thêm những sản phẩm đa công dụng, yêu cầu kỷ thuật cao. Ngoài ra công ty còn chủ động cắt bỏ một số sản phẩm không phù hợp với thị trường, những sản phẩm có lượng sản xuất và tiêu thụ giảm mạnh qua các năm. Các hoạt động đó đả đem lại cho công ty một danh mục hàng hoá hài hoà, đảm bảo sự hổ trợ lẫn nhau giữa các mặt hàng kinh doanh, đảm bảo được sự cân đối về mặt tài chính, đảm bảo được sự đa dạng hoá về sản phẩm, tránh rủi ro trong kinh doanh, đồng thời đảm bảo được sự thay đổi mềm dẻo trong cơ cấu danh mục sản phẩm.

2.2. Chủng loại sản phẩm.

Chủng loại sản phẩm của công ty VINAVETCO là những loại sản phẩm vừa và đắt tiền. Trước năm 2020 do công ty chưa chú trọng nhiều vào phát triển chủng loại sản phẩm nên thị phần của công ty tăng quá chậm, có thời điểm bị giảm sút. Từ năm 2020 trở lại nay công ty đả có những chính sách phát triển chủng loại sản phẩm theo nhiều hướng làm cho khối lượng bán cũng như thị phần của công ty tăng đáng kể. Cụ thể là:

  • Công ty đả mở rộng chủng loại sản phẩm xuống thị trường phía giới bằng cách sản xuất, kinh doanh thêm những mặt hàng cấp thấp, mặt hàng có giá trị thấp, sản xuất đơn giản.
  • Công ty mở rộng chủng loại sản phẩm theo hướng lên trên như: Sản suất những sản phẩm đa công dụng, yêu cầu kỷ thuật cao, những sản phẩm đắt tiền và có giá trị cao.

Việc đa dạng hoá chủng loại sản phẩm đả làm cho công ty mở rộng được thị trường sản phẩm của mình về cả hai hướng. Vì thế sản phẩm của công ty đả được xâm nhâp thêm vào một số tỉnh như: Tuyên Quang, Quảng Ngải, Bình Định, Tiền Giang…. Doanh số tiêu thụ ở một số tỉnh thành như: Nam Định, tanh Hoá, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Trị, Cần Thơ…tăng lên rất nhiều. Sản phẩm của công ty trong những năm qua được khách hàng ưa chuộng hơn và ngày càng có uy tín trên thị trường.

2.3. Chất lượng, đặc tính sử dụng của sản phẩm.

Vấn đề chất lượng và đặc tính hửu hiện của sản phẩm ngày nay đang là mối quan tâm của cả người tiêu dùng lẩn công ty. Khi quyết định mua một sản phẩm nào đó người tiêu dùng thường đặt vấn đề chất lượng và đặc tính hửu hiệu của sản phẩm lên hàng đầu. Do đặc thù của lĩnh vực kinh doanh  nên đặc tính, công dụng của sản phẩm luôn được công ty coi trọng. Công dụng chính của thuốc thú y là phòng, chữa bệnh cho gia súc, gia cầm, giúp vật nuôi tăng trưởng và phát triển nhanh. Đặc tính sản phẩm thuốc thú y là có đặc tính kỹ thuật cao, cần bảo quản tốt, một số loài thuốc mang tính thời vụ.  Công ty đã không ngừng cố gắng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, đầu tư nghiên cứu, cải tiến trang thiết bị máy móc, đặc biệt là khâu kiểm định.

Nhược điểm chính của sản phẩm là đòi hỏi bảo quản tốt, thời hạn sử dụng một số sản phẩm ngắn. Công ty đã khắc phục những nhược điểm này bằng cách nghiên cứu tìm ra những phương pháp bảo quản đơn giản, cung cấp kịp thời, hướng dẫn trợ giúp người tiêu dùng khi sử dụng.

2.4 Phát triển sản phẩm mới.

Người tiêu dùng luôn mong muốn có những sản phẩm mới hoàn hảo hơn. Công ty không chỉ dựa vào những sản phẩm hiện có mà cần phải nổ lực hết sức để có những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.

Quá trình phát triển sản phẩm mới của công ty như sau:

Sơ đồ 6: Qúa trình phát triển sản phẩm mới của công ty

Việc hình thành ý tưởng và sàng lọc ý tưởng chủ yếu phòng kinh doanh, trung tâm nghiên cứu đảm nhiệm. Ý tưởng được bộ phận bán hàng, bộ phận nghiên cứu đề xuất với ban lãnh đạo công ty và công việc sàng lọc ý tưởng công ty giao cho phòng kinh doanh phối hợp với trung tâm nghiên cứu lựa chọn ra ý tưởng tối ưu.

