Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Khai thác tài nguyên nhằm phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá huyện Thủy Nguyên_thành phố Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

MỞ ĐẦU

1- Lý do chọn đề tài

Hiện nay trên thế giới ngành du lịch là nghành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia nói chung và ở các địa phương nói riêng. Mỗi năm du lịch đóng góp cho nền kinh tế những nguồn lợi đáng kể. Hơn thế nữa trong cuộc sống hiện nay nhu cầu du lịch là nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống con người.Đời sống con người mỗi ngày đều được cải thiện, khi đời sống vật chất đầy đủ người ta sẽ cải thiện đời sống tinh thần bằng nhiều cách khác nhau trong đó đi du lịch được coi là cách giải trí tốt và bổ ích nhất. Đi du lịch không đơn thuần chỉ là đi chơi mà con là đi khám phá tìm hiểu những cái chưa biết, đi đến với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất…

Chính vì nhận thức được những lợi ích mà du lịch đem lại cho kinh tế cũng như cho đời sống con người hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã xác định du lịch là một ngành dịch vụ, nghành kinh tế mũi nhọn của đất nước trong tình hình hiện nay và trong tương lai, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.Ở nước ta hiện nay ngành du lịch cũng đang phát triển rất mạnh mẽ và hứa hẹn nhiều triển vọng.

Hải phòng là một trong mười trung tâm du lịch lớn của cả nước nhưng hiện nay chỉ phát triển được một số trọng điểm du lịch như Đồ Sơn, Cát Bà. Còn rất nhiều tiềm năng du lịch chưa được khai thác nhất là ở các huyện ngoại thành của Hải Phòng mà tiêu biểu là huyện Thủy Nguyên.

Huyện Thủy Nguyên nói chung và lưu vực sông Giá nói riêng được đánh giá là nơi có tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng.Tuy nhiên hầu hết các nguồn tài nguyên này con đang tồn tại dưới dạng tiềm năng, chưa được khai thác hoặc có khai thác thì hiệu quả tương đối thấp nên gây lãng phí tài nguyên du lịch.Để khai thác được các tài nguyên đáp ứng cho nhu cầu du lịch hiện nay thì rất cần đến sự quan tâm của cộng đồng, của các cơ quan chức năng chứ không chỉ riêng những người làm công tác du lịch. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Lưu Kiếm nơi có con sông Giá chảy qua, bản thân người viết muốn tìm hiểu, giới thiệu và đề xuất các biện pháp nhằm khai thác tốt các tiềm năng du lịch của địa phương, góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của quê hương.Xuất phát từ lý do trên người viết đã lựa chọn đề tài “ Khai thác tài nguyên nhằm phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá huyện Thủy Nguyên_thành phố Hải Phòng ” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2- Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xác định thực trạng du lịch của huyện Thủy Nguyên và du lịch lưu vực sông Giá nhằm đánh giá, phân tích các tài nguyên du lịch tạo ra các sản phẩm du lịch nhằm thu hút khách, đóng góp cho sự phát triển du lịch chung.

3- Nhiệm vụ của đề tài

  • Tìm hiểu tổng quan những vấn đề lý luận về tài nguyên du lịch, du lịch và văn hóa
  • Xác định tài nguyên du lịch lưu vực sông Giá có thể phục vụ du lịch
  • Đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp để phát triển du lịch

4- Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tài nguyên du lịch của các địa phương nằm trên lưu vực sông Giá huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng

5- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp sưu tầm, điền dã

Để có thể tìm hiểu được hết những tài nguyên du lịch ở các địa phương khác nhau cung như lấy được các thông tin, tư liệu..thì đây là phương pháp rất quan trọng trong quá trình tích lũy tư liệu phuc vụ việc làm khóa luận.

Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Đây là phương pháp được sử dụng để xử lý các dữ liệu sau khi thu thập các tài liệu, các số liệu từ các nguồn khác nhau.

6- Khả năng đóng góp của khóa luận

Cung cấp những đánh giá khách quan và có căn cứ khoa học về tài nguyên du lịch và khả năng phát triển của du lịch tại lưu vực sông Giá huyện Thủy Nguyên.

Một lần nữa góp phần vào việc tôn vinh và bảo tồn giá trị của công trình văn hóa lịch sử, làng nghề và giới thiệu được hình ảnh của những công trình kiến trúc mới.

Đề xuất một số giải pháp để khai thác và phát huy giá trị của tài nguyên du lịch lưu vực sông Giá.

7- Bố cục của khóa luận

Ngoài các phần Mở đầu, Kết Luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục thì nội dung chính của khóa luận chia làm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tài nguyên và văn hóa du lịch
  • Chương 2: Tiềm năng phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá
  • Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá

Chương 1 Cơ sở lý luận chung về tài nguyên và văn hóa du lịch

1.1 Tài nguyên

1.1.1 Khái niệm

Theo Phạm Trung Lương đã định nghĩa:” Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng, thông tin có trên trái đất và trong vũ trụ bao la mà con người có thể sử dụng để phục vụ cho đời sống và sự phát triển của mình.” Trong mỗi bối cảnh xã hội nào thì hoạt động kinh tế của con người cũng là quá trình sử dụng năng lượng để biến đổi vật chất từ dạng này sang dạng khác có ích cho cuộc sống. Do vậy, vật chất – mà tài nguyên thiên nhiên là một dạng cụ thể của nó, được con người biến đổi mà không làm biến mất nó trong quá trình hoạt động. Vật chất đề cập ở đây cần phải hiểu cả 2 dạng: hữu hình và vô hình.

