Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ đang là nhu cầu của công tác quản lý nhà nước cũng như các hoạt động của đời sống kinh tế – xã hội hiện nay. Trong các văn kiện của Đảng, nghị quyết của Quốc hội, chương trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp…, việc đổi mới công tác lập pháp nói chung, trong đó có đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất. Việc đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cần được tiến hành trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện, khách quan, khoa học các quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng thực hiện những quy định đó trên thực tế để thấy được những tồn tại, hạn chế, là cơ sở cho việc tìm ra các giải pháp đổi mới khả thi, khoa học nhất.

Trên cơ sở tham khảo, nghiên cứu về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hiện hành, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện quy trình này.

1. Các giải pháp chung Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

1.1. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của công tác xây dựng pháp luật

Việc nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò luật cần được tiến hành đối với mọi cơ quan, tổ của công tác xây dựng pháp chức, cá nhân.

Đối với các cơ quan nhà nước thì trước hết, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến nhận thức: phải xây dựng chính sách thông qua pháp luật; không có pháp luật, không thể điều hành đất nước. Công tác quản lý nhà nước chỉ có hiệu quả trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn thiện và đầy đủ, đặc biệt trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Các cơ quan được phân công chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cần quan tâm và có trách nhiệm với nhiệm vụ xây dựng pháp luật được Chính phủ giao. Công tác xây dựng pháp luật là công việc không nhiều người trong các bộ, ngành muốn tham gia vì đó là công việc khó khăn, vất vả trong khi yêu cầu, đòi hỏi của nhiệm vụ này về thời gian và chất lượng lại rất cao, do đó các bộ, ngành cần thực sự coi trọng công tác xây dựng thể chế; quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng soạn thảo văn bản và nâng cao kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn về quản lý ngành cho các cán bộ tham gia công tác xây dựng pháp luật của bộ, ngành mình.

Đối với nhân dân, doanh nghiệp và các tổ chức khác, cần thay đổi quan niệm coi việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chỉ là công việc của nhà nước mà cần thấy rằng, việc cần tham gia và được tham gia vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ là để bảo vệ quyền lợi của mình; họ cần tham gia vào quy trình này một cách chủ động với nhiều vai trò khác nhau như là thành viên Ban soạn thảo, phản biện độc lập, góp ý kiến vào dự thảo, thậm chí là nguồn sáng kiến đề xuất xây dựng văn bản. Một xã hội chủ động như thế sẽ làm nền tảng cho việc tuân thủ pháp luật nghiêm minh, khắc phục tình trạng phổ biến hiện nay là người dân thường phàn nàn về chính sách ngay sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và họ thường lấy đó làm lý do biện minh cho việc không thi hành văn bản.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

1.2. Nâng cao hơn nữa sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ đối với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hiện nay chưa đảm bảo sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ từ khâu lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, soạn thảo và thông qua dự thảo, đến việc Chính phủ cần đưa ra tư tưởng chỉ đạo vào nội dung cơ bản của các dự án để định hướng nội dung cho bước soạn thảo. Sự thiếu tập trung thống nhất này đã và đang gây không ít lúng túng cho hoạt động của Ban soạn thảo, khó khăn cho sự phối hợp giữa các bộ, ngành, làm cho các thành viên Ban soạn thảo không thống nhất được nhận thức, tư tưởng chỉ đạo trong quá trình nghiên cứu, xây dựng dự án. Thực tế cho thấy, sự không thống nhất về quan điểm giữa các bộ, ngành quản lý ngành, lĩnh vực là vấn đề khó giải quyết nhất trong quá trình soạn thảo văn bản, do đó nếu không có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của Chính phủ ngay từ giai đoạn đầu của quy trình mà đến giai đoạn thông qua dự thảo Chính phủ mới có ý kiến là quá muộn và đã mất nhiều thời gian, công sức. Các thành viên Chính phủ thì dành quá ít thời gian và sự quan tâm cho việc nghiên cứu các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, việc tăng cường hơn nữa chỉ sự đạo, điều hành tập trung, thống nhất của tập thể Chính phủ đối với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ là cần thiết để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng văn bản.

Có nhiều việc cần phải làm để đảm bảo tính tập trung, thống nhất trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có những việc cấp bách đang được đặt ra là bảo đảm và hoàn thiện các yếu tố về thể chế và tổ chức để Chính phủ thực hiện có hiệu quả công tác chỉ đạo việc xây dựng pháp luật, nhất là việc đưa ra tư tưởng chỉ đạo và nội dung cơ bản của các dự án ngay từ đầu để định hướng cho công tác soạn thảo, thẩm định, thẩm tra.

