Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nhằm phục vụ phát triển du lịch ở địa phương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1. Unesco phong tặng Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa thế giới:

Tổ chức văn hóa khoa học và giáo dục liên hiệp quốc (Unesco) đã công nhận “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” của Việt Nam là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào ngày 25/11/2005 tại trụ sở của tổ chức này ở thủ đô Pari (Pháp). Đây là lần thứ 3 Unesco công bố các kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại từ năm 2003. Như vậy, cho đến nay Việt Nam đã có tổng cộng 10 di sản thiên nhiên và văn hóa được Unesco công nhận, đó là: quần thể di tích cố đô Huế, vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng, nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh, ca trù, và mới đây là Hội Gióng (ở Phù Đổng và đền Sóc).

Việc chuẩn bị hồ sơ trình Unesco là công việc rất vất vả, khó khăn. Trong đợt xét duyệt đầu tiên (2001), Việt Nam đã đệ trình hai hồ sơ là múa rối nước và hát chèo tàu, nhưng do chưa có kinh nghiệm nên di sản chưa được công nhận. Ðối với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, chúng ta chưa có sự nghiên cứu toàn diện, các nhà khoa học nước ngoài cũng chưa có chuyên luận nào. Ðịa bàn của không gian văn hóa cồng chiêng lại trải rộng trên 5 tỉnh, với 11 dân tộc. Mà thời gian để chuẩn bị hồ sơ lại không nhiều, chỉ có 6 tháng. Vấn đề quan trọng là phải xây dựng bộ hồ sơ theo đúng mẫu của Unesco, gồm: các băng video 120 phút, 40 phút, 10 phút; một bộ ảnh (kèm phim âm bản, phim dương bản); 1 băng ghi âm, 1 báo cáo khoa học đánh giá di sản và chương trình hành động để phục hồi, bảo tồn và phát huy giá trị di sản; 1 thư mục nghiên cứu về di sản; cam kết và thỏa thuận của cộng đồng và cơ quan quản lý, ngoài ra là các tài liệu tham khảo như sơ đồ, các công trình nghiên cứu, giới thiệu về di sản…, tất cả đều phải được dịch và giới thiệu bằng tiếng Anh. Ðể xây dựng hoàn chỉnh hồ sơ về cồng chiêng, ngoài các tư liệu lưu trữ sẵn có, cán bộ của Viện đã phải chia thành nhiều bộ phận, phụ trách những phần việc khác nhau như đi điền dã, biên tập, dịch thuật, lồng tiếng… Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Để không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được Unesco công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, công lớn thuộc về giáo sư Trần Văn Khê – người được Unesco giao thẩm quyền thẩm định hồ sơ cồng chiêng của Việt Nam. Đây là trường hợp hết sức đặc biệt. Theo luật, hồ sơ nước nào đưa thì chuyên gia nước đó không được quyền lên tiếng. Nhưng trường hợp này, nước khác không dám nhận bởi họ không biết cồng chiêng là gì. Biết giáo sư Trần Văn Khê trong hội đồng quốc tế âm nhạc Unesco, nên họ mời ông. Ông biết điều lệ nên đã từ chối, thì họ cho coi một điều lệ khác: Nếu trên thế giới không ai nhận thì phải nhờ tới chuyên gia Việt Nam, mà trước hết là chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài. Trong sự nghiệp khoa học của mình, giáo sư mới về Việt nam 1 năm, còn 56 năm sống ở bên Pháp và 30 năm làm cho Hội đồng quốc tế âm nhạc của Pháp, và mỗi lần ông tham gia đánh giá di sản nước khác đều thấy có sự công tâm.

Hồ sơ cồng chiêng đặc biệt đến nỗi không nhà nghiên cứu nào trên thế giới dám đứng ra thẩm định. Từ trước tới giờ chỉ có một nhà khoa học quốc tế biết qua về cồng chiêng là Condominas, với tư cách là nhà dân tộc học. Condominas không dám nhận vì đây vừa là không gian văn hóa, mà trong đó có phân tích rành rẽ về mặt âm nhạc, có cả tổng phổ mà ông không thể đọc được. Có nhà nghiên cứu vừa là nhà dân tộc học, vừa có hiểu biết về nhạc học là ông Jacques Dournes nhưng đã qua đời. Những người khác biết sơ qua về văn hóa đồng thau của Đông Nam Á, nhưng chi tiết như thế nào thì họ không hình dung được. Vì vậy chỉ có giáo sư Trần Văn khê là người Việt Nam, lại đã từng đi điền dã ở Tây Nguyên, đồng thời đã nghiên cứu về Inđônêxia, Philippin… là có thể đảm nhận trọng trách to lớn này. Giáo sư đã nhận lời làm thẩm định viên vì ông nghĩ: nếu mình không nhận lời thì cũng sẽ có một người khác đảm đương công việc này và chưa chắc người này đã am hiểu âm nhạc cồng chiêng, hiểu được không gian văn hóa cồng chiêng một cách sâu sắc nhất.

Quá trình khảo sát phong tặng danh hiệu cần phải vượt qua 3 vòng và lúc này người ta đã thấy rõ được giá trị thật sự của cồng chiêng Tây Nguyên. Nó khiến cho những người chưa biết gì về cồng chiêng cũng cảm thấy yêu cồng chiêng. Kết quả lớn nhất đạt được dù cồng chiêng có được phong tặng hay không song nó đã làm cho người Việt Nam nhận thức rõ hơn về cồng chiêng, hiểu biết thêm về đời sống đồng bào các dân tộc anh em của mình. Và điều quan trọng tiếp theo là làm cho các dân tộc ít người được khai thông, nhận rõ giá trị văn hóa truyền thống của chính mình để có quyền tự hào và có ý thức bảo vệ, lưu giữ.

