Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
1. Quá trình phát triển của thương mại điện tử tại Nhật Bản
1.1. Sự hình thành thương mại điện tử ở Nhật Bản
TMĐT đang được sự quan tâm trong từng nước, từng khối và trên bình diện toàn thế giới. Nó được diễn ra mạnh mẽ dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia. Mặc dù là nước có cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin khá phát triển nhưng mãi đến năm 1995 Thương mại điện tử mới xuất hiện ở Nhật Bản.
Vào đầu năm 1995, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng cụng nghệ thông tin hiện đại, lập ra Hội đồng xúc tiến thương mại điện tử (Electronic Commerce Promotion Council) với nhiệm vụ vạch phương hướng và hỗ trợ phát triển các cơ sở hạ tầng công nghệ và xã hội cần thiết cho thương mại điện tử. Hội đồng được cấp 300 triệu USD; 1/3 được dựng cho xúc tiến phát triển thương mại điện tử hàng tiêu dùng bán lẻ, 2/3 được dùng cho thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp. Hội đồng xúc tiến thương mại điện tử của Nhật Bản hỗ trợ cho các dự án xây dựng các cửa hàng ảo, các tiêu chuẩn cho thông tin sản phẩm, vấn đề bảo mật và an toàn, công nghệ thẻ thông minh, các trung tâm xác thực và chứng nhận chữ ký điện tử.
Trong bối cảnh các máy tính cá nhân và sự kết nối Internet ngày càng gia tăng, thương mại điện tử đã thu hút được sự chú ý không chỉ ở các doanh nghiệp mà còn cả ở người tiêu dùng trên mọi phương diện. Hầu như không một ngày nào là báo chí và các phương tiện thông tin khác không nhắc tới vấn đề công nghệ thông tin và thương mại điện tử và coi đây là một giải pháp hữu hiệu để đưa nền kinh tế Nhật Bản thoát khỏi tình trạng trì trệ cuối những năm 90.
1.2. Sự phát triển của Internet và điện thoại di động ,tác động của nó đến thương mại điện tử ở Nhật Bản
Internet là một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất ở Nhật Bản. Hiện nay, Nhật Bản trở thành một thị trường bán lẻ qua Internet lớn thứ 2 trên thế giới. Theo Communication White Papar 2018 thì Nhật bản có khoảng 47 triệu người sử dụng Internet với tốc độ xâm nhập của Internet vào đời sống dân cư là 37,1% thì năm 2026 con số này là 94 triệu người và 73.8%. Một số lượng lớn các công ty truyền hình cáp cũng yêu cầu nối Internet thông qua dịch vụ của họ với một số không ít các thuê bao.
- Bảng 1: Số người sử dụng Internet tại Nhật Bản 2018-2026
Mặc dù có dịch vụ Internet nhưng vào cuối những năm 90 chi phí dịch vụ Internet ở Nhật Bản là khá cao( 3yên/1phút) so với các nước phát triển khác như Mỹ, Anh , Pháp.Điều nay đã gây trở ngại lớn cho người dân Nhật Bản sử dụng Internet cũng như việc ứng dụng thương mại điện tử. Vào năm 2019, chính phủ Nhật Bản đã công bố chiến lược E-Japan với mục tiêu là xây dựng cơ sở hạ tầng để cung cấp Internet cho ngừơi dân với giá rẻ hơn, tốc độ cao hơn; tư nhân hóa NTT. Ngay lập tức số lượng thuê bao sử dụng Internet đã tăng 500% lên hơn 5 triệu vào 12/2020. Người dân Nhật Bản cũng ngày càng sử dụng Internet một cách thường xuyên và có hiệu quả hơn. Theo đó người sử dụng Internet không chỉ để tìm kiếm thông tin, liên lạc nữa mà còn để mua hàng qua mạng.
Với cuộc cách mạng hiện đại hóa hạ tầng viễn thông từ 2021, 6/2025 đã có hơn 27 triệu người dân Nhật Bản sử dụng chọn dùng công nghệ băng thông rộng (ADSL,FttH), tỷ lệ thâm nhập của công nghệ này vào Nhật Bản là 21.1%. Với ưu điểm là cho phép phân phối những dịch vụ mới ( sản phẩm có nội dung số) , cải thiện to lớn về giao diện cho cái dịch vụ đã có, công nghệ băng thông rộng đã có ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ và giúp đẩy nhanh sự phát triển của thương mại điện tử ở Nhật Bản.
- Bảng 2: Tỷ lệ thuê bao sử dụng băng thông rộng của 5 quốc gia tính đến 6/2024
Với thế mạnh của nước có nền công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, Nhật Bản sớm hình thành và phát triển mạng viễn thông di động cũng như các dịch vụ cung cấp qua đó.Bước vào năm 2027, nước này có khoàng 105 triệu thuê bao di động mà phần lớn đều sử dụng dịch vụ 3G. Khi công nghệ 2G đã trở nên lỗi mốt thì dịch vụ di động 3G lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản và cũng là đầu tiên trên thế giới vào cuối năm 2019 do hãng NTT DoCoMo cung cấp. Đến nay thì công nghệ 3G đã trở nên phổ biến với người dân Nhật Bản, nó hỗ trợ rất nhiều cho sự phát triển của thương mại điện tử vì nó tạo ra và kích thích người dùng mua hàng ở mọi lúc mọi nơi một cách rất tiện lợi
Bước vào thế kỷ 21, thương mại điện tử phát triển với một tốc độ chóng mặt tại quốc gia mặt trời mọc, hiện nay với 128 triệu dân, Nhật Bản có khoảng 82.6 triệu máy tính. Máy tính và Internet được cung lắp đặt ở gần 99% các trường học. Đầu tư cho công nghệ thông tin được chính phủ rất quan tâm và đầu tư. Doanh thu từ hoạt động thương mại điện tử theo đó mà ngày một tăng nhanh. Năm 2026, doanh thu từ thương mại điện tử của Nhật Bản là 28 tỷ Euro, có khoảng 69 triệu người mua hàng thông qua mạng và phần lớn trong số họ chi trung bình 402 Euro cho việc mua hàng qua mạng mỗi năm. Những con số này quả thật đã minh chứng cho thế mạnh và tiềm năng vô cùng to lớn của thương mại điện tử ở đất nước này.
2. Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
2.1. Thực trạng thương mại điện tử B2C
2.1.1. Các nhóm mặt hàng trên thị trường
Dựa trên quy mô tăng trưởng và khuynh hướng mở rộng tỷ lệ thương mại điện tử người ta chia các mặt hàng ra làm 4 nhóm:
- Nhóm có quy mô tăng trưởng lớn.
- Nhóm có tỷ lệ tăng trưởng
- Nhóm có tỷ lệ tăng trưởng tương đối thấp.
- Nhóm mà thương mại điện tử đang xâm nhập.
Bảng 3: Cơ cấu các ngành trên thị trường B2C Nhật Bản năm 2019 và 2024
Đặc trưng của 4 nhóm trên là:
2.1.1.1. Nhóm có quy mô thị trường lớn:
So sánh với Mỹ thì quy mô thị trường của Nhật nhỏ hơn nhiều nhưng quy mô thị trường cũng tương đối lớn ở một số nhóm hàng bao gồm ôtô,bất động sản, du lịch khách sạn. Dù vẫn chiếm tỉ trọng lớn song quy mô ba nhóm hàng này đã giảm từ 54.4% năm 2019 xuống còn 37.5% năm 2024. Các mặt hàng này đang và sẽ thu được hiệu quả cao trong việc áp dụng thương mại điện tử và góp phần nâng cao quy mô tăng trưởng tổng thể.
2.1.1.2. Nhóm các mặt hàng có tỷ lệ tăng trưởng cao: Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Nhóm này bao gồm các loại chứng khoán, thực phẩm và dịch vụ. Cổ phiếu và các chứng từ có giá là những mặt hàng thông tin nên dễ thích ứng với giao dịch thông qua Internet. Thực phẩm ở đây chủ yếu là đặc sản của các địa phương và việc trao đổi mua bán cũng được diễn ra tích cực trên mạng.
2.1.1.3. Nhóm mặt hàng có tỷ lệ tăng trưởng tương đối thấp:
Nhóm này bao gồm: giải trí, sách báo, đĩa CD, quần áo và một số mặt hàng khác như dược, mĩ phẩm, ….Vé vào cửa( vé xem phim, thể thao… ) là mặt hàng chủ yếu của nhóm vui chơi, giải trí nhưng do đặc tính về cơ cấu lưu thông giữa các nhà tổ chức, tập quán thương mại nên sự tham gia vào thị trường thương mại điện tử còn hạn chế và chưa có một thử nghiệm táo bạo nào để sử dụng tính tiện lợi của Internet. Tuy nhiên khả năng tiềm tàng của mặt hàng này là rất lớn.
Mặc dù sách, đĩa CD đó được tiến hành bằng thương mại điện tử từ khá sớm nhưng do còn tồn tại các hãng nước ngoài có uy tín trên toàn cầu cạnh tranh gay gắt nên tỷ lệ tăng trưởng chưa cao. Mặt hàng quần áo cũng vậy, người tiêu dùng phần lớn đều muốn được tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm để biết được tính dụng và chất lượng sản phẩm.
2.1.1.4. Nhóm mặt hàng mà thương mại điện tử đang bắt đầu xâm nhập:
Đây là nhóm mặt hàng chưa tham gia hoặc tham gia kinh doanh ít trên thương mại điện tử nhưng có triển vọng phát triển trong tương lai. Hiện nay hầu hết các mặt hàng đều có mặt trên thị trường thương mại điện tử tại Nhật Bản tuy nhiên cũng có một số mặt hàng cũng như dịch vụ mới bắt đầu phát triển như: quà tặng hay dịch vụ chăm sóc sắc đẹp.
