Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự xuất hiện mạng thông tin toàn cầu Internet đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong giao dịch thương mại. Thương mại điện tử (TMĐT) được nhắc đến trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng như một cụng cụ kinh doanh điển hình của thế kỷ XXI. Hơn bao giờ hết, vấn đề thương mại điện tử trở nên nóng bỏng đối với mỗi quốc gia, mỗi tổ chức kinh tế- xã hội bởi tính tiện dụng và hữu ích của nó. thương mại điện tử đang ngày càng chứng tỏ những lợi ích tiềm tàng và khả năng to lớn của mình. Trong tương lai, thương mại điện tử sẽ là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của các quốc gia, các khối kinh tế trong cuộc cạnh tranh mang tính khu vực hoá và toàn cầu hoá ngày càng sâu sắc.
Ở Việt Nam hiện nay, thương mại điện tử đã bắt đầu được hình thành và đang dần phát triển. Việc nghiên cứu thực trạng thương mại điện tử ở các nước đi trước từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm, các giải pháp cụ thể cho tiến trình ứng dụng và triển khai thương mại điện tử ở nước ta là một việc làm cần thiết. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, kết hợp với các kiến thức đã học cộng với sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Văn Thoan, em đã chọn đề tài: “Giải pháp phát triển Thương mại điện tử ở Nhật Bản và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” cho Khoá luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề liên quan đến thương mại điện tử ở Nhật Bản : tình hình phát triển, đặc điểm nổi bật và các giải pháp phát triển. Dựa trên cơ sở đó để đề xuất những bài học kinh nghiệm, các giải pháp phát triển thương mại điện tử phù hợp với môi trường và điều kiện của Việt Nam.
Để đạt được mục đích đó, khóa luận thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ khái niệm và một số vấn đề liên quan đến thương mại điện tử nói chung
- Tìm hiểu các hình thức hoạt động phổ biến của thương mại điện tử hiện nay và xu hướng phát triển trong tương lai
- Tìm hiểu tình hình phát triển, đặc điểm chính và các giải pháp ứng dụng thương mại điện tử tử ở Nhật Bản
- Tìm hiểu thực trạng thương mại điện tử ở Việt Nam và bài học từ Nhật Bản để phát triển trong thời gian tới .
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
- Khái niệm, loại hình, lĩnh vực hoạt động, phương tiện thanh toán, yêu cầu của thương mại điện tử
- TMĐT B2B, B2C, môi trường pháp lý, thực trạng sử dụng chữ ký số và hợp đồng điện tử ở Nhật Bản
- Thực trạng ứng dụng thương mại điện tử của Việt Nam
Tìềm năng phát triển và giải pháp ứng dụng thương mại điện tử ở Việt Nam Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển cũng như các giải pháp hữu ích trong phát triển thương mại điện tử của Nhật Bản ở 2 loại hình: B2B, B2C kèm theo đó là môi trường pháp lý điều chỉnh thương mại điện tử Nhật, tình hình sử dụng chữ ký số, hợp đồng điện tử ở Nhật và thực trạng thương mại điện tử của Việt Nam một trên phương diện tổng quát.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng để thực hiện đề tài:
- Tổng hợp tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Việt từ các nguồn: sách, báo, tạp chí chuyên ngành, internet.
- So sánh và phân tích
- Thống kê
- Khái quát hóa
5. Nội dung nghiên cứu của đề tài
Khóa luận gồm 3 chương với các nội dung chính như sau:
- Chương 1: Tổng quan về thương mại điện tử.
- Chương 2: Thực trạng thương mại điện tử ở Nhật Bản.
- Chương 3: Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1. Tổng quan chung về Thương mại điện tử
1.1. Khái niệm thương mại điện tử ( Electronic Commerce )
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thương mại điện tử. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu người ta có thể hiểu thương mại điện tử tử theo hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
1.1.1. TMĐT theo nghĩa rộng
Theo Luật Mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc ( UNCITRAL) : thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch
“Thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các file văn bản ,các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bản thiết kế, hình đồ họa.quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hóa đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh… Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
“Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát mọi vấn đề nảy sinh từ các mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính chất thương mại bao gồm: nhưng không giới hạn ở,các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hay dịch vụ; thoả thuận về phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; thiết kế; chuyển nhượng quyền sử dụng (Lixăng); đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; các hợp đồng khai thác hoặc chuyển nhượng; liên doanh hoặc các hình thức hợp tác kinh doanh hay sản xuất; vận chuyển hành khách hay hàng hoá bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ … Như vậy phạm vi của thương mại điện tử là rất rộng, bao quát hầu như mọi hình thái hoạt động kinh tế, mà không chỉ bao gồm mua bán hàng hoá và dịch vụ, vì mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một trong hàng nghìn lĩnh vực áp dụng của thương mại điện tử.
Bộ Thương mại Việt Nam cũng đã đưa ra định nghĩa của mình, theo đó: “TMĐT là một bộ phận hữu cơ của nền ” kinh tế số hoá”, là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ cụng đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn gọi là thương mại không giấy tờ).