Theo PGS.TS Trần Đức Thanh :”Tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn thông tin, vật chất,năng lượng được khai thác phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người. Đó là những thành tạo hay tính chất của thiên nhiên, những công trình, những sản phẩm do bàn tay khối óc của con người làm nên, những khả năng của con người…được sử dụng phục vụ cho sự phát triển kinh tế và xã hội của cộng đồng”

1.1.2  Phân loại tài nguyên Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Tài nguyên có thể chia làm hai loại lớn: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên xã hội.

Tài nguyên xã hội là một dạng tài nguyên đặc biệt của trái đất, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người.

Trong Khoa học môi  trường, tài nguyên thiên nhiên được chia thành ba loại

Tài nguyên tái tạo: Là tài nguyên dựa vào nguồn năng lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ vào trái đất, dựa vào trật tự tự nhiên, nguồn thông tin vật lý và sinh học đã hình thành và tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉ mất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin nói trên. Tài nguyên thiên nhiên tái tạo được có thể kể ra như: Tài nguyên sinh học, tài nguyên năng lượng mặt trời, nước, gió, đất canh tác…

Tài nguyên không tái tạo: Tồn tại một cách hữu hạn và sẽ mất đi hoặc hoàn toàn bị biến đổi không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình sử dụng.

Tài nguyên vĩnh cửu: Có thể xem năng lượng mặt trời là nguồn tài nguyên vô tận, chúng ta có thể phân ra: năng lượng trực tiếp, năng lượng gián tiếp.

Theo bản chất tự nhiên, tài nguyên còn được phân loại như: Tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển,…

1.2. Tài nguyên du lịch

1.2.1. Khái niệm

Tài nguyên du lịch là loại tài nguyên có những đặc điểm giống những loại tài nguyên nói chung, song có những đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của nghành du lịch. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Một số khái niệm tiểu biểu định nghĩa tài nguyên du lịch như sau:

Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Tại điều 10 của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch”. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Tại khoản 4 (điều 4, chương 1 ) Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định :”Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành nên các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.”

Từ các khái niệm trên thì rút ra khái niệm chung nhất:” Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng hiệu quả cho ngành du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế-xã hội và môi trường”

Có thể nói rằng, tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, tri thức, thông tin được con người sử dụng để tạo ra của cải vật chất hay tạo ra giá trị sử dụng mới. Xã hội loài người càng phát triển thì số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người sử dụng, khai thác ngày càng gia tăng. Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu.

1.2.2 Đặc điểm

Để khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch, trước hết cần phải tìm hiểu và nghiên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này. Tài nguyên du lịch sẽ mang cả những đặc điểm của tài nguyên nói chung và những đặc điểm riêng liên quan tới tính chất của ngành du lịch .Tài nguyên du lịch có những đặc điểm chính :

Một số loại tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế xã hội: Các loại tài nguyên đất, nước, khí hậu, sinh vật….được sử dụng cho nhiều ngành kinh tế và sử dụng trong đời sống.Vì vậy trong quá trình phát triển du lịch cần quy hoạch hợp lý với sự phát triển của kinh tế, xã hội.

Tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử nên ngày càng có nhiều loại tài nguyên du lịch được nghiên cứu, phát hiện, tạo mới và được đưa vào khai thác, sử dụng. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Tài nguyên du lịch mang tính biến đổi: Tài nguyên du lịch nếu không được khai thác sử dụng, bảo vệ, tôn tạo, tiết kiệm theo hướng bền vững thì sẽ bị suy thoái, cạn kiệt cả về số lượng và chất lượng

Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng có các giá trị thẩm mỹ, văn hóa lịch sử, tâm linh, giải trí, có sức hấp dẫn với du khách: Tài nguyên du lịch rất đa dạng và phong phú tạo nên sự phong phú của các sản phẩm du lịch thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách. Các loại tài nguyên du lịch có giá trị thẩm mỹ cao thì ngày càng hấp dẫn du khách.

Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể: Tài nguyên du lịch gồm hai loại là vật thể và phi vật thể mà các ngành kinh tế khác thường không sử dụng. Bên cạnh việc khai thác các loại tài nguyên vật thể có thể quan sát, nhìn thấy thì cũng có các giá trị vô hình của tài nguyên cũng được khai thác làm hấp dẫn du khách.

Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi, du lịch.

Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch, nhịp điệu của dòng khách. Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó.

Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên.

Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui định về sử dụng tự nhiên một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chung.

Tài nguyên du lịch mang tính diễn giải và cảm nhận: Phụ thuộc vào giá trị tự thân của tài nguyên và sự cảm nhận của du khách cũng như trình độ của hướng dẫn viên hướng dẫn cho du khách.

1.2.3 Phân loại tài nguyên du lịch chia làm 2 loại Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Tài nguyên du lịch tự nhiên:

  • Địa hình.
  • Khí hậu.
  • Nguồn nước.
  • Sinh vật

Tài nguyên du lịch nhân văn:

  • Các di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc.
  • Các lễ hội.
  • Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học.
  • Các đối tượng văn hoá thể thao và hoạt động nhận thức khác.

1.2.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

  • Khái niệm

Tại khoản 1 (điều 13, chương II )Luật du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: ”Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa hình, địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên đang được khai thác hoặc có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

Tài nguyên tự nhiên là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch.

Các thành phần của tự nhiên với tư cách là tài nguyên du lịch có tác động mạnh nhất đến hoạt động du lịch là: địa hình, nguồn nước và thực- động vật.

  • Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

a.Địa hình.

  • Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách.
  • Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình.
  • Địa hình đồng bằng tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, ít gây cảm hứng cho khách tham quan du lịch.
  • Địa hình vùng đồi thường tạo ra một không gian thoáng đãng, bao la… tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại, rất thích hợp với loại hình tham quan,du lịch cắm trại……
  • Địa hình miền núi thường có nhiều ưu thế đối với hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành. Miền núi còn là nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người với đời sống và nền văn hoá đa dạng đặc sắc.
  • Ngoài các dạng địa hình trên, địa hình Karst và địa hình ven bờ có ý nghĩa rất lớn cho tổ chức du lịch.
  • Địa hình ven bờ:Kiểu địa hình ven bờ, các kho chứa nước lớn (đại dương, biển, hồ…) có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch..

Khí hậu

Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu về khí hậu, đáng lưu ý nhất là hai chỉ tiêu: nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời, các hiện tượng thời tiết đặc biệt.

Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch. Nhìn chung, những nơi có khí hậu ôn hoà thường được du khách ưa thích. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp với phát triển du lịch. Mỗi loại hình du lịch thường đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch.

  • Nguồn nước

Tài nguyên nước bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm. Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. Nó bao gồm nước đại dương, biển, sông, hồ (tự nhiên, nhân tạo), suối phun, thác nước…

Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia. Nói chung giới hạn về nhiệt độ của lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 180ºC đối với người lớn, trên 200ºC đối với trẻ em, ngoài ra còn phải chú ý tới tần số, tính chất của sóng, độ sạch của nước…

Đối với du lịch thể thao nên đánh giá tài nguyên cá, khả năng đánh bắt, bảo vệ cá Tài nguyên nước mặt không chỉ có tác dụng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ.

Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói tới tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị du lịch an dưỡng và chữa bệnh. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

  • Sinh vật

Ngày nay thị hiếu về du lịch ngày càng trở nên đa dạng. Sau thời gian lao động mệt mỏi, con người cần được nghỉ ngơi để hồi phục sức khoẻ, đảm bảo khả năng lao động lâu dài…Việc đi du lịch đến các nơi có phong cảnh đẹp, thiên nhiên trong lành,… là cách nghỉ ngơi rất tốt. Bởi lẽ, con người cũng như mọi sinh vật đều được phát sinh và phát triển trong môi trường tự nhiên – nguyên thủy – một môi trường hoàn toàn trong lành và ổn định. Con người đã thích nghi với môi trường đó. Giờ đây sống trong một xã hội phát triển, có những điều kiện thuận lợi do con người tạo ra, nhưng đồng thời môi trường lại bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi cho cuộc sống của con người.

Như vậy có thể nói, cảnh quan thiên nhiên có một vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khoẻ con người và là một trong những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái.

Về tài nguyên sinh vật, rừng không chỉ có ý nghĩa lớn về mặt kinh tế, sinh thái, mà còn có giá trị đối với du lịch, nhất là rừng nguyên sinh hoặc thuần chủng. Tất nhiên không phải mọi tài nguyên động thực vật đều là đối tượng tham du lịch. Để phục vụ các mục đích du lịch khác nhau, người ta đưa ra các chỉ tiêu sau đây:

  • Chỉ tiêu phục vụ mục đích tham quan du lịch:
  • Thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình.
  • Có loài đặc trưng cho khu vực, loài đặc hữu, loài quý hiếm đối với thế giới và trong nước.
  • Có một số động vật (chim, thú, bò sát, côn trùng, cá…) phong phú và điển hình cho vùng.
  • Có những loài có thể khai thác làm đặc sản phục vụ nhu cầu của khách du lịch.
  • Thực động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến có thể quan sát bằng mắt thường, ống nhòm hoặc nghe được tiếng hót, tiếng kêu và chụp ảnh.
  • Đường giao thông đi lại thuận tiện..

1.2.3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn

  • Quan niệm. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Tài nguyên du lịch nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra,Tuy nhiên chỉ những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn du khách và có thể khai thác sử dụng để phát triển du lịch tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn.

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa , các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng để phục vụ mục đích du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn có các đặc điểm sau:

  • Có tác dụng nhận thức nhiều hơn. Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu.
  • Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn.
  • Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn
  • Ưu thế của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội), không bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác.
  • Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và rất khác nhau…

Các loại tài nguyên du lich nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể

Các di sản văn hoá thế giới và di tích lịch sử – văn hoá.

  • Di sản văn hoá thế giới .
  • Các tiêu chuẩn của văn hoá thế giới (6 tiêu chuẩn).
  • Là các tác phẩm nghệ thuật độc nhất vô nhị, tác phẩm hàng đầu của tài năng con người.
  • Có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật cấu tạo không gian trong một thời kỳ nhất định, một khung cảnh văn hoá nhất định. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.
  • Chứng cớ xác thực cho một nền văn minh đã bị biến mất.
  • Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một thể loại xây dựng hoặc kiến trúc phản ánh một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa.
  • Cung cấp một ví dụ hùng hồn về một dạng nhà truyền thống nói lên được một nền văn hoá có nguy cơ bị huỷ hoại trước những biến động không thể cưỡng lại được.
  • Có mối quan hệ trực tiếp với sự kiện, tín ngưỡng đáp ứng được những tiêu chuẩn xác thực về ý tưởng sáng tạo, về vật liệu, về cách tạo lập cũng như về vị trí.

