Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng phát triển Việt Nam –Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NH Phát triển Chi nhánh Hải Phòng
2.1.1 Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Vietnam Development Bank – VDB)
Vào đúng ngày kỷ niệm 116 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển.
Trải qua 5 năm hình thành và hoạt động của VDB theo mô hình mới, một thời gian chưa phải là dài đối với một tổ chức song tập thể 3.000 cán bộ viên chức VDB đã nỗ lực không ngừng, sáng tạo, đoàn kết, vượt qua thách thức, hoàn thành nhiệm vụ được giao và VDB đã từng bước phát huy vai trò của một Ngân hàng chính sách của Chính phủ, trở thành một định chế tài chính quan trọng cung cấp nguồn lực tài chính cho tăng trưởng kinh tế, có những đóng góp nhất định vào sự thành công của các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế và tăng trưởng kinh tế của đất nước. Kết quả hoạt động của VDB gắn liền với kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm qua của Chính phủ, là một mốc son trong tiến trình phát triển của đất nước.
Ngày 19/05/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng phát triển Việt Nam (NHPT) trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển (HTPT) để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 110/2006/QĐ-TTg về việc phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của NHPT. Tiếp đó, ngày 30/3/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Đặc điểm về chức năng nhiệm vụ của ngân hàng phát triển Việt Nam
- a. Chức năng
Vốn Điều lệ của NHPT là 5.000 tỷ đồng từ nguồn vốn điều lệ hiện có của Quỹ Hỗ trợ phát triển. Tại Quyết định số 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007, Thủ tướng Chính phủ quyết định: Ngân hàng Phát triển Việt Nam thuộc sở hữu nhà nước, có vốn điều lệ là 10.000 tỷ đồng.
Hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Ngân hàng Phát triển được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Thời hạn hoạt động của Ngân hàng Phát triển là 99 năm, kể từ ngày Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập NHPT có hiệu lực.
- b. Nhiệm vụ:
Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu theo quy định của Chính phủ;
Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định;
Nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác giữa Ngân hàng Phát triển với các tổ chức uỷ thác;
Uỷ thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng Phát triển;
Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của Ngân hàng Phát triển theo quy định của pháp luật.
Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tín dụng đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu.
2.1.2. Ngân hàng Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Được thành lập theo Quyết định số 03/QĐ –NHPT ngày 01/7/2006 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Phát triển Việt Nam về việc thành lập Chi nhánh Ngân hàng Phát triển tại các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương.
Sơ đồ tổ chức bộ máy
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng ban
a. PHÒNG TỔNG HỢP.
- Chức năng:
Phòng Tổng hợp là đơn vị thuộc Chi nhánh NHPT Hải Phòng, có chức năng tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh và tổ chức thực hiện các hoạt động:
- Xây dựng và điều hành các kế hoạch hoạt động nghiệp vụ của Chi nhánh;
- Huy động, quản lý, điều hành và cân đối nguồn vốn tại Chi nhánh;
- Thẩm định dự án đầu tư.
- Công tác tổng hợp, báo cáo thống kê.
- Công tác tự đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ.
b. PHÒNG KIỂM TRA KIỂM SOÁT NỘI BỘ
- Chức năng: Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ là đơn vị thuộc Chi nhánh NHPT Hải Phòng, có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Chi nhánh tổ chức triển khai công tác kiểm tra, giám sát toàn diện các hoạt động phát sinh tại Chi nhánh; công tác pháp chế; giải quyết khiếu nại tố cáo; phòng chống tham nhũng; phòng chống rửa tiền tại Chi nhánh.
c. PHÒNG TÍN DỤNG 1
- Chức năng:
Phòng Tín dụng 1 là đơn vị thuộc Chi nhánh, có chức năng tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động nghiệp vụ về cho vay Tín dụng đầu tư; hỗ trợ sau đầu tư; cho vay thí điểm; cấp phát ủy thác; kiểm soát cho vay dự án đường ô tô cao tốc Hà nội – Hải Phòng; thực hiện chính sách khách hàng.
d. PHÒNG TÍN DỤNG 2
- Chức năng:
Phòng Tín dụng 2 là đơn vị thuộc Chi nhánh, có chức năng tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động nghiệp vụ về cho vay Tín dụng đầu tư đối với các chủ đầu tư được Giám đốc giao quản lý trong từng thời kỳ; bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của Ngân hàng thương mại; cho vay doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế; hỗ trợ sau đầu tư; cấp phát ủy thác; cho vay xúc tiến; thực hiện chính sách khách hàng.
e. PHÒNG TÍN DỤNG 3
- Chức năng:
Phòng Tín dụng 3 là đơn vị thuộc Chi nhánh, có chức năng tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh và tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động nghiệp vụ về cho vay Tín dụng xuất khẩu, cho vay lại vốn nước ngoài (ODA), bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của Ngân hàng thương mại; cho vay ủy thác, cho vay theo quyết định số 87/2023/QĐ-TTg ngày 24/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ; thực hiện chính sách khách hàng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
f. PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN – KHO QUỸ
- Chức năng:
Phòng Tài chính kế toán – kho quỹ (TCKT-KQ) là đơn vị thuộc Chi nhánh NHPT Hải Phòng, có chức năng tham mưu cho Giám đốc Chi nhánh và tổ chức thực hiện công tác quản lý tài chính, công tác kế toán, thanh toán, tiền lương, kho quỹ theo quy định pháp luật và của NHPT.
g. PHÒNG HÀNH CHÍNH QUẢN LÝ NHÂN SỰ
- Chức năng:
Phòng Hành chính quản lý nhân sự (viết tắt là Phòng HCNS) là đơn vị thuộc Chi nhánh NHPT Hải Phòng có chức năng tham mưu giúp Giám đốc Chi nhánh quản lý và tổ chức thực hiện các công tác: Tổ chức và cán bộ, tiền lương, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, hành chính – quản trị; đào tạo; Theo dõi việc thực hiện nội quy, quy chế làm việc và công tác an ninh, an toàn tại Chi nhánh.
2.2. Khái quát về hoạt động kinh doanh của ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Phòng.
2.2.1. Kết quả kinh doanh của CN Ngân hàng phát triển Hải Phòng
Các ngân hàng luôn quan tâm đến vấn đề làm thế nào để có thể đạt lợi nhuận cao nhất và có mức độ rủi ro ở mức thấp nhất, đồng thời vẫn thực hiện được kế hoạch kinh doanh của ngân hàng. Đây chính là mục tiêu hàng đầu của Ngân hàng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của minh. Để thấy rõ hơn hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong thời gian qua, ta xem bảng số liệu sau:
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả kinh doanh.
ĐVT: triệu đồng Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
| Chỉ tiêu | Năm 2024 | Năm 2025 | So sánh | |
| (+/-) | (%) | |||
| Doanh thu thuần | 62.032 | 78.172 | 16.140 | 26,02% |
| Doanh thu lãi | 53.219 | 55.212 | 1.993 | 3,7% |
| Chi phí | 60.310 | 76.012 | 15.702 | 26,04% |
| Chi phí lãi | 39.211 | 45.812 | 6.601 | 16,83% |
| Lợi nhuận trước thuế | 1.722 | 2.160 | 438 | 25,4% |
| Lợi nhuận sau thuế | 1.291,5 | 1.620 | 328,5 | 25,4% |
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng VDB)
Bảng số liệu trên cho thấy hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua 2 năm 2024 và 2025 đều có hiệu quả. Lợi nhuận trước thuế đều dương và có xu hướng tăng trưởng với tốc độ 25%. Kết quả đó có được là do sự quản trị hoạt động ngân hàng có hiệu quả.
