Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Luận văn thì với đề tài Luận văn: Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

1. Quy định của pháp luật hiện hành về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ 

Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hiện nay gồm có:

  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002 (sau đây gọi tắt là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật);Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ
  • Nghị quyết số 55/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội về kết quả giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 55/2005/QH11);
  • Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi tắt là Nghị định số 161/2005/NĐ-CP);
  • Nghị định số 23/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quy chế làm việc của Chính phủ);
  • Nghị định số 18/2003/NĐ-CP ngày 20 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ;
  • Chỉ thị số 14/2006/TC-TTg ngày 10 tháng 4 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
  • Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo;
  • Quyết định số 05/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và những văn bản khác có liên quan.

Theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trên thì quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ bao gồm các bước sau:Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

  • Lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ (Điều 59 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Điều 16, 18 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP);
  • Thành lập Ban soạn thảo (Điều 60 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; khoản 2 Điều 22 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP; Điều 3, 9 Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg về Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo);
  • Tổ chức soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật (Điều 61 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật);
  • Thẩm định dự thảo văn bản (Điều 63 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; khoản 1 Điều 32 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP);
  • Giải trình,tiếp thu ý kiến thẩm định (Điều 33 Nghị định  số 161/2005/NĐ-CP);
  • Trình Chính phủ (Điều 35 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP);
  • Thẩm tra dự thảo văn bản(điểm a khoản 2 Nghị quyết số 55/2005/QH11; khoản 2 Điều 32 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP; khoản 6 Điều 2 Nghị định số 18/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ);
  • Chính phủ thông qua dự thảo văn bản (Điều 64 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật);
  • Chỉnh lý dự thảo sau khi Chính phủ thông qua (Điều 37 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP) và sau khi có ý kiến thẩm tra của Văn phòng Chính phủ;
  • Trình Thủ tướng Chính phủ ký văn bản;Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ
  • Ban hành văn bản (Điều 25 Quy chế làm việc của Chính phủ);
  • Công bố văn bản (Điều 27 Quy chế làm việc của Chính phủ).

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

Có thể trình bày quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ theo sơ đồ sau:

Lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định

Thành lập

Ban soạn thảo

  • Tổng hợp ý kiến đề xuất của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan hoặc theo sáng kiến của Chính phủ;
  • Lập dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ;
  • Lấy ý kiến các bộ, ngành;
  • Chính phủ thảo luận, thông qua chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định.

 Ban soạn thảo do cơ quan chủ trì thành lập;

  • Ban soạn thảo do Chính phủ thành lập.

Soạn thảo nghị quyết, nghị định

Thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định

  • Tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự thảo; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo.
  • Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan đến dự thảo.
  • Chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ
  • Tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và với hình thức thích hợp tuỳ theo tính chất và nội dung của từng dự thảo.
  • Chuẩn bị dự thảo tờ trình Chính phủ và tài liệu liên quan đến dự thảo.
  • Xác định danh mục các điều, khoản, điểm và các văn bản quy phạm pháp luật trái với quy định của dự thảo; đồng thời đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung những văn bản quy phạm pháp luật, điều, khoản, điểm đó.
  • Xây dựng báo cáo dự báo tác động kinh tế – xã hội và dự kiến nguồn lực bảo đảm thi hành văn bản.
  • Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Bộ Tư pháp hoặc Hội đồng thẩm định thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định về:

  • Sự cần thiết ban hành văn bản;
  • Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự án, dự thảo;
  • Sự phù hợp của nội dung dự án, dự thảo với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng;
  • Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật; sự phù hợp của nội dung dự án, dự thảo với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
  • Tính khả thi của dự án, dự thảo;
  • Việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo;
  • Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Thẩm tra dự thảo nghị quyết, nghị định

Chính phủ thông qua nghị quyết, nghị định

Chỉnh lý dự thảo sau khi Chính phủ thông qua

Trình Thủ tướng Chính phủ ký văn bản

Ban hành, công bố văn bản

Văn phòng Chính phủ thẩm tra về quy trình, hồ sơ thủ tục hành chính; tính hợp pháp, sự phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và sự phù hợp với chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ dự thảo.

Chính phủ xem xét dự thảo theo trình tự:

  • Đại diện cơ quan soạn thảo thuyết trình về dự thảo;
  • Cơ quan thẩm định trình bày ý kiến thẩm định;
  • Đại diện cơ quan, tổ chức được mời phát biểu ý kiến;
  • Chính phủ thảo luận;
  • Chính phủ thông qua khi quá nửa thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành.

Sau khi Chính phủ cho ý kiến, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan có liên quan hoàn chỉnh về mặt kỹ thuật dự thảo trước khi trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Một số điểm cần lưu ý trong quy trình nói trên

Quy trình soạn thảo, ban hành nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có những bước, những giai đoạn khác so với quy trình trên đây, cụ thể như sau: sau khi đã hoàn thành những bước thành lập Ban soạn thảo, tổ chức soạn thảo, lấy ý kiến góp ý, thẩm định, thẩm tra, Chính phủ thông qua thì phải trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến. Nếu Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng ý thì Chính phủ giao cho Văn phòng Chính phủ phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, hoàn thiện dự thảo theo ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và ban hành; trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không đồng ý, thì Chính phủ không được ban hành.

Pháp luật chưa quy định cụ thể quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch của Chính phủ với tổ chức chính trị – xã hội.

Điều 74 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ quy định một cách rất khái quát việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật liên tịch.

Nhận xét

Với quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật như trên, lần đầu tiên pháp luật nước ta đưa ra được quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ tương đối khoa học, chặt chẽ từ khâu lập chương trình, thành lập ban soạn thảo, tổ chức soạn thảo, lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, thẩm định, thẩm tra, thông qua, ban hành, công bố văn bản. Tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ ngày càng nền nếp và đúng pháp luật. Cơ chế phối hợp và trách nhiệm của các chủ thể tham gia và quy trình được nâng cao, qua đó góp phần nâng cao số lượng, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, đáp ứng ngày càng tốt công tác chấp hành, điều hành của Chính phủ.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Tuy nhiên, quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Chính phủ còn có những nhược điểm sau làm ảnh hưởng lớn đến tiến độ và chất lượng của các dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, cụ thể là:

Chưa có quy định của pháp luật về việc Chính phủ định hướng, quyết định các tư tưởng, chính sách trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước đối với từng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trong quá trình lập dự kiến xây dựng chương trình xây dựng pháp luật của Chính phủ. Do đó, giai đoạn tổ chức soạn thảo thường gặp khó khăn;