1.3. Tiếp tục đổi mới toàn diện tất cả các khâu của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

Như trên đã trình bày, quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ không đơn thuần là “các bước cần phải tuân theo khi tiến hành một công việc nào đó” mà là cả một quá trình phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể, trải qua nhiều công đoạn. Do tính chất liên kết, tương tác của các hoạt động này mà kết quả của hoạt động này là tiền đề và cơ sở để tiến hành các hoạt động tiếp theo trong chuỗi quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, việc đổi mới, hoàn thiện cần phải thực hiện một cách đồng bộ ở tất cả các chủ thể, các giai đoạn của quy trình, cụ thể là phải đổi mới cơ bản phương thức lập dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, soạn thảo, thẩm định, thẩm ra và thông qua các dự thảo; đổi mới tổ chức và hoạt động của tất cả các cơ quan tham gia vào quy trình này; đổi mới cơ chế phối hợp giữa các chủ thể, phân công và xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia quy trình, khắc phục tính hình thức trong phân công trách nhiệm, cũng như những chồng chéo, trùng lắp trong việc giúp Chính phủ thẩm định, thẩm tra dự thảo, nhằm vừa đẩy nhanh tiến độ, vừa nâng cao chất lượng xây dựng văn bản.Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Qua phân tích thực trạng thực trạng thực hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cho thấy, quy trình này còn phức tạp, phải qua nhiều bước, trong khi đó một số hoạt động của quy trình bị trùng lắp. Ví dụ, theo quy định hiện hành, dự thảo văn bản phải được thẩm định, thẩm tra của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ. Trong quá trình soạn thảo, các thành viên của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan được mời là thành viên Ban soạn thảo. Vậy có cần thiết phải thực hiện thủ tục thẩm thẩm, định tra, xin ý kiến của các bộ, ngành này? Để đẩy nhanh tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, cần loại bỏ những giai đoạn trùng lắp không cần thiết bằng việc kết hợp hai thủ tục thẩm định và thẩm tra thành một thủ tục thẩm tra tập thể, trong đó nhất thiết sẽ có đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ.

Việc lấy ý kiến các cơ quan liên quan đối với dự thảo văn bản: không cần lấy ý kiến các cơ quan đã có đại diện là thành viên Ban soạn thảo.

1.4. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Cần sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tiếp tục hoàn thiện về mặt pháp lý việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng xây dựng một quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ nói riêng thực sự khoa học, khách quan và khả thi. Cụ thể là:

Chuẩn xác hoá khái niệm và tiêu chí của văn bản bản quy phạm pháp luật;

  • Xác định rõ về tiêu chí, nội dung thẩm quyền ban hành từng hình thức văn bản quy phạm pháp luật (luật, nghị quyết, pháp lệnh, nghị định, thông tư….);Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ
  • Tính định hướng, mở đường của chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ;
  • Vấn đề hiệu lực thi hành của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (hiệu lực về trước, hiệu lực của văn bản được hướng dẫn và văn bản hướng dẫn…);
  • Quy trình, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ;
  • Có cơ chế huy động sự tham gia của nhân dân, tổ chức, các nhà khoa học vào hoạt động xây dựng văn bản pháp luật của Chính phủ;
  • Vấn đề công khai, minh bạch văn bản và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ; trách nhiệm phản hồi, tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo văn bản.
  • Cụ thể hoá các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tính hợp hiến, hợp pháp, tính phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, tính khả thi của dự thảo thành các tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng văn bản trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và thông qua.
  • Chính phủ cần khẩn trương ban hành một số văn bản sau để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
  • Nghị định về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
  • Nghị định về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;
  • Quy chế thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật;
  • Quy chế phản biện và thu hút các chuyên gia, các nhà khoa học và các tổ chức xã hội có liên quan trong việc tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

1.5. Xác định lại hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Hiến pháp năm 1992 quy định thẩm quyền ban hành văn bản của các cơ quan, người có thẩm quyền như “Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình” (Điều 106 Hiến pháp năm 1992); “Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó” (Điều 115 Hiến pháp năm 1992); “Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ ra quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở” (Điều 116 Hiến pháp năm 1992)… Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 không quy định những văn bản này là văn bản quy phạm pháp luật mà theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các văn bản như Hiến pháp, luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành; pháp lệnh, nghị quyết do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành; nghị quyết, nghị định do Chính phủ ban hành; quyết định, chỉ thị do Thủ tướng Chính phủ ban hành…

Riêng đối với văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ ban hành,hiện nay, việc phân loại hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tuy bước đầu đã chỉ ra hình thức và nội dung của các văn bản, tuy nhiên trên thực tế không phải lúc nào cũng áp dụng được một cách chính xác và khoa học bởi lẽ, với Chính phủ thì việc phân chia nghị quyết, nghị định chỉ mang tính tương đối, trong nhiều trường hợp, nội hàm của nghị quyết, nghị định là một. Ngoài ra, trong nhiều nghị quyết có những nội dung không phải là quy phạm pháp luật nhưng để ban hành được những nội dung này vẫn phải tuân theo những yêu cầu chặt chẽ của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, nên nghiên cứu để sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng Chính phủ chỉ ban hành một loại văn bản quy phạm pháp luật là nghị định; quy định này không trái Hiến pháp năm 1992 mà lại phù hợp với thực tiễn, giảm bớt được sức ép về số lượng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, giảm việc phải thực hiện theo quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ tương đối chặt chẽ đối với những văn bản mà không phải tất cả nội dung của nó đều là quy phạm pháp luật.