2.1.2. Quy mô và tốc độ tăng trưởng Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
- Bảng 4: Biểu đồ tăng trưởng của thị trường B2C Nhật Bản
Tốc độ tăng trưởng của thị trường B2C Nhật Bản là khá ổn định trung bình tăng 30-40% mỗi năm. Tăng mạnh nhất là vào năm 2020 với 61% và 2021 với 57%, đây là thời gian thương mại điện tử mới xuất hiện và đang bùng nổ, đặc biệt đó là khi khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử có hiệu lực và tạo được lòng tin cho người tiêu dùng khi tham gia thị trường. Các năm sau đó thì thương mại điện tử B2C dần phát triển vững chắc hơn, tốc độ phát triển năm 2022, 2023 lần lượt là 43% và 40%
- Bảng 5: Quy mô thị trường và tỷ lệ thương mại điện tử hóa ở Nhật và Mỹ 2024
Quy mô thi trường thương mại điện tử B2C của Nhật Bản đang tăng lên đáng kể. Năm 2024, quy mô thị trường là 4.391 tỷ Yên so với con số 3.456 tỷ Yên của năm 2023 thì quy mô thị trường đã tăng lên 27,1%. Trong khi đó trị giá giao dịch này ở Mỹ gấp khoản 4,4 lần của Nhật, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng của thị trường B2C ở Mỹ chỉ vào khoảng 26%.
Về tỷ lệ thương mại điện tử hóa ở Nhật Bản có sự tăng lên rõ rệt từ 1.2% năm 2023 lên 1.8 % năm 2024. Do có quy mô thỉ trường lớn gấp nhiều lần và phát triển thương mại điện tử từ rất sớm, Mỹ có tỷ lệ thương mại điện tử hóa cao nhưng tỷ lệ này chỉ tăng 0.14% từ 2023 đến 2024. Từ đây có thể thấy thương mại điện tử ở Nhật Bản đang tăng trưởng nhanh chóng và ngày càng ăn sâu vào nền kinh tế.
2.1.3. Đặc trưng của thương mại điện tử B2C ở Nhật Bản
Sự phát triển của thương mại điện tử chịu ảnh hưởng không chỉ của đặc tính sản phẩm, hàng hoá mà còn chịu ảnh hưởng của cơ cấu ngành, cơ cấu lưu thông và môi trường cạnh tranh. Đây một mặt là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy hay cản trở thương mại điện tử nhưng mặt khác nó lại tạo cho thương mại điện tử của Nhật Bản mang những đặc thù riêng không giống như thương mại điện tử ở một số nước khác đặc biệt là so với Mỹ.
Từ năm 2017- 2018 thế mạnh thương mại điện tử tử ở Nhật Bản được bộc lộ rõ. Một trong số đó là Mobile – EC với kỹ thuật tiên tiến nhất thế giới, hay việc thanh toán tại các conbini, việc sử dụng đa dạng các hình thức chuyển phát tại nhà hoặc sự liên kết với các cơ sở hạ tầng phân phối cao độ trên đất nước Nhật Bản đó tạo cho thương mại điện tử ở Nhật Bản mang đặc trưng riêng của mình. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
2.1.3.1. Động lực thúc đẩy sự phát triển thương mại điện tử B2C ở Nhật Bản:
Mức độ phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản phụ thuộc vào 3 yếu tố:
- Đặc tính cố hữu của hàng hoá.
- Cơ cấu ngành, cơ cấu lưu thông.
- Môi trường cạnh
Đặc tính của hàng hoá là những tính chất riêng có của hàng hoá. Những hàng hoá này có thể thích ứng được với thương mại điện tử ra sao, có thể phát huy được nhiều hay ít các ưu điểm của thương mại điện tử như thế nào đều do đặc tính của hàng hoá đó quyết định. Mặt hàng PC (bao gồm máy tính cá nhân và các linh kiện đi kèm với nó), đĩa CD được thương mại điện tử hóa từ rất sớm là do nó phát huy được đặc tính của nó đối với thương mại điện tử.
Sự phát triển của thương mại điện tử không chỉ phụ thuộc vào đặc tính của hàng hoá mà còn phụ thuộc vào cơ cấu ngành, cơ cấu lưu thông. Cơ cấu ngành ở đây thể hiện ở mối liên quan giữa các nhà kinh doanh với những người bán lẻ, khoảng cách từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng, mức độ trật tự của ngành, tính độc quyền, tập quán thương mại…
Môi trường cạnh tranh cũng ảnh hưởng tới sự phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản. Sở dĩ có sự cạnh tranh là do có sự giới thiệu các tiền lệ tiên tiến ở nước ngoài hay sự tham gia của các công ty nước ngoài vào thị trường Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều này đó dẫn đến sự cạnh tranh trong các lĩnh vực. Các doanh nghiệp Nhật Bản buộc phải nâng cao vị thế của mình bằng mọi cách. Sự cạnh tranh này không chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài mà còn xảy ra giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau. Điều này vụ hình chung đã thúc đẩy thương mại điện tử phát triển. Trong lĩnh vực sản xuất điện tử thì ngay giữa các hãng sản xuất điện tử trong nước như Toyota, Honda, Mitsubishi,… cũng đã có sự cạnh tranh khốc liệt chưa kể đến sự tham gia vào thị trường thương mại điện tử của một số hãng điện tử nước ngoài của Mỹ như: Auto bytel.japan hay Carpoint…Hay trong lĩnh vực kinh doanh sách, sự xuất hiện hàng loạt các trang web của một số nhà xuất bản có tên tuổi như: Kadogawa, … của các cửa hàng bán lẻ với các dịch vụ vận chuyển sách đến tận nhà (hãng Yamato) làm cho tình hình cạnh tranh càng trở nên gay gắt hơn. Đặc biệt sự thành công trong việc kinh doanh của Amazon. cm- một trang web của Mỹ- tại thị trường Nhật Bản đó làm cho các nhà kinh doanh Nhật Bản phải nỗ lực hơn nữa trong việc cải tiến các phương thức kinh doanh thương mại điện tử để cạnh tranh có hiệu quả hơn và kết quả là mặt hàng sách trở thành mặt hàng có tỉ lệ thương mại điện tử hoá cao hơn hẳn so với các mặt hàng khác.
2.1.3.2. Thế mạnh trong thương mại điện tử ở Nhật Bản:
- Các phương tiện thông tin đa dạng Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Điện thoại di động, máy nhắn tin sử dụng được dịch vụ I-mode (một dich vụ điện thoại di động có thể kết nối Internet ) đã tạo ra một thị trường thương mại điện tử đầy sôi động ở Nhật Bản.Từ việc gặp rào cản về văn hóa và thói quen tiêu dùng của phưong đông, ngày nay mọi tầng lớp dân cư Nhật Bản đã quen thậm chí đến thành thạo về quy trình giao dịch thương mại điện tử. Điện thoại di động có kết nối Internet và các ứng dụng của nó đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của họ . Có thể thấy rõ các tác dụng trong thương mại điện tử B2C của điện thoại di động. Thứ nhất, nó mở rộng thêm tầng lớp người sử dụng Internet, tạo ra dịch vụ lưu thông thông tin mới và tạo ra một hình thức kinh doanh mới hoạt động cộng với các máy tính cá nhân và các cửa hàng thực sự. Trong lĩnh vực này, Nhật Bản có khả năng là nước sẽ đi đầu về mặt kỹ thuật và bí quyết kinh doanh. Loại hình này thu hút được phần đông khách hàng là phụ nữ và lớp trẻ. Tỷ lệ phổ cập máy điện thoại di động ở Nhật Bản là khá cao nên việc lôi cuốn thêm nhiều tầng lớp người dân Nhật Bản tham gia dịch vụ này sẽ trở thành thế mạnh của Nhật Bản trong tương lai. Thứ hai, I-mode tỏ ra có ưu điểm hơn so với máy tính cá nhân kết nối Internet ở chỗ thông tin ở đây là trọn gói nên không bị đánh phí theo tỷ lệ thời gian và việc thanh toán được thực hiện bằng cách nộp uỷ thác phí. Do vậy mà các dịch vụ thông tin thu phí nơi được gọi là các ‘conbini thông tin ” đang gia tăng. Hãng Bandai là một hãng đứng đầu Nhật Bản về sản xuất đồ chơi trẻ em đó rất thành công trong việc kết hợp I-mode, các trang web với các cưả hàng thực sự. Hãng này có 930 nghìn người sử dụng dịch vụ thông tin thu phí (conbini thông tin), và là công ty hàng đầu trong việc cung cấp thông tin kỹ thuật số qua dịch vụ I-mode với nhịp độ tăng trưởng 18 nghìn người một tuần.
Ngoài điện thoại di động sử dung dịch vụ I-mode, thiết bị chơi điện tử được phổ biến tại các hộ gia đình sẽ là một trong những thiết bị thương mại điện tử chủ lực cho các gia đình trong tương lai.
Mặt khác, ở Nhật Bản , trên một số phương tiện như điện tử có sử dụng các bản đồ điện tử (carbani) chỉ dẫn đang ẩn chứa khả năng trở thành một phương tiện mới phục vụ cho thương mại điện tử. Các bản đồ điện tử này có khả năng tham gia vào thương mại điện tử dưới các hình thức như: có thể đặt trước, đăng ký các dịch vụ vui chơi giải trí như quán cà phê, du lịch,…trong khi đang đi xe. Hơn thế nữa, các kiốt được đặt ở trước cửa các siêu thị (các conbini) cũng có nhiều tác dụng. Khách hàng không cần phải khởi động máy tính tại nhà mà có thể mua bán một cách dễ dàng trên Internet tại các kiốt đặt ngay trước cửa các siêu thị. Hình thức này cũng đó thu hút được một lượng người không có máy tính điện tử ở nhà tham gia vào thương mại điện tử. Đối với một số người Nhật Bản có không nhiều thời gian thì việc đi ra phố hay trên đường đi làm về họ sẽ rất thuận lợi khi tiện thể mua bán hàng hoá tại các kiốt này. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
- ii). Sự phát triển nhanh chóng của mạng lưới các siêu thị nhỏ ( Các Conbini)
Trong đất nước Nhật Bản nhỏ bé, các siêu thị đóng vai trò chủ yếu trong lĩnh vực thương mại điện tử. Siêu thị có mặt ở khắp mọi nơi trên đất nước Nhật Bản. Người ta ước tính rằng trung bình người dân Nhật Bản cần có 10 phút đi bộ là có thể bắt gặp một siêu thị. Các siêu thị này hoạt dộng gần như 24/24 giờ ở Nhật Bản.