Doanh thu năm 2025 tăng hơn 16 triệu đồng so với doanh thu năm 2024 tương ứng với tỷ lệ tăng 26,02%, kết quả có được là do ngân hàng tiếp tục duy trì được các khoản tín dụng với những khách hàng truyền thống và mức lãi suất có chiều hướng ổn định; đồng thời ngân hàng tiếp cận được nhu cầu vốn của các doanh nghiệp công ty trong địa bàn đang thực hiện cấu trúc lại vốn và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Mức chi phí năm 2025 cũng tăng 15.702 triệu đồng so với năm 2024 tương ứng với tỷ lệ 26,04%. Tuy nhiên chi phí lãi lại có chiều hướng gia tăng hơn so với năm 2024. Sở dĩ chi phí lãi tăng là do ngân hàng thực hiện huy động các nguồn vốn trung, dài hạn hơn để thực hiện cho các kế hoạch tín dụng trong tương lai và để cạnh tranh trên thị trường huy động ngân hàng phải chấp nhận cạnh tranh lãi suất bằng một số chi phí phụ trợ khác cho khách hàng, linh hoạt lãi suất cho các khoản vốn huy động lớn.
2.2.2. Hoạt động huy động vốn Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Nhìn chung trong những năm 2023, 2024, 2025 tình hình sản xuất, kinh doanh dịch vụ của cả nước không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, nhiều biến động trên thị trường trong và ngoài khu vực đã không thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước sản xuất kinh doanh do năng lực tài chính, kỹ thuật công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu, vốn tự có thấp và nhỏ, nợ lớn ở nhiều đơn vị… Việc tăng giá điện, xăng dầu, ngoại tệ… kéo theo giá thành sản phẩm của nhiều loại hàng hoá tăng lên; thêm vào đó là việc nhập lậu, trốn thuế, ngày càng gia tăng làm cho hàng hoá trong nước không thể nào cạnh tranh nổi, gây khó khăn cho sản xuất trong nước. Mặt khác do khủng hoàng kinh tế toàn cầu khiến sức mua của dân có phần chững lại, có chiều hướng giảm sút làm cho nhiều doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả; một số doanh nghiệp thiếu việc làm, công nhân phải nghỉ làm vì sản phẩm làm ra bị ứ đọng.
Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp khó khăn đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh dịch vụ của ngân hàng. Tình trạng gia hạn nợ, chuyển nợ quá hạn đang có chiều hướng gia tăng, dẫn đến hoạt động tín dụng ngân hàng bị hạn chế.
Để đối phó với thực trạng nêu trên, trong công tác chỉ đạo kinh doanh dịch vụ tiền tệ Ngân hàng của Ngân hàng phát triển Việt Nam đã kết hợp công tác chấn chỉnh hoạt động Ngân hàng với việc thực hiện phương án kinh doanh lấy mục tiêu “Hiệu quả kinh doanh gắn liền với an toàn vốn” làm tư tưởng chỉ đạo để động viên cán bộ công nhân viên hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh do Ngân hàng đã đề ra. Bên cạnh đó, hoạt đông tín dụng được định hướng từng bước theo tỉ lệ đầu tư, cho vay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, ưu tiên đáp ứng yêu cầu của các công ty cổ phần, công ty TNHH có uy tín trong hoạt động và thanh toán, các dự án có tính khả thi cao. Nhờ có mục tiêu đó Ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Phòng đã đạt được kết quả như sau:
- Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng phát triển Việt Nam
Tiền gửi: để mở rộng và phát triển hoạt động ngân hàng theo hướng ngân hàng đa năng, với nhiều sản phẩm và dịch vụ ngân hàng hiện đại, đáp ứng nhu cầu của xã hội và đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế, Chi nhánh đã tiến hành mở rộng công tác huy động vốn và đẩy mạnh đầu tư, từng bước lành mạnh hoá tình hình tài chính thông qua việc thành lập thêm điểm giao dịch và một số quỹ tiết kiệm, tăng cường cho vay đối với các đối tượng kinh tế tại các địa bàn trung tâm, các khu dân cư, khu công nghiệp… Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Với một cách làm mới, hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng VDB Hải Phòng trong những năm gần đây đã đạt được những thành quả nhất định, dần khắc phục được những tồn tại từ nhiều năm trước để lại, thể hiện ở một số mảng hoạt động chủ yếu sau:
Bảng 2.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động
Đơn vị: triệu đồng
| Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 | ||||
| Số dư | Tỷ trọng | Số dư | Tỷ trọng | Số dư | Tỷ trọng | |
| TỔNG VỐN HUY ĐỘNG | 160.117 | 100% | 180.309 | 100% | 254.366 | 100% |
| Theo kì hạn | ||||||
| – Không kì hạn | 49.875 | 31,14% | 75.658 | 41.96% | 64.100 | 25.19% |
| – Có kì hạn | 110.242 | 68,86% | 104.651 | 58,04% | 190.266 | 74,80% |
| Theo loại tiền | ||||||
| – VND | 98.126 | 61,28% | 120.348 | 66,75% | 198.586 | 78,07% |
| – Ngoại tệ và vàng | 62.051 | 38,72% | 59.961 | 33,25% | 55.780 | 21,93% |
Nhìn vào bảng số liệu 2.2 bên trên ta có thể thấy tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng qua 3 năm đều có sự tăng trưởng rất rõ rệt. Nếu năm 2023, tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng là 160.117 triệu đồng thì đến năm 2024 đã tăng lên đạt ngưỡng 180.309 triệu đồng, tăng 20.192 triệu đồng tương đương tăng 12,6%. Còn đến năm 2025 con số này đã có sự tăng trưởng khá mạnh, tăng 74.057 triệu đồng tương đương 41,1% so với năm 2024, dừng lại ở mức là 254.366 triệu đồng. Như vậy có thể thấy tuy giai đoạn năm 2023 – 2025 là một giai đoạn kinh tế đầy sự biến động và bất ổn nhưng Ngân hàng với vị thế là một ngân hàng Nhà nước hoạt động lâu năm, có thương hiệu uy tín với các tổ chức và cá nhân kinh tế nên lượng tiền vốn huy động vẫn tăng trưởng một cách đều đặn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Đi sâu vào phân tích tổng nguồn vốn huy động theo kỳ hạn, ta có thể thấy nguồn vốn huy động không kì hạn luôn chiếm tỷ lệ thấp hơn so với nguồn vốn có kì hạn. Điều này là hoàn toàn đúng và cho thấy sự an toàn bởi lẽ nguồn vốn huy động không kì hạn là một nguồn vốn không có tính ổn định cao và dễ đem lại rủi ro cho ngân hàng. Tuy nhiên có thể thấy vào năm 2024, ngân hàng đã để tỷ lệ nguồn vốn không kì hạn tăng trưởng một cách quá cao. Nếu năm 2023, nguồn vốn không kỳ hạn là 49.875 triệu đồng chiếm 31,14% tổng nguồn vốn huy động thì đến năm 2024 nó đã tăng lên thành 75.658 triệu đồng, tăng 25.783 triệu đồng tương đương 51,7%. Điều này cũng là dễ hiểu bởi năm 2024 là năm nền kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong 3 năm 2023 – 2025 bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Thời gian này tất cả các khách hàng đều đang rất hoang mang về sự an toàn về nguồn tiền gửi của mình đồng thời nhu cầu gửi tiền không kì hạn cũng bị đẩy lên cao hơn bao giờ hết. Tuy nhiên nắm được điều này ngân hàng sang đến năm 2025, cũng đã thực thi một loạt các chính sách huy động hiệu quả để cải thiện tình trạng này, và có thể nói ngân hàng đã đạt được các thành công nhất định. Năm 2025 tuy tổng nguồn vốn huy động có một sự tăng trưởng mạnh mẽ nhưng xét riêng về nguồn vốn huy động không kì hạn lại có sự giảm sút. Năm 2025 nguồn vốn không kì hạn đạt 64.100 triệu đồng giảm 11.558 triệu đồng, chiếm 25,19% trên tổng nguồn vốn huy động. Nhưng nhìn chung ngân hàng cần cố gắng cân đối tỷ lệ nguồn vốn huy động của mình một cách hợp lý hơn nữa bởi nguồn vốn huy động không kì hạn là một nguồn vốn vô cùng không ổn định nên cần phải giảm tỷ lệ của chúng trên tổng nguồn vốn một cách tích cực hơn nữa.