1.6. Hạn chế tình trạng ban hành “luật khung”, xác định nguyên tắc uỷ quyền lập pháp rõ ràng và chặt chẽ Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Tình trạng luật, pháp lệnh sau khi ban hành phải chờ nghị định, thông tư mới có thể thực hiện trên thực tế do hiện tượng “luật khung” đang là vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả và tính khả thi của luật, pháp lệnh, đồng thời cũng tạo nên sức ép rất lớn đối với Chính phủ do nhu cầu ban hành nhiều, nhanh các nghị định quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh. Do đó, cần hạn chế tình trạng ban hành “luật khung” và nhận thức rằng luật, pháp lệnh phải là những quy phạm cụ thể, ban hành ra là thực hiện được ngay, hạn chế đến mức thấp nhất các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn. Trong các

luật, pháp lệnh, hạn chế việc giao cho Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành với quy định chung chung “Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành…” như hiện nay mà vấn đề uỷ quyền lập pháp (trường hợp luật, pháp lệnh chưa thể quy định chi tiết thì bằng các quy phạm cụ thể, nhà lập pháp xác định rõ cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết) cần phải được quy định thật rõ ràng trong luật, pháp lệnh về đối tượng được uỷ quyền, giới hạn, phạm vi uỷ quyền và nội dung uỷ quyền. Trong luật, pháp lệnh chỉ nên giao những vấn đề thật cụ thể thuộc thẩm quyền của Chính phủ (quy định ngay tại điều, khoản cần hướng dẫn thi hành), tránh tình trạng “khó quá” lại giao cho Chính phủ quy định dẫn tới Chính phủ phải ban hành rất nhiều văn bản hướng dẫn trong khi có những nội dung chưa được nghiên cứu, định hướng những giải pháp đầy đủ, cụ thể, khả thi trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh.Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

1.7. Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản” trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

Phương pháp dùng “một văn bản sửa nhiều văn bản” đã được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, phương pháp này hầu như chưa được áp dụng trong thực tiễn xây dựng pháp luật của Việt Nam mà trong nhiều năm qua, chúng ta thường ban hành những văn bản pháp luật chuyên về những lĩnh vực nhất định, khi cần sửa đổi, các cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành những văn bản đơn lẻ để sửa đổi, bổ sung đối với từng văn bản luật, pháp lệnh, nghị định… Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng hơn vào tiến trình hội nhập quốc tế, trong đó có việc trở thành thành viên của các Hiệp định thương mại song phương và đa phương. Chính phủ Việt Nam cũng đã tính đến việc áp dụng kỹ thuật lập pháp “luật sửa nhiều luật” hay “một văn bản sửa nhiều văn bản” để đáp ứng yêu cầu về số lượng và nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam. Ngày 04/4/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 08/2005/CT-TTg, trong đó giao Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, ngành hữu quan “gấp rút nghiên cứu, kịp thời đề xuất và chủ động soạn thảo dự án luật, pháp lệnh dưới hình thức một văn bản có thể sửa đổi, bổ sung một số quy định trong nhiều văn bản luật, pháp lệnh hiện hành”. Phương pháp này không những có thể áp dụng với luật, pháp lệnh mà hoàn toàn có thể áp dụng với văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, đặc biệt đối với các nghị định được ban hành để hướng dẫn, quy định chi hành luật, pháp lệnh. Ví dụ, các quy định cụ thể về chính sách khuyến khích đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư không dừng lại ở một số lĩnh vực mà nó xuyên suốt nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hoá, du lịch, xây dựng… Do đó, khi hướng dẫn các nội dung cụ thể của chính sách khuyến khích đầu tư thì cũng sẽ hướng dẫn việc khuyến khích đầu tư trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá…

Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ khi áp dụng kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản” sẽ cho phép tuân thủ các bước tối thiểu của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, đồng thời khắc phục kịp thời sự mâu thuẫn của hệ thống pháp luật, làm cho hệ thống pháp luật trở nên rõ ràng, minh bạch, thống nhất, đồng bộ hơn, giảm thiểu được sự lãng phí về thời gian nghiên cứu, tổ chức soạn thảo, thông qua văn bản, tiết kiệm kinh phí cũng như giảm sức ép về số lượng văn bản quy phạm pháp luật cần ban hành của Chính phủ.

2. Các giải pháp cụ thể Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

2.1. Đổi mới việc lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

Việc đổi mới ở giai đoạn lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ sẽ là khâu đổi mới đột phá và quan trọng nhất của quy trình nhằm khắc phục cơ bản tình trạng chậm ban hành văn bản và tính không thống nhất của hệ thống pháp luật, trong đó có văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

Trước hết, chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cần phải được tách ra khỏi Chương trình công tác hàng tháng, hàng quý, sáu tháng và hàng năm của Chính phủ thành một chương trình riêng.

Thứ hai, đề xuất của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về dự kiến xây dựng nghị quyết, nghị định cần có các nội dung sau:

  • Sự cần thiết ban hành văn bản;
  • Loại văn bản;
  • Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản;
  • Thời gian dự kiến trình Chính phủ;
  • Điều kiện đảm bảo thực hiện đề xuất (về tài chính, nhân lực);
  • Các nội dung chính của văn bản.Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Kèm theo đề xuất này là tài liệu tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến văn bản; tài liệu phân tích chính sách cần giải quyết trong dự thảo văn bản; các điều kiện đảm bảo thực hiện văn bản; dự báo mức độ tác động kinh tế – xã hội.