  • Chưa có tiêu chí xác định nội dung ban hành nghị quyết với nghị định trong những trường hợp cụ thể (khi nào ban hành nghị quyết, khi nào ban hành nghị định);
  • Chưa có quy định cụ thể (thời gian, nội dung) về việc tổ chức phản biện khoa học đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ;
  • Chưa có cơ chế thẩm định, thẩm tra tập thể đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ;
  • Chưa có quy định về tiêu chí để thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ nói riêng. Do vậy, nội dung thẩm định không có căn cứ pháp lý chắc chắn; công chức, cán bộ có thẩm quyền thẩm định có thể tuỳ tiện hoặc thiếu trách nhiệm đối với công tác thẩm định;
  • Hoạt động thẩm tra của Văn phòng Chính phủ đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ chưa được Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định mà chỉ được các nghị định của Chính phủ quy định. Gần đây nhất, tại Nghị quyết số 55/2005/QH11, Quốc hội mới chính thức khẳng định vị trí, vai trò công tác thẩm tra của Văn phòng Chính phủ đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Trình tự, thủ tục, giá trị pháp lý của ý kiến thẩm tra của Văn phòng Chính phủ và nhiều vấn đề liên quan đến công tác thẩm tra của Văn phòng Chính phủ đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ cũng chưa được quy định;Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ
  • Việc lấy ý kiến nhân dân, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã được quy định nhưng chưa có cơ chế phản hồi ý kiến và chế tài đối với cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc không tiếp thu ý kiến xác đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hơn nữa, quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ chưa tạo điều kiện để các chủ thể khác nhau có thể góp ý kiến của mình trong quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ;
  • Chưa có cơ chế thuê chuyên gia, các nhà khoa học soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ;
  • Quy định về kinh phí hỗ trợ cho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ còn rất hạn chế, chưa đảm bảo kinh phí để thực hiện một số hoạt động nhằm nâng cao chất lượng và tiến độ xây dựng văn bản; chưa tạo điều kiện thu hút trí tuệ của các chủ thể tham gia xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

2. Thực trạng việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

2.1. Tình hình thực hiện quy trình

2.1.1 Lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ:

Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ chủ yếu bao gồm các dự thảo nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; các dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung các nghị định đang có hiệu lực pháp luật; các dự thảo nghị định theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; và một số nghị quyết của Chính phủ về chủ trương, phương hướng chỉ đạo, điều hành trong một số lĩnh vực quản lý nhà nước.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm của Chính phủ được các cơ quan tổ chức thực hiện như sau:

Đối với dự thảo nghị quyết, cơ quan, tổ chức, cá nhân đăng ký sáng kiến xây dựng nghị quyết của mình với Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp. Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp đưa danh mục đề nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về xây dựng nghị quyết vào Dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

Đối với dự thảo nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, sau khi Quốc hội thông qua luật, nghị quyết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua pháp lệnh, nghị quyết và Chủ tịch nước công bố, Văn phòng Chính phủ có công văn gửi các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan để đăng ký với Chính phủ danh mục văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, trong đó nêu rõ thời hạn trình Chính phủ xem xét, ban hành.

Đối với các dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định đang có hiệu lực pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo có công văn gửi Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp để đăng ký và đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Ngoài ra, trong quá trình chỉ đạo, điều hành, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ có thể yêu cầu các bộ, ngành phải xây dựng nghị định mới hoặc sửa đổi các nghị định đang có hiệu lực pháp luật – những yêu cầu này cũng được bổ sung vào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

Trường hợp lĩnh vực quản lý nhà nước mới phát sinh chưa có luật, pháp lệnh điều chỉnh thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất với Chính phủ ban hành nghị định để điều chỉnh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Sau khi tổng hợp dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định hàng năm do các cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất, Văn phòng Chính phủ phối hợp với Bộ Tư pháp lập dự kiến chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo định kỳ ba tháng, sáu tháng và cả năm, gửi lấy ý kiến tham gia của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, sau đó trình Chính phủ quyết định. Chương trình này được Chính phủ xem xét, thông qua tại phiên họp thường kỳ cuối năm. Sau khi chương trình được Chính phủ thông qua, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm gửi đến các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có dự thảo do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chuẩn bị) chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ để thực hiện.

Trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, việc lập dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các tổ chức, cơ quan, cá nhân hữu quan có vai trò hết sức quan trọng vì nó là căn cứ chủ yếu cho việc hình thành chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ; tính khả thi của việc lập dự kiến sẽ quyết định tính khả thi của chương trình xây dựng văn bản; nội dung lập dự kiến sẽ tạo cơ sở ban đầu cho quá trình soạn thảo văn bản, do vậy cũng sẽ là yếu tố tác động đến quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, đảm bảo xây dựng một hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ, khả thi, đáp ứng được các đòi hỏi của thực tiễn. Để thực hiện được vai trò quan trọng của việc lập dự kiến chương trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, việc lập dự kiến phải đảm bảo được các yêu cầu nhất định nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động này:Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Thứ nhất, việc lập dự kiến phải cụ thể: dự kiến phải làm rõ loại văn bản cần ban hành, sự cần thiết ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung chính, thời gian trình, các nguồn lực đảm bảo thi hành.

Thứ hai, phải đáp ứng và thể hiện được yêu cầu điều chỉnh trên thực tế.

Thứ ba, việc lập dự kiến phải có tính khả thi: tính khả thi của việc lập dự kiến bao gồm khả năng hình thành nội dung văn bản và khả thi về mặt thời gian soạn thảo, trình văn bản. Văn bản được dự kiến phải là văn bản mà nội dung có thể soạn thảo được, không trái với các chính sách và pháp luật hiện hành của Đảng và Nhà nước, điều kiện nhân lực, tài chính và phương tiện của cơ quan soạn thảo có khả năng đáp ứng được yêu cầu của quá trình soạn thảo.

Thứ tư, việc lập dự kiến phải được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện các văn bản hiện hành, bao gồm các văn bản có liên quan trong quá trình áp dụng; phân tích các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội đã chín muồi, các yêu cầu của thực tiễn để đảm bảo văn bản được đề xuất đưa vào chương trình là văn bản đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp về chính sách để giải quyết những yêu cầu này.

Có thể thấy, nếu việc lập dự kiến không được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu kỹ các vấn đề thực tiễn về sự cần thiết ban hành văn bản cũng như những nội dung được thể hiện trong văn bản thì có thể dẫn tới tình huống nội dung văn bản không phù hợp với thực tế do các mối quan hệ xã hội còn chưa hình thành đầy đủ, việc xây dựng văn bản không đảm bảo kế hoạch hoặc do cố gắng theo kịp kế hoạch mà việc soạn thảo không đảm bảo chất lượng.