Không phải người am hiểu tường tận vùng văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, G.S Trần Văn Khê đã cùng G.S Lê Hữu Phước thành lập một ủy ban nghiên cứu về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Sau này G.S Tô Vũ đã thay G.S Lê Hữu Phước tiếp tục công trình. G.S Tô Vũ theo đề nghị đã tổ chức nhiều lễ hội cồng chiêng tại Tây Nguyên và lần nào cũng gửi cho G.S Trần Văn Khê những bản báo cáo thật chi tiết và đầy đủ. Ngoài ra, G.S Trần Văn Khê cũng đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với G.S Tô Ngọc Thanh là người có vốn liếng hiểu biết về văn hóa cồng chiêng có lẽ là nhiều hơn ai hết. Qua hơn 6 tháng thẩm định, ông đã thu thập tất cả các bài viết của G.S Tô Vũ, G.S Tô Ngọc Thanh và các chuyên gia khác, đồng thời đọc luôn cả những phần nghiên cứu về âm nhạc cồng chiêng Đông Nam Á của G.S Maceda – một người bạn thân của ông. Nhờ vậy, vốn hiểu biết của ông về văn hóa cồng chiêng có phần hoàn chỉnh hơn. Nhưng chỉ đến khi ông đọc được bài viết của Bùi Trọng Hiền – một chuyên gia dân tộc học và nhạc học, ông mới có sự hiểu biết sâu sắc về nét đặc thù của âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên. Sự nhận định toàn diện về cồng chiêng Tây Nguyên đã giúp ông mạnh dạn đưa ra nhận xét khẳng định giá trị nghệ thuật sâu sắc và độc đáo của cồng chiêng trong bản báo cáo Unes-co qua hội đồng quốc tế khoa học tham khảo trước khi xét duyệt.

Bản báo cáo đã được hội đồng quốc tế khoa học đánh giá cao, và bằng chứng là ngày 25/11/2005, Tổng giám đốc tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa liên hiệp quốc (Unesco) Coichiro Matsura đã trân trọng trao bằng công nhận kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – Việt Nam” cho ông Vũ Đức Tâm, Đại sứ Việt Nam bên cạnh Unesco.

Đêm 28/3/2006 đã trở thành một sự kiện của hàng triệu đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung, của cộng đồng 11 dân tộc thiểu số nói riêng sau khi tiến hành nghi thức trao bằng công nhận “ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên – kiệt tác truyền khẩu, di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại”. Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Trước đó, để đón mừng tin vui này, trong tháng 3, tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Kon Tum đã đồng thời tổ chức lễ hội để thu hút tất cả các nghệ sĩ dân gian, diễn viên quần chúng và các nghệ sĩ là người con của Tây Nguyên. Tối 28/3/2006 tại thành phố Pleiku của tỉnh Gia Lai, hàng nghìn người dân các tỉnh Tây Nguyên đã nô nức tham dự lễ hội cồng chiêng và lễ đón bằng công nhận di sản văn hóa thế giới cho không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên do tổ chức Un-esco trao tặng. Đó là một đêm ấn tượng của nghệ thuật trình diễn cồng chiêng.

Sân vận động Pleicu rực rỡ sắc màu và tình đoàn kết của 11 dân tộc anh em, 15 đội cồng chiêng đại diện cho các dân tộc ở 5 tỉnh Tây Nguyên sôi nổi, rộn rã trình diễn những bài chiêng, điệu múa hoành tráng của mình. Tất cả những bài chiêng, nhịp múa của các dân tộc anh em như quyện vào nhau, tạo nên một bản hòa tấu uy nghi và hùng tráng. Âm thanh cồng chiêng vang vọng cả một vùng như báo hiệu mùa xuân về, mang lại no ấm hạnh phúc cho cộng đồng ở các buôn làng khắp vùng Tây Nguyên.

Phát biểu nhân buổi lễ đón bằng công nhận, đại sứ Việt Nam tại Unesco Vũ Đức Tâm đã khẳng định với việc công nhận nhã nhạc cung đình Huế và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, Unesco – tổ chức văn hóa lớn nhất và uy tín nhất thế giới đã công nhận Việt Nam rất giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Cũng từ đó, người Việt Nam thấy được giá trị thực sự của các di sản đã vượt biên giới quốc gia và có sự hiểu biết rõ hơn về chính mình để có những giải pháp bảo tồn, giữ gìn và lưu truyền cho con cháu những gia tài quý báu này.

Tại Tây Nguyên có đến 10.000 bộ cồng chiêng, trong đó có nhiều bộ chiêng cổ có giá trị. Việc Unesco công nhận không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đã tạo niềm vui và cũng là lực đẩy cho công tác bảo tồn và phát huy loại hình văn hoá truyền thống này.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

3.2. Một số giải pháp khai thác nhằm phục vụ phát triển du lịch ở địa phương:

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trở thành di sản văn hóa phi vật thể của thế giới, đây là niềm vui lớn của đồng bào các dân tọc Tây Nguyên nói riêng và của toàn dân tộc Việt Nam nói chung. Để có thể đưa cồng chiêng vào khai thác phục vụ du lịch một cách có hiệu quả nhất thì chúng ta cần phải bảo tồn và có biện pháp giữ gìn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để nó có một không gian văn hóa và nét độc đáo riêng, mãi xứng đáng là một kiệt tác di sản văn hóa thế giới, để mọi người dân đều được trở về và hòa nhập vào với Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

3.2.1. Giữ gìn và bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:

3.2.1.1. Sự mai một của văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Điều đầu tiên và trước hết mà các quốc gia đang sở hữu di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cần ghi nhớ rằng: việc những di sản này được Unesco công nhận là cơ hội của văn hóa chứ không phải cơ hội cho du lịch. Cái chúng ta cần giữ gìn chính là vốn văn hóa cổ, phần nào còn giữ nguyên được linh hồn mà cha ông chúng ta đã sáng tạo nên, cũng chính giá trị đặc sắc tiêu biểu đó đã được Unesco công nhận và đánh giá cao.

