Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng phát triển Việt Nam-Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của Ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Phòng trong thời gian tới.
Năm 2026 Ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Hải phòng tiếp tục lấy công tác chấn chỉnh hoạt động Ngân hàng để tăng cùng sự ổn định, phát triển tín dụng đúng hướng phù hợp với khả năng quản lý, gắn hiệu quả kinh doanh với an toàn vốn làm tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong công tác tín dụng và mọi lĩnh vực công tác kinh doanh dịch vụ Ngân hàng. Ngân hàng phát triển Việt nam chi nhánh Hải Phòng đề ra mục tiêu sau:
Về công tác huy động nguồn vốn: nguồn vốn huy động trong năm 2026 sẽ tăng 15% đến 20% so với năm 2025. Tổng dư nợ cho vay trong nền kinh tế của Ngân hàng phải tăng lên 20% nữa . Huy động vốn của các tổ chức kinh tế phấn đấu đạt tỷ trọng 31% tăng 4,6% so với năm 2025. Mức lợi nhuận phải lớn hơn năm 2025, tăng 6,9%.
Về công tác cho vay: Phấn đấu đưa tổng mức dư nợ cho vay các thành phần kinh tế đạt tăng 15%.
Tăng cường vững chắc cho vay trung và dài hạn. Hoạt động cho vay trong lĩnh vực trung và dài hạn phải tăng từ 16% đến 20% so với năm 2002. Đồng thời Ngân hàng sẽ phải đa dạng hoá các hoạt động như: cho vay đầu tư xây dựng mới, cải tiến kỹ thuật, bảo lãnh trả chậm. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng, phấn đấu kiềm chế dư nợ quá hạn xuống dưới 5% so với tổng dư nợ. Đồng thời hạn chế tối đa phát sinh nợ quá hạn đối với các khoản cho vay mới.
Năm 2026 Ngân hàng sẽ tập trung vốn cho các mục tiêu, các ngành nghề quan trọng, đáp tốt nhu cầu thu mua chế biến xuất khẩu, mở rộng quan hệ tín dụng đối với các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả kinh tế, đồng thời thu hẹp cho vay đối với các đơn vị kinh tế làm ăn thua lỗ liên miên không có hiệu quả hoặc sử dụng vốn không đúng mục đích và dần dần không cho vay hẳn đối với các đơn vị kinh tế loại này.
- Ngân hàng sẽ mở rộng cho vay trong kinh tế đối ngoại, thực hiện việc giải ngân các dự án đã xét duyệt, mở rộng cho vay đối với các đơn vị hoạt động kinh doanh đối ngoại có hiệu quả, đây là hoạt động có tính chất chiến lược khách hàng lâu dài đối của Ngân hàng. Phấn đấu nâng tỷ lệ thu nhập về kinh doanh dịch vụ đối ngoại từ 3,5 đến 4% trên tổng thu nhập.
- Ngân hàng sẽ có phương án tổng thể và kế hoạch từng bước để xử lý khai thác tài sản thế chấp, bắt nợ đối với các đơn vị, cá nhân có các khoản nợ quá hạn để sớm thu hồi nợ nhằm đòi lại vốn tín dụng của Ngân hàng đã bị các tổ chức, cá nhân này chiếm dụng trong thời gian trước đó.
Ngân hàng sẽ đẩy mạnh việc thu lãi, kể cả đối với lãi thông thường và lãi treo của các khoản cho vay nhằm đem thêm thu nhập cho Ngân hàng; đồng thời sẽ tiết kiệm trong mọi mặt để giảm được các chi phí không cần thiết, và thực hiện tốt kế hoạch tài chính của năm 2026.
Trong năm 2026 này Ngân hàng sẽ tiếp tục việc đào tạo, nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật và công nghệ của cán bộ công nhân viên của mình nhằm từng bước mở rộng và ứng dụng kỹ thuật hiện đại vào trong quá trình kinh doanh. Tập huấn cho Cán bộ công nhân viên nắm vững các quy định về luật Ngân hàng Nhà nước, luật tài chính tín dụng và các văn bản dưới Luật.