Thứ năm, việc lập dự kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cần có sự tham gia của chuyên gia, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn và nhân dân. Điều này xuất phát từ yêu cầu cần đảm bảo tính khoa học, tính khả thi của chính chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và của công tác soạn thảo văn bản cũng như chất lượng, nội dung của văn bản sẽ được ban hành mà sự tham gia của chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn và nhân dân cần phải được bắt đầu ngay từ giai đoạn lập dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ thông qua việc đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và tham gia ý kiến đối với dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Kể từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ra đời với những quy định về lập dự kiến chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã đáp ứng được yêu cầu kế hoạch hoá công tác lập pháp, lập quy, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng soạn thảo từng văn bản, chủ động hơn trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ vào những yêu cầu cần phải có của giai đoạn lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ như trên đã phân tích nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động này, chúng ta thấy các quy định hiện hành về lập chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ và thực tiễn thực hiện các quy định này vẫn còn một số tồn tại, hạn chế.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 16 và khoản 3 Điều 18 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP thì trong đề nghị, kiến nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ “phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản, những quan điểm, nội dung chính của văn bản; dự báo tác động kinh tế – xã hội; dự kiến thời gian trình văn bản; nguồn lực tài chính, nhân lực và các nguồn lực khác bảo đảm thi hành văn bản”” Cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ cử đại diện để thuyết trình về những vấn đề liên quan đến đề nghị, kiến nghị của mình” trong cuộc họp để xem xét đề nghị, kiến nghị xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế yêu cầu này thường chỉ áp dụng đối với đề nghị, kiến nghị xây dựng luật, pháp lệnh, còn với các đề nghị, kiến nghị xây dựng nghị quyết, nghị định không được áp dụng triệt để. Các cơ quan, tổ chức được yêu cầu đăng ký dự kiến xây dựng nghị quyết, nghị định thường chỉ đăng ký tên, loại văn bản, thời gian trình Chính phủ theo mẫu sau:Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Rõ ràng điều này đã gây hạn chế rất nhiều đến tiến độ và chất lượng văn bản sẽ được xây dựng vì chưa có sự quan tâm đúng mức tới mức độ chuẩn bị của đề án. Nội dung lập dự kiến sẽ tạo cơ sở ban đầu cho quá trình soạn thảo văn bản, chất lượng của việc lập dự kiến cũng sẽ quyết định việc văn bản có được ban hành và soạn thảo theo đúng chương trình hay không. Do đó, khi việc này không được quan tâm đúng mức sẽ dẫn đến hiện tượng các cơ quan khi tiến hành soạn thảo mới thấy khó khăn, bắt đầu đi tìm nội dung, suy nghĩ về chính sách, tìm cách giải quyết những vướng mắc với các lĩnh vực quản lý khác…, mà những điều này không thể dễ dàng làm ngay, do đó tiến độ hoàn thành văn bản theo dự kiến phần lớn không hoàn thành, phải hoãn đi hoãn lại, tình hình có khi kéo dài đến vài năm và cuối cùng là phải đưa ra khỏi chương trình. Đối với trường hợp đề xuất xây dựng nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, mặc dù việc phải xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết rõ ràng là cần thiết và bắt buộc phải làm theo quy định của pháp luật nhưng không có nghĩa những nội dung như quan điểm, những nội dung chính, dự báo tác động kinh tế – xã hội từ các quy định của văn bản… lại được phép bỏ qua.

Ngoài ra, hiện nay những nội dung như sự cần thiết ban hành văn bản, những quan điểm, nội dung chính của văn bản, dự báo tác động kinh tế xã hội… cũng không được đưa vào Dự kiến Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ khi gửi lấy ý kiến các Bộ, ngành, do đó không huy động được sự tham gia của các Bộ, ngành đối với các vấn đề thuộc về quan điểm, chính sách đối với các vấn đề mà dự thảo văn bản điều chỉnh – điều này rất quan trọng vì sẽ hạn chế những tranh luận không cần thiết giữa các cơ quan quản lý nhà nước ngành, lĩnh vực khi có sự mâu thuẫn, chồng chéo về chức năng quản lý hoặc phát hiện những mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác trong quá trình soạn thảo. Những vấn đề chính này nếu được giải quyết ngay từ giai đoạn đầu của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật sẽ đẩy nhanh được tiến độ và chất lượng của các giai đoạn sau.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Kể từ năm 2004, tại phiên họp Chính phủ hàng tháng, Văn phòng Chính phủ đều có báo cáo tình hình soạn thảo, trình Chính phủ ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh. Các trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo trình không đúng thời hạn đã đăng ký đều được báo cáo tại phiên họp và Thủ tướng đã yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo phải báo cáo, giải trình. Tuy nhiên, trong báo cáo này của Văn phòng Chính phủ không bao gồm: các dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội; các dự thảo nghị định theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; các dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định đang có hiệu lực pháp luật; các dự thảo nghị quyết của Chính phủ. Điều này cho thấy, mặc dù Chính phủ đã rất quan tâm đến tính khả thi của chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, nhưng chưa có những biện pháp hữu hiệu, triệt để nhằm giải quyết một cách hiệu quả nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ và chất lượng dự thảo nghị quyết, nghị định do cơ quan chủ trì soạn thảo trình Chính phủ còn thấp.

2.1.2. Thành lập Ban soạn thảo

Thực tiễn việc thành lập các Ban soạn thảo xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trong thời gian qua còn tồn tại một số hạn chế, bất cập sau:

Thứ nhất, về thành phần Ban soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ. Theo quy định Điều 60 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Điều 9 Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg thì thành phần Ban soạn thảo dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ phải bao gồm đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Tuy nhiên trên thực tế, có những cơ quan chủ trì soạn thảo không thành lập Ban soạn thảo mà chỉ giao cho một hoặc một số chuyên viên đảm nhiệm công việc soạn thảo văn bản hoặc có thành lập Ban soạn thảo nhưng không đảm bảo thành phần như quy định.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Thứ hai, do chế độ làm việc kiêm nhiệm nên các thành viên trong Ban soạn thảo thường không xác định rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong quá trình tham gia soạn thảo. Với tư cách thành viên Ban soạn thảo, họ có nhiệm vụ xây dựng dự thảo văn bản khách qua, khoa học, phù hợp với thực tiễn. Còn với tư cách là người đại diện của một cơ quan, họ phải cân nhắc rất nhiều đến lợi ích của cơ quan chủ quản của mình [7, tr.129]. Bên cạnh đó, các thành viên Ban soạn thảo đôi khi không được tạo điều kiện đầy đủ về thời gian, điều kiện làm việc cũng như họ không thực sự chú tâm và coi trọng công việc tham gia soạn thảo văn bản dẫn đến không huy động được hết khả năng, trí tuệ của các thành viên đối với dự thảo văn bản.

Thứ ba, sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học vào Ban soạn thảo còn rất hạn chế, nguyên nhân là do không được cơ quan chủ trì soạn thảo mời hoặc có tham gia nhưng nhiều khi không bảo vệ được quan điểm khoa học của mình.

Thứ tư, về kỹ thuật tổ chức công việc. Các Ban soạn thảo chưa xây dựng được một kế hoạch tổng thể và chi tiết để hình dung và xác định những nội dung cụ thể cần phải thảo luận trước và mục đích phải đạt được tại các cuộc họp tiếp theo. Vì thế, các cuộc họp của Ban soạn thảo còn hình thức, có những vấn đề cuộc họp này vừa thảo luận, kết luận nhưng đến lần sau lại tiếp tục, lại quay lại vấn đề ban đầu .