Như vậy, một số nội dung thuộc về nhiệm vụ của Ban soạn thảo thực hiện trong quá trình soạn thảo thì nay cần phải được thực hiện ngay từ giai đoạn đề xuất xây dựng văn bản. Điều này có thể làm kéo dài thời gian để đề xuất này có thể được đưa chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ nhưng nó là cần thiết vì một sự chuẩn kỹ càng, đầy đủ ngay từ giai đoạn đầu sẽ là tiền đề để đẩy nhanh và tạo thuận lợi cho hoạt động của các giai đoạn tiếp theo, đồng thời làm tăng tính khả thi cho chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

Trong các nội dung và tài liệu kèm theo đề xuất xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cần lưu ý một số điểm sau:

Việc đánh giá về sự cần thiết ban hành văn bản, tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến văn bản được đề xuất cần được cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất thực hiện trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ về tình hình thực tế, yêu cầu quản lý nhà nước và yêu cầu của thực tiễn đời sống kinh tế – xã hội cần sự điều chỉnh của văn bản; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế đó và giải pháp này cần được thể hiện như thế nào trong nội dung của văn bản dự kiến sẽ xây dựng.

Cần khảo sát để đánh giá và chuẩn bị các điều kiện để thực hiện văn bản nhằm đảm bảo tính khả thi của văn bản sẽ ban hành. Chẳng hạn, muốn ban hành văn bản về lập lại trật tự, an toàn giao thông, phải tính toán, khảo sát xem nếu cấm hoặc hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân thì họ sẽ sử dụng phương tiện giao thông nào để đi lại? cấm đỗ xe dưới lòng đường, vỉa hè thì người dân sẽ để những phương tiện này ở đâu? cấm hút thuốc lá nơi công cộng thì việc tổ chức lực lượng để thực thi nó như thế nào? Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Phân tích chính sách là hoạt động cần thiết không chỉ đối với các dự án luật, pháp lệnh mà còn cần thiết đối với việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Một trong những hạn chế hiện nay của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là việc “vừa thiết kế vừa thi công”, tức là tình trạng có nhiều vấn đề thuộc về chủ trương, chính sách của dự thảo văn bản không được kịp thời làm rõ trong quá trình soạn thảo nên văn bản phải soạn thảo đi soạn thảo lại nhiều lần. Kinh nghiệm cho thấy, nếu không quan tâm đúng mức và giải quyết kịp thời những vấn đề thuộc về chủ trương, chính sách mà đi vào soạn thảo các quy định cụ thể đến lúc phải làm lại thì việc soạn thảo đã đi được một quãng khá dài và khá lâu, tốn kém kinh phí.

Cơ sở của hoạt động phân tích chính sách chính là quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, các quy định pháp luật có liên quan, yêu cầu thực tiễn của hoạt động quản lý nhà nước. Xây dựng chính sách ở đây là cụ thể hoá quan điểm chỉ đạo thành những nội dung chính của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cần được cụ thể hoá như phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh, nội dung cơ bản của văn bản; những vấn đề này cần phải được Chính phủ xem xét, cho ý kiến trước một cách kỹ càng, cụ thể. Trên cơ sở đó, cơ quan soạn thảo có trách nhiệm soạn thảo thành dự thảo cụ thể.

Ví dụ, để thực hiện chính sách phát triển du lịch theo nghị quyết của Đảng và Luật Du lịch thì Chính phủ cần cụ thể hoá bằng những chính sách cụ thể như cơ chế hỗ trợ công tác tuyên truyền quảng bá du lịch như thế nào; những ưu đãi gì về tài chính, tín dụng, đất đai cho các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch… Rõ ràng, nếu không có những ưu đãi, khuyến khích, cơ chế cụ thể, phù hợp thì những chính sách mang tính nguyên tắc trên không thể có giá trị trên thực tế mặc dù nó được quy định trong một văn bản có giá trị pháp lý cao là luật. Ngoài ra, việc cụ thể những chính sách này liên quan đến các chính sách về thuế, tài chính, tín dụng, đất đai… nên dễ dẫn đến những quan điểm khác nhau giữa các bộ, ngành cũng như không thống nhất với các văn bản pháp luật liên quan, do đó việc cụ thể hoá chính sách này cần được Chính phủ thảo luận kỹ để có quan điểm chỉ đạo, định hướng nội dung thống nhất trên cơ sở kết quả phân tích chính sách do cơ quan đề nghị xây dựng văn bản đề xuất.Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Việc phân tích chính sách là điều kiện đảm bảo sự thống nhất của văn bản sẽ ban hành trong tổng thể chung của hệ thống pháp luật. Nếu nội dung chính sách được xác định rõ ngay từ đầu thì công việc của Ban soạn thảo sẽ trở nên dễ dàng hơn, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình soạn thảo sẽ chỉ là cố gắng thể hiện đầy đủ, chính xác, nhất quán nội dung chính sách đó thành các chương, điều, khoản cụ thể. Khi ấy, việc soạn thảo sẽ nhanh hơn rất nhiều do đã có định hướng, giải pháp cụ thể, tối ưu.

Thứ ba, việc lập dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cần có cơ chế huy động sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học và các cán bộ có bề dày kinh nghiệm thực tiễn, đặc biệt đối với các nội dung chính thuộc về chính sách.

Dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cũng cần được Văn phòng Chính phủ tổ chức lấy ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, các nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân khác với các hình thức đa dạng, hiệu quả để nhiều người có thể tiếp cận với dự kiến chương trình này, trong đó, các nội dung chính của văn bản cần thiết phải được đưa ra lấy ý kiến để cơ quan, tổ chức, cá nhân có điều kiện tham gia vào quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ ngay từ giai đoạn đầu.