Tuy nhiên văn hóa cồng chiêng đang đứng trước nguy cơ của sự mai một do nhiều nguyên nhân. Trước hết, đó là những nguyên nhân bắt nguồn từ những biến đổi hết sức lớn lao trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân, cùng với những biến đổi của môi trường tự nhiên và xã hội mà cư dân Tây Nguyên sinh sống. Như những sự thay đổi trong phương thức canh tác; sự thay đổi trong mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và thiên nhiên Tây Nguyên; sự bùng nổ công nghệ thông tin,… Những sự biến đổi ấy dẫn đến sự thờ ơ của một bộ phận dân cư, nhất là trong lớp trẻ đối với văn hóa cồng chiêng.

Hiện nay, nhiều người trong các buôn làng M’nông không còn biết hết các nghi lễ truyền thống. Việc tập hợp đủ người đánh chiêng cũng không dễ dàng như xưa bởi trong một buôn, mọi người lại theo những tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Trong khi đó, bản thân những bản nhạc cồng chiêng còn giữ lại đến nay cũng quá ít ỏi. Với lớp trẻ, nhiều bài cồng chiêng trở nên đơn điệu, nhàm chán, khó hiểu. Người ta không thể thực hiện những bài cồng chiêng cúng lúa trên rẫy giờ đã trồng toàn cà phê, tiêu. Nhiều gia đình mang bán những bộ cồng chiêng . Nhịp sống hiện đại có sức hút mạnh mẽ với lớp trẻ. Không ít thanh niên con em dân tộc Ê Đê, M’ nông tuy được giáo dục truyền thống dân tộc, nhưng vẫn bị ảnh hưởng của văn hóa hiện đại của phương Tây, coi sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của buôn làng mình là lạc hậu và không phù hợp với hiện đại. Thậm chí họ vận động người già mang bán những bộ cồng chiêng quý để mua những thiết bị âm thanh điện tử hiện đại.

Trước hết là sự suy giảm nhanh chóng về số lượng các dàn cồng chiêng. Theo thống kê của Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai, trước năm 1980 trong các p’lei/p’lơi của người Giarai, Bana trong tỉnh có hàng chục ngàn bộ cồng chiêng. Có gia đình sở hữu 2-3 bộ, mỗi p’lei có hàng chục bộ. Đến năm 1999, cả tỉnh có 900 p’lei và chỉ còn 5.117 bộ, năm 2002 còn lại chưa đến 3.000 bộ. Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 3.113 bộ. Từ năm 1982 đến 1992, tỉnh Đắc Lắc đã mất 5.325 bộ chiêng, từ năm 1993 đến 2003 lại mất tiếp 850 bộ, hiện tại cả tỉnh chỉ còn 3.825 bộ cồng chiêng. Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Nguy cơ mai một cồng chiêng còn thể hiện ở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên. Các nghệ nhân trải qua thời gian, do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản nhạc chiêng. Người Mnông trước đây có 40 bản nhạc chiêng, nay các nghệ nhân chỉ còn nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản nhạc chiêng. Mặt khác, những nghệ nhân có đôi tai thẩm âm, có năng khiếu trong việc chỉnh chiêng cũng thưa vắng dần trong các cộng đồng cư dân.

Đáng tiếc nhất là khi những người già, những nghệ nhân Tây Nguyên chết đi đã mang theo cả kho tàng di sản văn hoá cồng chiêng mà không dễ dàng tạo dựng và khôi phục được. Trước đây, một số nghệ nhân biết sử dụng cồng chiêng ở các buôn làng tỉnh Đắk Lắk khá nhiều (trung bình mỗi buôn từ 50 – 70 người), nhưng hiện nay, mỗi buôn chỉ còn chừng dăm bảy người. Sự đứt gãy dòng chảy của văn hoá truyền thống dẫn đến sự thờ ơ, hờ hững của lớp trẻ với văn hoá của các thế hệ tiền nhân, trong đó có văn hoá âm nhạc cồng chiêng.

Để có thể khắc phục tình trạng “chảy máu cồng chiêng”, khôi phục di sản văn hóa phi vật thể quý giá này, chúng ta cần có biện pháp giữ gìn và bảo tồn vốn văn hóa này.

3.2.1.2. Giải pháp giữ gìn và bảo tồn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên:

Tiếp sau nhã nhạc cung đình Huế, ngày 25/11/2005, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được Unesco công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đây là niềm vui hết sức lớn lao, nhưng đồng thời cũng là trách nhiệm mà tổ chức Unesco đã trao cho chúng ta: phải bảo tồn và phát huy gíá trị của di sản của nhân loại. Với tư cách nước chủ nhà, chúng ta phải có một chương trình tổng thể với những bước đi phù hợp điều kiện hoàn cảnh của đất nước ta và Tây Nguyên. Đi liền theo đó là một hệ thống giải pháp cụ thể để thực hiện chương trình này. Với trách nhiệm của cơ quan nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, Bộ văn hóa – thông tin dự kiến một số công việc cần phải thực hiện nhằm giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Đó là: tiếp tục công việc sưu tầm, ghi chép những bài chiêng, những sinh hoạt văn hóa, âm nhạc gắn với cồng chiêng, các tài liệu về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để lưu giữ phục vụ cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy gí trị tài sản văn hóa vô cùng đặc sắc và quý giá của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Để có thể làm được điều đó, cần phải có một số giải pháp hỗ trợ sau:

Cần có một chương trình nghiên cứu khoa học cho không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và chia ra các nhóm việc như sưu tầm và nghiên cứu, bảo tồn và phục hồi, truyền dạy và quảng bá, chặn đứng nạn “chảy máu’ cồng chiêng, tiến hành bảo tồn tĩnh lẫn bảo tồn động đối với di sản này, tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu.

Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, tập hợp các nguồn tài liệu đã được nghiên cứu, công bố từ trước tới nay cả trong nước và ngoài nước liên quan đến cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Các nguồn tài liệu này hiện đang còn tản mạn, phân tán ở các kho lưu trữ, thư viện, tủ sách tư nhân trong và ngoài nước.

Phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa, các lễ hội, tổ chức biểu diễn, giới thiệu rộng rãi trong cộng đồng dân cư, trên các phương tiên thông tin đại chúng. Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Tổ chức nghiên cứu khoa học về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên một cách hệ thống và toàn diện ở 5 tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận.

Phục hồi môi trường diễn xướng cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng, trên quan điểm kế thừa có chọn lọc, tạo điều kiện thuận lợi để các cộng đồng dân cư khôi phục các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng , lễ hội gắn với cồng chiêng theo truyền thống dân tộc của mỗi cộng đồng dân cư và có sự tham gia hướng dẫn, hợp tác chặt chẽ của các cơ quan quản lí nhà nước về văn hóa, nghệ thuật.

Từng bước xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được đặt ở trung tâm dữ liệu di sản văn hóa, viện văn hóa – thông tin và tại bảo tàng các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng. Tại đây sẽ cất giữ các tài liệu, hồ sơ, băng ghi âm, ghi hình, ảnh tài liệu, ảnh hiện trạng…liên quan đến cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Tổ chức đội ngũ các nhà nghiên cứu có chuyên môn về âm nhạc truyền thống, về văn hóa, lịch sử Tây Nguyên. Chú trọng đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, các nhà nghiên cứu là người dân tộc thiểu số nhằm thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về âm nhạc truyền thống, văn hóa lịch sử Tây nguyên. Các cộng đồng P’lei, p’lơi, buôn, bon…mở các lớp truyền dạy kinh nghiệm đánh chiêng, chỉnh chiêng cho thanh thiếu niên, tạo cơ hội cho các nghệ nhân truyền nghề cho các thế hệ kế tiếp cả về phương pháp kiến thức và kinh nghiệm.

Thành lập các khoa hoặc bộ môn đào tạo các trường nghệ thuật của hai tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk. Trường đại học Tây Nguyên về cồng chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Tổ chức việc biên soạn để sớm có giáo trình về cồng chiêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên giảng dạy trong nhà trường.

Bản chất của cồng chiêng Tây Nguyên là sáng tạo của cộng đồng và cũng chính cộng đồng trao truyền nó. Vì vậy, phát huy vai trò của cộng đồng phải là yêu cầu có tính nguyên tắc, đặt công việc lên trên.

Xử lí thỏa đáng, biện chứng quan hệ giữa hai phạm trù “bảo tồn” và “ phát huy” hoạt động của đời sống hàng ngày trong không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Muốn bảo vệ không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên phải giữ gìn, khôi phục các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng liên quan đến văn hóa cồng chiêng, trong đó không nhất thiết phải kế thừa y nguyên.

Tăng cường công tác tuyên truyền qua các phương tiện thông tin như đài phát thanh, truyền hình, báo chí, ấn phẩm văn hóa, website… để mọi người hiểu được Tây Nguyên đang lưu giữu một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá. Biên soạn và xuất bản các văn hóa phẩm về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (tờ gấp, sách nghiên cứu, sách ảnh, đĩa CD, VCD, DVD,…) để giới thiệu cho mọi người, nhất là khách du lịch trong và ngoài nước hiểu và yêu quý giá trị mang tầm nhân loại của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Kêu gọi sự quan tâm nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá, tranh thủ sự đầu tư, sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài cả về kinh phí, phương tiện, tư liệu,… để thực hiện các công việc trên. Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Để bảo tồn, phát triển và tôn vinh giá trị văn hóa cồng chiêng, ngay từ những năm mới giải phóng, ngành văn hóa thông tin các tỉnh Tây Nguyên đã dày công tổ chức các đợt khảo sát, thống kê số lượng cồng chiêng. Năm 1985 tỉnh Gia Lai – Kon Tum đã phối hợp với Viện Nghiên cứu âm nhạc Việt Nam tổ chức liên hoan và hội thảo khoa học về cồng chiêng với quy mô lớn và nghiêm túc. Sau đó một cuốn kỷ yếu về văn hóa cồng chiêng ra đời. Cho đến nay đó vẫn là cuốn sách nghiên cứu về văn hóa cồng chiêng nghiêm túc và có chất lượng. Từ đó đến nay cứ hai năm một lần ở cấp huyện, xã và 4 năm một lần ở cấp tỉnh, Gia Lai liên tục tổ chức liên hoan cồng chiêng. Điều đáng ghi nhận là lần liên hoan sau luôn có chất lượng cao hơn lần trước. Các tỉnh Đăk Lăk, Kon Tum, Lâm Đồng, và Đăk Nông cũng có nhiều hoạt động tương tự. Cùng với hàng vạn nghệ nhân không chuyên sử dụng cồng chiêng và hàng chục nghệ nhân người Gia Rai, Bana, Giẻ triêng, Ê Đê, M’Nông,…suốt đời âm thầm sống trong các buôn làng theo đuổi nghề lên dây chiêng và những hoạt động liên hoan cồng chiêng kết hợp với những sinh hoạt văn hóa cổ truyền khác, những sự vận động tuyên truyền, giải thích, ngăn chặn việc buôn bán cồng chiêng mang yếu tố phá hoại…đã góp phần tôn vinh văn hóa cồng chiêng trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Trong những năm gần đây, nhà nước đã đầu tư trên 25 tỷ đồng cho công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn sử thi và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, trong đó có việc lập hồ sơ đề nghị Unesco công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa thế giới. Nhờ nguồn vốn đó đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã sưu tầm được trên 500 tác phẩm sử thi, lưu giữ hàng nghìn bộ cồng chiêng, chấm dứt tình trạng “chảy máu cồng chiêng”. Riêng đồng bào các dân tộc Ê Đê, M’Nông còn lưu giữ 3375 bộ cồng chiêng. Các cấp tỉnh, huyện, xã trong khu vực cũng mở lớp dạy đánh cồng chiêng cho con em đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, thành lập 300 đội chiêng ở các buôn làng.