2.1.3. Tổ chức soạn thảo văn bản Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Soạn thảo văn bản là giai đoạn có vai trò quan trọng đối với chất lượng văn bản. Giai đoạn này chiếm phần lớn thời gian thực hiện của cả quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và thực tế cho thấy, tiến độ và chất lượng của văn bản phụ thuộc khá nhiều vào hiệu quả của hoạt động tổ chức soạn thảo văn bản. Việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hiện nay chủ yếu do các Ban soạn thảo và cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nổi lên khá nhiều bất cập, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng văn bản, trong đó chủ yếu là những hạn chế sau:

Thứ nhất, chưa làm rõ nội dung chính sách trước khi soạn thảo. Việc xây dựng pháp luật hiện nay nói chung cũng như việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay chủ yếu do các Ban soạn thảo của các bộ, ngành và Tổ biên tập thực hiện. Chính phủ, các tổ chức Đảng… chưa có định hướng và kiểm soát chặt chẽ về tư tưởng chỉ đạo cho các dự thảo văn bản cho tất cả các khâu từ lập chương trình, soạn thảo và thông qua văn bản. Mặc dù các chủ trương, quan điểm về việc xây dựng pháp luật đã được đề ra, song chúng ta chưa xây dựng được quy trình lãnh đạo và cho ý kiến chỉ đạo về mặt chính sách làm cơ sở cho việc soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật. Chúng ta cũng thường không tổ chức nghiên cứu, phân tích chính sách trước khi bắt đầu công việc soạn thảo. Kết quả là nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chỉ đưa ra được các quy định chung chung, chính sách và giải pháp không rõ ràng [12, tr.12]. Công tác soạn thảo bị kéo dài về thời gian do phải soạn thảo đi soạn thảo lại nhiều lần, Ban soạn thảo, Tổ biên tập vừa soạn thảo vừa phải nghĩ chính sách, tìm nội dung mà lẽ ra những điều này cần phải được xác định và thống nhất từ trước khi soạn thảo; kéo theo nó là cả những lãng phí về công sức, tiền của trong khi chất lượng văn bản lại thấp, khi trình lên Chính phủ rồi vẫn phải sửa đi sửa lại nhiều lần mới có thể được ban hành.

Thứ hai, các Ban soạn thảo chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ tổng kết tình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự thảo. Mặc dù đây là nhiệm vụ rất quan trọng nhằm tạo cơ sở thực tiễn, tăng tính khả thi của văn bản, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn nhưng hiện nay nhiệm vụ này chưa được nhiều Ban soạn thảo coi trọng, có Ban soạn thảo thực hiện nghiêm túc công việc này nhưng có Ban soạn thảo lại không thực hiện hoặc chỉ thực hiện lấy lệ và việc này nếu có tiến hành cũng thường do cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện. Ngoài ra, cũng rất nhiều trường hợp mặc dù việc đánh giá, tổng kết tình hình thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan rất khách quan, sát với thực tiễn nhưng khi soạn thảo văn bản, vì nhiều lý do khác nhau lại không giải quyết được những tồn tại, hạn chế mà từ việc tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đã chỉ ra. Do đó, nhiều bất cập mặc dù biết rõ nhưng vẫn cứ “điềm nhiên” tồn tại rất lâu.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Thứ ba, về chế độ hoạt động của các thành viên soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Như đã trình bày ở trên, hoạt động của thành viên Ban soạn thảo là kiêm nhiệm, họ thường là những người giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan, ban, ngành có liên quan; ngoài việc tham gia soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ mà họ được phân công, các thành viên này còn phải đảm đương một khối lượng công việc lớn trong cơ quan chủ quản của mình. Chính vì vậy, hoạt động của Ban soạn thảo không thường xuyên, không có tính chuyên nghiệp; thành viên Ban soạn thảo không có điều kiện để dành thời gian nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tế và chuẩn bị các nội dung cụ thể của dự thảo, thậm chí những buổi làm việc của Ban soạn thảo dưới hình thức các cuộc họp dù chỉ là rất ít nhưng cũng không hiệu quả [7, tr.146]. Trách nhiệm của Ban soạn thảo chưa cao, chưa chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành có liên quan trong việc xử lý những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để đưa ra những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo thống nhất cho nội dung dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Công việc soạn thảo hầu hết do Tổ biên tập thực hiện, thậm chí không ít trường hợp, việc biên tập dự thảo được xem là công việc của một số ít người trong Tổ biên tập, họ vừa viết dự thảo vừa tìm nội dung trong khi không có một định hướng về nội dung ổn định, thống nhất, đầy đủ từ phía Ban soạn thảo, kết quả là chất lượng dự thảo thấp, phải soạn thảo nhiều lần.

Ngoài ra, hoạt động của Ban soạn thảo còn mang tính đại diện hình thức của các bộ, ngành có liên quan; sự tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia còn rất hạn chế, chưa thực sự được coi trọng. Hoạt động của đại diện các bộ, ngành tham gia soạn thảo chưa thực sự tích cực, do đó thay vì đó là cơ chế để đảm bảo tính khoa học, tính thống nhất, tính khả thi của hệ thống pháp luật mà văn bản đang soạn thảo là một thành phần thì về thực chất là thiết chế hợp thức hoá lợi ích cục bộ của cơ quan chủ trì soạn thảo [9, tr.40].Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Thứ tư, kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều hạn chế. Trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật còn tồn tại nhiều vấn đề về kỹ năng soạn thảo làm ảnh hưởng đến nội dung văn bản. Yêu cầu về kỹ thuật văn bản là phải đảm bảo rõ ràng, ngôn ngữ sử dụng phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Kinh nghiệm cho thấy, có văn bản không phát huy được đầy đủ chức năng của mình là do cách viết các văn bản đó không được chuẩn mực, dẫn đến không làm tròn chức năng chuyển tải thông tin, truyền đạt nội dung, khó áp dụng thống nhất pháp luật.

Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do hiện nay, việc dự thảo văn bản chủ yếu do các cán bộ, công chức của các bộ, ngành tham gia Ban soạn thảo, Tổ biên tập thực hiện nhưng nhìn chung đội ngũ này còn yếu về kỹ năng xây dựng pháp luật. Không phải tất cả các thành viên của Tổ biên tập đều được đào tạo, đào tạo lại một cách cơ bản, chuyên sâu về kiến thức pháp luật, năng lực phân tích chính sách và kỹ năng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, họ lại ít có cơ hội để học hỏi kinh nghiệm soạn thảo văn bản của các nước có nền khoa học pháp lý tiên tiến. Trong khi đó, sự tham gia của đội ngũ các chuyên gia, các nhà khoa học, quản lý có kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng soạn thảo văn bản còn hạn chế, chưa được chú trọng [9, tr.47].

Thứ năm, việc lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản còn hình thức, không hiệu quả. Việc lấy ý kiến tham gia của các tổ chức, cá nhân có liên quan và chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo văn bản là một trong những điểm tiến bộ, đảm bảo cơ chế dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, thực tế thực hiện cơ chế này còn nhiều vấn đề tồn tại nên không phát huy hết ý nghĩa của hoạt động này. Đó là việc pháp luật chưa quy định đầy đủ các giai đoạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền tham gia ý kiến vào dự thảo văn bản. Hiện nay, việc lấy ý kiến thường chỉ thực hiện một lần ở giai đoạn dự thảo do Ban soạn thảo xây dựng, trong khi đó từ giai đoạn dự thảo này đến khi văn bản được ban hành đã có những thay đổi rất nhiều nhưng người dân hoàn toàn không có cơ hội được biết, được tham gia ý kiến do dự thảo không được công khai. Điều đó đã làm giảm khả năng tiếp cận đến những văn bản đang được xây dựng, từ đó hạn chế sự tham gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan vào quá trình soạn thảo, làm cho các nhóm đối tượng không có cơ hội đưa ra ý kiến của mình, việc này đang là phổ biến đối với những văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Bên cạnh đó, việc tiếp thu ý kiến góp ý từ phía cơ quan chủ trì soạn thảo cũng còn nhiều vấn đề đáng bàn. Các ý kiến góp ý không phải luôn được tiếp thu một cách nghiêm túc, ít có sự tổng hợp, đánh giá các ý kiến góp ý một cách đầy đủ và công khai, chưa có nhiều diễn đàn nhằm thảo luận, phản biện công khai khi có các ý kiến đóng góp khác nhau. Thậm chí, trên thực tế, có trường hợp các cơ quan này tự quyết định có tiếp thu hay không ý kiến góp ý vì không có cơ chế kiểm tra, giám sát. Khâu phản hồi ý kiến nhân dân là một thủ tục quan trọng thể hiện tính dân chủ, minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, tuy nhiên việc phản hồi ý kiến góp ý chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về việc lấy ý kiến góp ý cho dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.