Các di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá

Di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá là tài sản quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, đất nước và cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử – văn hoá có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người; góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.Được gọi chung là di tích lịch sử – văn hoá vì chúng được tạo ra bởi con người (tập thể hoặc cá nhân) trong quá trình hoạt động, sáng tạo. Thứ văn hoá ở đây bao gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.

Việt Nam, theo pháp luật bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh (04/04/1984), di tích lịch sử – văn hoá được quy định như sau: “Di tích lịch sử – văn hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như các giá trị văn hoá khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hoá – xã hội”.

Phân loại di tích lịch sử – văn hoá

Di tích lịch sử – văn hoá chứa dựng nhiều nội dung lịch sử khác nhau. Mỗi di tích có nội dung, giá trị văn hoá, lượng thông tin riêng biệt. Cần phải phân biệt các loại di tích để xác định tên gọi đúng với nội dung của nó và khai thác, sử dụng và bảo vệ di tích một cách có hiệu quả.

Có 4 loại di tích lịch sử – văn hoá:

  • Loại hình di tích văn hóa khảo cổ
  • Loại di tich lịch sử
  • Loại văn hóa nghệ thuật
  • Các danh lam thắng cảnh Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.
  • Để đánh giá ý nghĩa của các di tích lịch sử – văn hoá phục vụ mục đích du lịch, cần chú ý một số chỉ tiêu thể hiện số lượng và chất lượng di tích đó là:
  • Mật độ di tích .
  • Số lượng di tích .
  • Số di tích được xếp hạng.
  • Số di tích dặc biệt quan trọng.

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể

Di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại

Năm 1989 tại phiên họp Đại hội đồng UNESSCO đã đưa ra 2 chính sách :

Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hóa phi vật thể danh hiệu ấy gọi là kiệt tác di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại.

Di sản văn hóa phi vật thể luôn được giữ gìn trình diễn bổ sung truyền lại cho lớp trể thông qua trí nhớ và tài năng của nghệ nhân.

  • Các lễ hội

Trong các dạng tài nguyên du lịch nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên có giá trị rất lớn. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc phán ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc. Là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả hoặc là một dịp để mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động có tính chất vui chơi giải trí. Nhìn chung, các lễ hội nổi tiếng có tính hấp dẫn rất lớn đối với du khách.

Như vậy để tìm hiểu văn hoá Việt Nam, văn hoá làng xã cũng như văn hoá lúa nước, người ta có thể tìm hiểu qua lễ hội hoặc trực tiếp tham gia vào lễ hội. Từ đó có thể thấy lễ hội là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo.

Khi đánh giá các lễ hội phục vụ mục đích du lịch cần lưu ý đến các đặc điểm

  • Thời gian lễ hội.
  • Quy mô của lễ hội.

Các lễ hội thường được tổ chức tại những di tích lịch sử tích lịch sử văn hoá.

  • Hình thức lễ hội Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Khách du lịch thường có nhu cầu tham gia các lễ hội này. Họ thường thấy một sự hoà đồng mãnh liệt, say mê nhập cuộc. Những hội hè như vậy gắn kết vào kết cấu của đời sống khu vực hay quốc gia và chính tại đây tình cảm cộng đồng, sự hiểu biết về dân tộc được bộc lộ mạnh mẽ.

c. Nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Khi du khách tới tham quan, nghiên cứu các làng nghề thủ công truyền thống họ không chỉ tìm hiểu, thưởng thức những giá trị nghệ thuật, mua những sản phẩm có giá trị làm quà cho người thân mà còn là dịp du khách hưởng thụ những giá trị văn hóa tốt đẹp của các làng nghề thủ công truyền thống.

d. Văn hóa nghệ thuật

Những giá trị văn hoá nghệ thuật không những góp phần vào sự đa dạng của sản phẩm du lịch mà con có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách bởi vì loại tài nguyên này mang lại cho du khách sự thư giãn, vui vẻ, nâng cao đời sống tinh thần.

e. Văn hóa ẩm thực

Khi đi du lịch khách du lịch không chỉ có nhu cầu đi chơi, mua sắm, chiêm ngưỡng nâng cao nhận thức mà còn mong muốn thưởng thức những món ăn đồ uống là đặc sản của địa phương nâng cao nhận thức giá trị nghệ thuật ẩm thực.

f. Thơ ca và văn học

Do có thiên nhiên hùng vĩ đa dạng, cùng lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời nên nhân dân ta đã sáng tạo,bảo tồn được kho tàng thơ ca dân gian, truyện kể dân gian ca ngợi các vùng đất, con người, danh lam thắng cảnh tạo ra sức hấp dẫn du lịch.

g. Văn hóa ứng xử và những phong tục, tập quán tốt đẹp

Văn hóa ứng xử, phong tục tập quán sinh sống ,sản xuất khác lạ tốt đẹp ở địa phương, các quốc gia trở thành tài nguyên du lịch hấp dẫn cũng như góp phần tạo nên môi trường xã hôi,môi trường tự nhiên tốt đẹp.

h. Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Mỗi một dân tộc có những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có những địa bàn cư trú nhất định Việt Nam có 54 dân tộc và mỗi dân tộc vẫn giữ được phong tục tập quán của mình.

Nước ta còn có hàng trăm làng nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm nổi tiếng, độc đáo thể hiện tư duy triết học, tâm tư tình cảm của con người, đặc biệt là các nghề chạm khắc, đúc đồng, thêu, dệt, sành sứ…

Các món ăn dân tộc độc đáo với nghệ thuật cao về chế biến và nấu nướng. Nhiều kiến trúc có bố cục theo thuyết phong thuỷ của triết học phương Đông, rồi những kiến trúc tôn giáo (nhất là kiến trúc Chăm)… có giá trị, hấp dẫn du khách.

i.Các đối tượng văn hoá – thể thao và hoạt động nhận thức khác.