Các tập đoàn siêu thị lớn nhất Nhật Bản hiện nay là 7- Eleven – Japan Co, Lawson, Family Mart. Chỉ tính riêng 7- Eleven,tập đoàn này có hơn 28.000 cửa hàng với lượng khách trung bình một tuần là hơn 50 triệu người. Vào tháng 1/2018, Seven – Eleven công bố liên doanh với 7 công ty khác để cung cấp các sản phẩm du lịch, âm nhạc, điện thoại di động, máy tính, phần mềm, sách, hoa…,các thông tin về giải trí, các hãng sản xuất và bán đồ điện tử và nhiều dịch vụ khỏc qua trang Web: http://www.7. dream.cm. Tháng 6/2018 liên doanh này chính thức đi vào hoạt động. Seven- Eleven lắp đặt các thiết bị thông tin ở khắp các cửa hàng. Hàng hoá được đặt thông qua các thiết bị thông tin này hoặc có thể thông qua máy tính ở các hộ gia đình. Việc thanh toán và giao hàng có thể thực hiện ở ngay tại các siêu thị hình thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc thẻ tín dụng, hoặc có thể thông qua trang web bằng cách sử dụng thẻ tín dụng. Nhìn chung người Nhật Bản vẫn còn tỏ ra e dè trong việc sử dụng thẻ tín dụng trên Internet nên phương thức trả tiền tại siêu thị đã thu hút được số đông người tiêu dùng ở Nhật Bản. Thêm vào đó, các khách hàng có thể ghé qua siêu thị gần nhất và lấy hàng bất cứ lúc nào. Điều này cũng giúp cho các siêu thị có thể giao hàng cho nhiều người một lúc mà không cần phải đem hàng đến tận nhà cho khách hàng nhiều lần và không phải chờ đợi khách hàng khi họ vắng nhà.
Seven – Eleven bắt đầu kinh doanh mặt hàng sách trên Internet vào cuối tháng 11/2017 trên cơ sở hợp tỏc với softbank. Khách hàng có 3 sự lựa chọn sau trong việc thanh toán tiền hàng: 1. Thanh toán tiền và nhận sách ở các siêu thị Seven – Eleven. 2. Thanh toán tại siêu thị và nhận sách qua dịch vụ giao nhận tại nhà. 3. Thanh toán bằng thẻ tín dụng và nhận sách thông qua dịch vụ giao nhận tận nhà. Theo chủ tịch của tập đoàn Seven – Eleven thì có tới 93% khách hàng ở Nhật Bản chọn cách đầu tiên là thanh toán và nhận hàng đó đặt ngay tại siêu thị của Seven – Eleven.
Bên cạnh Seven – Eleven còn có hãng Lawson với việc lắp đặt các kiốt ở đầu các conbini và hãng này đang tham gia mạnh mẽ vào Internet. Hãng này có doanh thu 40 tỷ yên 1 năm, các trang web của hãng ngoài việc tiếp nhận thông tin của các conbini gần đó còn thực hiện phân phối, chuyển phát hàng tại nhà đối với các sản phẩm lớn.
- iii). Mạng lưới dịch vụ phân phối và thanh toán rộng khắp và hoạt động với cường độ cao:
Dịch vụ chuyển phát tại nhà của một số hãng vận tải, dịch vụ đổi tiền hay chuyển phát nhanh tận nhà đều đang gia tăng một cách nhanh chóng tại Nhật Bản. Mạng lưới này hoạt động rộng khắp trên đất nước Nhật Bản thường xuyên, liên tục suốt 24/24 giờ. Có một điều chắc chắn rằng các nhà lưu thông đang ngày càng đóng vai trò quan trọng như là hạt nhân của việc bán hàng thông qua Internet.
- iv). Các cửa hàng thương mại vừa và nhỏ và các shopping portal
Trong khi các công ty lớn đang dốc thời gian vào để xắp xếp và điều phối giữa mạng lưới lưu thông đã có với các cửa hàng của mình, thì các cửa hàng vừa và nhỏ đó tham gia rất sôi động vào thương mại điện tử. Các cửa hàng này với sự thịnh vượng và thích ứng nhanh của nó là một đặc trưng của thương mại điện tử Nhật Bản hiện nay, nó như một động lực thúc đẩy các công ty cỡ lớn lỗ lực hơn nữa tham gia vào thương mại điện tử.
Shopping portal hiểu như là các trang web dịch vụ chuyên cung cấp, tìm kiếm các thông tin trên thị trường đang tham gia một cách nỗ lực vào thương mại điện tử nhằm đa dạng hoá các nguồn thu nhập vốn trước đây chỉ thu được từ quảng cáo. Một số hãng cung cấp thông tin lớn nhất ở Nhật Bản hiện nay là Infoweb với 6,5 triệu hội viên, Sonet với 2 triệu hội viên. Ngoài các dịch vụ cung cấp thông tin thông thường, các hãng này còn cung cấp các dịch vụ thanh toán uỷ thác thông qua thẻ ID. Trong tương lai các trang Shopping portal sẽ có xu hướng tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào thị trường thương mại điện tử và doanh thu của nó sẽ cớ triển vọng tăng với tỷ lệ khá cao.
2.1.4. Các doanh nghiệp tiêu biểu Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
2.1.4.1. Rakuten
Công ty trách nhiệm hữu hạn Rakuten( Rakuten, Inc) được thành lập vào tháng 2/1997 ban dầu có tên là MDM, Inc và đi vào hoạt động vào tháng 5/1997 là thành viên của tập đoàn Rakuten. Tháng 6/2017, MDM Inc chính thức đổi tên thành Rakuten Inc, công ty có trụ sở chính ở Tokyo và nhiều chi nhánh trên cả nước và ở nhiều quốc gia trên thế giới. Công ty hoạt động trên các lĩnh vực :
- Chợ điện tử
- Thẻ tín dụng và thẻ thanh toán
- Cổng truyền thông đại chúng
- Du lịch
- Chứng khoán
- Thể thao chuyên nghiệp
Vào tháng 6/2022, Công ty được bình chọn ở vị trí thứ 2 chỉ sau Yahoo! Theo tiêu chí đánh giá của người tiêu dùng nhưng đến nay công ty đã giữ vị trí dẫn đầu trong các lĩnh vực kinh doanh trên và tạo lên thương hiệu và niềm tin trên khắp cả nước. 30/06/2026, vốn điều lệ của công ty lên đến 107,487 triệu Yên với hơn 6000 nhân viên.
Chợ điện tử Rakuten Ichiba là chợ điện tử lớn nhất Nhật Bản hiện nay với 50 triệu người đăng kí sử dụng, cho phép người tiêu dùng lựa chọn hơn 18 triệu sản phẩm từ 18000 người bán. Vào năm 2023, doanh thu của công ty đã vượt quá ngưỡng 1.1 tỷ $, và cùng với nỗ lực đáng khâm phục của mình, công ty ngày càng phát triển mạnh hơn trong những năm trở lại đây và còn vươn ra thế giới.
Rakuten có lợi thế của người đi đầu đã thấy được thương mại điện tử sớm muộn cũng sẽ cất cánh ở Nhật và muốn là một phần trong đó. Khắc phục rào cản văn hóa, thói quen tiêu dùng tiền mặt ở Nhật, Rakuten với phương châm “Xây dựng thương mại điện tử cho thật tốt, tự khắc khách hàng sẽ đến”, công ty nhanh chóng có ngay giải pháp đối với vấn đền thẻ tín dụng: Hầu hết các cửa hàng vui vẻ thu xếp thanh toán với khách hàng qua bưu điện.
- Bảng 6: Tình hình kinh doanh của công ty Rakuten qua các năm
Ngay từ đầu, không chỉ ấn tượng với Amazon.cm, công ty còn muốn tránh các chi phí và nợ lưu kho, phân phối. Rakuten cũng không bao giờ quảng cáo. Chủ tịch công ty Mikitani cho hay công ty của mình không thực sự là một nhà bán lẻ. Rakuten bán cho các nhà bán lẻ sử dụng máy chủ của mình. Đó là sự khác biệt lớn với những người chơi khác như Amazon. Rakuten tính phí thành viên hàng tháng các thương nhân trên website và giữ lại từ 2-5% giá trị hàng hóa được bán. 80% doanh thu của Rakuten đến từ phí thành viên, 10% là doanh thu từ quảng cáo và phần còn lại đến từ bán đấu giá.
Mikitani đã hạn chế tối đa rủi ro bằng việc giảm thiểu chi phí điều hành kinh doanh trên trang web và chú ý đến dịch vụ khách hàng. Các cửa hàng trên website được giám sát chặt chẽ và một số đã bị buộc phải rời Rakuten vì các hoạt động kinh doanh bị cho là mờ ám. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Giá rẻ là cách thu hút các nhà bán lẻ hữu hiệu nhất. Theo Business Week, năm 2018 Rakuten tính phí các nhà bán lẻ 475 USD/năm xuất hiện trên trang web của Rakuten. Các chuỗi cửa hàng ảo khác đòi phí từ 3.000- 10.000 USD. Ngoài ra, các thương nhân cũng có thể biên tập trang web của họ và phân tích thị trường bằng việc truy cập cơ sở dữ liệu và phần mềm của mình. Rakuten bán quảng cáo cho các thương nhân với giá rẻ.
Năm 2024, thay vì chính sách tăng lợi nhuận và doanh thu theo quy mô, công ty thay đổi chế độ quản lý bằng cách cố định cho các cửa hàng chịu một số chi phí nhất định, khoảng 4% so với doanh thu, gọi là chi phí hệ thống. Đây được coi là bước cải tiến lớn làm nên hiệu quả kinh doanh của công ty.
Rakuten tin tưởng thương mại điện tử ở Nhật sẽ còn phát triển hơn cả ở Mỹ bởi người Nhật thích giao tiếp với nhau và điều đó thực hiện dễ dàng hơn rất nhiều trên Net. Bởi vậy, Rakuten đã tạo ra cảm giác cộng động giữa những người sử dụng, để họ tán gẫu (chat) về tư cách của các nhà cung cấp của Rakuten và có thể tham dự vào các cuộc đấu giá trực tuyến. Trang web Free Market của Rakuten, một dạng của trang web bán đấu giá trực tuyến eBay mini, nơi các nhà bán hàng niêm yết đồ vật với mức phí 100 yên (chưa đến 1 USD), cộng với 5% giá bán cuối cùng, là một cửa sổ trực tiếp ưa thích của người mua hàng.
Rakuten đã mở rộng nhanh chóng ở Nhật Bản, cung cấp nhiều loại dịch vụ trực tuyến từ du lịch cho đến tài chính cá nhân. Các cộng đồng Rakuten tạo ra rất quan trọng ở Nhật Bản, nơi Internet như một xã hội tương tác. Thương hiệu Rakuten thực sự đã chiếm được niềm tin và ủng hộ từ phía người tiêu dùng.Công ty không ngừng cải tiến, giảm chi phí kinh doanh để mang lại sự tiện lợi cho khách hàng và thu hút khách hàng mua hàng và để lợi nhuận của công ty ngày càng tăng mạnh mẽ.