Theo kết quả khảo sát của VnExpress (ngày 13/8/2005, 08;38 GMT+7) thì việc lấy ý kiến xây dựng luật vẫn nặng về hình thức và chỉ đơn giản đưa dự luật lên mạng và một số tờ báo viết, không có cơ chế phản hồi đã khiến không ít người cho rằng hoạt động này nặng tính hình thức. Có 297 trong tổng số 4.947 phiếu cho rằng cơ quan xin ý kiến thiếu cách phổ biến luật đến dân.

Ngoài ra, hình thức lấy ý kiến chưa đa dạng, hiệu quả để có thể mở rộng quy mô đối tượng được tiếp cận với dự thảo. Hình thức tổ chức lấy ý kiến do Ban soạn thảo tự quyết định và thường là tổ chức hội thảo, đưa lên Internet, gửi dự thảo lấy ý kiến bằng văn bản, thông qua các bài báo… nhưng không phải tất cả các hình thức này đều được sử dụng cho các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, do đó kết quả là chỉ rất ít đối tượng có thể tiếp cận được với dự thảo văn bản.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Nhận thức và sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn ở mức hạn chế. Các bộ, ngành khi được xin ý kiến đối với dự thảo văn bản thường không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, việc góp ý văn bản bị xem nhẹ so với các công việc khác của bộ, ngành. Đối với người dân thì thực tiễn từ các cuộc khảo sát cho thấy phần lớn người dân thậm chí cũng không quan tâm nhiều đến cả các văn bản có hiệu lực hiện hành, chứ đừng nói đến văn bản dự thảo. Đối với các doanh nghiệp thì mặc dù mức độ quan tâm có nhiều hơn, đặc biệt đối với những chính sách có ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của họ, tuy nhiên nhiều doanh nghiệp vẫn có thái độ thờ ơ, cho rằng kể cả mình có ý kiến cũng không có giá trị gì và mặc nhiên thừa nhận những gì pháp luật áp đặt cho mình, kể cả là những quy định đó không hợp lý. Nhiều trường hợp, cơ quan nhà nước đã rất quan tâm và mời tham gia ý kiến nhưng doanh nghiệp chỉ tham gia với tính chất đối ngoại mà không quan tâm đến thực chất, không tham gia tích cực và đưa ra các ý kiến có giá trị.

Việc không làm tốt khâu lấy ý kiến đối với dự thảo văn bản là một trong những nguyên nhân dẫn đến tính kém khả thi của văn bản do chưa đáp ứng được tiêu chí đồng thuận, chưa tận dụng được trí tuệ, ý kiến của số đông. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân là nguồn trí tuệ của nhà nước, dân là kho sáng kiến”, vì vậy, việc huy động trí tuệ của nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật là bổ sung nguồn sáng kiến cho văn bản. Mặt khác, điều này cũng làm tăng khả năng tiếp cận thông tin cho dân, qua đó nhà nước có thể “thấy được phản ứng của họ khi lợi ích bị đụng chạm” bởi các quy định pháp luật để từ đó có sự điều chỉnh chính sách theo hướng hợp lòng dân và có sự đồng thuận cao nhất [13, tr.51].

2.1.4. Thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định trước khi trình Chính phủ để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật.

Hội đồng thẩm định do Bộ Tư pháp thành lập để thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ do Bộ Tư pháp soạn thảo.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Phạm vi thẩm định của Bộ Tư pháp đối với dự thảo văn bản bao gồm: sự cần thiết ban hành văn bản; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; sự phù hợp của nội dung văn bản đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản đối với hệ thống pháp luật; sự phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; tính khả thi; việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

Công tác thẩm định của Bộ Tư pháp có đóng góp khá lớn trong công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ như góp phần nâng cao chất lượng văn bản soạn thảo, đảm bảo tiến độ thông qua, trình ký văn bản và đặc biệt góp phần đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ của văn bản trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, thời gian qua, công tác thẩm định cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc phục để nâng cao chất lượng thẩm định như:

  • Về giá trị pháp lý của văn bản thẩm định: Nguyên tắc cơ bản của công tác thẩm định là mang tính chất tư vấn. Chính phủ có thể theo hoặc không theo ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp. Ý kiến tư vấn của cơ quan thẩm định không có nhiều ảnh hưởng đối với cơ quan chủ trì soạn thảo; tiếp thu hay không tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định là quyền của cơ quan chủ trì soạn thảo; không có chế tài đối với việc không tiếp thu ý kiến thẩm định. Điều này làm hạn chế giá trị của hoạt động thẩm định mặc dù thẩm định của Bộ Tư pháp là thủ tục bắt buộc trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
  • Về chất lượng thẩm định: Chất lượng thẩm định nhiều dự thảo văn bản chưa cao dẫn đến không ít quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo vẫn bị bỏ sót khi trình lên Chính phủ; nội dung thẩm định còn nặng về hình thức, chưa có tính phản biện và lập luận khoa học về nội dung các dự thảo; nội dung thẩm định phiến diện, xuôi chiều, chưa đi sâu vào nội dung và tính khả thi của các quy định trong dự thảo văn bản, chưa đáp ứng được yêu cầu mang tính chuyên sâu, làm cơ sở giúp Thủ tướng Chính phủ định hướng thảo luận trong các phiên họp Chính phủ để quyết định các vấn đề quan trọng hoặc các vấn đề còn có ý kiến khác nhau liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước [9, tr.46]. Văn bản thẩm định còn dập khuôn một cách máy móc, không cần thiết những nội dung như sự cần thiết ban hành văn bản, tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản…; trong văn bản còn dùng quá nhiều các trạng từ thể hiện sự không chắc chắn của ý kiến thẩm định như: tuy nhiên, về cơ bản, theo chúng tôi thì, chúng tôi cho rằng mà đáng lẽ phải viết: chúng tôi khẳng định rằng.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ
  • Đội ngũ chuyên gia thực hiện công tác thẩm định còn mỏng, thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi, chuyên sâu một lĩnh vực hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế – xã hội khác nhau nên công tác thẩm định thường gặp nhiều khó khăn; trong khi đó cơ chế mời chuyên gia thẩm định chưa được quy định rõ và không khả thi. Phải đến khi Chính phủ ban hành Quyết định số 05/2007/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thì cơ chế mời chuyên gia mới được pháp luật quy định.