Như vậy hiểu theo nghĩa rộng thì thương mại điện tử không chỉ giới hạn trên Internet mà nó bao gồm một loạt các ứng dụng khác như videotext, truyền thông ( mua hàng từ xa) và môi trường ngoài mạng (cataloge bán hàng trên đĩa CD-ROM), cũng như là các mạng lưới riêng của công ty ( đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng). Tuy nhiên, Internet với các giao thức mạng độc lập và sức mạnh của mình sẽ là tập hợp các loại hình thương mại điện tử khác nhau. Các mạng lưới máy tính trong công ty sẽ trở thành mạng nội bộ. Đồng thời, Internet đang huy động rất nhiều các loại hình thương mại điện tử kết hợp, ví dụ như thông tin thương mại điện tử trên TV với cơ chế phản hồi trên Internet ( đối với việc đặt hàng ngay tức khắc), cataloge trên CD-ROM có sự kết nối với Internet (để cập nhật được về nội dung và giá cả), và các trang chủ thương mại với đĩa CD-ROM bổ trợ.
1.1.2. TMĐT theo nghĩa hẹp Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
TMĐT theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và các mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và internet.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra khái niệm về thương mại điện tử, theo đó hiểu một cách đơn giản nhất: “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet nhưng được giao nhận một cách hữu hình và cả các sản phẩm được giao nhận như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet.”
Như vậy một cách khái quát nhất theo nghĩa hẹp thương mại điện tử là việc thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn tới việc chuyển giao giá trị thông qua các mạng viễn thông.
So với các hoạt động thương mại truyền thống thì thương mại điện tử có nhiều điểm khác nhau cơ bản. Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch hoặc là quen biết nhau từ trước. Còn trong thương mại điện tử, các chủ thể không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Các giao dịch mang tính thương mại truyền thống được thực hiện với sự phân định rừ về ranh giới quốc gia trong khi đó thương mại điện tử lại được thực hiện trong một môi trường hay có thể gọi là thị trường phi biên giới. Một điểm khác nữa là hầu hết các hoạt động hay giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể trong đó có một bên không thể thiếu được đó là người cung cấp dịch vụ mạng.
Ngay giữa thương mại điện tử truyền thống với thương mại điện tử trên mạng mở Internet cũng có những điểm khác biệt. Đối với thương mại điện tử truyền thống thì mạng lưới là một phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử trên Internet thì mạng lưới chính là thị trường. Do vậy vấn đề pháp lý đặt ra là phải xây dựng khung pháp luật điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong một thị trường ảo dựa trên các mạng lưới máy tính và thiết bị điện tử. Các giao dịch thương mại điện tử truyền thống được điều chỉnh bởi các quy định trong các ngành luật riêng biệt và đó được ghi nhận một phần trong pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế, còn thương mại điện tử trên các mạng lưới mở cần cú sự kết hợp và thống nhất các quy định của nhiều ngành luật khác nhau.
Đến nay, thương mại điện tử không còn là hiện tượng mới nữa. Trong nhiều năm vừa qua, các công ty đã trao đổi số liệu kinh doanh qua rất nhiều mạng lưới thông tin liên lạc, chủ yếu là qua các thiết bị viễn thông. Tuy nhiên hiện nay có một sự thay đổi đáng kể và mở rộng nhanh chóng do sự phát triển của Internet
Về mặt pháp lý, các hoạt động thương mại điện tử được hiểu là các bên tham gia thực hiện bằng các phương tiện điện tử khác ngoài mạng Internet, như điện thoại, fax, telex… đó được ghi nhận và quy định trong pháp luật của các nước cũng như của các điều ước quốc tế. Vấn đề đặt ra hiện nay là việc điều chỉnh các hoạt động thương mại thực hiện thông qua các mạng lưới mở như Internet.
1.2. Các loại hình thương mại điện tử Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu người ta phân loại thương mại điện tử theo một số yếu tố như dựa vào chủ thể tham gia, các giai đoạn của một giao dịch …
1.2.1. Theo chủ thể tham gia
Nếu dựa trên yếu tố chủ thể tham gia vào giao dịch thương mại điện tử, chúng ta cú thể phân chia thành 3 nhóm giao dịch chính sau đây:
- i). TMĐT giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp ( B2B)
B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp. Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng thương mại điện tử như mạng giá trị gia tăng VAN, SCM, các sàn giao dịch thương mại điện tử B2B…Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Ở mức độ cao, các giao dịch có thể diễn ra một cách tự động. TMĐT B2B đem lại lợi ích rất thực tế cho các doanh nghiệp, đặc biệt giúp các doanh nghiệp giảm các chi phí về thu thập thông tin, tìm hiểu thị trường, quảng cáo, tiếp thị, đàm phán, tăng cường các cơ hội kinh doanh
- ii). TMĐT giữa doanh nghiệp kinh doanh và khách hàng cá nhân ( B2C)
Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng; người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc cả, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng. Mô hình B2C chủ yếu là mô hình bán lẻ qua mạng, qua đó doanh nghiệp thường thiết lập website, hình ảnh cơ sở dữ liệu vè hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo và phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. TMĐT B2C đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn ngừơi tiêu dùng: doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng, chi phí quản lý cũng giảm hơn. Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa hàng cũng có khả năng lựa chọn và so sánh nhiều mặt hàng cùng một lúc
- iii). TMĐT giữa người tiêu dùng với người tiêu dùng ( C2C)
Đây là mô hình thương mại điện tử giữa các cá nhân với nhau. Sự phát triển của các phương tiện điện tử, đặc biệt là internet làm cho nhiều cá nhân có thể tham gia hoạt động thương mại với tư cách người bán hoặc người mua. Một cá nhân có thể tự thiết lập website để kinh doanh với những mặt hàng do mình làm ra hoặc sử dụng một website có sẵn để đấu giá món hàng mình có Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
- iv). TMĐT giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước (B2G)
Trong mô hình này, cơ quan nhà nước đóng vai trò như khách hàng và quá trình trao đổi thông tin cũng được tiến hành qua các phương tiện điện tử. Cơ quan nhà nước cũng có thể lập các website, tại đó đăng tải những thông tin về nhu cầu mua hàng của cơ quan mình và tiến hành việc mua sắm hàng hóa, lựa chọn nhà cung cấp trên website. Ví dụ: Hải quan điện tử, thuế điện tử …
- v). TMĐT giữa cơ quan nhà nước và cá nhân (G2C)
Mô hình G2C chủ yếu đề cập tới các giao dịch mang tính hành chính, tuy nhiên cũng có thể mang những yếu tố của thương mại điện tử. Ví dụ: hoạt động đóng thuế qua mạng, trả lệ phí …
1.2.2. Theo các giai đoạn tiến hành một giao dịch
Một giao dịch thương mại điện tử sẽ được tiến hành qua ba giai đoạn chính như sau:
- Giai đoạn tìm kiếm (đối tác, khách hàng, sản phẩm hay dịch vụ …)
- Giai đoạn đặt hàng và thanh toán
- Giai đoạn giao nhận hàng hoá/ dịch vụ.
Nếu phân biệt theo các giai đoạn tiến hành một giao dịch thì thương mại điện tử gồm hai loại chủ yếu: thương mại điện tử trực tiếp và thương mại điện tử gián tiếp.
i).TMĐT gián tiếp: là việc đặt hàng hoặc thực hiện một số khâu trong giao dịch thương mại trên các phương tiện điện tử hoặc qua các phương thức điện tử và bên cạnh đó là một số khâu còn lại của của giao dịch vẫn phải thực hiện theo phương thức truyền thống như việc giao nhận qua các kênh phân phối hoặc qua các dịch vụ bưu chính, các nhà vận chuyển thương mại. thương mại điện tử gián tiếp thường được thực hiện với các hàng hoá hữu hình.
ii).TMĐT trực tiếp: là đặt hàng, thanh toán và chuyển giao hàng hoá và dịch vụ hoàn toàn trên mạng ví dụ như phần mềm máy tính, các chương trình giải trí hoặc cung cấp thông tin trên phạm vi toàn cầu. Toàn bộ các giai đoạn từ khâu tìm kiếm cho tới khi giao nhận và thanh toán được thực hiện trên mạng máy vi tính.
TMĐT gián tiếp phụ thuộc vào nhiều yếu tố bên ngoài khác như hiệu quả của hệ thống phương tiện giao thông vận tải. thương mại điện tử trực tiếp cho phép thực hiện các giao dịch điện tử từ đầu tới cuối qua biên giới về mặt địa lý, khai thác được toàn bộ tiềm năng của thị trường toàn cầu. Tuy nhiên ta có thể nhận thấy rõ ràng rằng thương mại điện tử dù dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp đều mang đến những cơ hội nhất định cho các chủ thể tham gia, đặc biệt là các doanh nghiệp và người tiêu dùng.
1.3. Các yêu cầu của thương mại điện tử Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
TMĐT bao trùm một phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã hội: các hạ tầng cơ sở của nó là cả một tổng hoà của hàng chục vấn đề phức tạp đan xen nhau trong một mối quan hệ hữu cơ, và là tiền đề, môi trường cho thương mại điện tử, bao gồm:
1.3.1. Nhận thức và nguồn nhân lực
Áp dụng thương mại điện tử tất yếu làm nảy sinh hai đòi hỏi: một là mọi người đều quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng; hai là có đội ngũ chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới phát triển ra để phục vụ cho kinh tế số hoá nói chung và thương mại điện tử nói riêng. Đòi hỏi này của Thương mại điện tử sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáo dục và đào tạo.
1.3.2 Hạ tầng công nghệ
Hạ tầng công nghệ đòi hỏi hai mặt: một là tính tiên tiến, hiện đại về công nghệ và thiết bị; hai là tính phổ cập về kinh tế. Hạ tầng cụng nghệ bao gồm: công nghệ thông tin, công nghệ viễn thông, công nghệ Internet, công nghệ điện lực, đào tạo nhân lực và tổ chức hệ thống đào tạo, tiêu chuẩn công nghệ.
1.3.3. Thanh toán điện tử
TMĐT chỉ có thể thực hiện khi thực tế có tồn tại một hệ thống thanh toán tài chính phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động hay còn gọi là thanh toán điện tử (trong đó thẻ thông minh có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinh doanh bán lẻ). Nhưng để thực hiện thanh toán tự động cần xem xét, giải quyết một số vấn đề như hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng pháp lý, an ninh an toàn (bảo mật), các chính sách để đảm bảo an toàn và bảo hộ đối với các doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia.