Những đối tượng văn hoá như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn, bảo tàng… đều có sức hấp dẫn rất lớn du khách tới tham quan và nghiên cứu.

Những hoạt động mang tính sự kiện: các giải thể thao lớn, các cuộc triển lãm thành tựu kinh tế quốc dân, các hội chợ, liên hoan phim ảnh quốc tế, ca nhạc quốc tế… cũng là đối tượng hấp dẫn khách du lịch.

1.3. Mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch và du lịch trong sự phát triển

1.3.1 Tác động của tài nguyên du lịch tới du lịch

Du lịch là một ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, điều kiện tiên quyết để hình thành và phát triển du lịch của một địa phương. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên cùng địa bàn có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển du lịch. Vì vậy, sức hấp dẫn du lịch của một địa phương phụ thuộc rất nhiều vào nguồn tài nguyên du lịch.Tài nguyên du lịch có tác động to lớn tới sự phát triển cả du lịch đó là:

Tài nguyên du lịch quyết định phương hướng phát triển du lịch của các địa phương và quốc gia.

  • Khuyến khích kinh doanh: Nghành du lịch là nghành kinh tế tiềm năng vì thế nguồn lợi kinh tế mang lai tương đối lớn vì thế khuyến khích được sự kinh doanh, đầu tư.
  • Thu hút đầu tư kinh doanh:các tài nguyên du lịch ở dạng đang được khai thác và tài nguyên du lịch ở dạng tiềm năng sẽ thu hút được sự đầu tư của các tổ chức,các doanh nghiệp kinh doanh phát triển du lịch.
  • Thu hút du khách đến tham quan:Tài nguyên du lịch là mục đích chuyến đi của du khách và tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng các nhu cầu trong chuyến đi của du khách. Khách đi du lịch là để thưởng thức, tìm hiểu, cảm nhận các giá trị của tài nguyên du lịch, con người và kinh tế tại các điểm đến. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.
  • Phối hợp hoạt động giữa các ngành:các cấp nghành phối hợp để phát triển và quy hoạch tài nguyên du lịch tạo sự hài hòa, cân đối trong phát triển.
  • Đào tạo nguồn nhân lực và tạo việc làm cho người lao động: Việc đưa vào khai thác và sử dụng các tài nguyên du lịch sẽ đòi hỏi đào tạo được nguồn nhân lực phục vụ cũng như tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Các loại tài nguyên du lịch như thế nào sẽ quyết định việc xây dựng sản phẩm du lịch:

  • Các loại hình du lịch: Các loại hình du lịch ra đời đều được dựa trên cơ sở của các tài nguyên du lịch.
  • Quy mô dịch vụ du lịch: Tài nguyên du lịch càng phong phú và đa dạng thì quy mô dịch vụ du lịch càng lớn.
  • Chất lượng dịch vụ du lịch: Tài nguyên du lịch làm gia tăng chất lượng dịch vụ du lịch.
  • Đối tượng tiêu dùng sản phẩm: Sản phẩm du lịch đa dạng là điều kiện để da dạng loại hình và sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khách.

Tài nguyên du lịch còn là điều kiện để quyết định xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật.

Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế: Khi phát triển tài nguyên du lịch là phải xây dựng cơ sở vật chất để phục vụ cho sự phát triển này. Và chỉ có cơ sở hạ tầng thì tài nguyên du lịch mới có điều kiện phát triển.

  • Xây dựng hạ tầng xã hội:
  • Xây dựng cơ sở lưu trú:Khách du lịch khi tới các điểm du lịch thì cần được nghỉ ngơi, ăn uống và nhiều nhu cầu khác.Vì thế để phát triển được tài nguyên du lịch thì cần phải xây dựng được các cơ sở lưu trú.
  • Xây dựng các loại hình vui chơi giải trí: Tài nguyên du lịch khi được phát triển sẽ luôn đi cùng với việc xây dựng các khu vui chơi giải trí để đa dạng loại hình du lịch. Khách du lịch không chỉ tham quan mà còn tham gia các hoạt động vui chơi giải trí.

1.3.2. Tác động của du lịch tới tài nguyên du lịch Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Tác động tích cực của du lịch tới tài nguyên du lịch

Du lịch tác động lên tích cực đến tài nguyên du lịch tự nhiên như sau:

  • Bảo tồn thiên nhiên: Du lịch góp phần khẳng định giá trị và góp phần vào việc bảo tồn các diện tích tự nhiên quan trọng, phát triển các Khu Bảo tồn và Vườn Quốc gia.
  • Tăng cường chất lượng môi trường: Du lịch có thể cung cấp những sáng kiến cho việc làm sạch môi trường thông qua kiểm soát chất lượng không khí, nước, đất, ô nhiễm tiếng ồn, thải rác và các vấn đề môi trường khác thông qua các chương trình quy hoạch cảnh quan, thiết kế xây dựng và duy tu bảo dưỡng các công trình kiến trúc.
  • Ðề cao môi trường: Việc phát triển các cơ sở du lịch được thiết kế tốt có thể đề cao giá trị các cảnh quan.
  • Cải thiện hạ tầng cơ sở: Các cơ sở hạ tầng của địa phương như sân bay, đường sá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc có thể được cải thiện thông qua hoạt động du lịch.
  • Tăng cường hiểu biết về môi trường của cộng đồng địa phương thông qua việc trao đổi và học tập với du khách.