Bảo tồn, phát huy các giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là công việc lớn, vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa lâu dài. Bên cạnh những thuận lợi to lớn từ sự công nhận của Unesco và cộng đồng quốc tế, sự quan tâm đầu tư, chăm lo về mọi mặt của Đảng và Nhà nước ta, tình cảm và trách nhiệm giữ gìn và phát huy không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của nhân dân ta…Đây cũng là công việc khó khăn đòi hỏi chúng ta phải quyết tâm và khẩn trương thực hiện. Có như vậy chúng ta mới giữ gìn và phát huy được giá trị vô cùng to lớn của di sản thế giới này. Làm tốt công việc ấy không chỉ có ý nghĩa đối với hôm nay mà cả với mai sau.

3.2.2. Quy hoạch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Người dân Tây Nguyên sinh ra được đón bằng tiếng chiêng, chết có tiếng chiêng tiễn đưa. Họ sử dụng cồng chiêng để làm phương tiện giao lưu với các thần linh trong các dịp lễ hội, nghi lễ như: đặt tên, lấy vợ, lấy chồng, làm nhà, mừng lúa mới, cúng trời đất, lửa nước, lễ đâm trâu, lễ bỏ mả…Quy hoạch không gian văn hóa cồng chiêng tức là để cồng chiêng gắn với cộng đồng, với bản làng để có thể gắn cồng chiêng với không gian âm vang của núi rừng tự nhiên, dân dã như người dân bản địa chứ không phải cồng chiêng trên sân khấu.

Ở Tây Nguyên hiện nay, công chúng đã quá quen với các lễ hội biểu diễn, thi thố mà ở đó phủ lên sự thô mộc vốn làm nên bản sắc Tây Nguyên là những yếu tố ngoại lai như hóa trang, sàn diễn kịch bản và vô số những kiểu hướng đạo văn hóa nửa vời chắp vá do những cán bộ văn hóa cơ sở áp đặt khiến cho du khách nhàm chán và không thể cảm nhận được cái chất Tây Nguyên nồng nàn từ ngàn đời nay. Để nếm trải tận cùng tinh hoa của văn hóa Tây Nguyên không gì bằng, vào một ngày, một đêm tình cờ đi qua làng bản, tình cờ gặp một đám ma, gặp một lễ bỏ mả, một hội mừng lúa mới,…ta sẽ được nghe tiếng chiêng trầm hùng, vang dội hoặc náo nức…Tiếng chiêng ở đó sẽ “đời hơn” và đương nhiên sẽ đậm đà bản sắc hơn, bởi vì tiếng chiêng ấy chất chứa trong đó truyền thống cả nghìn năm văn hóa. Bởi đó mới là tiếng chiêng vẹn nguyên, biểu hiện nỗi niềm tự sự hay là biểu trưng cho mối giao kết với thần linh…Tựu trung, cấp độ thiêng liêng tùy thuộc vào từng không gian mà ở đó phong tục tập quán còn nguyên bản đến đâu.

Ngay tại Tây Nguyên hiện nay cũng có cách “chơi chiêng” kiểu mới của không ít nhóm chiêng trẻ. Họ rủ nhau mua, sưu tầm những chiếc chiêng trôi nổi, thuê nghệ nhân ở huyện Chư Sô – Gia Lai gò lại cho đủ các nốt Đồ, rê, mi, pha, son, la, si và thăng giáng, treo lên sàn toòng teng trên dưới 20 chiếc để vài ba người cùng gõ nhạc mới. Đây cũng là một việc rất tốt nếu những nhóm chiêng trẻ này biết đi đúng hướng trong việc quy hoạch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Tuy nhiên, hiện nay cồng chiêng Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ bị sân khấu hóa. Xoay quanh hiện tượng này đã nổ ra cuộc tranh cãi của hai bên. Bên ủng hộ cho rằng nếu không mở hội diễn liên hoan để tạo điều kiện cho các đội cồng chiêng giao lưu và tuyên truyền về giá trị của cồng chiêng cho quần chúng thì cồng chiêng cũng dần mai một trong cộng đồng. Trong khi đó, những người thuộc bên phản đối lại nhấn mạnh việc sử dụng cồng chiêng luôn phải gắn với nghi lễ chứ không phải nhằm mục đích giải trí, vì vậy sân khấu hóa cồng chiêng là hoàn toàn sai lầm, xúc phạm, báng bổ và làm mất đi giá trị quý báu vốn có của cồng chiêng. Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Cả hai bên đều có những lí lẽ riêng hợp lý. Song, nếu biết kết hợp những mặt mạnh của cả hai ý kiến này thì việc quy hoạch không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sẽ thuận lợi hơn.