2.1.4.2. FamilyMart
Tập đoàn FamilyMart được thành lập 1/11/1981 tại Nhật Bản, có trụ sở chính tại Tokyo. Hoạt động chủ yếu của tập đoàn bao gồm các lĩnh vực sau: Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
- Chuỗi các cửa hàng tiện ích ( Convenience Stores)
- TMĐT liên quan đến thu thập đặt hàng thông qua website, điện thoại di
- động, cataloge; cung cấp các dịch vụ thông qua cổng truyền thông đầu cuối FamilyPort; phát triển sản phẩm.
- Các hoạt động kinh doanh khác bao gồm: dịch vụ thuê mua, bất động sản và tín dụng.
FamilyMart là chuỗi cửa hàng tiện ích lớn thứ 3 tại Nhật Bản chỉ sau 7-Eleven và Lawson với 14651 cửa hàng không chỉ ở Nhật Bản mà còn ở rất nhiều nước khác trên thế giới mà chủ yếu là Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc. Tính đến 28/2/2027, công ty có vốn điều lệ là 16 658 triệu Yên. Nổi tiếng trong lĩnh vực bán lẻ khá lâu, FamilyMart tận dụng được ưu thế của mình và cố gắng cải tiến để bắt kịp sự tiến bộ công nghệ một cách nhanh chóng.Đến nay, cái tên FamilyMart đã trở nên vô cùng quen thuộc với không chỉ người dân Nhật Bản mà còn ở nhiều nước châu Á khác.
Cũng giống như các chuỗi cửa hàng Conbini khác, FamilyMart cung cấp các mặt hàng thiết yếu như đồ ăn, đồ uống có ga, báo chí…Mỗi cửa hàng rộng khoảng 120m2 với 28000 mặt hàng. Các cửa hàng mở cửa 24/7. Công ty không ngừng điều tra thị trường để có thể đáp ứng được những yêu cầu nhỏ nhất.
Tại các cửa hàng tiện ích của FamilyMart, khách hàng có thể mua vé xem phim, xem ca nhạc, vé tàu điện, vé xe bus, rút tiền từ máy ATM. Một trong những thành công nhất của FamilyMart là cho phép khách hàng nộp các hóa đơn như hóa đơn tiền điện, tiền nước… thông qua máy đọc mã vạch và FamilyMart yêu cầu một khoản phí nhỏ cho các giao dịch này. Mỗi tháng tổng giá trị các hóa đơn được trả tại chuỗi hệ thống của FamilyMart lên tới 11 triệu $. Khách hàng cũng có thể đặt mua hàng trên trang web của công ty, hay qua điện thoại di động và đến cửa hàng gần nhất để lấy hàng hay được giao hàng đến tận nhà.
30/2/2024, FamilyMart cộng tác cùng Itochu và Toshiba thử nghiệm sử dụng máy thanh toán tự động đầu tiên tại một cửa hàng ở Tokyo. Máy tự động thao dõi và tính giá ngay khi khách hàng chọn mua trên các giá hàng, điều này làm giảm thời gian khách hàng phải chờ đợi để thanh toán.
Năm 2025, Công ty thiết lập hệ thống kiosk tự phục vụ Wincor Nixdorf’s iCORe lấy tên là FamilyPort, đây là sự kết hợp hoàn hảo giữa chuỗi cửa hàng truyền thống với các dịch vụ gia tăng có được từ việc áp dụng công nghệ cao. Để cạnh tranh và tăng doanh thu công ty phải tìm tòi ứng dụng công nghệ một cách hiệu quả mà dễ dàng sử dụng cho người tiêu dùng. Với mục tiêu làm cho quy trình mua hàng trở nên nhanh chóng thuận tiện nhất, FamilyMart đã gia tăng được tên tuổi của mình cũng như làm khách hàng quay trở lại thường xuyên hơn và dừng lại lâu hơn ở cửa hàng. Sau khi lắp đặt hệ thống kiosk tự phục vụ. Mỗi tháng số lượng khách đến mua hàng của FamilyMart tăng 3-4 % Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Vì các Conbini có diện tích khá nhỏ không đủ để dự trữ hàng, để đáp ứng nhu cầu và giảm chi phí, FamilyMart triển khai Intranet nội bộ. Hệ thống SOS( Stock Ordering System ) tự động theo dõi và điều chỉnh việc dự trữ hàng để phù hợp nhất với nhu cầu của người dân địa phương. FamilyMart quan tâm tới thói quen mua hàng của từng khách hàng, điều này không chỉ giúp phục vụ khách hàng một cách tốt nhất mà còn giảm thiểu chi phí tồn kho.
Thành công của FamilyMart còn là ở tạo lập được thương hiệu thân thiện với người tiêu dùng và thân thiện với môi trường. Mọi hoạt động của cửa hàng đều sử dụng thiết bị tiết kiệm điện, dùng các bao gói thân thiện với môi trường cũng là một yếu tố làm khách hàng muốn đến với FamilyMart. Hơn thế nữa, cửa hàng của FamilyMart còn là một “Safe Station” cho phép người dân tránh nạn trong các trường hợp khẩn cấp, và cung cấp các vật dụng cần thiết khi có động đất, núi lửa…
- Bảng 7: Tình hình kinh doanh của FamilyMart qua các năm
Có thể thấy mô hình kinh doanh của FamilyMart là hình mẫu cho các công ty chuyên bán lẻ. Không giống với Rakuten, FamilyMart thành công bởi đã biết kết hợp giữa TM truyền thống với thương mại điện tử. thương mại điện tử thúc đẩy và tăng tính cạnh tranh cho TM truyền thống một cách vô cùng hiệu quả. Luôn đổi mới và quan tâm tới từng khách hàng chính là bí quyết thành công của FamilyMart.
2.1.4.3. Yoshida IM
Công ty trách nhiệm hữu hạn Yoshida IM ( Yoshida IM Co.Ltd.,) thành lập năm 1994 với vốn điều lệ là 10 triệu Yên và 10 nhân viên. Trụ sở công ty đặt tại Kagoshima, lĩnh vực hoạt động chính của công ty là kinh doanh mỹ phẩm, doanh thu hàng năm trung bình 75 triệu Yên.
Mục đính ứng dụng CNTT trong công ty:
- Tăng lượng khách hàng: bằng cách giới thiệu sản phẩm và nhận đơn đặt hàng qua trang chủ, điều tra thị trường qua email.
- Nâng cao dịch vụ khách hàng
- Marketing : phân tích các thông tin về nhu cầu khách hàng từ đó có chiến lược marketing phù hợp
- Phản ánh nhanh chóng phản ứng khách hàng khi tung ra sản phẩm mới để cải tiến kịp thời
- Tự động hóa để giảm chi phí
Một số kết quả đạt được của việc ứng dụng CNTT của doanh nghiệp:
- Tăng nhanh số đơn đặt hàng ( từ 30 lên 700 đơn đặt hàng một ngày)
- Cải thiện tỷ lệ người mua hàng quay trở lại với công ty ( 70% khách hàng là khách hàng quen thuộc)
- Cải tiến hiệu quả quy trình kinh doanh: giảm lỗi do bất cẩn từ đó mà phục vụ khách hàng tốt hơn
Công ty Yoshida IM là một mô hình doanh nghiệp nhỏ với số nhân viên và vốn ít ỏi đã bước đầu có được thành công và đang ngày một phát triển nhờ có một mục đích áp dụng CNTT rõ ràng, nhanh chóng ứng dụng và đầu tư thích hợp cho CNTT trong nội bộ công ty, và tận dụng CNTT để tiếp cận khách hàng một cách có hiệu quả để từ đó chăm sóc khách hàng được tốt hơn.
2.2. Thực trạng thương mại điện tử B2B Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
2.2.1 Quy mô và cơ cấu thị trường
TMĐT B2B đó thu hút được nhiều sự quan tâm chú ý ở Nhật Bản. Nó được xem như một lực lượng chủ đạo trong việc đã phục hồi nền kinh tế Nhật Bản ở giai đoạn trì trệ, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhật Bản trên thị trường thế giới .
TMĐT B2B là một phương tiện được thực hiện thông qua Internet để nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của các doanh nghiệp, giúp cho các công ty tạo ra được các cơ hội kinh doanh cho mình, cũng như dễ dàng hơn trong việc đánh giá chính xác nhu cầu người tiêu dùng, giảm tối thiểu được các bản kiểm kê hàng và tất nhiên là giảm được các chi phí liên quan. Không những thế nó còn tạo ra được mối quan hệ ổn định giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng và là một phương tiện huy động vốn rất có hiệu quả cho các doanh nghiệp.
Theo điều tra của hiệp hội xúc tiến thương mại Nhật Bản ( ECOM ) , trong vòng 9 tháng ( từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2020 ) có 350 doanh nghiệp tham gia vào thương mại điện tử được công bố trên Internet, báo, tạp chí và các phương tiện thông tin khác. Con số này hiện nay đã lên tới hơn 2018 doanh nghiệp tăng rất nhiều so với năm 2017 (295 doanh nghiệp ).
Năm 2018 cũng là năm xuất hiện thị phần điện tử ( E – marketshare) trên thị trường thương mại điện tử. Điều này cũng làm cho giao dịch thương mại điện tử B2B trở nên dễ dàng hơn đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
ECOM đó tiến hành điều tra quy mô thị trường thương mại điện tử B2B cùng với bộ kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản (METI) và đã đưa ra kết quả tổng doanh số của thương mại điện tử B2B đạt 125 nghìn tỷ yên vào năm 2024, dự đoán đến năm 2028 sẽ là 205 tỷ Yên. Con số trên có thể nói thương mại điện tử B2B đã ăn sâu vào thị trường Nhật Bản.