Xét về tình hình nguồn vốn huy động theo loại tiền gửi ta thấy có một sự trái ngược. Nếu nguồn vốn huy động theo tiền gửi VNĐ có sự tăng trưởng đều đặn trong 3 năm 2023 – 2025 thì ngược lại, loại nguồn vốn huy động theo ngoại tệ và vàng lại có xu hướng giảm dần. Điều này có thể nói là hoàn toàn dễ hiểu. Trong tình hình nền kinh tế đang bị khủng hoảng toàn cầu thì sự giảm sút về mặt xuất nhập khẩu cũng như là sự đầu tư của các tổ chức nước ngoài vào Việt Nam đều có xu hướng giảm sút. Do vậy nên dẫn đến tình trạng giảm sút nhu cầu gửi tiền ngoại tệ. Nhưng có thể thấy sự giảm sút này cũng không quá lớn. Nếu năm 2023 nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ và vàng đạt mức 62.051 triệu đồng thì đến năm 2025 đạt mức 55.780 triệu đồng, chỉ giảm 6.271 triệu đồng, có thể nói là một lượng giảm không đáng kể trong 3 năm. Nhưng ngược lại thì nguồn vốn huy động bằng VNĐ lại có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Nếu năm 2023, nguồn vốn huy động bằng VNĐ đạt 98.126 triệu đồng thì đến năm 2025 đã tăng lên 100.460 triệu đồng tương đương 102,4% so với năm 2023, đạt mức 198.586 triệu đồng. Như vậy tại thời điểm cuối năm 2025, nguồn vốn huy động bằng VNĐ đã đạt mức gấp hơn 2 lần so với con số ở thời điểm cuối năm 2023.
Như vậy nhìn chung tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng mặc dù là trong tình hình kinh tế đầy khó khăn nhưng cũng đã có những bước tiến vững chắc. Tuy nhiên ngân hàng cần chú ý cân đối lại tỷ lệ giữa nguồn vốn huy động không kỳ hạn với có kỳ hạn để giảm thiểu các rủi ro tài chính trong tương lai. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
2.2.3. Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu cho Chi nhánh, là một nghiệp vụ có thế mạnh của Chi nhánh. Chi nhánh đã tích cực trong việc tìm kiếm và thu hút khách hàng bằng nhiều chính sách khách hàng hấp dẫn. Kết quả hoạt động tín dụng như sau:
Bảng 2.3. Hoạt động tín dụng
ĐVT: triệu đồng
| Chỉ tiêu | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 | So sánh 2023-2024 | So sánh 2024-2025 | ||
| Số tiền | % | Số tiền | % | ||||
| Doanh số cho vay | 121.375 | 183.221 | 215.306 | 61.846 | 50,95 | 32.085 | 17,51 |
| Doanh số thu nợ | 116.457 | 161.975 | 174.320 | 45.518 | 39,09 | 12.345 | 7,62 |
| Tổng dư nợ | 113.278 | 131.310 | 163.178 | 18.032 | 15,91 | 31.868 | 24,26 |
Nhìn vào số liệu của báng 2.3 , ta có thể thấy toàn cảnh tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Phòng. Ta thấy đã có sự thay đổi trong 3 năm, điều đáng mừng là cả doanh số cho vay, doanh số thu nợ và tổng dư nợ đều tăng dần qua các năm.
- Xét cụ thể về doanh số cho vay:
Biểu đồ 2.1: Doanh số cho vay qua các năm. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Nhìn vào biểu đồ 2.1 ta có thể thấy doanh số cho vay của năm 2024 là 183.221 triệu đồng đã tăng 61.846 triệu đồng tương ứng với 50,95 % so với năm 2023. Đến năm 2025 thì con số đã được tăng lên thêm 32.085 triệu đồng tương đương với tăng 17,51 % só với năm 2024. Như vậy có thể thấy doanh số cho vay khá ổn định và tăng dần qua 3 năm. Sở dĩ năm từ năm 2024 đến năm 2025 doanh số cho vay có tốc độ tăng có phần giảm sút so với giai đoạn năm 2023 – 2024 bởi lẽ từ cuối năm 2024 chúng ta đã bị chịu hậu quả nặng nề từ khủng hoảng kinh tế do với ngân hàng đã phải có chính sách cho vay chặt chẽ hơn.
- Về doanh số thu nợ và tổng dư nợ cũng không nằm ngoài xu hướng đó:
Biểu đồ 2.2: Doanh số thu nợ và Tổng dư nợ qua các năm.
Có thể thấy trong giai đoạn đầy biến động do khủng hoảng kinh tế như vậy mà ngân hàng vẫn giữ được doanh số thu nợ tăng đều qua các năm. Điều đó cho thấy ngân hàng đang có chính sách khá hiệu quả. Cả doanh số cho vay và doanh số thu nợ đều tăng cho thấy không chỉ là năng lực cho vay mà cả năng lực quản lý, thu hồi nợ của ngân hàng đều rất tốt.
Về tổng dư nợ thì cũng có sự thay đổi tăng dần qua các năm. Cụ thể là năm 2024 dư nợ tín dụng tăng 45.518 triệu đồng, tương ứng với 39,09% so với năm 2023. Đến năm 2025 số dư nợ tín dụng có tăng thêm 7,62% tương ứng với 12.345 triệu đồng đạt 310.868 triệu đồng.