NSƯT Vũ Lân – người chế tạo nhiều nhạc cụ dân gian Tây Nguyên và gần 20 năm lãnh đạo đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh Đăk Lăk đã tổng kết lại và cho rằng: Cồng chiêng là một hiện tượng “văn hóa sống” nên không thể bảo tồn nó như đối với trống đồng Ngọc Lũ. Cách bảo tồn cồng chiêng tốt nhất là phải vừa giữ gìn cái cốt lõi, tinh hoa cổ truyền, vừa khai thác, phát huy và phần nào phát triển nó để cho bộ rễ đó cắm sâu vào mạch nguồn văn hóa dân gian của núi rừng Tây Nguyên là quy hoạch bảo tồn nó trong không gian văn hóa “ làng”, trong không gian của núi rừng.

Hiện nay, để thực thi đề án “Phát triển hoạt động văn hóa – thông tin vùng Tây Nguyên” năm 2010 với tổng kinh phí 1400 tỉ đồng đã được chính phủ phê duyệt tháng 2 năm 2004, chính quyền các tỉnh Tây Nguyên đã, đang và sẽ tiếp tục cho xây dựng hàng trăm nhà “Văn hóa cộng đồng” khắp các buôn làng. Song, có thể nói sẽ không có nhà văn hóa nào có thể thế chỗ cho nhà Rông, nhà Dài – nói gọn là nhà làng, vừa đẹp đẽ mà vẫn ấm áp, thiêng liêng, là cái hồn của không gian văn hóa Tây Nguyên. Xoay quanh vấn đề này, nhiều già làng đã có ý kiến: nhà văn hóa cộng đồng chỉ có thể là nhà làng, thành tâm điểm của không gian văn hóa cồng chiêng khi nó được chính già, trẻ, trai, gái trong làng chính tay xây dựng theo nghi lễ , phong tục, tập quán của dân tộc mình chứ không phải do phía chủ đầu tư áp đặt từ kiến trúc thi công. Khi đó dù mái tranh hay là mái tôn, đồng bào vẫn cảm nhận đó là tài sản của chính mình. Để tiền của nhà nước được sử dụng có hiệu quả trong việc này, nên chuyển những khoản đầu tư ấy cho làng để làng tự lên kế hoạch xây dựng. Có như vậy, âm thanh cồng chiêng mới vang lên đúng với tiếng nói tâm hồn và tình cảm thiêng liêng và giản dị của người Tây Nguyên từ bao đời nay.

Quy hoạch không gian văn hóa cồng chiêng là một việc làm rất cần thiết nếu như ta muốn bảo vệ và giữ gìn tài sản vô cùng quý giá của dân tộc, để văn hóa cồng chiêng mãi sống và tồn tại trên mảnh đất Tây Nguyên đầy bản sắc văn hóa này.

3.2.3. Biện pháp đưa khách du lịch đến với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Tây Nguyên là vùng đất có truyền thống văn hóa đa dạng của nhiều dân tộc, mang đậm bản sắc văn hóa riêng. Nói đến Tây Nguyên, ngoài các cảnh đẹp đã được bao thi nhân, nhạc sĩ, các nhà nghiên cứu và du khách trong và ngoài nước ca ngợi, còn có một hoạt động văn hóa khác thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà dân tộc học,… và khách du lịch đến tìm hiểu, nghiên cứu và thưởng thức, đó chính là các lễ hội độc đáo và vô cùng đặc sắc của người dân Tây Nguyên.

Nhắc đến lễ hội ở Tây Nguyên không thể không nhắc đến âm vang của tiếng cồng chiêng. Trong lễ hội, khi xuất hiện cồng chiêng là xuất hiện văn nghệ. Đánh chiêng, múa hát đã trở thành phong tục truyền thống, thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống đồng bào. Để có thể vừa bảo tồn không gian văn hóa phi vật thể vô cùng quý giá này, lại vừa có thể đưa nó gắn với phát triển du lịch ở Tây Nguyên là việc làm vô cùng khó khăn. Nó đòi hỏi tất cả mọi người cùng có ý thức bảo vệ di sản này. Nhưng đó là việc rất đáng làm vì du lịch hiện đang là một ngành công nghiệp không khói rất phát triển ở Việt Nam nói chung và ở Tây Nguyên nói riêng.

Tây Nguyên là một vùng đất có tiềm năng phát triển du lịch rất lớn, đặc biệt là du lịch văn hóa là một loại hình du lịch thu hút một lượng khách không nhỏ. Nếu biết đưa hoạt động du lịch hòa nhập vào đời sống đồng bào một cách có hiệu quả sẽ tạo tiền đề để bà con đồng bào dân tộc tiếp cận được những tinh hoa của nhân loại, tạo tiền đề cho vùng đất Tây Nguyên ngày càng phát triển hơn. Và Tây Nguyên sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút không chỉ du khách trong nước mà cả du khách quốc tế.

Tuy nhiên, đưa du lịch vào với đồng bào dân tộc như thế nào cho có hiệu quả cũng là một vấn đề. Một mặt cần có sự quan tâm của các cấp, các ngành có liên quan trong việc bảo tồn và giữ gìn bản sắc của đồng bào, mặt khác cần tuyên truyền cho bà con đồng bào có ý thức bảo vệ và phát triển nó theo đúng hướng. Điều đó cần phải thận trọng, đặc biệt là đối với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Hơn thế nữa, du lịch là một ngành vô cùng nhạy cảm. Nếu ta phát triển nó đúng hướng thì nó sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao và thúc đẩy nền văn hóa ở nước đó, khu vực đó phát triển. Còn nếu không phát triển đúng hướng, chỉ mang lại lợi ích trước mắt mà không chú ý đến việc gìn giữ tiềm năng du lịch, phát triển du lịch một cách thái quá, không có định hướng quy hoạch thì sẽ dẫn đến sự mai một văn hóa, du nhập nền văn hóa ngoại lai, ảnh hưởng không tốt đến vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc.