b. Du lịch tác động tích cực đến tài nguyên du lịch nhân văn như sau:

  • Du lịch phát triển bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa nghệ thuật, các lễ hội. Phục hồi và phát triển, tôn vinh giá trị của các di tích lịch sử, các cảnh quan kiến trúc bản địa.
  • Giáo dục ý thức bảo vệ các di tích, cảnh quan của người dân địa phương thông qua sự say mê khám phá cũng như sự quan tâm của du khách tới các lễ hội, các phong tục tập quán của người dân.
  • Nâng cao lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước thông qua các lễ hội, thông qua viêc việc gìn giữ, phát triển các công trình văn hóa, các phong tục đẹp.
  • Tạo nguồn tài chính để nâng cao các giá trị tài nguyên du lịch nhân văn.

Tác động tiêu cực của du lịch tới tài nguyên du lịch

Du lịch tác động tiêu cực tới tài nguyên du lịch tự nhiên

  • Việc khai thác môi trường nước làm ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước: Du lịch là ngành công nghiệp tiêu thụ nước nhiều, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt hơn cả nhu cầu nước sinh hoạt của địa phương.
  • Nước thải: Nếu như không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn, nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán, đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại cho cảnh quan và nuôi trồng thủy sản.
  • Rác thải: Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch. Ðây là nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và nảy sinh xung đột xã hội.
  • Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành “công nghiệp không khói”, nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe máy và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi và bê tông.
  • Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả và lãng phí.
  • Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật hoang dại. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.
  • Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo nhất là các phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém đối với các công trình xây dựng và cảnh quan. Phát triển du lịch hỗn độn, pha tạp, lộn xộn là một trong những hoạt động gây suy thoái môi trường tệ hại nhất.
  • Làm nhiễu loạn sinh thái: Việc phát triển hoạt động du lịch thiếu kiểm soát có thể tác động lên đất (xói mòn, trượt lở), làm biến động các nơi cư trú, đe doạ các loài động thực vật hoang dại (tiếng ồn, săn bắt, cung ứng thịt thú rừng, thú nhồi bông, côn trùng…). Xây dựng đường giao thông và khu cắm trại gây cản trở động vật hoang dại di chuyển tìm mồi, kết đôi hoặc sinh sản, phá hoại rạn san hô do khai thác mẫu vật, cá cảnh hoặc neo đậu tàu thuyền…

Du lịch tác động tiêu cực tới tài nguyên du lịch nhân văn

  • Du lịch bên cạnh những tác động tích cực cũng có những tác động tiêu cực khá lớn tới tài nguyên du lịch nhân văn. Làm suy thoái tài nguyên và làm mất đi những giá trị truyền thống vốn có của nó.
  • Du lịch làm ô nhiễm môi trường của một số tài nguyên du lịch nhân văn như các di tích lịch sử,các làng nghề
  • Quá nhiều khách tham quan sẽ gây quá tải về xã hội và tâm lý làm mất đi sự yên bình ở các làng quê.
  • Đôi khi du lịch tham gia quá sâu vào lễ hội, văn hóa nghệ thuât,… làm cho các hoạt động này bị pha trộn làm mất đi thuần phong mỹ tục đẹp.
  • Việc quy hoạch các khu du lịch làm phá vỡ cảnh quan, phá vỡ nhiều công trình có giá trị, xung đột với cảnh quan và văn hóa bản địa.

1.4. Văn hóa Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

1.4.1 Các khái niệm về văn hóa

Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Các định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận đến nỗi ngay cả cách phân loại các định nghĩa về văn hóa cũng khác.

Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.

Theo Trần Ngọc Thêm định nghĩa : “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Cũng có định nghĩa khác về văn hóa như sau “Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người và như vậy văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v.v… Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa.”

Tóm lại, Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

1.4.2. Văn hóa và môi trường

Văn hóa làm cho môi trường phát triển bền vững: Trình độ văn hóa càng cao thì dần hình thành nên nếp sống càng văn hóa vì vậy nhận thức của con người cao hơn. Khi tác động vào môi trường sẽ tác động cách có ý thức vừa khai thác, vừa bảo vệ tôn tạo để không ảnh hưởng đến tương lai. Các yếu tố văn hóa tác động vào việc quy hoạch du lịch theo hướng phát triển bền vững.

Văn hóa làm cho cảnh quan thêm xanh- sạch- đẹp: Những lối sống văn hóa, các cách cư xử văn hóa tạo nên ý thức giữ gìn cảnh quan, môi trường làm cảnh quan thêm đẹp. Giáo dục ý thức của người dân bảo vệ môi trường, cảnh quan. Con người dùng các cách tác động khác nhau để tạo nên cảnh quan đẹp, có giá trị thẩm mỹ phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của xã hội.

Văn hóa làm cho con người gắn bó với tự nhiên hơn. Con người sống trong quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên, tác động tới thiên nhiên và chịu sự tác động của thiên nhiên. Con người tận dụng những cái của tự nhiên có lợi cho mình và những gì có hại thì con người ứng phó và tránh đi. Khi con người có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của tự nhiên trong cuộc sống thì sẽ gắn bó, bảo vệ và gần gũi với thiên nhiên hơn, cư xử với thiên nhiên một cách có văn hóa hơn.