Ngày 13/3/2020 tại Tokyo, công ty công nghệ thông tin lớn nhất thế giới IBM Japan phối hợp với hiệp hội các nhà sản xuất điện tử Nhật Bản xây dựng một “cơ sở hạ tầng áp dụng chung” (CAI-Comon Application Infrastructure) cho hệ thống thương mại điện tử B2B trong ngành sản xuất điện tử ở Nhật Bản. Hệ thống này ra đời với mong muốn sẽ rút ngắn được quá trình thực hiện thương mại điện tử. Cơ sở hạ tầng ứng dụng chung” sẽ quy định những tiêu chuẩn đặc trưng về thương mại điện tử B2B và một số ứng dụng khác thông qua việc điều hành quá trình giao dịch trên Internet. Đây là một mạng lưới thông tin liên kết các nhà kinh doanh trong ngành điện tử với nhau. Mạng bắt đầu hoạt động vào 10/2020 và chịu sự quản lý bởi trung tâm JNX- do viện nghiên cứu điện tử Nhật Bản thiết lập. Bằng cách tiếp cận với JNX các nhà kinh doanh có thể thực hiện trao đổi thông tin một cách hiệu quả và chính xác, bao gồm các giao dịch như: đặt, thiết kế và chuyển giao dữ liệu với nhiều nhà máy qua mạng. Thông qua hình thức này, các nhà sản xuất điện tử hay các linh kiện điện tử sẽ dễ dàng tiếp cận với bạn hàng, đạt được hiệu quả kinh doanh cao với chi phí giảm đáng kể. Đã có 50 hãng kinh doanh ở Nhật Bản đó sử dụng JNX. Trong tương lai, hình thức này sẽ được mở rộng sang một số lĩnh vực khác như: các nhà xây dựng, các nhà sản xuất máy công nông nghiệp, nguyên vật liệu thô, tài chính, phân phối và giáo dục… Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Các ngành chiếm thị phần lớn trong thị trường thương mại điện tử B2B ở Nhật vẫn là những ngành khá nổi tiếng , phải kể đến là các sản phẩm thiết bị điện tử và công nghệ thông tin, công nghiệp ôtô và máy móc công nghiệp, máy móc chính xác.Ngành sản xuất đồ điện tử và công nghiệp ôtô là hai ngành chiếm tỷ trọng rất cao 31% và 23.46% với tốc độ tăng trưởng ổn định. Tỷ lệ thương mại điện tử hóa của hai ngành này cũng chiếm vị trí tiên phong là 46.7% và 49.7%, tiếp theo đó là dệt may 27.6%, sản xuất giấy và đồ dùng văn phòng 27.2%, ngành giao thông du lịch 23.5%
- Bảng 8: Cơ cấu mặt hàng trên thị trường B2B Nhật Bản 2019-2024
TMĐT phát triển mạnh trong các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, truyền thông, dịch vụ phần mềm ,máy móc chính xác… là những ngành khá nhạy bén với sự phát triển của khoa học công nghệ và truyền thông. Trong khi đó thương mại điện tử lại ít tăng trưởng trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, mỏ…
- Bảng 9: Biểu đồ thị trường thương mại điện tử B2B ở Nhật Bản và Mỹ 2024
Nhìn trên biểu đồ ta có thể thấy tỷ lệ thương mại điện tử hóa B2B ở Nhật Bản lớn gấp đôi so với ở Mỹ. Thị trường thương mại điện tử B2B theo nghĩa hẹp của Mỹ là 92 nghìn tỷ Yên và theo nghĩa rộng là 189 nghìn tỷ Yên. Trong khi con số này tương ứng ở Nhật Bản là 140 nghìn tỷ Yên và 224 nghìn tỷ Yên. Những con số này có thể tính chuyển đổi sang tỷ lệ thương mại điện tử hóa B2B ở 2 quốc gia, tỷ lệ thương mại điện tử hóa của Nhật cao gần gấp đôi tỷ lê thương mại điện tử hóa của Mỹ theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp,từ đó có thể thấy rõ thương mại điện tử B2B ở Nhật Bản rất và đang phát triển ngày càng nhanh, mạnh.
2.2.2. Đặc điểm chính Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Thị trường B2B ở Nhật Bản là vô cùng to lớn và nhiều tiềm năng, chiếm đến 90% tổng khối lượng giao dịch của thị trường thương mại điện tử cả nước. Ngay từ khi mới hình thành, rất nhiều doanh nghiệp đã nhìn thấy lợi ích của việc triển khai thương mại điện tử trong sản xuất kinh doanh nên họ nhanh chóng đầu tư cho lĩnh vực này. Thêm vào đó với hạ tầng kỹ thuật hiện đại bậc nhất thế giới cộng với sự quan tâm đầu tư của chính phủ, hành lang pháp lý được đặt nền móng ngay từ ban đầu đã tạo điều kiện rất nhiều cho các doanh nghiệp trong việc ứng dụng thương mại điện tử.
Đã có rất nhiều các công ty bán lẻ của Mỹ như Best Buy, Home Depot,Target…ra nhập vào thị trường Nhật Bản và xây dựng rất nhiều chi nhánh.Họ cố gắng làm theo những gì họ đã làm ở Mỹ, ví như Wal-Mart có 90% mặt hàng của mình từ các nhà sản xuất địa phương. Một trong những lợi thế cạnh tranh lớn của Wal-Mart chính là có mối liên kết chặt chẽ với các nhà cung cấp. Tuy nhiên điều này không giống với ở Nhật Bản và họ đã thất bại khi ra nhập thị trường này. Nhật Bản có một hệ thống phân phối hoàn toàn khác- hầu hết các nhà bán lẻ lấy hàng hóa từ nhà phân phối chứ không trực tiếp từ nhà sản xuất. Việc có nhiều tầng phân phối làm cho thương mại điện tử không phát huy hiệu quả một cách tối đa.
Các công ty Nhật Bản chú trọng hơn vào đầu tư công nghệ, bảo mật,..trong mạng lưới đối tác thân thiết hơn là cho thị trường mở bên ngoài. Điều này là do một phần tư tưởng quản lý chú trọng vào mối quan hệ đối tác lâu dài.
Nhật Bản có một cấu trúc trường rất đặc biệt, đó là một hệ thống các tập đoàn (keiretsu) được thiết lập vô cùng chặt chẽ. Vậy nên Nhật Bản có cơ sở quản lý để tiến hành thương mại điện tử trên quy mô lớn mang tính tập đoàn. Các tập đoàn này có khá nhiều lợi thế khi triển khai thương mại điện tử. Các tập đoàn lớn có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác và tin tưởng lẫn nhau là một yếu tố quyết định hàng đầu để sử dụng EDI và Extranet. Đây chính là lý do giải thích cho việc triển khai EDI rất thành công ở Nhật. Các tập đoàn lớn đã phát triển những hệ thống được xây dựng của chính công ty mình cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cùng một tập đoàn và hệ thống EDI của công ty cũng được thay đổi thành hệ thống Web-EDI mà ngay cả những doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng rất dễ sử dụng. Điều này đã giúp thúc đẩy các doanh nghiệp nhỏ và vừa đưa và vận dụng và phát triển thương mại điện tử.
Việc cung cấp các dịch vụ trong giao dịch B2B, nhờ các tác dụng như tác dụng của việc trao đổi các dữ liệu điện tử EDI, tác dụng kết nối với ERP mà các doanh nghiệp đã có thể cung cấp thêm nhiều dịch vụ giá trị gia tăng. Những doanh nghiệp ứng dụng hoàn thiện trao đổi dữ liệu điện tử EDI đã chuẩn bị trước một cách kĩ lưỡng với các đối tác có khả năng giảm đi những phiền hà của việc ứng dụng hệ thống. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Để phát triển thương mại điện tử B2B thì nhân tố tài chính là vô cùng quan trọng. Ở Nhật Bản, các quỹ đầu tư mạo hiểm, incubators, các nhà đầu tư, quỹ tài chính…tuy so với Mỹ thì còn ít hơn cả về số lượng lẫn quy mô đầu tư song nhìn chung đã được hình thành từ khá sớm và đóng góp rất nhiều cho thương mại điện tử ngày nay. Vài năm trở lại đây có một xu hướng phát triển sinh ra từ cạnh tranh trong lĩnh vực thương mại điện tử đó là việc ra đời các incubator cùng với việc thành lập các tập đoàn lớn và xu hướng sáp nhập giữa các công ty trên các lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, ngân hàng: SoftBank và Internet Initiative Japan Inc. (IIJI), E-Trade Japan và Yahoo! Japan. Softbank và Orix, Softbank và Nippon Credit Bank, Toyota và IIJI…Còn khá nhiều các incubators cũng đã thâm nhập vào Nhật Bản: Sunbridge Group, J-speed Ventures, và WebEggs…
2.2.3. Các doanh nghiệp tiêu biểu
Là một tập đoàn đa quốc gia của Nhật Bản được thành lập 10/08/1937, một công ty trong lĩnh vực sản xuất các sản phẩm về hình ảnh và quang học, bao gồm máy Camera, máy photocopy và máy in. Dưới đây là một số thông tin sơ lược về công ty:
Là một công ty có uy tín lâu năm và sản phẩm được biết đến trên toàn thế giới, Canon đang ngày một phát triển và lớn mạnh. Một trong những bí quyết thành công của công ty chính là nhờ đã ứng dụng công nghệ cao vào trong sản xuất cũng như ứng dụng hiệu quả CNTT trong quản lý điều hành. Vì sản phẩm của công ty mang tính công nghệ rất cao, môi trường canh tranh vô cùng khốc liệt, chính vì vậy công ty đã có những chính sách hợp lý để cạnh tranh:
Đầu tiên phải kể đến là Canon đã ứng dụng và không ngừng củng cố hệ thống SCM. Để thành công và thích ứng nhanh chóng với những biến động của thị trường, công ty phải không ngừng tung ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao.Điều này không thể đạt được bằng cách sản xuất theo kế hoạch đặt ra mà phải xây dựng một hệ thống SCM ở mức độ cao thông qua đổi mới CNTT để hợp nhất thông tin từ khâu nghiên cứu phát triển đến khâu bán hàng. Nhờ việc sản xuất mang tính thích ứng cao với nhu cầu, công ty đã giảm tối đa chi phí có thể. Công ty đã phát triển hệ thống thông tin sản xuất hợp nhất ( Unified Production Information System) để chuẩn hóa và cải cách các hoạt động trong tập đoàn. Được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 2021, hệ thống này đã được áp dụng tại 20 nhà máy sản xuất của tập đoàn. Hệ thống này tổng hợp tất cả các thông tin sản xuất rồi kết nối tới thông tin về thay đổi trong thiết kế theo xu hướng của thị trường. Canon không ngừng tăng độ chính xác của hệ thống SCM để phản ứng nhanh nhất với nhu cầu thị trường và giảm tồn kho. Công ty điều chỉnh lượng sản xuất thông qua hệ thống sản xuất linh hoạt.Hệ thống này dựa trên mô hình sản xuất dạng tế bào (cell production) cùng với nỗ lực giảm chi phí nguyên liệu.Canon không ngừng nâng cao hệ thông giao nhận để đáp ứng cho sự sản xuất và phân phối toàn cầu.