Sự kiện Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được Unesco phong tặng là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là một cơ hội lớn cho việc phát triển du lịch nhưng cũng phải hết sức thận trọng. Nhiều quốc gia khi nhận vinh dự này đã quá chú trọng đến khía cạnh khai thác phục vụ du lịch. Chính các chuyên gia văn hóa của Unesco lại không mặn mà với các dự án khai thác di sản có yếu tố du lịch, bởi theo họ, việc giới thiệu di sản với khách du lịch có tính hai mặt: cái có được là việc quảng bá giá trị của di sản, nhưng lại đi kèm điều kiện phải rút gọn thời gian và không gian trình bày, tăng nguy cơ mai một cho một di sản. Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Ở góc độ nào đó, nếu đưa không gian văn hóa cồng chiêng vào trong ngành du lịch sẽ tạo điều kiện cho các đội chiêng tuyên truyền về giá trị của cồng chiêng, đồng thời là điều kiện thúc đẩy họ phải nỗ lực tập luyện để phục vụ sở thích của du khách. Nhờ vậy mà sẽ tránh cho cồng chiêng khỏi sự mai một trong cộng đồng. Tuy nhiên cũng theo xu thế đó, nghệ thuật cồng chiêng đang bị sân khấu hóa, cồng chiêng được biểu diễn trong phòng với những thiết bị âm thanh, cùng dàn nhạc điện tử như một số đội cồng chiêng ở Lâm Đồng đang thực hiện. Du khách khá hào hứng với hình thức này, nhưng người dân địa phương lại thờ ơ, còn các nhà nghiên cứu thì lo lắng. Bởi vì, với hình thức ấy, nghệ thuật cồng chiêng không có không gian trình diễn nguyên gốc. Du khách quốc tế sẽ không khỏi hoài nghi hoặc cảm nhận không đúng về giá trị của một di sản văn hóa của nhân loại. Có lẽ phải đặt ngược vấn đề rằng, để vẫn có thể quảng bá giá trị của di sản, thay vì đưa cồng chiêng đến với du khách, hãy đưa du khách về với không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Không gian văn hóa cồng chiêng chính là các lễ hội, các sinh hoạt đời sống của đồng bào Tây Nguyên. Vì vậy, song song với việc bảo tồn văn hóa cồng chiêng, cần phải có những biện pháp giữ gìn và phục hồi các lễ hội của đông bào, đưa du khách đến với đồng bào và cùng tham dự các lễ hội ở đó với tư cách là khách và thậm chí với tư cách là một thành viên. Điều đó sẽ tạo điều kiện cho du khách có cơ hội thưởng thức và cảm nhận hết giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Vì vậy, phát triển du lịch ở Tây Nguyên là phải đưa du khách về với cuộc sống sinh hoạt của đồng bào, cùng ăn, cùng ở và cùng tham gia các công việc của đồng bào, đặc biệt là cùng thưởng thức âm vang của tiếng cồng chiêng tại các nhà sàn, nhà rông, nhà dài, cùng tham dự các tục lệ, lễ hội của đồng bào như: tục cưới hỏi, lễ bỏ mả, lễ cúng lúa,…trên chính mảnh đất Tây Nguyên. Hãy để du khách một ngày tình cờ đến Tây Nguyên, tình cờ đi qua làng bản, tình cờ gặp một đám ma, một lễ bỏ mả, lễ hội mừng lúa mới hay một đám cưới,…và được nghe tiếng chiêng trầm hùng, náo nức – tiếng chiêng nguyên vẹn và đậm đà bản sắc linh thiêng hồn sông núi. Đó chính là điều kiện để không gian văn hóa cồng chiêng có điều kiện gắn với phát triển du lịch.

Chính bởi vậy, để đưa được du khách đến với không gian văn hóa cồng chiêng, các nhà chức trách cần phải thực hiện một số biện pháp: Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Tăng cường công tác tuyên truyền qua các phương tiện thông tin như đài phát thanh, truyền hình, báo chí, ấn phẩm văn hóa, website… để mọi người hiểu được Tây Nguyên đang lưu giữu một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá. Biên soạn và xuất bản các văn hóa phẩm về không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (tờ gấp, sách nghiên cứu, sách ảnh, đĩa CD, VCD, DVD,…) để giới thiệu cho mọi người, nhất là khách du lịch trong và ngoài nước hiểu và yêu quý giá trị mang tầm nhân loại của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Từ hiểu, quan tâm, yêu mến di sản này, du khách sẽ tìm đến với mảnh đất Tây Nguyên để được khám phá, được chứng kiến tận mắt không gian văn hóa cồng chiêng mà từ trước họ mới chỉ biết được qua sách, báo,…

Tạo môi trường diễn xướng cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa cồng chiêng một cách thường xuyên và có tổ chức tại các tỉnh ở Tây Nguyên, tổ chức các buổi biểu diễn cồng chiêng trong không gian của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên, kết hợp với việc quảng bá rộng rãi để khách du lịch có thể biết và đến với Tây Nguyên vào bất cứ thời điểm nào trong năm cũng có thể thưởng thức được tiếng cồng chiêng linh thiêng của miền đất này.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (lễ cúng cơm mới, lễ cúng bến nước,…), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,…), ẩm thực,… Chính bởi vậy, khai thác không gian văn hóa cồng chiêng là khai thác tất cả các yếu tố trên để nhằm thu hút khách du lịch đến với Tây Nguyên. Các địa phương có thể cho xây dựng các ngôi nhà sàn, nhà rông, nhà dài theo đúng như các ngôi nhà truyền thống của người Tây Nguyên nhưng có kèm theo các dịch vụ để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi tiện nghi hơn cho khách du lịch. Bên cạnh đó có thể bán các món ăn truyền thống để du khách có dịp được thưởng thức văn hóa ẩm thực của miền đất này. Ngoài ra có thể bán các nhạc cụ chiêng cồng cho du khách như một món đồ lưu niệm để du khách có thể mua về làm kỉ niệm, làm qùa cho người thân, đồng thời cũng là một cách quảng bá cồng chiêng Tây Nguyên đến với những ai chưa có dịp đặt chân tới Tây Nguyên…

Cần quy hoạch các lễ hội sao cho có quanh năm. Kế hoạch các lễ hội được xây dựng cùng với kế hoạch của du lịch, giúp cho bất kì khách du lịch đi vào thời điểm nào thì ở Tây Nguyên cũng có địa phương tổ chức lễ hội.