1.4.3. Văn hóa và kinh tế Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Văn hóa có mặt trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống. Nó tác động và ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực đó. Kinh tế cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng này. Kinh tế là một lĩnh vực hoạt động khá sôi nổi. Nói đến kinh tế là nói đến vấn đề lợi ích. Đó có thể là lợi ích chung cũng có thể là lợi ích riêng. Làm du lịch cũng chính là làm kinh tế. Làm kinh tế là tạo ra nguồn lợi, thu nhập từ các nguồn khác nhau. Làm kinh tế trong du lịch tức là việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên, thực hiện việc kinh doanh các dịch vụ du lịch như nhà hàng, khách sạn… để thu lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Tuy nhiên ta cũng phải xét một khía cạnh của thu lợi. Nhà đầu tư thu lợi như thế nào thì được cho là làm kinh tế có văn hóa. Ở lĩnh vực du lịch khi đầu tư khai thác các tài nguyên phục vụ du lịch là việc rất được khuyến khích nhưng ngược lại sự khai thác này dẫn đến nguy cơ khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn tài nguyên ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững. Chính vì vậy yếu tố văn hóa tác động đòi hỏi các nhà đầu tư phải cư xử với các đối tượng được khai thác một cách đúng mực không ảnh hưởng về sau.

Văn hóa và kinh tế trong vấn đề còn thể hiện ở việc làm du lịch như thế nào.

Những người làm công tác du lịch cần có thái độ ứng xử như thế nào trong công tác phục vụ ở các điểm du lịch. Lượng khách lớn sẽ thu được lợi nhuận cao nhưng không vì lợi nhuận mà làm ảnh hưởng đến hình ảnh của du lịch, gây ấn tượng xấu với du khách.

Thực tế cho thấy ở rất nhiều khu du lịch hiện nay như Đồ Sơn, Cát Bà..lượng khách trong và ngoài nước rất lớn vì vậy là cơ hội để các nhà kinh doanh dịch vụ, các doanh nghiệp chặt chém. Và nhất là ở các khu du lịch hiện tượng lôi kéo, bắt chẹt khách diễn ra khá phổ biến gây tâm lý không tốt cho khách ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh.

Tất cả những điều trên đã khẳng định yếu tố văn hóa rất quan trọng trong hoạt động kinh tế. Thiếu đi văn hóa thì làm kinh tế không mang lại hiệu quả cao và lâu dài. Vì vậy trong bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng phải quan tâm đến yếu tố văn hóa.

1.5 Du lịch Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

1.5.1 Khái niệm Du lịch

Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh như vậy song cho đến nay khái niệm du lịch được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau.

Bản thân khái niệm du lịch có ý nghĩa đầu tiên là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. Và có một số định nghĩa khác như sau:

Du lịch là tổng hòa các mối quan hệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.

Định nghĩa của Hội nghị Quốc tế về thống kế du lịch ở Otawa, Cannada tháng 06/1991 “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”

Theo Điều 10 Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam -“Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định “

1.5.2 Một số loại hình du lịch

  • Du lịch nghỉ ngơi giải trí.Đây là loại hình du lịch có tác dụng giải trí, làm cuộc sống thêm đa dạng và giải thoát con người ra khỏi công việc hàng ngày
  • Du lịch thể thao: Du lịch leo núi, săn bắn, câu cá…
  • Du lịch văn hóa: Nhằm nâng cao hiểu biết cho cá nhân về mọi lĩnh vực như lịch sử, kiến trúc, kinh tế, hội họa, chế độ xã hội,cuộc sống của người dân cùng các phong tục tập quán của đất nước du lịch.
  • Du lịch công vụ: Nhằm thực hiện nhiệm vụ công tác hoặc nghề nghiệp nào đó khách tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo…
  • Du lịch nghỉ biển, sông hồ
  • Du lịch đồng quê Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

1.6. Mối quan hệ của du lịch và văn hóa trong sự phát triển

1.6.1. Tác động của văn hóa tới du lịch

Văn hóa ứng xử: văn hóa tác động đến du lịch theo hai hướng: ứng xử có văn hóa để lại ấn tượng cho du khách và hướng thứ hai theo chiều ngược lại, Văn hóa ứng xử kém làm cho du khách thấy không được tôn trọng không được đón tiếp gây ấn tượng xấu cho du khách ảnh hưởng tới du lịch .

Văn hóa tác động tới du lịch đó là văn hóa nhận thức thể hiện sự nhận thức về tầm quan trọng của du lịch, những cái du lịch mang lại cho văn hóa .Nhận thức đúng thì thúc đẩy du lịch phát triển và nhận thức sai dẫn đến những hành động sai, cách làm sai làm giảm hay thậm chí làm du lịch chậm phát triển .

Văn hóa thiên nhiên: ở đây là nơi những gì thuộc về tự nhiên, thiên nhiên là những cái hoang sơ do thiên tạo. Sự hoang sơ thiên tạo là yếu tố thu hút khách.Văn hóa thiên nhiên cũng nên hiểu đó chính là tác động của các yếu tố tự nhiên như nước, khí hậu, không khí …tới du lịch, luôn luôn là theo hai chiều hướng tích cực và tiêu cực.

Văn hóa được coi là nền tảng để phát triển du lịch. Du khách đi du lịch là để chiêm nghưỡng, trải nghiệm và tìm hiểu các giá trị về văn hóa và tự nhiên của địa phương.

Sự đa dạng, phong phú và đặc sắc của văn hóa tạo nên sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn của sản phẩm du lịch thu hút gay càng đông số lượng khách tham quan, du lịch.