Chuẩn bị tốt công tác tổng kết 4 năm hoạt động của Ngân hàng. Đẩy mạnh các hoạt động văn thể gây không khí phấn khởi trong Ngân hàng, tạo nếp sống vui tươi lành mạnh trong toàn thể các Cán bộ công nhân viên của Ngân hàng.
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
3.2.1. Hoàn thiện chính sách tín dụng:
Có thể nói chính sách tín dụng là nhân tố đầu tiên quyết định hướng chiến lược kinh doanh của ngân hàng. Để xây dựng hoàn thiện một chính sách tín dụng phù hợp, Ngân hàng cần quan tâm đến các vấn đề sau:
- Thứ nhất: chính sách tín dụng
Duy trì sự ổn định về hoạt động tín dụng, khắc phục nhanh chóng có hiệu quả các khoản nợ quá hạn, chấn chỉnh kịp thời những tồn tại, thiếu sót trong chấp hành thể lệ nghiệp vụ. Chủ động và tích cực lựa chọn những khách hàng sản xuất kinh doanh có hiệu quả, những dự án có tính khả thi, đủ điều kiện cho vay để tăng dư nợ lành mạnh nhất là đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Loại nhanh những doanh nghiệp, hộ tư nhân làm ăn không nghiêm túc, kinh doanh thua lỗ, thiếu trách nhiệm trả nợ và lãi vay, có hành vi thiếu trung thực ra khỏi lĩnh vực tín dụng của Ngân hàng.
Hết sức coi trọng công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ. Huy động các cán bộ có năng lực về nghiệp vụ tín dụng tăng cường cho phòng kiểm soát để tiến hành kiểm soát 100% các món cho vay phát sinh trong năm 2025 và các khoản cho vay trong năm 2026 của chi nhánh. Duy trì việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất kho thế chấp tài sản. Giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu tố, phản ánh, phát sinh trong năm 2026 không để tồn tại sang năm sau.
Tăng cường mối quan hệ hợp tác có hiệu quả với chính quyền địa phương, viện kiểm soát các quận, huyện để quản lý tín dụng, tạo điều kiện kinh doanh được thuận lợi, an toàn tài sản cho khách hàng vay vốn.
- Thứ hai: chính sách khách hàng Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Trong nền kinh tế thị trường, các khách hàng ngày càng có sự lựa chọn rộng hơn, đòi hỏi chất lượng cao hơn và mong muốn nhận được giá trị lớn hơn cho đồng tiền mà họ bỏ ra. Chính vì vậy, Ngân hàng phải ngày càng quan tâm đến việc phát triển mối quan hệ với khách hàng thay vì khách hàng tự tìm đến Ngân hàng như trước đây. Hiện nay Ngân hàng cần thực hiện chính sách khách hàng để khuyếch trương quảng bá hình ảnh của mình. Các nhân viên của Ngân hàng đồng thời là nhân viên marketing, họ vừa cung ứng sản phẩm, dich vụ vừa thu hút khách hàng trong thái độ niềm nở và sự hiểu biết về sản phẩm của chính Ngân hàng cũng như về xã hội, nắm bắt rất nhanh chóng nhu cầu của khách hàng đến với Ngân hàng.
Tổ chức hội nghị khách hàng là các doanh nghiệp trên địa bàn, hội nghị khách hàng truyền thống. Qua đó Ngân hàng có thể rút ra được kinh nghiệm từ những ý kiến đóng góp của khách hàng, tuyên truyền sâu rộng về Ngân hàng và lợi ích của khách hàng khi đến vay vốn tại Ngân hàng, cũng như tiếp cận các khách hàng mới.
Mở rộng đối tượng cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
Tiếp tục củng cố, tăng cường và mở rộng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các khách hàng truyền thống trên địa bàn. Đó là những khách hàng có quan hệ thường xuyên với Ngân hàng, có nhu cầu đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất thường xuyên.