- Hình ảnh dây chuyền sản xuất máy in tại Canon Việt Nam
Canon cũng đẩy mạnh chiến lược và xây dựng một hệ thống sản xuất toàn cầu dựa trên việc sản xuất tại từng quốc gia, từng địa phương. Canon Virginia ở Mỹ là nơi đầu tiên xây dựng nhà máy được trang bị hệ thống hợp nhất giữa các bộ phận: sản xuất, bán hàng, hậu mãi. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Để tăng tốc độ phát triển sản phẩm và giảm chi phí, Canon không ngừng nâng cao hiệu quả của quy trình R&D. Công ty ứng dụng hệ thống CNTT hợp nhất dựa trên hệ thống 3D-CAD đã làm cho việc chia sẻ thông tin giữa bộ phận thiết kế, nghiên cứu thị trường và sản xuất trở nên dễ dàng trong một quy trình cùng lúc. Canon tiến hành giảm chi phí bắt nguồn từ sự thay đổi thiết kế và loại bỏ hoàn toàn nhu cầu cần các mẫu thử nghiệm. Thay vào đó, Công ty sử dụng công nghệ thử nghiệm ảo bao gồm Digital Mockup và Computer Aid Engineering. Thêm vào đó, vào năm 2026, hệ thống đo có tên Tamagawa state-of-the-art và các thiết bị thử nghiệm chính thức đi vào hoạt động giúp công ty có thể đo chính xác hơn thông số kỹ thuật của sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.
Với sự phát triển của công nghệ cao nhằm giảm thiểu chi phí, Công ty không ngừng mở rộng quy mô tự động hóa với mục tiêu xây dựng hệ thống sản xuất tự động hóa hoàn toàn. Ứng dụng các robot thông minh để thực hiện các công việc yêu cầu chính xác phức tạp.
- Bảng 10 : Tình hình kinh doanh của Công ty Canon qua các năm
- Bảng 11 : Đầu tư cho CNTT của Công ty Canon qua các năm
Có thể thấy mặc dù do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, doanh thu và lợi nhuận của tập đoàn Canon có bị suy giảm nhưng tỷ lệ đầu tư cho CNTT lại ngày một được tăng lên. Qua đó thấy được sự đầu tư cho công nghệ của tập đoàn ngày một được quan tâm chú trọng.
Sự thành công của tập đoàn Canon có một phần rất lớn là do đã ứng dụng CNTT trên một quy mô lớn, không ngừng đổi mới và hoàn thiện hệ thống từ nghiên cứu phát triển sản phẩm đến sản xuất, tiêu thụ để giảm thiểu chi phí và đáp ứng nhu cầu thị trường một cách nhanh nhất. Canon là một mô hình về ứng dụng phần mềm quản trị kênh cung ứng SCM vô cùng thành công ở các nhà máy trên nhiều quốc gia cũng như ứng dụng 3D-CAD một cách hiệu quả.
Toyota Motor Corporation là một công ty đa quốc gia có trụ sở tại Tokyo-Nhật Bản, và là một trong những nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới. Về mặt công nhận quốc tế, hãng Toyota là nhà sản xuất xe hơi duy nhất có mặt trong nhóm top 10 xếp hạng công nhận tên BrandZ.
Được thành lập 28/08/1937, đến nay tên tuổi cũng như những chiếc xe hơi mang thương hiệu Toyota đã nổi tiếng trên toàn thế giới. Tính đến năm 2026, Công ty có 522 công ty con trên toàn cầu và 316121 nhân viên.
Hệ thống sản xuất xe hơi Toyota (Toyota Production System-TPS) được kết hơp bởi hai hệ thống : sản xuất tinh gọn (lean manufacturing) và sản xuất kịp thời ( Just-in-time ). Mô hình sản xuất này đã được thiết lập từ những năm 1950 và được coi là mô hình để học tập trên toàn thế giới. Nếu được hỏi điều gì đã làm nên thành công của Toyota như ngày nay? Chắc chắn điều đầu tiên được nhắc đến chính là hệ thống sản xuất TPS này. Nhưng phải nói thêm rằng đằng sau những dây chuyền sản xuất đó là hệ thống CNTT vô cùng phức tạp để hỗ trợ quy trình kinh doanh từ đó giúp nhà sản xuất loại bỏ lãng phí, giảm tồn kho và không ngừng cải thiện sản xuất. Toyota không hề có chiến lược phát triển các ứng dụng CNTT trong toàn Công ty nhưng lại biết rất rõ vai trò của CNTT trong việc hỗ trợ việc kinh doanh sản xuất. Vai trò CNTT chính là đã đưa sản phẩm đến khách hàng một cách nhanh nhất và tốt nhất. Toyota sử dụng các phần mềm mới để rút ngắn thời gian từ khi nhận đơn đặt hàng đến khi xe xuất xưởng, dùng máy tính quan sát mọi dây chuyền hệ thống để trách các lỗi cho sản phẩm. Toyota luôn cắt giảm số lượng nhân công ở mức ít nhất có thể. Toyota luôn khuyến khích mọi bộ phận trong công ty ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả công việc. Một khảo sát trên 3000 nhân viên bán xe của hãng cho thấy mỗi ngày mỗi người đã tiết kiệm được 1.8 giờ khi sử dụng hệ thống Text-based có tên là Dealer Daily và từ đó đã tiết kiệm được hàng chục triệu đô la. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Toyota đã sử dụng các ứng dụng trên nền SAP/3 ERP (Enterprise Resource Planning) một vài năm gần đây. ERP không chỉ là tự động hóa mà còn là cải thiện quy trình làm việc. SAP/3 EPR là công cụ hiệu quả giúp quản lý các nguồn lực khác nhau ( nhân lực – tài lực –vật lực). Fujitsu là đơn vị được thuê để hỗ trợ dịch vụ cho các bộ điều khiển của SAP. Fujitsu quản lý các giàn máy chủ IBM AS/400 của Toyota, đồng thời hỗ trợ các ứng dụng PAMS (Parts Application Management System) của tập đoàn sản xuất xe hơi. Fujitsu đang làm việc với Toyota như một nhà quản lý Công nghệ thông tin để tăng cường không chỉ các dịch vụ Công nghệ thông tin mà còn giúp Toyota sử dụng Công nghệ thông tin nhằm tăng khả năng quản lý các dịch vụ ngoại thương.
Không những ứng dụng CNTT trong lĩnh vực sản xuất mà Toyota còn ứng dụng CNTT cho các sản phẩm của mình để nâng cao tính cạnh tranh và ngày càng làm hài lòng khách hàng. Một loạt các ứng dụng CNTT và truyền thông đã được lắp đặt trên các xe của Toyota để nâng cao độ an toàn và gia tăng tiện ích cho người sử dụng : The Vehicle Information and Communication System(VICS), Driving Safety Support System (DSSS), Electronic Toll Collection System (ETC) .
- Bảng 12: Tình hình kinh doanh của Công ty Toyota 2022-2026
Thiết lập trang chủ bán hàng www.toyota.cm cùng với những trang web ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, Toyota đã tận dụng mọi phương tiện để tiếp cận gần hơn tới từng khách hàng. Thông qua các trang web này khách hàng có thể tìm được chiếc xe thích hợp cho mình và tìm được nhà phân phối tại địa phương một cách thuận tiện nhất. Trang web cung cấp, chia sẻ thông tin với khách hàng và với đối tác.
Tìm hiểu về Công ty Toyota điều gì đã làm cho công ty thành công to lớn đến như vậy, trước tiên phải kể đến sự kết hợp giữa hệ thống sản xuất kiểu mẫu TPS được hỗ trợ hiệu quả bởi CNTT. Việc khuyến khích ứng dụng CNTT để nâng cao hiệu quả công việc trong từng bộ phận công ty cũng như luôn tìm các phần mềm mới hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình đã giúp Toyota có quy trình sản xuất và kinh doanh hiệu quả, giảm thiểu thời gian và sai sót.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Agasta là một công ty chuyên thu thập các loại xe hơi đã qua sử dụng tại Nhật Bản sau đó sửa chữa rồi chủ yếu xuất khẩu sang nước ngoài theo yêu cầu đặt hàng. Công ty được thành lập vào 6/1997 với vốn điều lệ 3 triệu Yên, gồm 29 nhân viên.
Vào 7/2022, cổ phiếu của công ty chính thức lên sàn chứng khoán Tokyo. Đến năm 2023 tổng doanh số bán hàng lên tới 6,688 triệu $. Đến nay, thông qua trang web bán hàng www.picknbuy24.cm của mình, Agasta đã bán được gần 38000 chiếc xe ở 59 quốc gia trên thế giới. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Với ý tưởng tái sử dụng không biên giới và hiểu được tâm lý ưa chuộng chất lượng của xe ôtô Nhật Bản, Agasta đã xây dựng mô hình kinh doanh xuyên quốc gia dựa trên các kênh phân phối hiệu quả của mình. Hai mô hình kinh doanh cốt lõi của công ty là B2B và kinh doanh trên Website.
Agasta có một hệ thống các nhà cung cấp ôtô đã qua sử dụng trên cả nước: từ các nhà đấu giá đến các công ty cho thuê ôtô và các nhà bán buôn ôtô cũ. Hơn thế nữa, Agasta có một đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và hệ thống kiểm tra chất lượng tiêu chuẩn đảm bảo cung cấp xe đảm bảo chất lượng và giá cả phù hợp. Các nhà bán buôn hay người tiêu dùng ở các quốc gia trên thế giới có thể đặt mua hàng trên website của công ty. Website www.picknbuy24. là website giao dịch trực tuyến chính thức của công ty có những điểm đáng chú ý:
- Danh mục các chủng loại xe theo hãng sản xuất như Toyota, Nissan, BMW..hay theo các dòng xe và danh mục xe theo mục đính sử dụng như xe gia đình, xe tải, 16 chỗ…Bên cạnh đó là công cụ tìm kiếm giúp người truy cập nhanh chóng tìm được xe phù hợp.
- Website cho phép người dùng tự thiết kế xe theo sở thích và yêu cầu của mình, trên màn hình sẽ hiện ra bảng giá và cộng giá ngay khi người dùng chọn.