Tiếp theo là thiết kế và thử nghiệm, do bộ phận nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu thực hiện. Giai đoạn này ý tưởng mới biến thành các sản phẩm hiện thực. Từ ý tưởng bộ phận thiết kế sẽ tạo ra một hay nhiều mẫu sản phẩm. Và họ hy vọng rằng có một mẫu đạt yêu cầu.

Thử nghiệm trên thị trường: Sau khi qua các thử nghiệm về chức năng, sản phẩm mới được tung ra cho một số người tiêu dùng kiểm tra. Trên cơ sở sự đánh giá kết quả thử nghiệm ban lãnh đạo sẽ có quyết định chính thức nên sản xuất sản phẩm mới hay không?

Công việc cuối cùng là sản xuất hàng loạt và tung ra thị trường. Việc sản xuất sản phẩm được giao cho các phân xưởng sản xuất thực hiện, còn tung sản phẩm ra thị trường do đội ngũ nhân viên bán hàng công ty làm việc. Trước khi tung sản phẩm ra thị trường, công ty đã có kế hoạch chào bán sản phẩm vào thời điểm nào? Tại đại lý nào của công ty? Đại lý cửa hàng nào ngoài công ty?

Theo số liệu tổng kết đầu năm 2001 của công ty, kết quả sản xuất sản phẩm mới chào bán trên thị trường của năm 2024 thể hiện ở bảng sau.

Biểu số 5: Sản lượng và giá trị danh mục hàng hoá thiết kế và cải tiến năm 2024

  Tên sản phẩm Đơn vị Số lượng Giá trị (đồng)
I

1

2

3

4

5

6

7

8

II

1

2

3

4

Sản phẩm cải tiến

Penicillin 1TR

Lincomycin

Amoseptryl

Kanamycin

Vitamin B1 5cc

Tetramulin

Cosistop ESB3

Calcium

Sản phẩm mới

Septotry

Vinamix

Norploxalin

Centanelox

 

 

Lọ ống

Lọ

Lọ ống Gói

Gói

Lọ

 

Lọ

Lọ

Gói

Lọ

 

420.000

928.000

1.250.000

584.000

120.000

130.000

90.000

228.000

 

73.000

97.000

920.000

210.000

 

237.000.000

600.320.000

125.000.000

42.000.000

56.000.000

91.000.000

81.000.000

63.000.000

 

415.000.000

700.000.000

83.000.000

36.500.000

                Tổng cộng                                                               2.530.820.000

(Nguồn: Phòng kinh doanh) 

Thực tế bảng trên cho ta thấy các loại sản phẩm mới, sản phẩm cải tiến mà công ty tung ra thị trường trong năm 2024 là rất phong phú. Doanh thu từ các sản phẩm đó là 2.530.820.000(đ). Đây là một con số phản ánh vai trò của sản phẩm cải tiến và sản phẩm mới. Việc phát triển sản phẩm mới đã mang lại nhiều lợi nhuận cho công ty. Do đó chiến lược phát triển sản phẩm mới đã và đang được ban lãnh đạo công ty chú trọng đầu tư.

2.5. Bao bì, nhãn hiệu.

Do đặc điểm của sản phẩm thuốc thú y cho nên bao gói là rất quan trọng. Bao gói không chỉ có chức năng đựng sản phẩm mà phải có đầy đủ các chức năng khác như: Bảo quản, tên công ty, thành phần tác dụng của sản phẩm, hướng dẫn sử dụng…

Nhãn hiệu cũng không kém phần quan trọng so với bao gói. Nhãn hiệu có thể cho biết về sản phẩm như: Tên người sản xuất, nơi sản xuất, thời hạn, nội dung và cách an toàn khi sử dụng…

Nhận thức được tầm quan trọng của bao gói và nhãn hiệu của sản phẩm. Qua nhiều lần nghiên cứu và cải tiến công ty đã đưa ra nhiều loại bao gói đặc trưng cho nhiều loại sản phẩm đảm bảo được tính ưu việt và các chức năng của nó. Trên thị trường có rất nhiều hãng sản xuất thuốc thú y vì vậy rất dễ nhầm lẫn , công ty cần tạo ra những nhãn mác, bao bì đặc trưng và tránh những sự nhầm lẫn và làm nổi bật được sản phẩm của công ty mình.

III. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM MỚI CỦA CÔNG TY VINAVETCO.

1. Thuận lợi.

Về kinh tế, trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, tạo ra nhiều cơ hội cho nhiều ngành nghề kinh doanh. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển, nhiều ngành nghề được khuyền khích đầu tư, trong đó có Nông nghiệp. Công ty cổ phần vật tư thú y TWI sản xuất kinh doanh phục vụ cho ngành chăn nuôi trong Nông nghiệp, nên có một số lợi thế riêng được ưu tiên từ việc đầu tư cho Nông nghiệp.