Theo tâm lý khách hàng thì họ tin tưởng vào hệ thống NHTM quốc doanh hơn các Ngân hàng cổ phần. Vì thế Ngân hàng cần tạo lập, củng cố uy tín khách hàng. Bên cạnh việc tạo lập uy tín với khách hàng, Ngân hàng cần tăng cường chương trình quảng cáo, xây dựng hình ảnh tốt đẹp với khách hàng. Ngoài ra, Ngân hàng VDB có thể áp dụng phương thức chọn mẫu điều tra nhu cầu khách hàng thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
- Thứ ba: lãi suất cho vay Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Ngân hàng cho tăng cường xây dựng chính sách lãi suất hợp lý. Lãi suất phải phù hợp với thời hạn của nguồn tiền huy động, phải có mục tiêu trọng điểm tức là nhằm vào đối tượng cụ thể nào đó như những người có thu nhập cao sẽ có những điều kiện ưu đãi, hoặc dựa vào tổng thể các mối quan hệ Ngân hàng với khách hàng. Việc xây dựng lãi suất hợp lý làm cho Ngân hàng tối ưu hóa lợi nhuận và tùy vào từng thời kỳ mà Ngân hàng có chính sách lãi suất cụ thể.
3.2.2. Mở rộng quy mô tín dụng của ngân hàng Một là, tăng cường công tác huy động vốn
Đối với một Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, việc huy động vốn là một vấn đề hết sức cần thiết bởi Ngân hàng cần phải có vốn tín dụng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tiền tệ tìm kiếm lợi nhuận đồng thời thoả mãn nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn của xã hội ngày càng tăng khi xã hội ngày càng phát triển. Do vậy, để đáp ứng được nhu cầu đó thì Ngân hàng cần phải có được một nguồn vốn huy động ngày càng tăng về mặt số lượng. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh quyết liệt thì Ngân hàng phải có một phương sách huy động vốn thích hợp nhất.
Đẩy mạnh công tác huy động vốn nội tệ và vốn ngoại tệ. Cán bộ tín dụng chuyên quản bám sát các doanh nghiệp, nắm vững thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của từng đơn vị và những diễn biến trên thị trường có liên quan đến sản xuất kinh doanh để có đối sách trong việc đầu tư vốn, đảm bảo các khoản đầu tư mới đạt hiệu quả và an toàn vốn tín dụng.
Một cơ chế lãi suất hợp lý sẽ là một cơ hội để huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế nhàm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nhằm kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.
Áp dụng các hình thức huy động đa dạng hơn để phù hợp với từng khách hàng từ trẻ đến già, từ mọi thành phần kinh tế. Chẳng hạn, với những khoản tiền lớn sẽ có người đến tận nhà, cơ quan… để nhận.
Ngân hàng cần phải mở rộng mạng lưới giao dịch. Tuy nhiên, phải trên cơ sở các mạng lưới cũ đã hoạt động hết công suất và đã được nâng cấp về mặt hình thức cũng như về mặt chất lượng.
Tăng cường hoạt động trên các phương tiện thông tin đại chúng để Ngân hàng tự giới thiệu về mình với khách hàng. Có thể nói cho đến nay trong phần lớn bộ phận dân cư còn chưa hiểu biết đầy đủ về Ngân hàng nên việc làm trên sẽ tạo uy thế cho Ngân hàng trên thị trường nhờ vậy mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư mới có thể tập trung về Ngân hàng. Việc Ngân hàng sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng sẽ xoá bỏ quan niệm không tốt bấy lâu nay về cán bộ tín dụng trong thời kỳ trước của người dân; tránh được hiện tượng “cò tín dụng” mà có khi cán bộ Ngân hàng cũng trực tiếp tham gia lợi dụng sự kém hiểu biết của khách hàng. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Ngân hàng cũng nên đưa ra áp dụng các hình thức huy động mới mẻ như là phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngoại tệ nhằm tạo nguồn vốn ngoại tệ cho Ngân hàng của mình. Tuy vậy Ngân hàng phải xem xét thật kỹ càng về khả năng của mình… trước khi quyết định tham gia vào lĩnh vực này thì mới có thể thành công trong việc thu hút nguồn vốn ngoại tệ này.