Quy trình phối hợp giữa cơ quan chủ trì soạn thảo với cơ quan thẩm định và các bộ, ngành có liên quan còn chưa tốt; việc tổ chức phối hợp thẩm định giữa các cơ quan trong Bộ Tư pháp chưa chặt chẽ nên thời gian thẩm định còn kéo dài so với yêu cầu.

  • Chất lượng dự thảo khi gửi đến Bộ Tư pháp để thẩm định còn thấp, có những dự án, dự thảo khi gửi đến Bộ Tư pháp còn nhiều vấn đề còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, ngành; nội dung cũng như hình thức dự thảo chưa được chỉnh lý, soạn thảo công phu, do đó Bộ Tư pháp phải mất khá nhiều thời gian đề góp ý về diễn đạt, ngôn ngữ pháp lý, kỹ thuật soạn thảo các điều, khoản cụ thể, điều này cũng làm chậm tiến độ thẩm định.
  • Việc pháp luật quy định Hội đồng thẩm định do Bộ Tư pháp thành lập để thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo là chưa khách quan. Bởi vì, Hội đồng thẩm định này do Bộ Tư pháp lựa chọn, thoả thuận và thành lập từ Chủ tịch Hội đồng thẩm định đến các thành viên của Hội đồng. Do đó, nội dung thẩm định trong một số trường hợp chưa đạt yêu cầu.

2.1.5. Thẩm tra dự thảo nghị quyết, nghị định Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Theo quy định tại Điều 32, 33 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP, sau khi nhận được văn bản thẩm định của Bộ Tư pháp về dự thảo văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; đồng thời giải trình việc tiếp thu ý kiến thẩm định, hoàn chỉnh hồ sơ gửi đến Văn phòng Chính phủ để thẩm tra.

Vụ, đơn vị chuyên ngành của Văn phòng Chính phủ nhận được hồ sơ dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ phải xem xét thủ tục soạn thảo, tính hợp hiến, hợp pháp của dự thảo nghị quyết, nghị định. Trường hợp dự thảo nghị quyết, nghị định chưa đảm bảo thủ tục như chưa có ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, chưa được Bộ Tư pháp hoặc cơ quan có thẩm quyền thẩm định thì Văn phòng Chính phủ trả lại cơ quan chủ trì soạn thảo, đề nghị làm lại cho đủ và đúng thủ tục. Nếu dự thảo đã được soạn thảo đúng thủ tục và đảm bảo nội dung thì chuyên viên của đơn vị chủ trì xử lý của Văn phòng Chính phủ xem xét, thẩm tra, báo cáo Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ để trình và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực cho phép đưa dự thảo đó ra phiên họp Chính phủ để các thành viên Chính phủ thảo luận những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, để thông qua hoặc không thông qua dự thảo. Trường hợp Thủ tướng Chính phủ hoặc Phó Thủ tướng được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ phụ trách ngành, lĩnh vực chưa đồng ý thì Văn phòng Chính phủ trả lại hồ sơ để cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, hoàn chỉnh lại dự thảo theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng hoặc Phó Thủ tướng Chính phủ. Nếu Thủ tướng Chính phủ đồng ý với dự thảo nghị quyết, nghị định thì Văn phòng Chính phủ gửi dự thảo đến các thành viên Chính phủ tại phiên họp toàn thể của Chính phủ để xem xét, cho ý kiến.

Sau khi dự thảo được Chính phủ thông qua, trước khi trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành, đơn vị chủ trì xử lý của Văn phòng Chính phủ chuyển hồ sơ đến Vụ Tổng hợp và Ban Xây dựng pháp luật để thẩm tra lần cuối.

Thực tế, công tác thẩm tra của Văn phòng Chính phủ trong những năm qua cho thấy, tuy chưa có con số thống kê chính thức và đầy đủ, nhưng đây là công việc rất quan trọng, là khâu cuối cùng để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, sự phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Tuy nhiên, công tác thẩm tra của Văn phòng Chính phủ cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết sau:Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP thì:

Trước phiên họp Chính phủ 20 (hai mươi) ngày làm việc, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải gửi toàn bộ hồ sơ dự án, dự thảo đến Văn phòng Chính phủ để thẩm tra.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ khi nhận được hồ sơ dự án, dự thảo trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Văn phòng Chính phủ phải có ý kiến thẩm tra bằng văn bản gửi các Thành viên Chính phủ”

Như vậy, trước khi Chính phủ thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định, dự thảo văn bản này đã phải được thẩm tra của Văn phòng Chính phủ và một đơn vị chuyên ngành của Văn phòng Chính phủ sẽ chủ trì xử lý, thẩm tra.

Sau khi Chính phủ thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định thì vụ, đơn vị chủ trì xử lý của Văn phòng Chính phủ chuyển hồ sơ đến Vụ Tổng hợp và Ban Xây dựng pháp luật của Văn phòng Chính phủ để thẩm tra lần cuối.

Nhìn vào quy trình xử lý của Văn phòng Chính phủ trong giai đoạn thẩm tra dự thảo nghị quyết, nghị định này, chúng ta thấy rằng cùng một việc là thẩm tra nhưng có thể do ba đơn vị của Văn phòng Chính phủ cùng thực hiện (đơn vị chuyên ngành, Vụ Tổng hợp, Ban Xây dựng pháp luật) và việc thẩm tra tiến hành trong hai giai đoạn: giai đoạn trước khi trình Chính phủ thông qua và giai đoạn sau khi Chính phủ thông qua dự thảo. Cùng là hoạt động thẩm tra nhưng lại do nhiều đơn vị thực hiện và nhiều giai đoạn khác nhau dẫn tới nội dung thẩm tra có thể sẽ không thống nhất, phải chỉnh sửa nhiều lần; chỉ là hoạt động thẩm tra mà phải qua hai giai đoạn với nhiều đơn vị khác nhau thực hiện cũng là nguyên nhân kéo dài thời gian ban hành nghị quyết, nghị định. Ngoài ra, cũng chưa có văn bản thẩm tra của Văn phòng Chính phủ mà chỉ có ý kiến thẩm tra của chuyên viên Vụ Tổng hợp và chuyên viên Ban Xây dựng pháp luật. Hoạt động thẩm tra như vậy rõ ràng là chưa rõ ràng về hình thức pháp lý, cơ chế trách nhiệm và ở một chừng mực nhất định có thể đánh giá là làm kéo dài thời gian ban hành văn bản do hoạt động này thường kéo dài hơn quy định.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Chất lượng thẩm tra trong không ít trường hợp chưa đạt yêu cầu, dẫn đến nội dung một số văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật. Có một số trường hợp, nghị quyết phiên họp của Chính phủ có quy phạm pháp luật nhưng không được thẩm tra theo quy định của pháp luật hoặc chuyên viên của các vụ, đơn vị trong Văn phòng Chính phủ không tiếp thu ý kiến thẩm tra đúng đắn của Vụ Tổng hợp và Ban Xây dựng pháp luật.