Thuận lợi thứ hai là uy tín của công ty trên thị trường thuốc thú y và vật tư Nông nghiệp, sản phẩm của công ty không những có mặt trên khắp thị trường Việt Nam mà còn được xuất khẩu sang một số nước khác. Bản thân công ty đã có một truyền thông sản xuất gần 30 năm, những người lao động hiểu biết nắm bắt được những khó khăn khi công ty hoạt động trong nền kinh tế thị trường, nên đã làm việc có trách nhiệm, nhiệt tình, trao đổi kiến thức kinh nghiệm sản xuất kinh doanh cho nhau. Đối với ban giám đốc công ty có tâm huyết với sự tồn tại và phát triển công ty, coi trọng chất lượng sản phẩm và hiệu quả công việc, có trách nhiệm và tình cảm đối với người lao động, kịp thời giải quyết những khó khăn vướng mắc của người lao động, lắng nghe ý kiến khách hàng, kịp thời xử ký những tình huống và đưa ra những giải pháp phù hợp với từng giai đoạn, từng thời điểm.

Chất lượng sản phẩm là một trong những điểm mạnh của công ty, chất lượng và hiệu quả điều trị của các loại thuốc được khách hàng ca ngợi.

Không dừng lại ở đó công ty luôn đặt vấn đề chất lượng lên hàng đầu trong chiến lược phát triển sản phẩm của mình .

  • Công ty có mối quan hệ tốt với các trung gian thương mại, các cấp chính quyền ở các địa phương. Công ty có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ tạo điều kiện nâng cấp mở rộng cơ sở kinh doanh của họ.
  • Là một doanh nghiệp Nhà nước nên công ty có nhiều thuận lợi, ưu tiên từ phía đầu tư của chính phủ.
  • Ngoài sản xuất một số loại thuốc và vật tư chăn nuôi công ty còn kinh doanh thêm một số loại thuốc và vật tư khác, thu mua sơ chế xuất nhập khẩu một số sản phẩm nông nghiêp.
  • Một thuận lợi khác nữa là công ty có nguồn vốn lớn ưu tiên phát triển sản phẩm mới rất nhiều. Tính đến cuối nă 2024 vốn kinh doanh của công ty là 11.807.241.394 (đ) trong đó vốn lưu động chiếm 64,09 % .

2. Khó khăn.

Khó khăn về vấn đề cạnh tranh hiện nay. Tính đến nay trong nước đã có tất cả 250 cơ sở từ 25 nước và Việt Nam với gần 3000 mặt hàng được sản xuất, nhập khẩu lưu hành trên thị trường. Sản phẩm thuốc thú y sản xuất trong và ngoài nước có mặt và tiêu thụ qua hàng nghìn cửa hàng đại lý lớn nhỏ khắp mọi miền đất nước. Từ số liệu trên cho ta thấy tình hình cạnh tranh ngày một khó khăn. Chính vì vậy trong chính sách xây dựng và phát triển của công ty từ năm (2019 – 2024) đã đề cập rất nhiều đến vấn đề cạnh tranh. Công cụ hữu hiệu đối phó với cạnh tranh là sản phẩm và giá cả. Trong chính sách cạnh tranh về sản phẩm công ty chú trọng nhiều đến chất lượng sản phẩm, phát triển sản phẩm mới, cải tiến công nghệ sản xuất.

Khó khăn thứ hai là nguồn nguyên liệu dùng cho sản xuất. Hiện nay nguồn nguyên liệu dùng đển sản xuất các loại thuốc kháng sinh, thuốc bổ, thuốc đặc trị trong nước không có, do đó sản xuất trong nước phải nhập gần như 100% nguyên liêu từ Anh, Đức, Đài Loan, Mỹ… bằng ngoại tệ. Giá đô la lại tăng kéo theo giá đầu vào các nguyên liệu tăng, trong khi đó giá bán không tăng mà còn có chiều hướng giảm do chiết khấu cho khách hàng. Đây là môt trong những vướng mắc mà công ty đang cố gắng tháo gỡ bằng cách:

Giảm các chi phí khác, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Khó khăn thứ ba là công nghệ sản xuất thuốc thú y không chỉ của công ty mà cả ở Việt Nam có rất ít khâu tự động còn lại là lao động thủ công. Bởi vì hầu như nguyên liệu nhập về đã là thuốc dưới dạng sơ chế, chỉ còn khâu kết hợp các thành phần thuốc với nhau tạo ra thuốc đặc trị. Trong một vài năm gần đây công ty đã dần dần trang bị thêm máy móc, trang thiết thay thế dần lao động thủ công.

Khó khăn nữa là sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, việc xuất khẩu thịt ở các nước Đông Âu chưa trở lại bình thường, chăn nuôi giảm nhiều do giá thực phẩm quá thấp , tình hình địch bệnh mỗi năm một giảm.

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x