Để đạt được kết quả trên , ngân hàng đã phải luôn bám sát các đơn vị đã phát sinh nợ quá hạn từ năm cũ để bàn biện pháp xử lý tài sản trả nợ cho ngân hàng. Nhìn chung trong 3 năm qua, hoạt động tín dụng của ngân hàng đã gặp không ít khó khăn do tình hình kinh tế chung và tình hình lạm phát trong nước cao, nhiều doanh nghiệp không trụ vững nổi dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp phá sản hàng loạt. Tuy nhiên ngân hàng vẫn tích cực trong việc thu hồi các khoản nợ quá hạn, đồng thời tìm kiếm khách hàng tăng doanh số cho vay.
Bảng 2.4: Dư nợ tín dụng
ĐVT: triệu đồng
| Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 | So sánh 2023-2024 | So sánh 2024-2025 | ||
| Số tiền | % | Số tiền | % | |||
| 113.278 | 131.310 | 163.178 | 18.032 | 15,91 | 31.868 | 24,26 |
(nguồn: báo cáo phòng tín dụng)
Nhìn vào bảng số liệu 2.4 trên ta thấy có sự thay đổi từ năm 2023 đến nắm 2025. Cụ thể là năm 2024 dư nợ tín dụng tăng 15,91% so với năm 2023, đạt 18.032 triệu đồng, đến năm 2025 số dư nợ có tăng thêm 24,26% tương ứng với 31.868 triệu đồng. điều nay do tình hình kinh tế năm 2023 chịu ảnh hưởng nặng nề ủa cuốc khủng hoảng kinh tế. Thế giới năm 2022, chỉ số lạm phát trong nước cao nên hoạt động tín dụng của ngân hành bị ảnh hưởng. Năm 2024, tình hình kinh tế trong nước và địa bàn Hải Phòng đã ổn định nên hoạt động tín dụng có xu hướng tăng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
2.2.4. Một vài nét về địa bàn hoạt động của Ngân hàng phát triển Hải Phòng
Chi nhánh ngân hàng phát triển Hải Phòng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trên địa bàn thành phố Hải Phòng, thành phố cấp 1 của quốc gia với những tiềm năng to lớn về cảng biển, du lịch, công nghiệp. Đây là nơi tập trung rất nhiều loại hình doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong thời gian qua Hải Phòng là một trong những thành phố có tốc độ tăng trưởng lớn trong cả nước, tốc độ đầu tư đổi mới sản xuất, đầu tư xây dựng cơ bản tăng mạnh trong 10 năm qua. Ngoài ra hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thành phố cũng được quan tâm đáng kể đẫ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hơn. Chính vì vậy nhu cầu vốn nói chung cho đầu tư và nhu cầu vay vốn ngân hàng nói riêng của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố là khá lớn. Đây là một trong những thuận lợi cho ngân hàng phát triển Hải Phòng.
Bên cạnh đó với những thay đổi trong chính sách kinh tế, pháp lý đã tạo điều kiện thuận lợi và môi trường thông thoáng cho sự hình thành, hoạt động của các loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy rằng đây là thành phần kinh tế có quy mô hoạt động chưa lớn nhưng lại rất nhạy bén với nhu cầu xã hội, đa dạng linh hoạt trong kinh doanh. Tuy nhiên, khi môi trường kinh doanh trở nên thong thoáng hơn, dễ dàng hơn thì cũng xuất hiện những kẽ hở, hạn chế trong quản lý để những doanh nghiệp “ma”, kẻ xấu dễ dàng lợi dụng để trục lợi, lừa đảo. Chính vì thế các ngân hàng nói chung phải tích cực trong việc tìm kiếm thông tin, thẩm định tín dụng đối với khách hàng vay vốn để sàng lọc lựa chọn khách hàng có đủ điều kiện vay để cấp vốn; đồng thời không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán bộ nhân viên ngân hàng.
Trên địa bàn thành phố Hải Phòng cũng là nơi có lượng lớn ngân hàng, chi nhánh ngân hàng, phòng giao dịch của rất nhiều loại hình ngân hàng. Các ngân hàng cạnh tranh rất khốc liệt trong việc tìm kiếm thị trường đầu vào và đầu ra của mình. Các ngân hàng không ngừng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, đa dạng các loại hình sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, thái độ phục vụ chuyên nghiệp, nhanh chóng, ân cần. Đây vừa là thế mạnh của các ngân hàng vừa là “vũ khí: để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
2.3 Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng tại CN ngân hàng phát triển Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
2.3.1 Đánh giá chất lượng tín dụng qua các chỉ tiêu định tính
2.3.1.1 Chính sách tín dụng
Đối với khách hàng cá nhân, ngân hàng triển khai các các sản phẩm sau:
Cho vay du lịch dành cho người cao tuổi
- Mức cho vay: từ 5 triệu đồng đến tối đa 100% Chi phí chuyến du lịch dành cho hai người
- Thời hạn cho vay : Tối đa đến 36 tháng.
- Loại tiền cho vay: Đồng Việt Nam (VNĐ).
- Lãi suất, phí: Theo quy định của VDB trong từng thời kỳ.
Phương thức trả nợ: Nợ gốc được trả theo định kỳ hàng tháng phù hợp với điều kiện của từng khách hàng.Khách hàng có thể chọn một trong các cách tính lãi suất khác nhau, phương thức trả lãi linh hoạt.
- Cho vay mua xe ô tô
Thời hạn cho vay
- Cách 1: được xác định trên cơ sở nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng, tối đa có thể lên đến 72 tháng
- Cách 2: linh hoạt, tối đa có thể lên đến 72 tháng
- Loại tiền cho vay: Việt Nam Đồng (VNĐ). Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
- Mức cho vay: Tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng trả nợ của khách hàng nhưng tối đa không quá 90% giá trị xe mua.
- Phương thức trả nợ gốc và lãi: Linh hoạt tùy theo thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng.
Cho vay cầm cố chứng khoán niêm yết để kinh doanh chứng khoán
- Lợi ích: Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn ngắn hạn để kinh doanh chứng khoán của khách hàng.
- Đối tượng khách hàng
- Cá nhân là người Việt Nam, hoặc người nước ngoài cư ngụ tại Việt Nam (trên 12 tháng) thực hiện vay cầm cố chứng khoán niêm yết để kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam.
- Các doanh nghiệp thực hiện vay cầm cố chứng khoán niêm yết để kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam.
- Mục đích cho vay: Để kinh doanh chứng khoán.
- Thời hạn cho vay:Tối đa không quá 06 tháng.
- Loại tiền cho vay: Bằng đồng Việt Nam (VND).
Chứng khoán cầm cố: Chứng khoán đã được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM hoặc Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và được VDB chấp thuận theo từng thời kỳ.
Repo cổ phiếu chưa niêm yết.
- Đối tượng: Khách hàng là cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.
- Thời hạn hợp đồng:Thời hạn của mỗi kỳ hạn mua lại cổ phiếu tối đa không quá 12 tháng.
- Loại cổ phiếu VDB nhận thực hiện Repo: Là các cổ phiếu chưa niêm yết và được VDB chấp thuận theo từng thời kỳ.
2.3.1.2. Quy trình tín dụng
Bước 1: Tiếp nhận nhu cầu vay vốn và hướng dẫn khách hàng thủ tục vay vốn.
Bước 2: Thẩm định hồ sơ tín dụng Nội dung thẩm định.