1.3.4. An toàn, bảo mật Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
Mối đe dọa và hậu quả tiềm ẩn đối với thông tin trong hệ thống mạng phục vụ thương mại điện tử là rất lớn và được đánh giá trên nhiều khía cạnh khác nhau như: kiến trúc hệ thống công nghệ thông tin, chính sách bảo mật thông tin, các cụng cụ quản lý, kiểm tra, quy trình phản ứng … Chính phủ mỗi nước căn cứ vào trình độ phát triển và đặc thù tổ chức xã hội của nước mình để đề ra chính sách và các cơ chế kiểm soát việc sử dụng một cách hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của quốc gia.
Hệ thống an toàn, bảo mật cần phải là sự tổng hoà các giải pháp: pháp lý và tổ chức; về kỹ thuật; về phía người sử dụng (tổ chức, tư nhân, cá nhân) và yếu tố con người vẫn là quyết định.
1.3.5. Bảo vệ sở hữu trí tuệ
Bảo vệ sở hữu tri tuệ cho các thông tin trên trang web và các dữ liệu truyền gửi qua mạng chính là bảo vệ các giá trị thông tin của nó. Vấn đề này liên quan tới các quyền: quyền tác giả và các quyền có liên quan: chỉ dẫn địa lý, sáng chế, bí mật thương mại, vấn đề thực thi.
1.3.6. Bảo vệ người tiêu dùng
Trong thương mại điện tử, thông tin về hàng hoá đều là thông tin số hóa nên dễ xuất hiện khả năng bị nhầm lẫn về cơ sở dữ liệu, về các hoạt động phi pháp trên mạng… Vì thế xuất hiện nhu cầu phải có một trung gian đảm bảo chất lượng (quanlity guarantor) hoạt động hữu hiệu và ít tốn kém. Đây là một khía cạnh cơ chế đáng quan tâm của thương mại điện tử đang được chú ý ngày càng nhiều trước thực tế các rủi ro ngày càng gia tăng.
1.3.7. Tiêu chuẩn hoá công nghiệp và thương mại
Đứng trên quan điểm thương mại điện tử thì tiêu chuẩn hoá trong thương mại điện tử sẽ là: tạo ra các chuẩn mực về văn bản pháp lý, hợp đồng thương mại được liên thông trên mạng, thống nhất các khái niệm, thuật ngữ, ký hiệu, mã hoá… góp phần cho hoạt động thương mại điện tử được thuận tiện, thống nhất hoá, đơn giản hoá đảm bảo tính tương hợp trong các thiết bị, sản phẩm phần cứng, phần mềm.
1.3.8. Hạ tầng cơ sở pháp lý Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
Vấn đề pháp lý được coi là mang tính xuyên suốt và liên quan đến mọi mặt hoạt động của thương mại điện tử. Để tạo điều kiện cho các hạ tầng cơ sở phát triển đồng bộ thì các vấn đề pháp lý cần phải quan tâm là: khung pháp luật thương mại thống nhất, bảo vệ sở hữu trớ tuệ, bảo vệ bí mật cá nhân (bảo vệ bí mật riêng tư), an ninh, an toàn, thanh toán điện tử, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ mạng thông tin và thông tin trên mạng, giải quyết tranh chấp.
1.3.9. An ninh quốc gia và đảm bảo an ninh trong thương mại điện tử
Bất kể một quốc gia nào, dù tham gia hoạt động kinh tế dưới một hình thái nào đi chăng nữa thì mục tiêu đầu tiên là phải đảm bảo an ninh quốc gia trong kinh tế, xã hội. Để thương mại điện tử có thể hoạt động hữu hiệu thì điều quan trọng cần phải: đảm bảo an ninh văn hoá, đảm bảo an ninh, an toàn thông tin.
1.3.10. Vai trò Chính phủ và quản lý Nhà nước về thương mại điện tử
Đối tượng và phạm vi quản lý nhà nước về thương mại điện tử là vấn đề rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Đồng thời cần xác định quản lý Nhà nước về thương mại điện tử thuộc loại hình quản lý xã hội và là một kiểu quản lý Nhà nước có tính phức hợp, đan xen của cả ba hình thức quản lý nêu trên.
1.4. Một số hình thức thanh toán điện tử phổ biến hiện nay
1.4.1. Thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán được coi là phương tiện phổ biến nhất, phổ biến nhất là 3 loại:
- Thẻ tín dụng (Credit card): là thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu tới một hạn mức nhất định
- Thẻ ghi nợ (Debit card): là thẻ chi tiêu dựa trên số dư tài khoản thẻ hay tài khoản tiền gửi
- Thẻ mua hàng ( Charge card): là thẻ cho phép chủ thẻ chi tiêu và tiến hành thanh toán các khoản chi tiêu đó định kỳ thường là vào cuối tháng Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
1.4.2. Thẻ thông minh
Thẻ thông minh là thẻ có gắn bộ vi xử lý trên đó (chip). Bộ vi xử lý này có thể kết hợp thêm một thẻ nhớ. Bộ vi xử lý có thể chạy được các chương trình giống như một máy tính, nó có thể lưu trữ, xóa hay thay đổi thông tin trên thẻ. Thẻ thông minh hiện nay ngày càng được sử dụng rộng rãi vì các ứng dụng phong phú của nó: Thẻ dịch vụ khách hàng; ứng dụng trong ngành tài chính; thẻ công nghệ thông tin; thẻ y tế và phúc lợi xã hội. Thanh toán điện tủ bằng thẻ thông minh có một số loại điển hình:
Visa Cash: là một thẻ trả trước, dùng để thanh toán cho những giao dịch có giá trị nhỏ.Card gắn vi mạch này có thể sủ dụng trong giao dịch thông thường hoặc giao dich trực tuyến. Khi thanh toán, chi phí mua hàng sẽ được trừ vào giá trị tiền cỏntong thẻ. Thẻ này chỉ sử dụng được với những điểm chấp nhận thanh toán có logo Visa Cash hoặc bộ đọc thẻ Visa Cash kết nối với máy tính.