- Website có mục hướng dẫn rất chi tiết cách thức tiến hành giao dịch và luôn có người tư vấn trực tuyến của công ty giúp khách hàng chọn được xe phù hợp nhất cũng như về cách thức mua hàng. Đối với người mua hàng lần đầu hay không quen sử dụng Internet có thể tiến hành giao dịch qua điện thoại.
Đặc biệt Agasta là công ty luôn sớm nhìn thấy tiềm năng to lớn của công nghệ thông tin. Công ty đã ứng dụng rất thành công công nghệ Web 2.0 trong kinh doanh và đã tạo được hiệu quả vô cùng to lớn. Công nghệ này đã thực sự kết nối được 4 yếu tố: tri thức, con người, quy trình và hệ thống mạng.Công nghệ web 2.0 và các phương tiện truyền thông có khả năng kết nối liên tục, đặc biệt là giải pháp “Truyền thông Doanh nghiệp tích hợp” (Business Integrated Communication Solution – BiCS) giúp các nhân viên truy cập, chia sẻ và phát triển thông tin, đặc biệt là thông tin đa phương tiện như: thoại, hình ảnh, âm thanh… một cách dễ dàng. Trước đây DN cần nhiều máy chủ, mỗi hệ thống phải có một máy chủ. Với BiSC, DN chỉ cần 1 máy chủ duy nhất và triển khai dễ dàng mà không cần đội ngũ chuyên gia về CNTT.BiCS kết hợp với các dịch vụ 2.0 sẽ cung cấp cho từng người trong doanh nghiệp các công cụ làm việc chuyên môn hóa, nâng cao khả năng truy cập những thông tin trọng yếu khi cần, kết nối họ với những người khác trong doanh nghiệp và với quy trình công việc theo thời gian thực, ngay cả khi họ đang di động (ở ngoài văn phòng). Điều đó giúp các nhân viên dễ dàng chia sẻ, phối hợp và tận dụng kiến thức, kỹ năng của nhau, tạo ra những mối quan hệ chặt chẽ hơn, nâng cao tinh thần làm việc tập thể, cho dù họ ở những địa điểm khác nhau. Không chỉ với đồng sự, các nhân viên trong công ty còn có thể chia sẻ kiến thức và cộng tác một cách dễ dàng hơn với đối tác, nhà cung cấp và khách hàng, do đó tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh hơn.
Tóm lại, thành công của công ty Agasta là nhờ biết áp dụng nhanh chóng, phù hợp công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh của mình.Mô hình kinh doanh của Agasta kết hợp chặt chẽ thông tin, tri thức và con người với quy trình kinh doanh, trên một hạ tầng cơ sở hiện đại, ổn định và bảo mật.
2.3. Phương diện pháp lý của thương mại điện tử ở Nhật Bản. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Trong thời đại của công nghệ thông tin, hầu hết các công ty Nhật Bản coi thương mại điện tử là một giải pháp hữu hiệu tạo ra lợi nhuận. Tuy nhiên thương mại điện tử không phải không có những vấn đề kèm theo nó. Một trong số đó là phải xây dựng một chính sách định hướng phát triển trong đó khung pháp luật để điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử được coi là quan trọng cốt lõi.
Năm 2019, Bộ Kinh tế và Công nghiệp Nhật Bản đã đưa ra mục tiêu tổng quát để phát triển thương mại điện tử ở nước này,các mục tiêu đó là:
- Tất cả mọi người đều tham gia vào thị trường giao dịch thương mại điện tử.
- Hình thành thị trường thương mại điện tử với tư nhân là chủ đạo.
- Nâng cao tốc độ giao dịch thương mại điện tử.
- Hình thành thị trường không có biên giới quốc gia, mở rộng thị trường ra nước ngoài thông qua thương mại điện tử.
- TMĐT hóa tất cả các giao dịch truyền thống, phát huy được tính tiện lợi của thương mại điện tử, hình thành nên thị trường giao dịch trên mạng máy tính mới mẻ và các hình thái giao dịch mới.
Để đạt được các mục tiêu trên, Nhật Bản đã phải nỗ lực trên nhiều mặt để làm tăng độ tin cậy cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp khi tham gia thương mại điện tử đồng thời xóa đi các rào cản ngăn trở việc thương mại điện tử hóa. Dưới đây là những nỗ lực của chính phủ Nhật Bản trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho thương mại điện tử ở nước này.
Trong dự thảo luật cơ bản về việc thành lập xã hội thông tin tiên tiến (luật cơ bản IT – Information Technology) được ban hành 29/10/2018 và bắt đầu có hiệu lực từ 06/01/2019. Trong đó có quy định rằng “ Việc thiết lập xã hội thông tin tiên tiến phải nhằm mục đích xúc tiến thương mại điện tử”. Dự thảo luật cũng đưa ra những chính sách và những biện pháp cần thiết để xúc tiến thương mại điện tử như xem lại các quy định cũ, tạo lập những quy định mới nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ người tiêu dùng. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
Về luật hợp đồng: trước đây hợp đồng được điều chỉnh bởi luật dân sự và không cần có hình thức nào. Tuy nhiên để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, một vài luật đặc định như luật bán hàng trả góp có quy định người bán hàng phải có nghĩa vụ cung cấp một văn bản quy định rõ về một số điều khoản quan trọng như tổng giá trị của hợp đồng, số tiền trả từng lần, phương pháp thanh toán và thời hạn thanh toán. Ngày 27/10/2018, một dự thảo luật sửa đổi luật hợp đồng đã được quốc hội thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ 1/4/2019, trong đó có quy định rõ tuỳ theo thoả thuận của các bên tham gia mà người bán, người mua có thể sử dụng một số phương tiện điện tử thay cho giấy tờ.
Về luật chữ ký điện tử (5/2018): Khi một người thực hiện các giao dịch với một bên khác, thì việc xác nhận sự chứng thực của bên kia là một việc làm cần thiết. Điều này là rất khó trong thương mại điện tử bởi có thể tạo ra chứng thực giả bằng cách thay đổi các dữ liệu thông tin thông qua Internet. Tuy nhiên ở Nhật Bản trước đó không có một luật nào quy định chữ ký điện tử và việc kinh doanh chứng thực điện tử có hiệu lực pháp lý. Luật chữ ký điện tử(ESL- Electronic Signature Law) được ban hành đã quy định rõ chữ ký điện tử sẽ có hiệu lực pháp lý giống như chữ ký và con dấu thông thường trong giao dịch thương mại truyền thống. Các tổ chức chứng thực chữ ký điện tử phải đăng ký lấy giấy phép của chính phủ khi đáp ứng đủ một số yêu cầu nhất định.Ở nhiều nước thì một số văn bản, hợp đồng như giấy tờ nhà đất đòi hỏi phải ở trên giấy tờ nhưng ở Nhật Bản thì không có những ngoại lệ này. Điều này cho thấy dường như những nhà lập pháp ở Nhật Bản rất ủng hộ việc sử dụng văn bản giấy tờ điện tử và chữ ký điện tử. Điều này là một minh chứng rõ ràng cho sự sáng tạo đổi mới của môi trường pháp lý. Chính phủ Nhật Bản đang phải nỗ lực tiến hành nghiên cứu, phổ biến, giáo dục cho công chúng về chữ ký điện tử và kinh doanh chứng thực.
Bên cạnh đó, theo luật đăng ký thương mại , một công ty buộc phải đăng ký con dấu công ty và một số thông tin quan trọng khác về công ty như: tên, địa chỉ trụ sở chính…. Thậm chí nếu các thông tin mà công ty cung cấp là thông tin giả tạo thì các bên tham gia kinh doanh với công ty này sẽ được bảo vệ tuỳ theo mức độ thiệt hại mà các thông tin này gây ra cho đối tác.
- Về các quy định để bảo vệ người tiêu dùng:
Trong bối cảnh Internet phát triển mạnh mẽ, việc bí mật thông tin riêng tư của các cá nhân sẽ dễ dàng bị tiết lộ, 1/4/2021 Luật bảo vệ thông tin cá nhân (PIPA- Japan’s Personal Information Protection Act) có hiệu lực, luật đưa ra một số các quy định như: Việc thu thập và xử lý thông tin bí mật về các cá nhân phải phù hợp với mục đích sử dụng thụng tin. Quá trình thu thập các thông tin bí mật phải được tiến hành theo cách thức thích hợp, cấm việc tiết lộ thông tin cỏ nhân và phải đính chính các thông tin nếu các thông tin này bị sai lệch. Các công ty và tổ chức sử dụng thông tin cá nhân đúng với mục đích sử dụng, không được tiết lộ cho bên thứ ba. Chính phủ giao cho tổ chức Bảo vệ thông tin cá nhân (PIPOs) quản lý và giải quyết các vấn đề liên quan đến bí mật thông tin cá nhân. PIPA đã tạo thuận lợi cho việc đạt được sự hoàn thiện to lớn đối với vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân ở cả trong lĩnh vực tư nhân và công cộng. Hơn nữa PIPA còn tạo ra các quyền lợi hợp pháp cho cá nhân liên quan đến thông tin cá nhân và thiết lập những phương tiện để bảo vệ quyền đó. Việc giao cho các công ty PIPO nhận và tiến hành giải quyết những khiếu nại liên quan đến bảo mật thông tin cá nhân là một phương pháp hay, đổi mới cho các nước khác học tập.
Ngoài ra Nhật Bản còn tiến hành hoàn chỉnh các quy định liên quan đến quy tắc khi tham gia thương mại trên Internet ( Các hành vi có thể đăng ký mua hàng trên mạng và ký kết hợp đồng do Bộ Kinh tế thương mại ban hành 23/10/2019).
Luật về cấm xâm nhập máy tính trái phép(UCAL-The Unauthorized Computer Access Law) được thông qua vào năm 2017 và có hiệu lực từ năm 2018. Luật cấm các hành vi xâm nhập trí phép máy tính, nêu rõ những hình phạt cho những hành vi này từ đó khuyến khích phát triển và thi hành những biện pháp ngăn ngừa hành vi xâm nhập máy tính một cách trái phép.
Đối phó với thư rác, Bộ Kinh tế thương mại tiến hành sửa đổi một phần nghị định thực hiện Luật Thương mại điện tử đặc định và hoàn thiện các chính sách xử lý khiếu nại về các vấn đề thư rác.