Trong các tour du lịch nên có các băng đĩa giới thiệu ở trên xe hoặc băng đĩa ở khách sạn để khách có hướng tìm hiểu về cồng chiêng Tây Nguyên thì khi họ được xem thực họ mới có ấn tượng đậm đà.

Đội ngũ hướng dẫn viên phải là những người hiểu biết và cảm nhận được cái hay, cái độc đáo cũng như những giá trị quý báu của cồng chiêng Tây Nguyên để truyền đạt và giới thiệu cho du khách, giúp cho du khách có được cái nhìn đúng nhất về cồng chiêng nói riêng và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên nói chung.

Còn về giải pháp đưa các đội cồng chiêng đi các nơi để biểu diễn, phục vụ khách du lịch. Giải pháp này cũng giúp cho một lượng lớn khách du lịch biết đến cồng chiêng Tây Nguyên. Họ có thể sẽ không phải đến tận Tây Nguyên mới có thể thưởng thức được thế nào là tiếng cồng chiêng. Nhưng đó cũng chính là vấn đề. Việc thưởng thức như vậy là không trọn vẹn, nói đúng hơn như vậy không thể coi là được thưởng thức di sản văn hóa phi vật thể quý báu của nhân loại được. Vì cồng chiêng Tây Nguyên là phải gắn với không gian. Chính không gian là điều kiện quan trọng để người nghe có thể cảm nhận, có thể thẩm thấu được hết giá trị của âm nhạc cồng chiêng tại mảnh đất Tây Nguyên này. Hơn nữa, việc làm này có thể sẽ dần làm mất đi những giá trị nguyên gốc của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Vì vậy, biện pháp này không thể được coi là một biện pháp nhằm phát triển du lịch tại địa phương một cách lâu dài được.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

Trong những năm gần đây, du lịch được coi là một ngành “công nghiệp không khói”, là thành phần quan trọng đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập của hầu hết các quốc gia, thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy, việc định hướng, quy hoạch, quản lý nhằm đưa ra các giải pháp để phục vụ cho sự phát triển du lịch là một việc làm quan trọng và hết sức cần thiết đối với tất cả các quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng.

Việt Nam là một quốc gia cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Với nhiều các tài nguyên về tự nhiên và nhân văn, giàu có về văn hóa và các bản sắc riêng biệt, Việt Nam được đánh giá là đất nước có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Nắm bắt được lợi thế đó, Việt Nam đã nhanh chóng đề ra các phương án và giải pháp phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của du lịch cho đất nước. Đặc biệt là với các địa phương – nơi có những tiềm năng du lịch nổi bật và có giá trị. Trong số đó có Tây Nguyên.

Tây Nguyên – mảnh đất vốn đã được biết đến là một mảnh đất đầy nắng và gió, mảnh đất anh hùng, mảnh đất với nhiều cảnh đẹp của đất nước Việt Nam. Nơi đây còn được biết đến với nhiều các lễ hội, âm nhạc, văn hóa, ẩm thực,…Và đặc biệt hơn nữa, Tây Nguyên còn vinh dự với Không gian văn hóa cồng chiêng đã được Unesco công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Chính bởi vậy, Tây Nguyên được coi là nơi có nhiều tiềm tiềm năng để phát triển du lịch, và không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên có thể được coi là tiềm năng du lịch lớn nhất của vùng.

Trong những năm vừa qua, hoạt động du lịch ở Tây Nguyên đã có những bước phát triển, đứng vững và khẳng định mình trong xu thế phát triển chung của ngành du lịch cả nước. Số lượng khách du lịch, doanh thu từ du lịch ngày càng tăng và đóng góp GDP của du lịch vào GPD của khu vực, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động du lịch, tạo việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân… Tuy nhiên, so với tiềm năng về thế mạnh du lịch của khu vực có được thì tốc độ phát triển như vậy còn nhiều hạn chế. Du lịch của Tây Nguyên vẫn chưa phát triển tương xứng với những tiềm năng vốn có. Vì vậy, du lịch Tây Nguyên cần phải chú trọng đổi mới, đề ra các giải pháp, định hướng phù hợp, biết khai thác các thế mạnh, nắm vững được những điểm yếu của mình để điều chỉnh việc phát triển cho hợp lý.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một di sản quý báu của Tây Nguyên, của Việt Nam nói riêng và của toàn nhân loại nói chung. Việc đưa ra các giải pháp để phục vụ phát triển du lịch trong Không gian văn hóa cồng chiêng ở địa phương là việc làm hết sức cần thiết và nên làm. Việc làm đó giúp cho hình ảnh của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến được với khách du lịch trong và ngoài nước, tôn vinh nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tây Nguyên, của dân tộc Việt Nam, góp phần đưa du lịch Tây Nguyên hòa nhập vào dòng chảy phát triển du lịch mạnh mẽ của đất nước và thế giới. Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Phát triển du lịch văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x