Visa Buxx: là thẻ trả trước được thiết kế cho thanh niên. Thẻ Visa Buxx trông giống như thẻ thông thường nhưng an toàn hơn vì nó có bộ nhớ không lớn. Người dùng có thể sử dụng thẻ để mua sắm và rất hiệu quả đối với thanh niên vì hạnh mức chi phí. Thẻ có thể nạp tiền tự động hàng tháng.
Mondex: là thẻ gắn bộ vi xủ lý của Master Card, có chức năng tương tự như Visa Cash. Thẻ có thể được sử dung để thanh toán tại bất cứ nới nào có biểu tượng Mondex. Hơn nữa, sử dụng thẻ Mondex có thể chuyển được tiền từ tài khỏan này sang tài khỏan khác. Thẻ có thể lưu tài khỏan tiền của 5 loại tiền khác nhau.
1.4.3. Ví điện tử
Ví điện tử là một phần mềm trong đó người sử dụng có thể lưu trữ số thẻ tín dụng và các thông tin cá nhân khác. Khi mua hàng trên mạng, người mua hàng chỉ đơn giản kích vào ví điện tử, phần mềm sẽ tự động điền các thông tin khách hàng cần thiết để thực hiện việc mua hàng
1.4.4. Tiền điện tử
Tiền điện tử là tiền đã được số hóa, tức là tiền ở dạng những bit số. Tiền điện tử chỉ được sử dụng trong môi trường điện tử phục vụ cho những thanh toán điện tử thông qua hệ thống thông tin bao gồm hệ thống mạng máy tính, internet… và được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của tổ chức phát hành (bên thứ 3) và được biểu hiện dưới dạng bút tệ trên tài khoản mà khách hàng (người mua) mở tại tổ chức phát hành. Cụ thể hơn tiền điện tử là phương tiện của thanh toán điện tử được bảo mật bằng chữ ký điện tử, và cũng như tiền giấy nó có chức năng là phương tiện trao đổi và tích lũy giá trị. Nếu như giá trị của tiền giấy được đảm bảo bởi chính phủ phát hành thì đối với tiền điện tử, giá trị của nó được tổ chức phát hành đảm bảo bằng việc cam kết sẽ chuyển đổi tiền điện tử sang tiền giấy theo yêu cầu của người sở hữu.
1.4.5. Thanh toán qua điện thoại di động Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
Để sử dụng dịch vụ này khách hàng cần có lột loại simcard đặc biệt và đăng ký một tài khỏan với ngân hàng. Khách hàng sẽ được cấp mã số bí mật, khi cần chi trả các khoản tiền mua sắm, chỉ cần nhập mật khẩu trên điện thoại di động rồi gửi yêu cầu về tổng đài của ngân hàng. Sau khi kiểm tra các thông tin hợp lệ, số tiền cần thanh toán sẽ được chuyển từ tài khoản của khách hàng tới người cần thanh toán.
1.4.6. Thanh toán điện tử tại các kiosk bán hàng
Một kiosk bán hàng là một của hàng nhỏ thường bán các nhu yếu phẩm cần thiết. Tại đây có lắp máy tính cho phép người mua có thể thanh toán bằng thẻ, truy cập internet về các dịch vụ khác.
1.4.7. Séc điện tử
Séc điện tử là một phiên bản có giá trị pháp lý đại diện cho một tấm séc giấy. Ngườì bán thường sử dụng trung gian cung cấp dịch cụ séc điện tử và sử dụng phần mềm thanh toán séc điện tử của trung gian này. Giao dich thanh toán được thực hiện thông qua trung tâm bù trừ tự động liên ngân hàng
1.4.8. Thẻ mua hàng
Thẻ mua hàng là lạo thẻ sử dụng với các tài khỏan mua hàng thường xuyên và có giá trị nhỏ, đặc biệt dùng cho nhân viên các công ty, chỉ được dùng để mua các mặt hàng thông dụng như văn phòng phẩm, máy tính…Lợi ích chính của thẻ mua hàng là tính hiệu quả do doanh nghiệp không phải thanh toán cho từng giao dịch nhỏ lẻ, và dễ dàng tổng hợp các hóa đơn thanh toán để thanh toán gộp cho ngân hàng vào cuối kỳ thông qua phương thức chuyển tiền điện tử.
1.4.9. Thư tín dụng điện tử
Tín dụng thư điện tử thực chất cũng là một tín dụng thư. Tuy nhiên, sự khác biệt là các bước tiến hành thực hiện L/C này được làm trực tuyến. Để làm được điều này, ngân hàng sẽ phải cung cấp một hệ thống dịch vụ mạng cho phép các nhà nhập khẩu soạn thảo L/C từ máy tính của nhà nhập khẩu, truyền bản thảo này đến ngân hàng để kiểm tra và xử lý. L/C sẽ được phát hành chỉ trong vòng vài giờ. Dịch vụ này cũng cho phép nhận được các L/C xuất khẩu và kiểm tra chúng từ máy tính của nhà xuất khẩu. Và các chứng từ xuất trình có thể là chứng từ điện tử.