Hình thức huy động bằng kỳ phiếu, trái phiếu ngoại tệ rất đã được sử dụng trong một vài năm gần đây, Ngân hàng phải mạnh dạn tiếp tục mở rộng lĩnh vực này để có thể mở ra một hướng đi mới cho mình. Mặc dù Ngân hàng còn bộc lộ nhiều yếu điểm như chưa có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này và bản thân hoạt động của lĩnh vực này khá phức tạp về thủ tục, thời gian chuẩn bị lâu hơn so với các hình thức khác nhưng nó có rất nhiều ưu điểm so với các hình thức huy động khác như:
Cơ cấu nhà đầu tư rộng nên giảm rủi ro cho các nhà đầu tư, mặt khác chủ nợ cũng khó sử dụng quan hệ vay nợ để gây sức ép với con nợ trong các quan hệ khác.
Khả năng thanh toán cao do có thể mua bán trên thị trường thứ cấp nên tương đối hấp dẫn các nhà đầu tư, lý do này cho phép người phát hành có thể được hưởng mức lãi suất ưu đãi hơn so với các hình thức vay nợ khác.
Có thể vay được một số lượng vốn lớn trong một thời gian dài tạo cho Ngân hàng một lượng vốn tín dụng ổn định.
Để tăng cường tính hấp dẫn của trái phiếu, có thể sử dụng nhiều yếu tố kích thích như: cho phép chuyển nhượng trái phiếu thành cổ phiếu hoặc nếu mua đợt này thì sẽ được ưu tiên mua trong đợt phát hành tới. Với những yếu tố kích thích như trên có thể giảm bớt giá phát hành tới 1%. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Việc Ngân hàng mở rộng kinh tế đối ngoại để thu hút nguồn vốn cho vay bằng ngoại tệ và vốn uỷ thác từ nước ngoài phải thực hiện bề nổi như qua MAKETING Ngân hàng, tổ chức các cuộc hội thảo mang tính chất quốc tế để có thể thu hút sự quan tâm của các tổ chức kinh tế, đảm bảo trả nợ đúng hạn để khẳng định chữ tín của Ngân hàng với khách hàng.
Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển nên lượng vốn để đáp ứng nhu cầu đó chưa thể đủ và sẽ còn đòi hỏi rất nhiều. Điều gay gắt nhất là trong khi nền kinh tế cần có một tỷ lệ trôi nổi vốn vay dài hạn trong tổng lượng vốn vay thì trình độ và năng lực thực tế của Ngân hàng chỉ có thể đảm bảo nguồn vốn ngắn hạn là chính. Muốn đáp ứng nổi nhu cầu về vốn dài hạn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thì Ngân hàng đã sử dụng một tỷ lệ nhất định vốn vay ngắn hạn để cho vay dài hạn. Nhưng kể cả việc làm đó cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vay vốn dài hạn. Chính vì vậy, Ngân hàng thương mại cổ phần cần phải huy động được nguồn vốn trung, dài hạn nhiều hơn nữa để tài trợ cho các dự án vay dài hạn.
- Hai là, sử dụng tốt nguồn vốn vay:
Ngân hàng nên đa dạng hoá các hình thức tín dụng, không ngừng nâng cao công tác tư vấn cho khách hàng về phương thức sản xuất kinh doanh của họ, xây dựng các phương án đầu tư giúp khách hàng. Thực hiện đa dạng hoá các hình thức tín dụng sẽ giúp cho Ngân hàng giảm được rủi ro do tránh được việc bỏ trứng vào một giỏ, kích thích khách hàng. Việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng đã khó nhưng việc gợi cho họ nảy sinh những nhu cầu mới thì mới khó. Chính việc đa dạng hoá các hình thức tín dụng sẽ giải quyết được yêu cầu đó.
Ngân hàng nên tiếp tục giữ vững quan điểm lập trường của mình trong công tác cho vay: cho vay với những đơn vị kinh tế làm ăn có hiệu quả,có tín nhiệm và giảm cho vay tiến tới không cho vay hoàn toàn với những đơn vị làm ăn thua lỗ triền miên hoặc không tạo ra công ăn việc làm thực sự cho xã hội. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Ngân hàng không nên sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn. Nhiều đạo Luật Ngân hàng trên thế giới cấm làm việc này bởi nó tiềm ẩn những rủi ro to lớn không thể lường trước được. Công tác cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng cần phải tương xứng phù hợp với nguồn vốn huy động được.