- Thẩm định sơ bộ hồ sơ tài liệu do khách hàng cung cấp
- Nội dung thẩm định cụ thể:
- Năng lực khách hàng.
- Khả năng tài chính.
- Tình hình sản xuất và bán hàng.
- Phân tích về tài chính khách hàng.
- Phân tích thẩm định dự án đầu tư,phương án sản xuất kinh
- Quan hệ với các tổ chức tín dụng ; CVQHKH đánh giá quan hệ của khách hàng với Ngân hàng và các tôt chức tín dụng khác bao gồm cả quá khứ lẫn hiện tại, lấy thông tin CIC. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
- Đánh giá lợi ích cuả ngân hàng nếu khoản vay được phê duyệt.
- Phân tích,thẩm định biện pháp bảo đảm tiền
- Điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng; Lập tờ trình thẩm định(theo mẫu)
Bước 3: Quyết định tín dụng.
Sau khi nhận được tờ trình/ báo cáo thẩm định cùng với toàn bộ hồ sơ vay vốn do Cấp kiểm soát tín dụng trình,cấp có thẩm quyền tín dụng kiểm tra lại các thông tin tại tờ trình,đánh giá tính khả thi,hiệu quả của khoản vay,căn cứ phạm vi quyền hạn được phân công,ra quyết định và ghi dõ nội dung sau tờ trình:
- Đồng ý cho vay: ghi rõ mức cho vay, các điều kiện cho vay (nếu có), ký tên, ghi ngày ký tên và chuyển trả hồ sơ.
- Từ chối cho vay: trong trường hợp này, ghi rõ lý do không đồng ý cho vay, ký tên, ghi ngày ký tên và chuyển trả hồ sơ.
- Trong trường hợp vượt quyền hạn được phân công,Cấp quyết định tín dụng trình cấp có thẩm quyền quyết định tín dụng cao hơn theo quy định xử lý.
Bước 4 : Hoàn thiện hồ sơ và ký hợp đồng tín dụng .
Bước 5: Giải ngân.
- Sau khi lập hồ sơ giải ngân, CVQLTD chuyển hồ sơ giải ngân sang cho Bộ phận DVKH để thực hiện giải ngân và hoạch toán.Hồ sơ giải ngân chuyển cho Bộ phận DVKH gồm có;
- Hợp đồng tín dụng.
- Khế ước nhận nợ.
- Giấy lĩnh tiền mặt, Ủy nhiệm
- Phiếu nhập ngoại bảng tài sản bảo đảm (nếu có)
- Bộ phận dịch vụ khách hàng có trách nhiệm kiểm tra lại Ủy nhiệm chi, giấy lĩnh tiền mặt,…phù hợp với nội dung của Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã được duyệt và tiến hành giải ngân cho khách hàng.
Bước 6: Theo dõi và kiểm tra giải ngân sau khi cho vay
Bước 7: Thu nợ gốc, lãi và phí khoản vay.
Bước 8: Thanh lý hợp đồng tín dụng.
- Khi bên vay trả xong nợ gốc và lãi thì hợp đồng tín dụng đương nhiên hết hiệu lực và các bên không cần lập biên bản thanh lý hợp đồng.
- Trường hợp bên vay yêu cầu, CVLTD soạn thảo biên bản thanh lý hợp đồng trình Cấp kiểm soát tín dụng và trình cấp có thẩm quyền ký biên bản thanh lý.Việc giải chấp tài sản bảo đảm thực hiện theo Quy định Bảo đảm tiền vay.
2.3.2. Đánh giá chất lượng tín dụng qua các chỉ tiêu định lượng Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
- Chỉ tiêu dư nợ và kết cấu dư nợ
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu cho Chi nhánh, là một nghiệp vụ có thế mạnh của Chi nhánh. Chi nhánh đã tích cực trong việc tìm kiếm và thu hút khách hàng bằng nhiều chính sách khách hàng hấp dẫn. Kết quả hoạt động tín dụng như sau:
Bảng 2.5: Dư nợ và kết cấu dư nợ
ĐVT: triệu đồng
| Chỉ tiêu | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 | |||
| Số tiền | % | Số tiền | % | Số tiền | % | |
| Theo kì hạn | ||||||
| Ngắn hạn | 71.478 | 63,1 | 77.735 | 59,2 | 113.571 | 69,6 |
| Trung, dài hạn | 41.800 | 36,9 | 53.575 | 40,8 | 49.607 | 30,4 |
| Theo thành phần kinh tế | ||||||
| DN QD | 22.768 | 20,1 | 25.868 | 19,7 | 35.735 | 21,9 |
| DN ngoài QD | 64.115 | 56,5 | 79.967 | 60,9 | 107.371 | 65,8 |
| Hộ GĐ, cá nhân | 26.395 | 23,4 | 25.475 | 19,4 | 20.072 | 12,3 |
| Theo ngành nghề kinh doanh | ||||||
| Công nghiệp | 64.228 | 56,7 | 78.392 | 59,7 | 98.069 | 60,1 |
| Nông nghiệp | 16.538 | 14,6 | 20.746 | 15,8 | 24.966 | 15,3 |
| Dịch vụ | 32.512 | 28,7 | 32.172 | 24,5 | 40,143 | 24,6 |
| Theo tiền tệ | ||||||
| VNĐ | 77.142 | 68,1 | 92.179 | 70,2 | 123.199 | 75,5 |
| Ngoại tệ quy đổi | 36.136 | 31,9 | 39.131 | 29,8 | 39.979 | 24,5 |
- Trước hết xét về cơ cấu dư nợ tín dụng theo kì hạn: Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Là một ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng đã xác định đúng đắn mức vốn cho vay ngắn hạn trong cơ cấu vốn đầu tư. Trong các năm 2023, 2024, 2025, tỷ trọng cho vay ngắn hạn luôn ổn định ở mức cao, đạt mức gần 60% ở năm 2024 và trên 60% ở năm 2023, 2025. Mục tiêu lợi nhuận luôn đặt lên hàng đầu nên Ngân hàng nhận thấy rõ ràng cho vay ngắn hạn có ưu thế hơn cho vay trung và dài hạn sau khi nghiên cứu kỹ các dự án có tính khả thi, đem lại hiệu quả, góp phần tăng trưởng kinh tế. Đồng thời trong thời điểm kinh tế đang trong thời gian khủng hoảng thì điều đó càng đúng hơn bao giờ hết. Nếu dư nợ ngắn hạn năm 2023 là 71.478 triệu đồng chiếm 63,1% thì đến năm 2024 là 77.735 triệu đồng tăng 6.257 triệu đồng so với năm 2024 nhưng cơ cấu lại giảm xuống chiếm 59,2%. Đến năm 2025, thì con số này đã tăng lên thêm 35.836 triệu đồng đạt mức 113.571 triệu đồng chiếm 69,6% trên tổng dư nợ. Còn dư nợ dài hạn năm 2023 ở mức 41.800 triệu đồng chiếm 36,9% thì đến năm 2024 là 53.575 triệu đồng tăng 11.775 triệu đồng chiếm 40,8% . Còn dư nợ dài hạn năm 2025 ở mức 49.607 triệu đồng chiếm 30.4% giảm xuống 3.968 triệu đồng so với năm 2024.