1.4.10. Chuyển tiền điện tử
Chuyển tiền điện tử từ tài khoản ngân hàng của một người gửi sang tài khoản của người khác mà không cần chuyển giao séc. Có nhiều công dụng khác làm giảm các công việc liên quan đến giấy tờ trong các nghiệp vụ tiền mặt.
2. Một số hình thức hoạt động phổ biến của thương mại điện tử hiện nay và xu hướng phát triển trong tương lai Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
2.1. Các lĩnh vực hoạt động phổ biến của thương mại điện tử hiện nay
Bước sang thế kỷ XXI, sự phát triển và hoàn thiện kỹ thuật số đã đưa tới cuộc “Cách mạng số hoá” và ” Xã hội thông tin” mà thương mại điện tử là một bộ phận hợp thành. Thương mại điện tử bao gồm nhiều hình thức hoạt động khác nhau, trong đó các hoạt động phổ biến hiện nay gồm:
2.1.1. Thư tín điện tử (E-mail)
Email là một phương tiện thông tin rất nhanh. Một mẫu thông tin (thư từ) có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính đặc biệt là mạng Internet. Nó có thể chuyển mẫu thông tin từ một máy nguồn tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng lúc.
Ngày nay, email chẳng những có thể truyền gửi được chữ, nó còn có thể truyền được các dạng thông tin khác như hình ảnh, âm thanh, phim, và đặc biệt các phần mềm thư điện tử kiểu mới còn có thể hiển thị các email dạng sống động tương thích với kiểu tệp HTML.
Giao dịch bằng thư điện tử là sự trao đổi thông tin một cách “trực tuyến” thông qua mạng giữa các đối tác (người tiêu thụ, doanh nghiệp, các cơ quan chính phủ). Trong thời điểm hiện tại, khi thương mại điện tử mới phát triển ở mức độ nhất định thì E- mail là hình thức hoạt động thương mại điện tử được sử dụng rộng rãi nhất. Việc dùng E- mail để gửi dữ liệu rẻ hơn hàng chục lần so với dựng Fax. Song thông tin của E- mail ở dạng “phi cấu trúc” nên có nhiều hạn chế trong bảo mật và truyền gửi dữ liệu. Do đó, những thông tin quan trọng phục vụ kinh doanh thường không gửi qua E- mail mà sử dụng một phương thức khác đó là EDI.
2.1.2. Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI – Electronic Data Interchange)
EDI – Electronic Data Interchange: Trao đổi dữ liệu điện tử. Đây là một công cụ thiết yếu trong các giao dịch doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) qua Internet. Một giải pháp cho phép truyền thông điện tử một cách an toàn, bao gồm các thông tin về quỹ thanh toán giữa người mua và người bán qua các mạng dữ liệu riêng. Giao thức trao đổi dữ liệu điện tử giữa các công ty qua mạng truyền thông như mạng giá trị gia tăng (VAN -value-added network) hoặc mạng Internet. Khi ngày càng nhiều công ty kết nối với Internet, vai trò của EDI – một cơ chế giúp các công ty có thể mua, bán và trao đổi thông tin qua mạng, càng trở nên quan trọng. Bộ tiêu chuẩn phổ biến nhất của EDI là X12, do tổ chức ANSI thông qua.
Trao đổi dữ liệu điện tử là việc trao đổi các dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form) từ máy điện tử này sang máy điện tử khác, giữa các công ty hay tổ chức đã có thoả thuận hay buôn bán với nhau. Gọi là dữ liệu có cấu trúc vì các bên đối tác phải thoả thuận từ trước khuân dạng cấu trúc của các thông tin. Thông tin ở đây được mã hoá nên tính bảo mật cũng như an toàn rất cao. Phương pháp này được áp dụng cho các văn bản hợp đồng, chào hàng,… và cũng là cơ sở để hình thành “chữ ký điện tử”.
2.1.3. Cửa hàng ảo hay bán hàng trên mạng (Virtual shop) Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
Cửa hàng trực tuyến đưa hàng vào trong Internet để bán. Đây là một chương trình phần mềm có tính năng giỏ hàng. Người mua chọn lựa các sản phẩm và đặt chúng vào giỏ hàng. Đằng sau một cửa hàng trực tuyến như thế là một việc kinh doanh thật sự, tiến hành các đơn đặt hàng. Có nhiều chương trình phần mềm cho kênh bán hàng này.