Các yếu tố về tự nhiên, nhân văn và văn hóa là ba yếu tố có vai trò đăc biệt quan trọng trong sự phát triển du lịch. Thiếu đi văn hóa thì coi như thiếu đi yếu tố để phát triển du lịch.

Văn hóa là thứ riêng có, là bản sắc, là nhân tố căn bản để hình thành nên đặc trưng của vùng miền, của địa phương,của dân tộc. Chính nét độc đáo này tạo được sự thu hút khách du lịch.

Văn hóa cũng chính là sự giao tiếp, ứng xử khi tiếp xúc giữa người và người. Sự tiếp xúc có văn hóa sẽ níu giữ, lôi cuốn được khách tới các điểm du lịch.

1.6.2. Tác động của du lịch tới văn hóa Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

  • Tác động tích cực của du lịch tới văn hóa

Du lịch luôn đòi hỏi sự thâm nhập về văn hóa.Điều này có nghĩa là du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà các đối tượng du lịch không chỉ có tiền để đi du lịch mà còn có cả sự thẩm nhận về văn hóa để có thể hiểu hết những cái đẹp của văn hóa.Văn hóa là những cái không chỉ mắt thường nhìn thấy mà có những giá trị chúng ta không thể nhìn thấy chỉ có thể cảm nhận.

Du lịch luôn biết đánh thức những tiềm năng, những giá trị văn hóa để cho nó phát huy được hết những tiềm năng.Có những tài nguyên mãi chỉ là tài nguyên nếu không có du lịch tác động. Du lịch phát triển, những giá trị của văn hóa sẽ được biết đến, được lý giải và cảm nhận thông qua các hoạt động du lịch.

Du lịch tạo ra sự phát triển và giao lưu văn hóa: Du lịch là phương tiện đưa đến cho khách biết thêm về văn hóa, về âm nhạc nghệ thuật, các món ăn truyền thống và ngôn ngữ của điểm đến du lịch. Du lịch tăng cường sự trao đổi văn hóa giữa du khách, nhân viên khu bảo vệ và nhân viên địa phương.

Du lịch phát triển văn hóa của điểm đến du lịch. Vì khi đi du lịch du khách luôn có xu hướng tìm hiểu văn hóa của nơi mà khách đến du lịch.Vì vậy các điểm du lịch luôn khuyến khích phát triển các hoạt động văn hóa.

Du lịch giúp cho việc giữ gìn bản sắc, duy trì bản sắc văn hóa dân tộc của cư dân địa phương. Như được biết, hiện nay du lịch là một trong những nghành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Đây được coi là một ngành công nghiệp không khói và hàng năm thu hút hàng vạn du khách đến với nước ta, thu hút không biết bao nhiêu là ngoại tệ. Là một ngành kinh tế mũi nhọn, song mục đích của phát triển du lịch không chỉ vì lợi nhuận kinh tế, điều quan trọng và căn bản hơn là du lịch cần trực tiếp góp phần nâng cao vị thể, hình ảnh của Việt Nam đối với thế giới cũng như các nước trong khu vực. Qua du lịch, khách muôn phương có dịp hiểu hơn về con người, đất nước, văn hóa Việt Nam. Như vậy du lịch trở thành một sứ giả của hòa bình và hữu nghị…thông qua hoạt động du lịch tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, văn hóa việt.

b.Tác động tiêu cực của du lịch đến văn hóa

Du lịch có thể làm hủy hại văn hóa bản địa:Do các tác động của du khách mà văn hóa bản địa có thể bị hủy hoại.Việc đầu tư phát triển không đúng mức, đúng quy định và cách thức có thể dẫn đến sự hủy hoại văn hóa.

Du lịch kích thích người dân đua đòi, bắt chước cách ứng xử của du khách và tìm bỏ những giá trị văn hóa truyền thống, du nhập văn hóa lai căng..Du lịch ảnh hưởng mạnh mẽ trong lối văn hóa, ứng xử của người dân và du khách theo hai chiều hướng là tốt và xấu.

Khi tối đa hóa lợi nhuận trong hoạt động du lịch thì các yếu tố văn hóa sẽ có thể bị lãng quên gây ảnh hưởng đến văn hóa. Các giá trị của văn hóa không còn giá trị tốt đẹp như cái gốc của nó mà bị pha tạp, thương mại hóa, làm cho văn hóa biến đổi mất hết giá trị. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 “Cơ sở lý luận chung về tài nguyên và văn hóa du lịch “ đã cho thấy :Tài nguyên du lịch là điều kiện cần để phát triển được du lịch.Có tài nguyên mới có cái để khai thác du lịch, phục vụ du lịch.Tài nguyên và du lich luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau, luôn tác động ngược lại nhau tùy thuộc vào các điều kiện khác nhau thì nó sẽ tác động tiêu cực và tích cực như nào đó.

Nói đến du lịch là nói đến văn hóa.Văn hóa và du lịch song hành phát triển cùng với nhau.Văn hóa là yếu tố kích thích du lịch nhưng du lịch lại đem lại sự phát triển cho văn hóa.Tuy nhiên cũng có sự tác động tiêu cực làm ảnh hưởng văn hóa, suy thoái văn hóa.

Khi nắm được một số lý luận về tài nguyên và văn hóa trong sự phát triển cúa du lịch là bước đầu có các định hướng cho sự phát triển của du lịch. Khóa luận: Phát triển văn hóa du lịch ở lưu vực sông Giá.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Tiềm năng phát triển văn hóa du lịch lưu vực sông Giá

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x