Thứ tư, để thông qua Chương trình xây dựng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Chính phủ cần dành thời gian xem xét, quyết định các vấn đề thuộc về chính sách của văn bản dự kiến sẽ xây dựng chứ không chỉ thông qua chương trình gồm danh mục các văn bản sẽ xây dựng, ban hành.

2.2. Cần có các tài liệu kèm theo chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và được lưu giữ làm hồ sơ, căn cứ trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Kiến nghị này là nhằm đề cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất và chủ trì soạn thảo trong việc cần có nghiên cứu khả thi về đề xuất xây dựng văn bản, từ đó xây dựng cơ chế đảm bảo việc soạn thảo theo đúng mục đích, nội dung cơ bản đã được Chính phủ định hướng, quyết định. Đồng thời, căn cứ vào những tài liệu này mà cơ quan thẩm định, thẩm tra có thêm căn cứ để đánh giá mức độ thể hiện, hoàn chỉnh của dự thảo đối chiếu với mục đích, nội dung đã được quyết định từ giai đoạn đầu.

2.3. Nâng cao chất lượng công tác soạn thảo

Để nâng cao chất lượng soạn thảo, cần thực hiện một số giải pháp sau:

  • Hiện nay, hoạt động của các Ban soạn thảo còn mang tính hình thức cả trong cơ cấu tổ chức và hoạt động. Các thành viên Ban soạn thảo đại diện cho các bộ, ngành không thể có thời gian để làm việc chuyên trách; thêm nữa, các vấn đề chính, có liên quan đến quan điểm khác nhau giữa các bộ, ngành đã được giải quyết ở giai đoạn quyết định chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, đó đó không nhất thiết bất cứ việc xây dựng nghị quyết, nghị định nào cũng cần thành lập Ban soạn thảo có đại diện của các bộ, ngành liên quan.
  • Thành lập Tổ biên tập dự thảo hoạt động chuyên trách gồm các cán bộ, công chức có năng lực, kinh nghiệm, chuyên môn của cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính nhà khoa học. Các thành viên này có thể của lãnh đạo cơ quan mình.Chính phủ, các bộ, ngành liên quan, các có ý kiến độc lập hoặc lấy ý kiến.

2.4. Có cơ chế phản biện khoa học đối với một số đề xuất và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Hoạt động xây dựng pháp luật xét về bản chất là hoạt động sáng tạo, là sự kết hợp hài hoà giữa các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… với các phương pháp và kỹ thuật pháp lý đặc thù, nhằm chuyển các nhu cầu xã hội thành khuôn mẫu chung cho những hành vi xác định. Vì vậy, bản thân hoạt động xây dựng pháp luật cũng chính là hoạt động khoa học, đó là khoa học về xây dựng pháp luật. Do đó, quá trình này cần sự tham gia của các nhà khoa học và sản phẩm của nó cần phải được phản biện khoa học.

Cơ chế phản biện khoa học cần thực hiện đối với đề xuất xây dựng nghị quyết, nghị định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở giai đoạn trước khi trình Chính phủ thông qua Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và phản biện khoa học đối với dự thảo nghị quyết, nghị định ở giai đoạn sau khi dự thảo văn bản được gửi đến Văn phòng Chính phủ. Những đề xuất và dự thảo nghị quyết, nghị định cần tổ chức phản biện khoa học là những văn bản điều chỉnh những quan hệ xã hội quan trọng, nếu được ban hành sẽ có tác động lớn đến đời sống và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Các báo cáo phản biện được thực hiện bởi các chuyên gia, các nhà khoa học ở từng lĩnh vực thông qua hợp đồng giao việc theo quy định của pháp luật.

Thực tế, để đảm bảo tính khách quan, khoa học của dự thảo văn bản nghị quyết, nghị định, Văn phòng Chính phủ cũng đã tổ chức những cuộc họp lấy ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học đối với dự thảo văn bản sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo gửi đến. Tuy nhiên, việc này vẫn chưa được quy định là một thủ tục bắt buộc trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và chưa có cơ chế pháp lý đầy đủ để thực hiện mặc dù đây là hoạt động cần thiết và có tác dụng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng văn bản.

2.5. Cải tiến phương thức huy động sự tham gia của nhân dân, các tổ chức, các chuyên gia, các nhà khoa học đối với việc xây dựng văn bản Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Để tổ chức tốt việc lấy ý kiến nhân dân, các tổ chức, các chuyên gia, các nhà khoa học đối với việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, cần đổi mới phương thức tổ chức lấy ý kiến truyền thống hiện nay theo hướng sau:

  • Tạo điều kiện để nhân dân, các tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học tham gia ngay từ khâu lập dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

Đối với dự thảo văn bản phải được công khai, cập nhật ở ít nhất 3 giai đoạn: khi việc soạn thảo đã tương đối hoàn chỉnh; trước khi trình Chính phủ thông qua và trước khi Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.

  • Tất cả dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và dự thảo nghị quyết, nghị định đều phải được đăng tải, cập nhật ở ít nhất một địa chỉ trang web chính thức của Văn phòng Chính phủ (có thể là Cổng thông tin điện tử của Chính phủ), các tổ chức, cá nhân có thể theo dõi và góp ý tại đây để Văn phòng Chính phủ có thể theo dõi trong suốt quá trình xây dựng văn bản, làm cơ sở tư vấn cho Chính phủ.
  • Văn phòng Chính phủ bố trí cán bộ theo dõi, lọc thông tin, ý kiến góp
  • gửi cơ quan chủ trì soạn thảo để trả lời. Ý kiến phản hồi của cơ quan chủ trì soạn thảo được đăng công khai trên trang web này.
  • Có cơ chế và kinh phí để cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến nhân dân, các tổ chức, các chuyên gia, các nhà khoa học với các hình thức đa dạng, phù hợp (bằng văn bản, qua Internet, hội thảo, báo đài, phương tiện thông tin đại chúng…).