- Luật liên quan đến xác thực hóa thông tin của thư điện tử đặc định, ban hành 01/01/2020.
Về các quy định liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ: nhằm mục đích thúc đẩy cạnh tranh công bằng và lành mạnh, hướng đến việc hình thành môi trường cung cấp và sử dụng an toàn,có thể xử lý những thông tin gây hại hay phạm luật, Nhật Bản đã có các quy định đối với vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
- Cấm tất cả những thu nhập từ tên miền và thương hiệu bất hợp pháp( Luật cấm cạnh tranh không lành mạnh ban hành 22/6/2019,có hiệu lực từ 25/12/2019)
- Minh bạch hóa việc bảo hộ các chương trình máy tính giao dịch qua mạng máy tính( Sửa đổi một phần Luật ưu đãi ban hành 11/04/2020)
- Bổ sung quyền gửi thông tin của các công ty truyền thông và công ty truyền thông có dùng dây cáp.
2.4. Thực trạng sử dụng hợp đồng điện tử ở Nhật Bản
Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, hợp đồng điện tử ngày càng được sử dụng nhiều hơn bởi những tiện ích mà nó mang lại: giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, khả năng phản hồi nhanh chóng, cải thiện chất lượng dịch vụ, giảm công việc giấy tờ… do đó là tăng tính tự động hóa. Với hợp đồng điện tử, thương mại điện tử cải thiện năng suất và tăng tính cạnh tranh lên rất nhiều bằng việc tạo ra hướng đi tới thị trường toàn cầu với hàng triệu người tiêu dùng và hàng ngàn sản phẩm dịch vụ một cách nhanh nhất. Tuy nhiên hợp đồng điện tử không phải không có những mặt trái của nó mà chủ yếu là từ những rủi ro mất an toàn thông tin trong môi trường tự động hóa cao.
Nhận thức rõ được điều này, chính phủ và các doanh nghiệp Nhật Bản đã có những bước đi hợp lý để việc sử dụng hợp đồng điện tử được thuận tiện mà an toàn. Đầu tiên là phải kể đến việc ban hành Luật về hợp đồng điện tử (1/4/2019) đã tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng cho các bên liên quan trong lĩnh vực này. Luật Hợp đồng điện tử của Nhật Bản có những quy định cần lưu ý đó là:
- Thời gian hợp đồng hình thành: là khi thư thông báo chấp nhận đến và lưu vào hòm thư hay một thiết bị sử dụng để nhận thư của bên đối tác và với hình thức có thể đọc được.
- Nếu sau khi nhận thư mà hệ thống thông tin của bên nhận bị hỏng thì hợp đồng vẫn coi như được hình thành. Tuy nhiên, nếu thư không đến được hòm thư của người nhận là do lỗi kỹ thuật của bên gửi thì hợp đồng coi như chưa hình thành.
- Thư phải trong tình trạng có thể đọc được tức là thư không bị bóp méo nội dung hay không bị mã hóa mà người nhận không thể giải mã được. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
- Trường hợp có kẻ giả danh một bên để ký kết hợp đồng:
- Nếu giữa hai bên mua bán không có thỏa thuận trước về nhận dạng danh tính (thường là trong trường hợp mua bán một lần) thì hợp đồng được coi như chưa hình thành. Nếu đã có thỏa thuận trước( mua bán nhiều lần) về nhận dạng danh tính thì việc hợp đồng hình thành hay chưa còn phụ thuộc vào tình trạng máy nhận dạng.
- Nếu là giữa người sử dụng thẻ và công ty phát hành thẻ thì trách nhiệm chịu chi phí sẽ do người sử dụng thẻ chi trả nếu người giả danh là người nhà hay lỗi rò rỉ thông tin là của người sử dụng thẻ.
- Nếu là giữa người sử dụng dịch vụ và ngân hàng trực tuyến thì điều khoản hợp đồng bị rò rỉ vẫn coi là có giá trị nếu như lỗi đó là do hệ thống bảo mật của ngân hàng.
- Nếu cơ quan chứng thực chữ ký số phát hành chứng thực sai, hay do lỗi xử lý thông tin không đầy đủ gây thiệt hại cho bên thứ 3 thì cơ quan chứng thực phải hoàn toàn chịu trách nhiêm về mọi tổn thất.
- Biện pháp bảo vệ người tiêu dùng:
- Trong giao dịch điện tử B2C, nếu một công ty không dùng các biện pháp để xác nhận đặt hàng của khách hàng thì một đơn đặt hàng không phù hợp( do lỗi sơ ý của khách hàng) bị coi là không có hiệu lực.Trái lại nếu công ty đã dùng các biện pháp để xác nhận đặt hàng thì công ty có thể tuyên bố hợp đồng là có hiệu lực.
- Trong Thương mại trực tuyến, một công ty phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu không có sự chỉ dẫn phù hợp cho khách hàng khi truy cập trang web, dẫn đến một cái nhấp chuột có thể mang lại một bản hợp đồng có hiệu lực ( hợp đồng trái với mong muốn của khách hàng )hay làm khách hàng khó khăn trong việc kiểm tra và đính chính nội dung yêu cầu của họ.
Ngoài ra còn một số luật có liên quan đến hợp đồng điện tử tại Nhật Bản:
- Luật về Tài liệu điện tử (12/2022): Luật đề cập đến việc sử dụng công nghệ thông tin để lưu trữ tài liệu trong doanh nghiệp tư nhân. Luật đã xác nhận tài liệu điện tử như là tài liệu thay thế hợp pháp cho các tài liệu bằng văn bản giấy.
- Luật sử dụng công nghệ thông tin để gửi và nhận tài liệu (12/2018):là luật chung coi tài liệu điện tử có vị trí như lài tài liệu văn bản giấy nếu như các bên giao dịch đồng ý.
- Luật về hợp đồng điện tử tiêu dùng (6/2019): Luật cung cấp các điều khoản đặc biệt để tăng cường bảo vệ người tiêu dùng trong các giao dịch được thực hiện bằng hợp đồng điện tử.
2.5. Thực trạng sử dụng chữ ký số ở Nhật Bản Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
- Bảng 13: Doanh thu từ thị trường PKI Nhật Bản 2019-2024
Có thể thấy thị trường chữ ký số ở Nhật Bản là rất sôi động ngay từ khi luật về chữ ký số (ESL) ra đời. Trong 5 năm từ 2019 đến 2024, doanh thu của thị trường PKI tăng trưởng nhanh chóng: doanh thu từ cung cấp phần mềm PKI năm 2024 là hơn 154 triệu$ tăng 42.5% so với 2019. Cũng với tỷ lệ tăng trưởng 49.6%, dịch vụ cung cấp chứng thực chữ ký số cũng tăng từ 24.1 triệu$ lên 180 triệu $.
- Khái quát hóa thực trạng sử dụng chữ ký số ở Nhật Bản qua 6 lĩch vực căn bản mà nó được dựa trên chủ yếu:
Dịch vụ cơ sở hạ tầng mạng: cung cấp tổ hợp của iDC(Internet Database Cornector), chứng thực chữ ký số(CA), viễn thông, và các dịch vụ bảo mật khác. Đây là yếu tố trở nên ngày càng quan trọng cho iDC để triển khai PKI. Tuy nhiên việc có sử dụng nó trong giao dịch hay không phụ thuộc vào người sử dụng.
Dịch vụ tài chính: Công ty cung cấp chính là Indentrus được chọn sử dụng bởi 4 ngân hàng hàng đầu Nhật Bản. Tuy nhiên không nhiều các hệ thống ngân hàng trực tuyến là dựa trên PKI.Thẻ tín dụng là cách thức chủ yếu để tiến hành thông qua Internet, tiền điện tử và Inter-debit thực sự vẫn chưa hoàn toàn thông dụng ở Nhật.
Thương mại điện tử B2B: bất chấp sự cạnh tranh của thương mại điện tử B2B dựa trên Internet, các mạng hợp tác tư nhân không sử dụng PKI vẫn chiếm tỷ lệ lớn. TEDI- Tổ chức xúc tiến thương mại EDI đã xây dựng công ty dịch vụ RSP và ASP tất cả đều sử dụng PKI, sau đó là nhiều công ty lớn khác nữa cũng dần sử dụng PKI trong đấu thầu, đấu giá, báo giá, thanh toán…
Chính phủ điện tử: Sự ra đời của luật chữ ký điện tử đã xúc tiến dịch vụ sử dụng PKI trong G2C, G2B. Hệ thống GPKI cho chính phủ trung ương và LGPKI cho chính phủ ở địa phương được tiến hành vào năm 2020 và đang ngày càng phát triển hơn. PKI được triển khai để bảo mật dịch vụ công chứng thông qua Internet.
Thương mại điện tử B2C: PKI chưa thực sự xâm nhập sâu rộng vào thị trường B2C do còn thiếu chi phí triển khai. Tuy nhiên, các dịch vụ sử dụng Mobile PKI đã đi vào hoạt động: Docomo’s FOMA(W-CDMA) có chức năng chứng nhận thông tin cá nhân trên con chip UIM và KDDI đã phát nội dung nhạc, game, phim sử dụng PKI, mua bán chứng khoán sử dụng PKI…
B2E Intranet/Etranet: Với PKI và thẻ thông minh, giao dịch B2E có thể bảo mật kết nối tới Intranet hay Extranet từ Internet. Đối tác kinh doanh, nhân viên làm việc ở nhà hay ở văn phòng tại nước ngoài đều có thể dùng dịch vụ B2E và truy cập cơ sở dữ liệu như đang ở trong công ty. Toàn bộ quá trình kinh doanh của công ty trở nên hiệu quả và chuyên nghiệp hơn. PKI thường được triển khai thông qua các CA trong nước tuy nhiên hiện nay đã có rất nhiều các công ty CA nước ngoài tham gia vào lĩnh vực này.
Tóm lại, ở Nhật Bản, chính phủ là nhân tố đi đầu trong việc ứng dụng triển khai PKI. Tiếp đó là đến khối doanh nghiệp, nhu cầu giao dịch qua Internet càng tăng thì các ứng dụng PKI trong doanh nghiệp ngày một sâu rộng hơn. Việc triển khai ứng dụng PKI trong B2C còn gặp nhiều khó khăn do chi phí cho việc sử dụng còn hơi cao tuy nhiên sự phát triển của thương mại di động là một yếu tố giúp PKI thâm nhập sâu vào thị trường tiêu dùng. Khóa luận: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