Ngày nay người ta tận dụng những ưu điểm của Internet làm “sàn giao dịch” mua bán hàng hoá. Doanh nghiệp kinh doanh xây dựng trên mạng các cửa hàng ảo để thực hiện bán hàng. Người tiêu dùng sử dụng Internet tìm trang Web của cửa hàng, xem hàng hoá hiển thị trên màn hình, chọn và xác nhận mua hàng đó, cuối cùng là trả tiền bằng thanh toán điện tử hay bằng tiền mặt. Khi khách hàng vào cửa hàng ảo, trên màn hình sẽ hiện lên “giỏ mua hàng”. Chiếc giỏ này theo người mua trong suốt quá trình mua hàng như ta đi vào siêu thị kể cả khi chuyển qua trang Web khác để chọn hàng. Khi chọn được hàng khách hàng chỉ cần click chuột, các giỏ này có nhiệm vụ tự động tính tiền kể cả thuế và cước vận chuyển tận nhà để thanh toán với người mua. Do hàng hoá là hữu hình nên tất yếu sau đó cửa hàng phải sử dụng các phương pháp gửi hàng truyền thống để đưa tận tay người mua song điều quan trọng nhất là khách hàng có thể mua hàng tại nhà mà không phải đích thân đến cửa hàng.
2.1.4. Thanh toán điện tử (Electronic Payment)
Thanh toán điện tử là hình thức thanh toán tiến hành trên môi trường internet, thông qua hệ thống thanh toán điện tử người sử dụng mạng có thể tiến hành các hoạt động thanh toán, chi trả, chuyển tiền, …
Thanh toán điện tử được sử dụng khi chủ thể tiến hành mua hàng trên các siêu thị ảo và thanh toán qua mạng. Để thực hiện việc thanh toán, thì hệ thống máy chủ của người bán phải có được phầm mềm thanh toán trong website của mình.
Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử (Electronic message) thay cho việc giao tiền mặt. Việc trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếp vào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng,…đã quen thuộc từ lâu nay thực chất đều là các dạng của thanh toán điện tử.
Mặc dù các hình thức thanh toán điện tử thông thường và thanh toán điện tử trong thương mại điện tử có nhiều điểm tương đồng như thanh toán không sử dụng tiền mặt, séc hoặc chứng từ có giá khác, điểm căn bản để phân biệt là thanh toán điện tử trong thương mại điện tử cần có xác nhận giao dịch về người cung ứng sản phẩm dịch vụ và người mua hàng do cấc tổ chức phát hành xác nhận. Trong khi đó các hình thức thanh toán điện tử thông thường không cần tới xác nhận này.
2.2. Xu thế vận động và phát triển thương mại điện tử Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
TMĐT là một phần của “nền kinh tế tri thức” là một cuộc cách mạng trong thương mại. Nếu thế kỷ IXX là của các công ty có quy mô lớn, thế kỷ XX là của các công ty có mạng phân phối rộng thì thế kỷ XXI, ưu thế sẽ thuộc về các công ty kinh doanh trên mạng.
Tuy sinh sau đẻ muộn, thương mại điện tử đã khẳng định vị thế bởi sự hấp dẫn và phát triển nhanh chóng cả về dung lượng, phạm vi và đối tượng. Năm 2019, doanh thu từ thương mại điện tử trên toàn cầu đạt trên 300 tỷ USD trong đó phần lớn thuộc về các công ty sản xuất hàng tiêu dùng, tiếp theo là sản phẩm đồ dựng văn phòng, đồ điện tử và các sản phẩm máy tính, sách báo, băng đĩa, âm nhạc… Số liệu thống kê cho thấy, năm 2022 toàn thế giới đã có 14.3 % dân cư sử dụng Internet trong đó tỷ lệ này ở các nứơc phát triển là 52.9%. Tại Mỹ năm 2022, doanh số thương mại điện tử B2B đạt 21.2% tổng doanh số thương mại toàn ngành sản xuất , tiếp đến là bán buôn 13.1%. Doanh số bán lẻ qua mạng(B2C) không cao tuy nhiên với tốc độ tăng trưởng rất cao so với tốc độ tăng trưởng hoạt động bán lẻ nói chung , doanh số bán lẻ qua mạng ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn.
Chỉ có thương mại điện tử mới cho phép tiếp cận tới 800 triệu khách hàng, những người tham gia mạng máy tính toàn cầu. thương mại điện tử mang lại lợi ích cho cả người mua và người bán, loại bỏ sự ngăn cách về không gian và thời gian cho các giao dịch, cho phép tiếp nhận và tổ chức cung ứng hàng hoá, dịch vụ vào mọi lúc, đến từng khách hàng, từng bước thay đổi cách thức giao dịch truyền thống trước đây dựa trên hoá đơn chứng từ và các tiếp xúc phiền toái khác.
Từ các con số trên có thể khẳng định thương mại điện tử không phải là một hiện tượng nhất thời mà là một xu thế tất yếu không thể đảo ngược. Dự báo đến năm 2012, riêng tại Mỹ – nước có thị trường thương mại điện tử lớn nhất thế giới, doanh số từ thương mại điện tử có thể lên tới 1000tỷ $… thương mại điện tử đang ngày càng chứng tỏ những lợi ích tiềm tàng và hiệu quả to lớn đối việc phỏt triển kinh tế, xã hội. Và trong tương lai nó sẽ trở thành một hình thức kinh doanh rộng khắp trên toàn thế giới.
3. Những thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển của thương mại điện tử Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
TMĐT thực sự là một thị trường đang phát triển. Trong môi trường chuyển động và thay đổi nhanh chúng ta có thể thấy rõ sự tác động của nó tới đời sống của con người, tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và của toàn thế giới.
Trên còn đường phát triển của mình, có những thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử nhưng cũng có không ít những khó khăn vấp phải trên nhiều lĩnh vực làm chậm lại tiến trình phát triển của nó.