Việc huy động sự tham gia của nhân dân, tổ chức, các chuyên gia, các nhà khoa học theo phương thức này là sự bổ khuyết cho phương thức lấy ý kiến của các nhóm đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, các cá nhân, tổ chức hữu quan theo quy định của pháp luật hiện hành. Bởi lẽ, việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân theo kênh truyền thống dù có quy mô lớn đến đâu thì cũng chưa bảo đảm rằng đại đa số nhân dân – những người thực sự quan tâm và có quyền được tham gia vào quá trình xây dựng văn bản đều được nói lên tiếng nói của mình. Hơn nữa, việc lấy ý kiến nhân dân theo phương thức tổ chức truyền thống như tổ chức các cuộc họp không những vừa tốn kém mà đôi khi còn chậm trễ, kém hiệu quả. Trong khi đó, cùng với thời đại thông tin, trình độ và khả năng tiếp cận thông tin đa phương tiện của nhân dân ngày càng cao, triển vọng công nghệ thông tin ở nước ta sẽ phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới là rất rõ ràng. Ngoài ta, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mà trực tiếp với việc Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới thì yêu cầu về minh bạch hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm có sự tham gia của người dân và các bên đối tác ngày từ khâu lập dự kiến chương trình, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật là yêu cầu bắt buộc.Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Mô hình này cho phép nhân dân có nhiều cơ hội nhất để tiếp cận với quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Ngoài việc phải đăng tải công khai mọi đề xuất và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, mô hình này cũng cho phép các phương tiện thông tin đại chúng khác có thể tải các văn bản này về để tổ chức bình luận, diễn đàn theo cách riêng. Cơ quan soạn thảo tuỳ theo giai đoạn của quy trình mà có thể công bố các dự thảo, nếu dự thảo chưa định hình thì có thể đăng tải thông tin cơ bản về những chính sách mới sẽ ban hành, có thể tạo diễn đàn trao đổi, tổ chức các cuộc họp, hội thảo lấy ý kiến… tuỳ theo điều kiện, nội dung văn bản.

Phương thức này cũng tạo cơ chế buộc cơ quan chủ trì soạn thảo phải phản hồi ý kiến góp ý của nhân dân, các tổ chức, các chuyên gia, các nhà khoa học, đó sẽ là động lực để người nhân dân tích cực tham gia vào quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hơn vì họ thấy ý kiến của mình được quan tâm. Đây cũng là cơ chế thu hút được trí tuệ của số đông đối với nội dung văn bản, góp phần làm tăng chất lượng, tăng tính khoa học, khả thi của văn bản.

Ngoài ra, cần đa dạng hoá sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học bằng cơ chế cho phép ký hợp đồng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ với các chuyên gia, nhà khoa học; thậm chí đấu thầu toàn bộ quá trình soạn thảo hoặc đấu thầu thực hiện một vài nội dung của văn bản đối với một số dự thảo theo nghĩa có sự tham gia của các thành phần là viện khoa học, trường đại học, cơ sở chuyên môn hoặc các nhà khoa học có khả năng nghiên cứu, phát hiện (chính sách) và kỹ năng soạn thảo.

2.6. Hoàn thiện các quy định pháp luật về công tác thẩm định, thẩm tra Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Hiện nay, nhiều quy định pháp lý về hoạt động thẩm định, thẩm tra còn thiếu và chưa hợp lý, do đó cần hoàn thiện những nội dung sau:

  • Kết hợp thẩm định và thẩm tra bằng cơ chế thẩm tra tập thể.
  • Việc thẩm tra dự thảo nghị quyết, nghị định cần được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
  • Việc thẩm tra phải được thực hiện ở giai đoạn trước khi trình Chính phủ thông qua, không thẩm tra lần cuối sau khi Chính phủ đã thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định.
  • Ban hành Quy chế thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm của Chính phủ, trong đó cần làm rõ một số nội dung sau:

Quy định rõ thời hạn thẩm tra.

  • Quy định Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm thành lập hội đồng thẩm tra để thẩm tra độc lập về các nội dung của dự thảo. Thành phần hội đồng thẩm tra gồm đại diện Bộ Tư pháp, cán bộ của Ban Xây dựng pháp luật, các đơn vị chuyên môn có liên quan của Văn phòng Chính phủ, có thể mời một số chuyên gia, các nhà khoa học tuỳ theo từng dự án.
  • Phạm vi thẩm tra: xem xét, phân tích, đánh giá về toàn bộ nội dung và ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản của dự thảo nghị quyết, nghị định.
  • Kết quả thẩm tra phải thể hiện bằng văn bản để bổ sung vào hồ sơ gửi cho các thành viên Chính phủ. Yêu cầu này nhằm tăng thêm ý thức trách nhiệm của tổ chức thẩm tra và đồng thời qua đó, có cơ sở để ràng buộc trách nhiệm pháp lý của tổ chức thẩm tra về ý kiến và chất lượng thẩm tra của mình trước Chính phủ.