Khả năng mở rộng các ngành nghề sản xuất kinh doanh hiện nay rất đa dạng. Ngân hàng muốn mở rộng việc cho vay thì nên hướng hoạt động của mình vào lĩnh vực mới mẻ này chứ không chỉ bó hẹp ở những lĩnh vực mà Ngân hàng đã quen thuộc nhằm tìm kiếm thêm những khách hàng mới cho Ngân hàng. Tuy nhiên việc làm này cần phải xem xét kỹ lưỡng bởi nó là con dao hai lưỡi có thể giúp Ngân hàng có cơ hội phát triển công tác cho vay đồng thời cũng có thể gây ra những khó khăn cho Ngân hàng.
- Ba là, thực thi chiến lược khách hàng lâu dài:
Ngân hàng phải xây dựng cho mình một chính sách khách hàng lâu dài bởi khách hàng vừa là người cung cấp vốn cho Ngân hàng vừa là người sử dụng nguồn vốn này.
Khách hàng có một ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Việc thiết lập mối quan hệ lâu dài giữ Ngân hàng và khách hàng quyết định tới sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng.
Thông qua quan hệ lâu dài của mình với khách hàng, Ngân hàng có thể huy động một khối lượng vốn lớn từ nguồn tiền gửi của khách hàng. Qua quan hệ lâu dài với khách hàng mà Ngân hàng giảm được các chi phí do không phải tìm hiểu, đánh giá khách hàng. Thông qua các giao dịch của khách hàng trên tài khoản tiền gửi mà Ngân hàng có thể biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng tiền mặt của người vay tiền cũng như các quan hệ cuả khách hàng. Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khách hàng một cách đầy đủ nhất và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm chi phí cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, giám sát khách hàng; tránh được rủi ro đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn vốn của mình kịp thời đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng với mức lãi suất thấp hơn do giảm được chi phí. Chính nhờ đó mà Ngân hàng sẽ nâng cao được chất lượng tín dụng.
Với khách hàng gửi tiền ngân hàng có thể áp dụng các mức lãi suất ưu đãi, lãi suất thỏa thuận cao hơn cao hơn lãi suất thị trường, hoặc thực hiện các chương trình tặng quà khuyến mãi, thực hiện các hoạt động tri ân đối với khách hàng.
Với khách hàng vay vốn ngân hàng có thể hỗ trợ tư vấn lập các dự án đầu tư, lập kế hoạch kinh doanh, hỗ trợ quản trị doanh nghiệp, cho vay với lãi suất ưu đãi, có thể điều chỉnh kì hạn trả nợ, gia hạn nợ trong những trường hợp biến động khách quan của thị trường tác động xấu tới doanh nghiệp. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
- Bốn là, ngăn chặn sự gia tăng của nợ quá hạn:
Chúng ta phải xác định nợ quá hạn trên tổng dư nợ qua đó mới có thể đánh giá chính xác. Con số nợ quá hạn của Ngân hàng cho phép ta khẳng định: chất lượng tín dụng tại Ngân hàng là chưa tốt, vẫn còn những tồn tại.
Muốn vậy, chúng ta cần coi trọng hơn nữa vào khâu thẩm định vì đầu tư có những khoản vay vốn một cách tốt hơn nữa, làm tốt được khâu này có nghĩa là ta giảm nhẹ cho các khâu theo dõi quá trình cho vay cũng như qúa trình thu hồi nợ. Làm tốt công tác thẩm định không có nghĩa là chúng ta làm cho thủ tục vay trở nên phức tạp lên mà ở đây phải nâng cao chất lượng của khâu này. Thế chấp và tín chấp phải được phát huy trên cơ sở đã làm tốt của Ngân hàng. Chỉ có như thế Ngân hàng mới giảm nợ quá hạn trên tổng dư nợ của mình xuống một mức độ cho phép.