Hoạt động thẩm tra còn nhiều trùng lặp với thẩm định. Về bản chất, hoạt động thẩm định và thẩm tra khác nhau ở những điểm cơ bản sau:

Về chủ thể thực hiện: hoạt động thẩm định và thẩm tra do hai cơ quan khác nhau thực hiện.

Về phạm vi: phạm vi của hoạt động thẩm định rộng hơn thẩm tra. Khi thẩm định, cơ quan thẩm định tiến hành thẩm định dự thảo văn bản về cả nội dung và hình thức, ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản. Còn giai đoạn thẩm tra chỉ xem xét nội dung văn bản.

Về nội dung: hoạt động thẩm định thẩm định về đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản; sự phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo đối với hệ thống pháp luật, tính khả thi của dự thảo, ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản… Còn nội dung thẩm tra chủ yếu xem xét đến tính chất chính trị của văn bản, tức những nội dung liên quan đến chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên, các quy định về thẩm định, thẩm tra còn chung chung, khó xác định phạm vi dẫn đến thực tế thực hiện thẩm tra còn nhiều trùng lắp với thẩm định. Ví dụ, những vấn đề về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và sự phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, thậm chí những vấn đề về ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật soạn thảo tuy đã được thẩm định nhưng đến giai đoạn thẩm tra vẫn được xem xét và chỉnh sửa nhiều.

2.1.6. Thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Chính phủ xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định theo quy định tại Điều 64 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc thông qua nghị quyết, nghị định theo các thủ tục nói trên là rất ít vì hàng năm Chính phủ phải ban hành hàng trăm nghị định, hàng chục nghị quyết và thông qua hàng chục dự án luật, pháp lệnh để trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội cùng hàng trăm đề án khác nhau phục vụ cho hoạt động chấp hành và điều hành. Hơn nữa, mỗi tháng Chính phủ họp phiên họp thường kỳ kéo dài hai hoặc ba ngày để thảo luận, giải quyết rất nhiều vấn đề, vì vậy, không phải tất cả các nghị quyết, nghị định của Chính phủ đều được thông qua theo thủ tục quy định tại Điều 64 nói trên. Để giải quyết khó khăn này, Văn phòng Chính phủ đã có sáng kiến trình Thủ tướng Chính phủ cho phép lập phiếu xin ý kiến thành viên Chính phủ, trong đó, dự thảo nghị quyết, nghị định được Văn phòng Chính phủ tóm tắt những vấn đề chính, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để các thành viên Chính phủ cho ý kiến. Sau khi các thành viên Chính phủ cho ý kiến, nếu vấn đề nào mà đa số thành viên Chính phủ (50% + 1 phiếu) tán thành hoặc không tán thành thì Văn phòng Chính phủ gửi hồ sơ đến cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý và đưa ra quan điểm của mình để giải trình với Thủ tướng Chính phủ. Nếu các thành viên Chính phủ không còn có ý kiến khác nhau đối với dự thảo nghị quyết, nghị định thì coi như dự thảo đó đã được Chính phủ thông qua.

Việc thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ trong thời gian qua cho thấy các thành viên Chính phủ đôi khi chưa thực sự làm tốt vai trò, trách nhiệm của mình đối với tư cách là một lá phiếu trong việc quyết định nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ. Các thành viên Chính phủ có tâm lý là chỉ quan tâm đến dự thảo văn bản có liên quan đến bộ, ngành mình, ít quan tâm đến các dự thảo văn bản khác với tư cách là thành viên Chính phủ. Trong quá trình soạn thảo cũng như thông qua văn bản quy phạm pháp luật, các thành viên Chính phủ ít có thời gian nghiên cứu hồ sơ, nội dung dự thảo văn bản cũng như nghiên cứu các văn bản pháp luật khác để so sánh, đối chiếu nhằm khắc phục sự không thống nhất của hệ thống pháp luật [9, tr.40].

2.1.7. Chính lý lần cuối dự thảo để trình Thủ tướng Chính phủ ký văn bản Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Sau khi Chính phủ cho ý kiến, thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ, vụ, đơn vị của Văn phòng Chính phủ xử lý dự thảo chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét ý kiến thẩm tra của Vụ Tổng hợp và Ban Xây dựng pháp luật, chỉnh lý lần cuối dự thảo trước khi trình Thủ tướng Chính phủ ký, ban hành. Trường hợp phát hiện quy định trái pháp luật thông qua công tác thẩm tra thì vụ, đơn vị chủ trì xử lý phải trao đổi với Ban Xây dựng pháp luật hoặc Vụ Tổng hợp để thống nhất phương án giải quyết như loại bỏ quy định trái pháp luật ra khỏi dự thảo; nếu cơ quan chủ trì vẫn giữ quan điểm của mình về nội dung của quy định và cho rằng quy định đó không trái pháp luật thì cơ quan chủ trì soạn thảo phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến chỉ đạo.

Khi không còn ý kiến khác nhau về nội dung dự thảo thì chuyên viên của vụ, đơn vị của Văn phòng Chính phủ xử lý, trình Bộ trưởng, Chủ nhiệm

Văn phòng Chính phủ ký phiếu trình và ký nháy vào dự thảo văn bản để trình Thủ tướng Chính phủ ký văn bản. Thủ tướng Chính phủ xem xét, nếu đồng ý thì ký văn bản, trường hợp Thủ tướng Chính phủ không đồng ý thì đơn vị chủ trì xử lý của Văn phòng Chính phủ phải nghiên cứu ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để trao đổi lại với cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý lại dự thảo. Trong những năm qua, các dự thảo văn bản đã được các vụ, đơn vị cùng các cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị kỹ, nên rất ít khi phải chỉnh lý, trình Thủ tướng Chính phủ ký lại lần thứ hai.

2.1.8. Ban hành văn bản Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Ban hành là việc chính thức xác nhận dự thảo văn bản đã được Chính phủ thông qua và được Thủ tướng Chính phủ ký. Sau khi Thủ tướng Chính phủ ký sẽ tiếp tục các thủ tục ban hành như lấy số, ký hiệu của văn bản, photocopy số lượng văn bản cần phát hành, đóng dấu, gửi lưu trữ, gửi đến các cơ quan, tổ chức, địa phương, các nhân có liên quan.

Văn bản sẽ có hiệu lực sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng công báo hoặc muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó; văn bản có thể có hiệu lực sớm hơn nếu được ban hành trong tình trạng khẩn cấp theo quy định tại khoản 3 Điều 75 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

2.1.9. Công bố văn bản

Các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ đã được ban hành thì phải được công bố theo quy định của pháp luật (trừ các nghị quyết, nghị định có nội dung bí mật nhà nước). Việc công bố văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ được thực hiện theo quy định tại Điều 27 Quy chế làm việc của Chính phủ bằng các hình thức như: đăng Công báo, đưa lên mạng tin học diện rộng của Chính phủ, đưa lên Internet, tổ chức họp báo, đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng.

Đối với những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng của Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức họp báo hoặc lựa chọn một trong các hình thức họp công khai khác và công bố để mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân biết và thực hiện.