3.1. Những thuận lợi
3.1.1. Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế
Mang đặc tính của một thị trường mở toàn cầu, thương mại điện tử sẽ có nhiều thuận lợi để phát triển mà thuận lợi phải kể đến hàng đầu là sự phát triển như vũ bão của kinh tế. Kinh tế thế giới đang phát triển không ngừng bên cạnh đó là xu hướng giao lưu hội nhập về kinh tế của các quốc gia ngày càng sâu sắc. Đó cũng chính là tiền đề cho thương mại điện tử phát triền nhanh, mạnh. Kinh tế phát triển kéo theo nhu cầu về tiêu dùng, và cơ sở vật chất cũng như thiết bị máy móc phục vụ cho mua bán trao đổi cũng được ngày một hiện đại hóa. Con người trong môi trường năng động đòi hỏi phương thức mua bán, thanh toán nhanh chóng tiện lợi, tiết kịêm thời gian. Kinh tế ngày càng phát triển sẽ kéo theo thói quen tiêu dùng cũng sẽ thay đổi theo thương mại điện tử theo đó sẽ là cầu nối hiệu quả nhất giữa người cung cấp và người tiêu dùng.
Ngoài ra, kinh tế phát triển sẽ là cơ sở để phát triển khoa học công nghệ và hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho việc nâng cao hiệu quả trong thương mại điện tử. Đến lượt mình thương mại điện tử đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế một cách nhanh chóng hơn. Có thể nói phát triển kinh tế và phát triển thương mại điện tử có mối quan hệ tương tác qua lại khăng khít với nhau không thể tách rời.
3.1.2. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật
TMĐT không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là hệ quả tất yếu của sự phát triển kỹ thuật số hoá của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật máy tính điện tử. Vì thế, chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành thương mại điện tử có nội dung và hiệu quả đích thực khi đã có một hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững chắc (bao gồm hai nhánh: thanh toán điện tử và truyền thông điện tử).
Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật đang phát triển như vũ bão trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống, ngày càng nhiều nhưng phát minh ứng dụng mới của công nghệ máy tính, của thanh tóan điện tử, của truyền thông…đi vào đời sống một cách sâu rộng. thương mại điện tử cũng theo đó mà phát triển ngày càng mạnh mẽ và ứng dụng ngày một rộng rãi vào cuộc sống.
3.2. Những khó khăn Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
Cùng với những cơ hội và các thuận lợi, thương mại điện tử cũng mang đến những thách thức và khó khăn cần được tháo gỡ trong đó có những khó khăn chủ yếu sau:
3.2.1. Về mặt kỹ thuật công nghệ
Nhu cầu về một cơ sở hạ tầng viễn thông đủ năng lực để hỗ trợ cho sự phát triển của thương mại điện tử, vấn đề xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật, phát triển mạng Internet cũng như những giải pháp đảm bảo an toàn cho thương mại điện tử là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của thương mại điện tử.
3.2.2. Về mặt thương mại
Yêu cầu về một hệ thống thanh toán và chuyển tiền điện tử an toàn và phổ biến được đặt lên hàng đầu, bên cạnh đó là hệ thống thuế công bằng và hữu hiệu… cũng là những vấn đề đặt ra cho các nước mong muốn phát triển thương mại điện tử, đặc biệt là Việt Nam khi mà thói quen thanh toán vẫn sử dụng là tiền mặt.
3.2.3. Về mặt pháp lý
Một trong những khó khăn thách thức trước mắt cần được giải quyết ngay đó là xây dựng một khung pháp luật cho các hoạt động thương mại tiến hành thông qua các phương tiện điện tử và đặc biệt là mạng Internet. Khung pháp luật này sẽ được áp dụng để điều chỉnh chung cho các hoạt động thương mại nói chung và giao dịch thương mại điện tử nói riêng, không phân biệt nhằm mục đích tiêu dùng hay kinh doanh.
3.2.4. Về văn hoá, xã hội
Thói quen tiêu dùng của con người, ngôn ngữ sử dùng trên Internet chủ yếu là bằng Tiếng Anh và điều này có thể làm hạn chế sự phát triển của thương mại điện tử, sự lo ngại về ảnh hưởng đối với đạo đức, chính trị xã hội thông qua các nội dung thông tin được đưa lên mạng. Sự tin cậy đối với môi trường kinh doanh từ thực đến ảo, không giấy tờ, không tiếp xúc trực tiếp, giao dịch điện tử cần thời gian.
Có thể nói sự ra đời và phát triển của thương mại điện tử là một tất yếu trong phát triển kinh tế thương mại điện tử đã mang đến những cơ hội và thách thức cho các nước tham gia vào thị trường ảo toàn cầu này. Bên cạnh những cơ hội có thể kể đến như giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp cận được nhu cầu của từng khách hàng … thương mại điện tử cũng gặp không ít khó khăn trên con đường phát triển của nó. Tuy nhiên trong tương lai, thương mại điện tử sẽ là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của các quốc gia, các khối kinh tế trong cuộc cạnh tranh quyết liệt mang tính khu vực hoá và toàn cầu hoá ngày càng sâu sắc. Khóa luận: Phát triển thương mại điện tử ở Nhật Bản và Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