Đối với hoạt động thẩm định tài chính ngân hàng cần xem xét, đánh giá độ tin cậy của các thông tin liên quan tới tài chính của doanh nghiệp và dự án đầu tư; thẩm định bằng các tiêu chuẩn hiệu quả tài chính phải đi đôi với việc dự báo mức độ thay đổi của các yếu tố tác động tới các tiêu chuẩn hiệu quả.
Đối với hoạt động thẩm định tài sản đảm bảo ngân hàng cần có sự so sánh đối chiếu với các thông số lien quan tới công nghệ kĩ thuật nhằm đánh giá giá trị thực tế của các tài sản và dự báo mức độ giảm giá vô hình trong tương lai. Sau khi cấp các khoản vay ngân hàng phải thực hiện tái thẩm định giá đối với các tài sản đảm bảo dựa trên các biến động thị trường nhằm xác định các nguồn trả nợ bổ sung cho doanh nghiệp nếu xảy ra các rủi ro.
Quy trình tín dụng cũng gây nên nợ quá hạn. Một quy trình tín dụng thích hợp với từng loại hình doanh nghiệp trong từng lĩnh vực ngành nghề sẽ làm giảm nợ quá hạn. Quy trình tín dụng phải phù hợp với đặc điểm sản xuất của các đơn vị có nhu cầu vốn thường xuyên sẽ tránh được ứ đọng hay nợ quá hạn.
3.2.3. Các giải pháp khác Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
- Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát:
Dư nợ tại Ngân hàng vẫn còn rất lớn và do mới thành lập được vài năm nên việc cán bộ chuyên trách chưa quản lý, kiểm soát chặt chẽ được tất cả các món cho vay là điều dễ hiểu do chưa có kinh nghiệm nhiều trong việc phát hiện được các hoạt động sử dụng vốn sai mục đích, làm ăn không hiệu quả, lừa đảo để có thể kịp thời đình chỉ cho vay, xử lý thu hồi lại vốn cho Ngân hàng. Qua đó ta thấy nếu chỉ chạy theo khối lượng tín dụng cung cấp cho các đơn vị kinh tế sẽ gây ra hậu quả qúa tải đối với cán bộ chuyên trách. Để giải quyết vấn đề này Ngân hàng cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm tránh rủi ro, tăng cao hiệu quả tín dụng. Công tác thanh tra, kiểm soát không chỉ đơn thuần là kiểm tra khách hàng mà còn quan trọng ở chỗ phải kiểm tra, thanh lọc những cán bộ tín dụng yếu kém, tiêu cực, gây thất thoát tài sản XHCN và làm mất uy tín của Ngân hàng.
- Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng
Hiện trạng nợ quá hạn vẫn còn cao trong tổng số dư nợ tại Ngân hàng mà có một phần nguyên nhân không thể không nói đến là trình độ bất cập của đội ngũ cán bộ. Thực tế cho ta thấy, cán bộ ngân hàng của ta còn hạn chế nhiều về trình độ cũng như kinh nghiệm so với các ngân hàng nước ngoài dẫn đến món nợ vay trở thành món nợ khó đòi ngay từ khâu xét duyệt và thẩm định dự án sản xuất kinh doanh do cán bộ xử lý thẩm định dự án chỉ hiểu một cách mơ hồ về nghành nghề dự định đầu tư, điều đó tất yếu sẽ dẫn đến sự sai lệch trong khâu thẩm định. Do đó, muốn nâng cao hiệu quả tín dụng thì cần phải bổ sung, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tín dụng.
Thị trường chứng khoán ra đời, các Ngân hàng đều trở thành một mắt xích, một tổ chức tài chính trung gian giữa người cấp vốn và người nhận vốn đầu tư. Nhiều dịch vụ mới hình thành như: dịch vụ in ấn, bảo quản chứng khoán, làm đại lý bán chứng khoán mới phát hành, chi trả chứng khoán đến hạn, làm môi giới mua bán chứng khoán, trực tiếp kinh doanh chứng khoán. Vì vậy, Ngân hàng phải đào tạo một đội ngũ cán bộ năng động, có trình độ chuyên môn vững vàng trong lĩnh vực trên để có thể đáp ứng kịp thời với sự phát triển đó.