Xét về mặt cơ cấu nhìn cụ thể các con số ta cũng thấy chi nhánh đang có chiến lược cho vay hoàn toàn hiệu quả. Trước đây Hải Phòng luôn nổi bật trong thị trường bất động sản thì nay các dự án bất động sản đều bị đóng băng và chỉ đến khoảng nửa cuối năm 2025 mới có dấu hiệu phục hồi. Song song đấy là một loạt các tai tiếng của ngành đóng tàu vốn là niềm tự hào của Hải Phòng. Mà vốn các hợp đồng vay bất động sản và vay đóng tàu thường là các hợp đồng vay dài hạn nên điều này lý giải tại sao các khoản vay dài hạn chiếm tỷ trọng không cao trong tổng dư nợ.
Tại ngân hàng, đầu tư tín dụng đã bám sát yêu cầu thực tại, mở rộng đầu tư với mọi ngành nghề kinh tế, sử dụng tối đa nguồn vốn vào tái đầu tư nhằm thu lợi nhuận.
Nhìn vào bảng số liệu ta có thể thấy phát triển theo xu hướng chung của xã hội thì tỷ trọng dự nợ tín dụng của ngành dịch vụ với ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu trong đó ngành thượng mại và dịch vụ ngày càng có xu hướng tăng còn ngành nông nghiệp thì có tỷ trọng ngày càng nhỏ. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Nhìn vào biểu đồ 2.3 ta thấy về dư nợ tín dụng ngành công nghiệp đã có sự tăng trưởng một cách mạnh mẽ còn ngành nông nghiệp và thương mại dịch vụ có tăng trưởng nhưng không nhiều. Nếu năm 2023 dư nợ tín dụng ngành công nghiệp là 64.228 triệu đồng chiếm 56,7% thì đến năm 2024 là 78,392 triệu đồng chiếm 59,7%, tăng lên 14.164 triệu đồng so với năm 2023. Còn năm 2025 con số này đã tăng thêm 19.677 triệu đồng so với năm 2024, đạt mức 98.069 triệu đồng chiếm 60,1%.
Hải Phòng là một thành phố nổi tiếng với các ngành công nghiệp lâu năm như đóng tàu, tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế làm ăn thua lỗ nên sự tăng trưởng ở đây không phải do ngành công nghiệp đóng tàu mà chủ yếu là từ ngành công nghiệp xi măng, ngành công nghiệp khai thác đánh bắt thủy hải sản. Song song với sự phát triển của ngành công nghiệp, Hải Phòng cũng đang từng bước phát triển ngành dịch vụ. Bởi lẽ vốn ngành công nghiệp phát triển kéo theo là hàng loạt các ngành dịch vụ thương mại tăng theo. Đặc biệt Hải Phòng còn sở hữu khá nhiều các địa điểm thu hút khách du lịch. Chính vì vậy tỷ trọng dự nợ ngành dịch vụ đang dần tăng lên. Năm 2023, tỉ trọng ngành dịch vụ ở mức 32.512 triệu đồng chiếm 28.7% thì đến năm 2024 đã đạt mức 32.172 triệu đồng chiếm 24,5% giảm 340 triệu đồng so với năm 2023. Điều này dễ hiểu bởi lẽ trong năm 2024 cả thế giới đang chao đảo bởi khùng hoảng kinh tế do với lượng khách du lịch đã bị giảm đi rất nhiều.
Tuy nhiên đến năm 2025, khi thành phố cho vào hoạt động hàng loạt các khu dịch mới như Hòn Dáu Resort cũng như tổ chức các lễ hội lớn thu hút sự quan tâm của công chúng như lễ hội hoa phượng đỏ, lễ hội Phật Đản,.. Điều này đã kéo ngành du lịch dịch vụ của thành phố đi lên, và chúng được thể hiện qua các con số biết nói. Năm 2025 tỉ trọng ngành dịch vụ đã tăng thêm 7.971 triệu đồng so với năm 2024 đạt mức 40.143 triệu đồng chiếm 24,6%. Cũng theo xu hướng chung của sự phát triển và chuyển dịch ngành kinh tế, cùng với đinh hướng phát triển hải phòng thành một thành phố cảng công nghiệp dẫn đầu cả nước thì ngành nông nghiệp đang dần thu hẹp. Các khu đồng ruộng đang dần được thay thế bởi các nhà máy xí nghiệp, những người nông dân đang dần chuyển thành những người công nhân lành nghề. Chính vì vậy mà tỷ trọng của dư nợ tín dụng của ngành nông nghiệp có tăng nhưng không nhiều và chiếm tỷ trọng ít nhất. Nếu năm 2023 là 16.538 triệu đồng chiếm 14,6% thì năm 2025 là 24.966 triệu đồng tuy tăng 8.428 triệu đồng nhưng về tỷ trọng lại chỉ chiếm 15,3% không có sự tăng trưởng lớn.
Xét theo cơ cấu loại tiền thì năm 2025 dư nợ tín dụng theo ngoại tệ quy đổi là 39.979 triệu đồng chiếm 24,5%, tăng 3.837 triệu đồng so với năm 2023 và tăng 848 triệu đồng so với năm 2024. Như vậy có thể thấy tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng theo ngoại tệ có xu hướng giảm dần. Tuy có tăng về mặt số lượng nhưng lại bị giảm sút khi xét về mặt tỉ trọng. Vốn là một thành phố cảng nên có rất nhiều các công ty xuất nhập khẩu thường xuyên có các hợp đồng vay ngoại tệ. Tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế với sự phá sản của hàng loạt các công ty dịch vụ cảng biển cũng như đóng tàu nên giờ các hợp đồng này chủ yếu là của các khách hàng vay cá nhân với mục đích là dung để thanh toán các khoản phí du học.
Về mặt dư nợ tín dụng VNĐ thì năm 2023 là 77.142 triệu đồng chiếm 68,1%, đến năm 2024 là 92.179 triệu đồng chiếm 70,2% tăng 15.037 triệu đồng so với năm 2023. Còn năm 2025, dư nợ tín dụng đạt 123.199 triệu đồng chiếm 75,5% tăng lên 31.020 triệu đồng so với năm 2024. Như vậy dư nợ VNĐ cũng đã có mức tăng trưởng vượt bậc đặc biệt trong năm 2025 đã có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn so với năm 2024. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
- Biểu đồ 2.3: Dư nợ tín dụng ngành công nghiệp
Như vậy nhìn chung qua những phân tích ở trên ta thấy rằng công tác tín dụng được ngân hàng hết sức quan tâm, từ các chiến lược khách hàng đến những thao tác nghiệp vụ đối với mỗi đối tượng khách hàng, từng gói sản phẩm, dịch vụ. Hoạt động tín dụng của ngân hàng trong những năm qua có thể nói có nhiều thay đổi tích cực và có chiều sâu hơn.