Nhìn chung, việc ban hành, công bố văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trong thời gian qua được thực hiện nghiêm túc, đầy đủ theo quy định của pháp luật.

2.2. Nhận xét về tình hình thực hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ

2.2.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Trong những năm qua, đặc biệt sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1996 ra đời và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện theo Luật số 02/2002/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cùng việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành, chúng ta đã đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong công tác xây dựng pháp luật nói chung cũng như trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ nói riêng. Lần đầu tiên, pháp luật nước ta đã đưa ra được quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ tương đối khoa học, rõ ràng, hợp lý; đã xác định được cơ chế phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, bộ phận trong toàn bộ quy trình xây dựng văn bản; xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong mỗi giai đoạn của quy trình.

Việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua cũng có nhiều ưu điểm, cụ thể như sau:

  • Các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã chấp hành tương đối nghiêm túc quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và thực hiện ngày càng càng tốt hơn vai trò, trách nhiệm được phân công. Điều này góp phần khắc phục được một phần quan trọng tình trạng tuỳ tiện, cục bộ, tạo hành lang pháp lý và định hướng cho việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ ngày càng nền nếp, đúng pháp luật và dân chủ.

Cơ chế huy động sự tham gia của chuyên gia, các nhà khoa học và nhân dân đối với công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ ngày càng được quan tâm và tăng cường bằng nhiều hình thức khác nhau.

  • Công tác thẩm định, thẩm tra được tăng cường. Bộ Tư pháp đã đảm nhận và làm nhiều việc tích cực, góp phần nâng cao chất lượng thẩm định. Văn phòng Chính phủ đã có nhiều nỗ lực cải tiến, nâng cao chất lượng thẩm tra cả về trình tự, thủ tục soạn thảo và nội dung các dự thảo văn bản.
  • Trình tự, thủ tục xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ đã có nhiều cải tiến (sửa đổi quy chế đối với từng khoá Chính phủ; cải cách thủ tục xin ý kiến; thời gian ngắn hơn so với trước kia).
  • Công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra của Thủ tướng Chính phủ đối với các bộ, ngành trong việc xây dựng, trình dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được tăng cường một bước.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

Do những ưu điểm trên mà số lượng các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ ban hành trong những năm qua ngày càng tăng (hàng năm, tính trung bình, Chính phủ ban hành gần 200 nghị quyết, nghị định [14, tr.20]), chất lượng các văn bản ngày càng cao, nội dung các văn bản ngày càng phong phú, đa dạng, bao quát được hầu hết các lĩnh vực cơ bản, quan trọng của xã hội cần có sự điều chỉnh của pháp luật, góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập quốc tế và khu vực, bảo vệ và phát huy quyền tự do dân chủ của công dân.

2.2.2. Nhược điểm

Việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trong những năm qua còn những tồn tại, yếu kém như sau:

  • Chính phủ chưa có chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật riêng. Chương trình xây dựng nghị quyết, nghị định của Chính phủ nằm trong Chương trình công tác hàng tháng, hàng quý, sáu tháng và hàng năm, trong đó bao gồm những dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cả những đề án không phải là văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
  • Việc vi phạm thủ tục vẫn diễn ra tương đối phổ biến, ví dụ, để đảm bảo tiến độ trình Chính phủ, nhiều trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo đã trình Chính phủ khi chưa có ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp.
  • Việc phân tích chính sách, tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật, phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung dự thảo còn chiếu lệ.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ
  • Việc thực hiện dân chủ hoá, công khai, minh bạch trong quy trình xây dựng, ban hành văn bản còn nhiều hạn chế; quy trình xây dựng văn bản còn bị khép kín; việc lấy ý kiến tham gia của các đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của văn bản còn ít, nếu có thì hình thức; việc tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành còn bị động.
  • Tổ chức và hoạt động của các Ban soạn thảo, Tổ biên tập còn hình thức, kém hiệu quả. Trong một thời gian dài còn thiếu các quy định cụ thể về cách thức thành lập và nhất là quy chế hoạt động của Ban soạn thảo. Đến 10/01/2007 vừa qua, Chính phủ mới ban hành Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban soạn thảo.
  • Hạn chế trong thẩm định, thẩm tra. Nội dung thẩm định, thẩm tra còn trùng lặp, chất lượng chưa cao, ít tính phản biện, chưa có màu sắc khoa học và xuôi chiều.
  • Nợ đọng nhiều các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh. Theo Báo cáo số 1816/BC-VPCP ngày 05 tháng 4 năm 2007 về tình hình xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (khoá XI) thì tính đến ngày 30/3/2007, số văn bản cần ban hành nhưng chưa được ban hành là
  • văn bản, mặc dù về mặt nguyên tắc, các luật, pháp lệnh sau khi có hiệu lực là phải có ngay các văn bản của Chính phủ hướng dẫn thi hành.

Chất lượng của một số văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ chưa cao. Nhiều văn bản vẫn còn ở tình trạng chung, cần phải có hướng dẫn tiếp theo của các bộ, ngành thì mới thực hiện được [14, tr.21]; nội dung của một số văn bản chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác, tạo nên sự không đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật dẫn đến khó áp dụng hoặc việc áp dụng không thống nhất…. Do đó, đã có ý kiến cho rằng, “số lượng các văn bản hướng dẫn rất nhiều (có người đã gọi số văn bản này là “rừng văn bản”) nhưng “khu rừng” này vừa thiếu, vừa thừa, lại còn những chỗ mâu thuẫn, chồng chéo, hạn chế lẫn nhau, đôi khi còn hạn chế chính các văn bản được hướng dẫn” [17, tr.38].

2.2.3. Nguyên nhân của những nhược điểm trong việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

  • Về thể chế: những hạn chế trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ có những nguyên nhân về nhược điểm của thể chế như đã phân tích, nhận xét ở mục 1 Chương này.
  • Chậm bổ sung các quy định để hoàn thiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
  • Về tổ chức thực hiện quy trình:
  • Việc chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với các bộ, ngành trong quá trình soạn thảo còn chưa quyết liệt, thường xuyên ngay từ giai đoạn đầu. Trách nhiệm của các thành viên Chính phủ chưa cao khi tham gia các phiên họp Chính phủ đối với dự thảo văn bản.
  • Thủ trưởng các cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản chưa quan tâm đúng mức đến công tác này. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, tổ chức trong quá trình xây dựng văn bản còn thiếu chặt chẽ và không đồng bộ.

Về nhân lực: Đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật còn yếu về trình độ, kỹ năng xây dựng pháp luật, phân tích chính sách, thẩm định, thẩm tra văn bản quy phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến chất lượng cũng như tiến độ trình Chính phủ thông qua dự thảo văn bản.

Chưa hình thành được cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về các ngành luật, về các lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành, về luật quốc tế. Vì vậy, các cán bộ, công chức khi soạn thảo, thẩm định, thẩm tra có rất ít tài liệu để so sánh, đối chiếu nhằm đảm bảo sự phù hợp, thống nhất, đồng bộ của văn bản với đường lối, chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước, với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.Luận văn: Thực trạng quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Luận văn: Hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật của Chính phủ

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x