3.3 Một số đề xuất khác. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
- Với Ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Phòng:
Ngân hàng nên phát triển việc nhận và trả tiền gửi tiết kiệm tại nhà theo yêu cầu của khách hàng (có thu phí thấp). Thể thức này sẽ đáp ứng được nhu cầu cho những người già muốn tránh được rủi ro khi mang tiền trên đường.
Khuyến khích người gửi tiền gửi luôn lãi của họ khi đến hạn mà họ không cần đến.
Áp dụng thể thức tín dụng dài hạn nhưng sẽ trả lãi hàng tháng nhằm kích thích những ai có một khoản tiền lớn mà không kinh doanh không dùng đến gửi vào Ngân hàng để dùng cho sinh hoạt hàng tháng
Mở các công ty con như công ty bảo hiểm, công ty tài chính để thu hút thêm vốn đầu tư dưới hình thức này.
Đối với các khách hàng khác nhau thì có thể sẽ áp dụng từng loại lãi suất khác nhau.
Tặng quà và mở một số tài khoản tượng trưng cho một số trẻ em tiêu biểu để khuếch trương tên tuổi của Ngân hàng mình.
Mở một số văn phòng tư vấn về nghiệp vụ tín dụng miễn phí giúp cho người dân.. hiểu được quyền lợi, lợi ích của họ khi tham gia vào nghiệp vụ này để từ đó lôi kéo nhiều người gửi và vay tiền hơn.
- Với Ngân hàng Trung ương:
Cần tiếp tục mở rộng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như séc, hối phiếu… mà quan trọng là trong các giao dịch Ngân hàng song song với việc hiện đại hóa hệ thống thanh toán. Trên cơ sở đó và cùng với các trái phiếu chính phủ làm phương tiện thế chấp, như vậy thì thị trường liên hàng mới có thể phát triển các giao dịch ngắn hạn, nâng cao hiệu quả quản lý vốn và chu chuyển vốn. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Khẩn trương để Luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức tín dụng tiếp tục nhanh chóng đi sâu vào cuộc sống và phát huy hiệu lực. Muốn như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải tuyên truyền phổ biến sâu rộng để hệ thống các Ngân hàng, các tổ chức kinh tế xã hội và người dân nắm được những nội dung cơ bản và cụ thể các điều luật để tự giác và thực hiện nghiêm chỉnh. Mặt khác, Ngân hàng cần trình chính phủ hoặc phối hợp với các cơ quan, các ban ngành có liên quan, ban hành những văn bản hướng dẫn dưới luật nhằm triển khai đồng bộ luật Ngân hàng nhà nước, luật các tổ chức tín dụng và đồng thời phải nhanh chóng có những văn bản chỉ đạo và hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể để thi hành thống nhất trong toàn hệ thông. Chỉ có như vậy thì các ngân hàng mới có thể có một môi trường hoạt động tốt để, chấp tránh nghiêm chỉnh Luật sẽ tránh được những rủi ro không đáng có và sẽ nâng cao được hiệu quả công tác tín dụng.
Cần có sự đồng bộ trong các chính sách với hoạt động của các ngân hàng thương mại. Cụ thể là, phải khuyến khích các ngân hàng thương mại tìm các nguồn vốn rẻ. Hoặc quy định lãi suất huy động vốn trung và dài hạn không cao hơn ngắn hạn là bao nhiêu mà lại chứa đựng nhiều rủi ro nên chưa thực sự thu hút được nguồn vốn này.
Cần tạo sự công bằng trong cạnh tranh với các tổ chức, các ngân hàng trong nước và nước ngoài khi mà đặt tỷ lệ thuế thu nhập chưa đồng đều.
Cần đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát; giúp cho trung tâm phòng ngừa rủi ro tín dụng hoạt động hữu hiệu hơn nữa.
Với các khách hàng truyền thống, làm ăn có hiệu quả có tín nhiệm cao thì có thể cho vay không cần thế chấp.