2.3.2.2 Chỉ tiêu nợ quá hạn
Bảng 2.6 : Phân loại nợ của Chi nhánh
ĐVT: triệu đồng
| Chỉ tiêu | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| Tổng dư nợ | 113.278 | 131.310 | 163.178 |
| Nợ đủ tiêu chuẩn | 105.466,84 | 120.448,28 | 147.533 |
| Nợ cần chú ý | 7.131,5 | 10.231,5 | 14.231,4 |
| Nợ dưới tiêu chuẩn | 679,66 | 527,92 | 1.103,4 |
| Nợ nghi ngờ | 0 | 102,3 | 310,2 |
| Nợ có khả năng mất vốn | 0 | 0 | 0 |
| Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư nợ | 6,9% | 8,27% | 9,59% |
| Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ | 0,6% | 0,48% | 0,87% |
(Nguồn: Báo cáo thường niên của phòng Tín dụng)
- Trước hết xét về tỷ lệ nợ quá hạn:
Bảng 2.7: Tỷ lệ nợ quá hạn
ĐVT: triệu đồng Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
| Chỉ tiêu | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| Nợ quá hạn | 7.811,16 | 10.861,72 | 15.645 |
| Dư nợ tín dụng | 113.278 | 131.310 | 163.178 |
| Tỷ lệ nợ quá hạn/ Tổng dư nợ (%) | 6,9% | 8,27% | 9,59% |
(Nguồn : Báo cáo thường niên phòng tín dụng )
Nhìn vào bảng tỷ lệ nợ quá hạn trên ta có thể thấy rõ được tình hình nợ quá hạn tại chi nhánh Hải Phòng trong 3 năm vừa qua. Do năm 2024 chịu ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên nợ quá hạn đã có sự tăng đột biến. Năm 2023, nợ quá hạn chỉ ở mức là 7.811,16 triệu đồng và tỷ lệ nợ quá hạn là 6,9%. Nhưng đến năm 2024 nợ quá hạn đã bị tăng đột biến lên mức 10.861,72 triệu đồng, tăng 3.050,56 triệu đồng so với 2023 và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là 8,27%. Tuy nhiên đến năm 2025, ngân hàng đã tích cực cải thiện tình hình này, nợ quá hạn vẫn tăng 4.783,28 triệu đồng so với năm 2024 và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ là 9,59%. Có thể thấy tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ năm 2025 vẫn ở mức tương đối cao, trên 5%. Do vậy trong năm 2026 này ngân hàng cần phải có các chính sách thu hồi nợ chặt chẽ hơn để tích cực cải thiện tình hình hiện tại.
- Ta tiếp tục xét về tình hình nợ xấu của ngân hàng qua bảng dưới đây:
Bảng 2.8: Tỷ lệ nợ xấu và Cơ cấu nhóm nợ xấu.
ĐVT: triệu đồng
| Chỉ tiêu | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng dư nợ (%) | 0,6% | 0,48% | 0,87% |
| Cơ cấu nợ xấu theo nhóm nợ | |||
| Nợ nhóm 3 | 0,6% | 0,4% | 0,676% |
| Nợ nhóm 4 | 0 | 0,08% | 0,194% |
| Nợ nhóm 5 | 0 | 0 | 0 |
(Nguồn tài liệu: Báo cáo thường niên của Phòng tín dụng) Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Nhìn vào bảng 2.8 ta có thể thấy tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng biến động qua các năm, tuy nhiên điều này có thể hiểu được trong tình hình kinh tế đang chịu sự khủng hoảng toàn cầu. Và đến năm 2025 tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của ngân hàng đã ở mức 0.87% nhưng chưa xuất hiện nợ khó đòi (nợ nhóm 5). Đây là những khoản nợ chủ yếu là nợ đã được khoanh, nợ vay thanh toán công nợ, nợ của những đơn vị đã ngừng hoạt động và nợ của những đơn vị kinh doanh yếu kém nhiều năm chưa được tổ chức, sắp xếp lại. Những khoản nợ này đã gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng tín dụng của Chi nhánh. Cùng với đó là ảnh hưởng nặng nề do khủng hoảng kinh tế khiến các doanh nghiệp phá sản không đủ khả năng chi trả nợ. Song song với đó là sự đóng băng của thị trương bất động sản Hải Phòng.
Tuy nhiên xét theo cơ cấu nhóm nợ thì ta có thể thấy một dấu hiệu khả quan là nợ xấu có chiều hướng tăng lên nhưng tập trung chủ yếu vẫn là nợ nhóm 3, tỷ lệ cao nhất, chưa có nợ khó đòi, nợ có nguy cơ mất vốn . Nắm bắt được tình hình này ngân hàng đã khẩn trương đề ra ngay một số biện pháp để cải thiện tình hình thu hồi nợ trong năm 2026 như:
Cho vay luôn dựa trên 3 nguyên tắc cơ bản:
- Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả lãi lẫn vốn. Nếu các khoản vay không được hoàn trả đúng hạn, thì nhất định sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng.
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích.. Để thực hiện nguyên tắc này thì ngân hàng cho vay yêu cầu khách hàng vay vốn phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã ghi trong đơn xin vay, bởi vì mục đích đó đã được ngân hàng thẩm định nếu phát hiện khách hàng vi phạm nguyên tắc này, ngân hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn nếu khách hàng không có đủ tiền trả nợ thì chuyển thành nợ quá hạn.
- Vay vốn phải có tài sản tương đương làm đảm bảo.Đảm bảo tín dụng là một tiêu chuẩn bổ xung những mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng cũng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trường kinh doanh.
Đối với khách hàng cho vay là cá nhân, hộ gia đình và khách hàng có quy mô vừa và nhỏ.
- Tìm hiểu, phân tích và nhận định thông tin về khách hàng.
- Làm tốt công tác thẩm định trong khi xem xét cho
Đối với khách hàng vay vốn có quy mô lớn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Ban lãnh đạo ngân hàng thực hiện các nguyên tắc cơ bản về kiểm soát và quản lý rủi ro. Nội dung nguyên tắc bao gồm:
- Thứ nhất: Tạo ra môi trường có mực đọ rủi ro hợp lý.
- Thứ hai: xây dựng cấp tín dụng hợp lý.
- Thứ ba: Duy trì quá trình đo lường và quản lý rủi ro.
- Thứ tư: Đảm bảo kiểm soát rủi ro cho vay đầy đủ và nâng cao vai trò của công tác kiểm soát.
Thực hiện tốt công tác giám sát, xếp hạng rủi ro và những biện pháp xử lý thu hồi nợ.
Xem xét kỹ việc giải ngân đối với các sản phẩm đang sốt ảo trên thị trường
- Cho vay phục vụ kinh doanh chứng khoán
- Cho vay kinh doanh các dự án bất động sản có giá trị định giá gấp nhiều lần so với giá trị định giá của ngân hàng
2.3.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng và khả năng quản trị các khoản tín dụng của ngân hàng ta xem xét chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng trong 3 năm từ năm 2023 đến năm 2025.