2.7. Quy định các hình thức thông qua văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Quy định các hình thức thông qua văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ bằng các hình thức sau:

  • Thông qua bằng cách xem xét, thảo luận, biểu quyết tại phiên họp toàn thể của Chính phủ. Các thành viên Chính phải phải xem xét kỹ nội dung của dự thảo và thảo luận tại phiên họp. Thủ tục thông qua dự thảo tại phiên họp Chính phủ tuân theo quy định hiện hành.
  • Thông qua bằng cách biểu quyết tại phiếu biểu quyết của thành viên Chính phủ (thay cho phiếu xin ý kiến thành viên Chính phủ như hiện nay). Sau khi đã có văn bản thẩm tra của Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh sửa văn bản theo ý kiến thẩm tra và hoàn thiện hồ sơ theo quy định, Văn phòng Chính phủ báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép tổ chức biểu quyết bằng hình thức biểu quyết tại phiếu biểu quyết của thành viên Chính phủ nếu không có điều kiện tổ chức phiên họp toàn thể để thông qua. Các thành viên Chính phủ phải xem xét kỹ nội dung của dự thảo để có ý kiến chính thức với Chính phủ về từng nội dung của dự thảo được thể hiện trong phiếu biểu quyết. Phiếu biểu quyết phải có nội dung thật cụ thể về các vấn đề trong dự thảo, tránh trường hợp chỉ ghi theo hướng “đồng ý hay không đồng ý”.
  • Có thể kết hợp cả hai hình thức trên đây để thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

2.8. Quy trình xây dựng, ban hành nghị định theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Ngoài việc tuân theo quy trình chung về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, việc xây dựng, ban hành nghị định theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn phải tuân thủ các quy định sau:

  • Cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị hồ sơ để xin ý kiến Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm:
  • Báo cáo của Chính phủ về việc xin ý kiến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để ban hành nghị định; trong báo cáo phải nói rõ sự cần thiết ban hành văn bản, những nội dung chính của dự thảo nghị định, các ý kiến khác nhau của các thành viên Chính phủ và những vấn đề cần xin ý kiến;
  • Dự thảo nghị định;
  • Ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  • Các hồ sơ, tài liệu khác có liên quan.
  • Người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ báo cáo ý kiến của Chính phủ trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và trả lời ý kiến của các đại diện Uỷ ban thường vụ Quốc hội (nếu có).
  • Sau khi Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến về nội dung dự thảo nghị định, nếu đồng ý thì thực hiện các quy trình còn lại về ban hành văn bản. Nếu không đồng ý một số nội dung, yêu cầu phải chỉnh sửa thì cơ quan chủ trì soạn thảo phải chỉnh sửa, sau đó trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành. Trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không đồng ý cho Chính phủ ban hành thì Chính phủ phải dừng việc ban hành.

Thủ tục ban hành và công bố nghị định được thực hiện theo đúng quy định về ban hành, công bố nghị định thông thường.

2.9. Bổ sung quy định về xây dựng, ban hành nghị quyết liên tịch của Chính phủ Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Việc soạn thảo nghị quyết liên tịch: Chính phủ giao cho bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo những nội dung liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của Chính phủ trong nghị quyết liên tịch.

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc biên tập, thảo luận về những nội dung cần đưa vào dự thảo nghị quyết và phải chịu trách nhiệm trước Chính phủ về tính hợp pháp của các quy định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Chính phủ trong văn bản quy phạm pháp luật liên tịch.

  • Dự thảo nghị quyết liên tịch của Chính phủ được lấy ý kiến đóng góp,
  • kiến phản biện, thẩm định, thẩm tra và trình Chính phủ thông qua như đối với nghị quyết thông thường.
  • Thủ tướng Chính phủ thay mặt Chính phủ ký nghị quyết liên tịch với người đứng đầu cơ quan, tổ chức tham gia xây dựng nghị quyết liên tịch hoặc được ký lần lượt tại các cơ quan.
  • Thủ tục ban hành và công bố nghị quyết liên tịch được thực hiện theo đúng quy định về ban hành, công bố nghị quyết thông thường.Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

2.10. Xây dựng và thực hiện chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật có kiến thức chuyên môn và kỹ năng soạn thảo pháp luật

Công tác xây dựng pháp luật đòi hỏi phải có kiến thức toàn diện, không chỉ có trình độ hiểu biết pháp luật, kỹ thuật lập pháp mà còn đòi hỏi kiến thức về các ngành kinh tế, kỹ thuật chuyên sâu. Hơn nữa, thực tế cho thấy việc đào tạo kỹ năng xây dựng pháp luật ở nước ta còn rất hạn chế, công chức xây dựng pháp luật thiếu về số lượng; trình độ về pháp luật, kỹ năng soạn thảo văn bản chưa đáp ứng được yêu cầu. Đa số các cơ quan đang tổ chức soạn thảo các dự thảo văn bản pháp luật chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính, có rất ít các chuyên gia được đào tạo bài bản về vấn đề này. Do đó, cần có một chiến lược đào tạo phát triển đội ngũ này một cách nhanh chóng bằng nhiều hình thức, trên cơ sở kinh nghiệm xây dựng pháp luật sau gần 20 năm đổi mới và tiếp thu có chọn lọc kiến thức, kỹ năng soạn thảo pháp luật tiên tiến trên thế giới.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật cần sự quan tâm, tạo điều kiện của Chính phủ, các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Tư pháp và các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu về pháp luật trong việc tổ chức các khoá đào tạo, bồi dưỡng, học tập kinh nghiệm, kỹ năng soạn thảo pháp luật tiên tiến trên thế giới, biên soạn giáo trình. Cụ thể:

  • Lựa chọn cán bộ, công chức có khả năng (chuyên môn và ngoại ngữ) tham gia các khoá đào tạo ở trong nước và nước ngoài về kỹ thuật xây dựng pháp luật, hoạch định chính sách;
  • Mở các khoá bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành về kinh tế – kỹ thuật cho các luật gia, các cán bộ, công chức đã được đào tạo về pháp luật tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
  • Xây dựng bộ giáo trình chuẩn về kỹ thuật lập pháp (phân tích chính sách, kỹ thuật trình bày và thể thức văn bản, ngôn ngữ văn bản…);
  • Tăng cường hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức xây dựng pháp luật thông qua các tổ chức quốc tế và các cá nhân có thiện chí và khả năng tài trợ cho công tác xây dựng pháp luật ở Việt Nam.

2.11. Đảm bảo đủ và kịp thời kinh phí cho việc nghiên cứu, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Hiện tại, do không bố trí đủ kinh phí cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ nên nhiều hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng và tiến độ soạn thảo văn bản không thể thực hiện được hoặc thực hiện không đạt chất lượng cao, ví dụ công tác nghiên cứu, khảo sát, tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, nhân dân đối với dự thảo văn bản… Do đó, kinh phí cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cần đảm bảo yêu cầu sau:

  • Ngân sách cụ thể được xác định trên cơ sở tính toán đầy đủ các loại chi phí sau:
  • Khoản ngân sách dành cho việc nghiên cứu, khảo sát, phân tích chính sách của văn bản;

Ngân sách dành cho việc soạn thảo căn cứ vào tiến độ thực hiện kế hoạch soạn thảo;

  • Ngân sách dành cho việc tổ chức phản biện khoa học đối với đề xuất và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ;
  • Các chi phí cho việc tổ chức lấy ý kiến tư vấn của chuyên gia, các nhà khoa học; chi phí làm việc với các cơ quan hữu quan trong quá trình trao đổi, thảo luận về dự thảo; chi phí cho việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, tổ chức về dự thảo.
  • Kinh phí hàng năm dành cho việc xây dựng pháp luật phải được coi là hạng mục chi chính thức trong chi thường xuyên của ngân sách nhà nước do Quốc hội quyết định trên cơ sở dự toán hợp lý của Chính phủ.
  • Các thủ tục liên quan đến việc giải ngân nguồn kinh phí này cần được đơn giản hoá theo yêu cầu cải cách hành chính nhằm làm cho nguồn lực này thực sự là động lực thúc đẩy và đảm bảo tiến độ cho việc soạn thảo và thông qua văn bản.

KẾT LUẬN

Qua việc nghiên cứu về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, tác giả mong muốn góp phần vào việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hiện nay, những ưu điểm cũng như những hạn chế, tồn tại, qua đó kiến nghị một số phương hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy trình này.Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Một là, từ thực tiễn quản lý nhà nước và xã hội cũng như kinh nghiệm của các nước trên thế giới hiện nay cho thấy, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ là cần thiết và khách quan, do đó việc phải đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ là một nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình đổi mới quy trình lập pháp ở Việt Nam nói chung nhằm đẩy nhanh tiến độ soạn thảo và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và xã hội cũng như các đòi hỏi của thực tế cuộc sống. Việc nghiên cứu để đổi mới quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ có ý nghĩa thiết thực không chỉ nhằm nhận diện đầy đủ những khiếm khuyết và tồn tại của quy trình hiện hành mà quan trọng là tìm ra phương hướng, giải pháp khoa học, khả thi để hoàn thiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

Hai là, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều chủ thể khác nhau. Vì vậy, để có một quy trình hữu hiệu cần phải nghiên cứu để nâng cao hiệu quả hoạt động của từng giai đoạn, từng chủ thể tham gia và cả quy trình một cách đồng bộ mà trước hết là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ; nâng cao trách nhiệm, nhận thức của Chính phủ,các thành viên Chính phủ, các bộ, ngành được giao chủ trì soạn thảo, các nhà khoa học, nhân dân, các tổ chức khác đối với công tác xây dựng pháp luật; cải tiến cơ chế tổ chức và hoạt động của các chủ thể tham gia vào quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ; tăng cường số lượng và nâng cao trình độ, kỹ năng soạn thảo, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn của các cán bộ làm công tác soạn thảo.

Ba là, việc nghiên cứu để đổi mới một cách cơ bản quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà trực tiếp là yêu cầu hoàn thiện hành lý pháp lý để phát triển đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm trên thực tế một cách tối đa quyền con người.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về đổi mới công tác xây dựng pháp luật, cải cách hành chính, cải cách bộ máy nhà nước và đánh giá toàn diện, khách quan những thành tựu cũng như những tồn tại, bất cập của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, tác giả hy vọng những kiến nghị của mình sẽ góp phần hoàn thiện, đổi mới quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ với mục tiêu trực tiếp là đáp ứng được yêu cầu cần ban hành kịp thời, đầy đủ những văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng và tính khả thi cao cho tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay./.Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Quy trình xây dựng văn bản pháp luật của Chính phủ

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x