- Với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Nhà nước nên phát triển hình thức bảo hiểm tín dụng.Các ngành chức năng có liên quan tạo điều kiện giúp đỡ Ngân hàng trong khâu thẩm định các tài sản thế chấp có hợp pháp hay không, trong khâu thu hồi nợ quá hạn của Ngân hàng một cách tốt hơn nữa.
KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
Chất lượng tín dụng luôn là đề tài được Nhà nước, Ngân hàng và chính bản thân khách hàng đặc biệt quan tâm. Đây chưa bao giờ trở thành đề tài cũ với hệ thống ngân hàng nói chung và với Ngân hàng phát triển Việt Nam chi nhánh Hải Phòng nói riêng, đặc biệt hơn trong thời điểm nhạy cảm như hiện nay thì vấn đề này còn trở thành vấn đề quyết định đến hoạt động của ngân hàng. Đề tài này đã hệ thống các lý luận cơ bản về tín dụng, chất lượng Tín dụng, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng. Từ nghiên cứu lý luận đánh giá thực tiễn hoạt động tại ngân hàng, phân tích chất lượng tín dụng để từ đó tìm ra nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng Tín dụng và đưa ra một số giải pháp phù hợp với điều kiện hiện nay của Ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng. Đề tài gồm 3 chương chính:
- Chương 1: Lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
Chương này em đã đưa ra những kiến thức, khái niệm cơ bản về ngân hàng thương mại, hoạt động và chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại. Để qua đó ta có thể có cái nhìn bao quát về hệ thống ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng phát triển Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng nói riêng.
- Chương 2: Thực trạng tín dụng tại Ngân hàng phát triển Việt Nam –Chi nhánh Hải Phòng
Trong chương 2 em đã đưa ra các số liệu mà mình thu thập được trong quá trình nghiên cứu để phân tích, đánh gái hoạt động cũng như chất lượng tín dụng của ngân hàng phát triển Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng trong 3 năm từ năm 2023 đến năm 2025. Đồng thời nghiên cứu chất lượng tín dụng cũng như công tác tín dụng của ngân hàng trong bối cảnh nề kinh tế Hải Phòng hiện nay.
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng 3 năm qua tương đối tốt, dư nợ tín dụng, doanh số cho vay và thu nợ tín dụng đều có xu hướng tăng. Mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng nhưng chưa xuất hiện nợ khó đòi, điều này cũng do ảnh hưởng của các nhân tố từ môi trường kinh tế chung. Công tác quản lý, kiểm soát của Ngân hàng được quan tâm đặc biệt, chất lượng tín dụng được chú trọng. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng phát triển Việt Nam-Chi nhánh Hải phòng.
Từ những đánh giá ở chương 2, tại chương 3 em đã đưa ra những giải pháp trong dài hạn và ngắn hạn nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng phát triển Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng trong giai đoạn sắp tới. Những giải pháp bao gồm cả về hoạt động huy động vốn và hoạt động tín dụng của ngân hàng bởi lẽ hai mảng hoạt động này có liên hệ mật thiết với nhau, công tác huy động vốn tốt thì mới làm cơ sở cho hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng được nâng cao. Ngoài ra còn bao gồm các biện pháp khác về công tác kiểm tra kiểm soát về công tác đào tạo cán bộ nhân viên về hoạt động marketing về hiện đại hóa ngân hàng, công tác quản lý, giám sát các khoản nợ xấu, nợ quá hạn.
Trong gần 7 năm hoạt động, Ngân hàng phát triển Việt Nam-Chi nhánh Hải Phòng đã đạt được một số thành tựu đãng kể tuy nhiên vẫn còn những điểm hạn chế. Em hi vọng trong tương lai ngân hàng vẫn sẽ duy trì và phát triển hơn nữa những thành quả đó, góp phần cấp vốn một cách có hiệu quả cho nền kinh tế Hải Phòng đồng thời cũng hạn chế thấp nhất những thiếu sót, rủi ro, mang lại chất lượng tín dụng tốt nhất cho khách hàng.
Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của Thạc sĩ Cao Thị thu và các anh chị cán bộ nhân viên công tác tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng đã giúp đỡ em trong thời gian qua để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình. Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng VDB