Bảng 2.9: Vòng quay vốn tín dụng
ĐVT: triệu đồng
| Chỉ tiêu | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| Doanh số thu nợ | 116.457 | 161.975 | 174.320 |
| Dư nợ bình quân | 113.278 | 131.310 | 163.178 |
| Vòng quay vốn tín dụng | 1,02 | 1,23 | 1,06 |
Ở bảng 2.9 cho thấy qua 3 năm, vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng có xu hướng biến động, tuy nhiên có thể thấy là tăng chưa nhiều. Nhưng điều này cũng đã cho thấy tốc độ tăng của doanh số thu nợ lớn hơn so với tốc độ tăng của dư nợ. Điều này rất tốt và cần được duy trì phát huy trong các năm tiếp theo. Vòng quay vốn tín dụng càng cao cho thấy sự luân chuyển vốn càng tốt, chất lượng tín dụng cao. Do vậy trong năm 2026 ngân hàng cần cố gắng phát huy và tăng vòng quay vốn tín dụng lên ở mức trên 2 vòng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
2.3.2.4 Hiệu suất sử dụng vốn tín dụng
Bảng 2.10: Hiệu suất sử dụng vốn
ĐVT: triệu đồng
| Chỉ tiêu | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| Tổng dư nợ | 113.278 | 131.310 | 163.178 |
| Tổng vốn huy động | 160.117 | 180.309 | 254.366 |
| Hiệu suất sd vốn tín dụng | 0,707 | 0,728 | 0,642 |
Nhìn vào hiệu suất tín dụng vốn của chi nhánh ta có thể thấy hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng có sự biến động trong 3 năm vừa qua. Trong năm 2023 ngân hàng có hiệu suất sử dụng vốn là 70%. Và đến năm 2024 con số này đã tiếp tục được tăng lên ở mức 73%. Có thể nói trong thời điểm 2 năm 2023 và 2024 khi duy trì được hiệu suất sử dụng vốn trên 70% là một thành công rất lớn của ngân hàng khi mà các ngân hàng lớn trên địa bàn thậm chí còn khó duy trì được nó ở mức trên 60%. Cũng là nhờ sự chuẩn bị kĩ lưỡng lẫn những bước đi chiến lược đúng đắn mà ngân hàng đã đạt được kết quả khả quan đấy. Đã có sự tăng đột biến giữa cả nguồn vốn huy động lẫn dư nợ tín dụng cùng với cả những phương án kinh doanh, những quyết định thẩm định cho vay đúng đắn. Tuy nhiên đến năm 2025 con số này đã bị giảm xuống 64%. Nhưng đây là một điều hoàn toàn có thể hiểu được khi mà nền kinh tế đang bị ảnh hưởng nặng nề của khủng hoảng kinh tế. Trong thời gian này ngân hàng cần một sự đảm bảo chắc chắn, thực thi những chính sách cho vay thắt chặt nên không thể tránh được việc hiệu suất sử dụng vốn bị giảm sút. Con số này trong năm 2026 có thể được tăng lên tuy nhiên sẽ là không nhiều bởi lẽ nền kinh tế hiện nay vẫn đang trong tình trạng bấp bênh.
2.3.2.5 Thu nhập từ hoạt động kinh doanh tín dụng
Bảng 2.11: Thu nhập từ hoạt động tín dụng
ĐVT: triệu đồng Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
| Chỉ tiêu | Năm 2023 | Năm 2024 | Năm 2025 |
| Tổng thu nhập | 56.268 | 62.032 | 78.172 |
| Thu từ hoạt động tín dụng | 44.217 | 53.219 | 55.212 |
| Tỷ lệ TN từ hoạt động TD | 78,6% | 85,8% | 70,6% |
Nhìn vào bảng 2.11 trên ta thấy tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng hoàn toàn phù hợp với những gì đang diễn ra hiện nay, phản ánh đúng những gì đang diễn ra. Sự tăng giảm của thu nhập từ hoạt động tín dụng hoàn toàn trùng khớp với sự biến động của hiệu suất sử dụng vốn. Có thể nói trong năm 2025 giữ được tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng trên 70% là vô cùng thành công. Điều này cho thấy hiện thời ngân hàng đang thực thi các biện pháp vô cùng hiệu quả trong quãng thời gian đen tối của nền kinh tế như hiện nay. Nó cho thấy ngân hàng có năng lực quản lý cho vay và thu hồi nợ khá chắc chắn. Ngân hàng cần tiếp tục xem xét và phát huy điều này hơn nữa trong tương lai. Hiện nay sang năm 2026 nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi, ngân hàng cần xem xét đến việc nới lỏng hơn một chút chính sách cho vay góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp phục hồi giúp nâng lại nền kinh tế của địa bàn nói riêng và cả nước nói chung. Nhưng nới lỏng hơn không có nghĩa là tăng tính rủi ro lên mà vẫn phải xem xét đủ tiêu chuẩn, đủ điều kiện hay không.
- Đánh giá những thành tựu đạt được và những tồn tại.
- Những thành tựu đã đạt được.
Ngân hàng VDB đã góp phần không nhỏ trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngân hàng VDB đã vận dụng có hiệu quả chế độ cho vay vào hoàn cảnh thực tế nên đã hạn chế rủi ro tín dụng.
Sự phối kết hợp giữa các đồng chí trong Ban giám đốc với các phòng nghiệp vụ, phòng giao dịch trực thuộc gắn kết chặt chẽ, thống nhất trong chỉ đạo điều hành. Phân công cán bộ điều hành trong Ban giám đốc cũng như các trưởng, phó phòng nghiệp vụ rất cụ thể, việc điều hành chủ động, kịp thời và sát thực tế.
Triển khai thể lệ chế độ tín dụng và các quy định trong công tác thẩm định dự án, các văn bản pháp luật của Nhà nước đầy đủ và kịp thời, hiệu quả với các hình thức , cách thức đa dạng. Công tác thẩm định trước khi cho vay luôn được coi trọng. Từ đó đã hạn chế nợ xấu phát sinh. Tổ chức phân tích chất lượng tín dụng, nhằm phân loại đánh giá chất lượng tín dụng, đánh giá tiềm ẩn rủi ro trong kinh doanh. Từ đó đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng và mở rộng đầu tư, phấn đấu hoàn thành kế hoạch được giao. Mở rộng đầu tư tín dụng một cách hiệu quả, ngày càng hoàn thiện hơn trong công tác thẩm định. Kết quả thực hiện chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh được cập nhật kịp thời, đã giúp cho việc điều hành của ban lãnh đạo được thuận lợi.
2.4.2. Những mặt còn hạn chế. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Thực hiện chính sách tín dụng, chính sách khách hàng chưa hiệu quả, thiếu sự linh hoạt. Lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa linh hoạt, còn cao hơn so với các NHTM khác cùng cho vay tại địa bàn thiếu sự cạnh tranh.
Quy mô tín dụng còn nhỏ, tốc độ tăng trưởng chậm, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển kinh tế địa phương, cho vay còn phân tán chưa tập trung đúng mức vào các vùng quy hoạch, các nghành kinh tế mũi nhọn, trọng điểm.
Sản phẩm tín dụng đơn điệu chủ yếu là sản phẩm truyền thống, chưa đưa ra sản phẩm mới, chưa đa dạng hóa hình thức tín dụng, quy trình cho vay thiếu sự linh hoạt các dịch vụ trợ giúp tín dụng chưa phát triển.
Cạnh tranh về lãi suất làm cho thị phần của Ngân hàng VDB bị thu hẹp và gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt những rủi ro trong hoạt động tín dụng buộc các ngân hàng phải thận trọng hơn nữa trong quá trình cấp vốn. Khóa luận: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB
