Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1 Hình thức sở hữu tư nhân đối với rừng sản xuất là rừng trồng

2.1.1 Cơ sở xác lập

Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sẽ được Nhà nước công nhận là chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng nếu như đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:

Thứ nhất, vốn bỏ ra để trồng Rừng sản xuất là rừng hoặc tiền đã trả cho việc nhận chuyển nhượng rừng hoặc tiền nộp cho Nhà nước khi được giao rừng có thu tiền sử dụng rừng không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước. Hiểu đơn giản là vốn do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự đầu tư – đây có thể là vốn tự có của họ, vốn  đi vay từ các tổ chức tín dụng, vốn liên doanh, liên kết giữa các tổ chức kinh tế với nhau mà không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

Thứ hai, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải đảm bảo có giấy tờ chứng minh theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc pháp luật về đầu tư. Quy định loại giấy tờ nào tùy thuộc vào từng đối tượng chủ rừng.

  • Đối với tổ chức kinh tế, ngoài các tổ chức kinh tế trong nước, pháp luật còn cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khi bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam được sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng khi có quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư dự án hoặc giấy chứng nhận đầu tư để trồng Rừng sản xuất theo quy định của pháp luật về đầu tư.
  • Đối với hộ gia đình có nhu cầu sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng sinh sống trên địa bàn thuộc cấp xã nơi có rừng nếu họ có giấy tờ chứng nhận hợp pháp xác định Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để trồng Rừng sản xuất; giấy tờ về giao Rừng sản xuất là rừng trồng; hợp đồng hoặc văn bản về việc mua bán hoặc tặng cho hoặc thừa kế đối với Rừng sản xuất là rừng trồng đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật; bản án, quyết định của Tòa án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng đã có hiệu lực pháp luật thì được cấp Chứng nhận quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng.
  • Đối với cá nhân là công dân Việt Nam muốn trở thành chủ sở hữu rừng phải đáp ứng các điều kiện tương tự như đối với hộ gia đình. Bên cạnh đó, pháp luật cũng không hạn chế quyền được sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng của người Việt Nam định cư tại nước ngoài, cá nhân nước ngoài có dự án trồng Rừng sản xuất tại Việt Nam với những yêu cầu về thủ tục áp dụng như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Có thể thấy, việc quy định rõ ràng về thủ tục công nhận quyền sở u Rừng sản xuất là rừng trồng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bỏ vốn trồng rừng là một điểm tiến bộ của Luật BVPRT 2004, đây là cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ rừng đồng thời là chủ sở hữu rừng. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

So với Luật BVPTR 1991 chỉ quy định một cách căn bản “Rừng được gây trồng trên đất được Nhà nước giao không phải bằng vốn của Nhà nước, thì sản phẩm thực vật rừng thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân bỏ vốn. “, Luật BVPTR hiện hành đã có những thay đổi đáng kể cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước. Từ chỗ chỉ căn cứ vào nguồn gốc vốn để cho phép tư nhân được sở hữu rừng không phân biệt đó là Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng hay Rừng sản xuất thì đến Luật BVPTR hiện hành thông qua việc phân loại rõ ràng hơn về các loại rừng, đặc biệt là ba loại Rừng sản xuất bao gồm Rừng sản xuất là rừng tự nhiên, Rừng sản xuất là rừng trồng và Rừng sản xuất là rừng giống đã quy định cụ thể cho phép các đối tượng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư được sở hữu một loại rừng duy nhất là Rừng sản xuất là rừng trồng, quy định như vậy là hợp lý với mục tiêu sử dụng của từng loại rừng.

Phạm vi sở hữu của chủ sở hữu rừng cũng được mở rộng không chỉ thực vật rừng và các sản phẩm từ thực vật rừng mà còn sở hữu đối với vật nuôi, tài sản gắn liền với đất rừng do chủ chủ rừng tự đầu tư trong thời hạn được giao, được thuê đất để trồng rừng. Chủ rừng đầu tư phát triển Rừng sản xuất là rừng trồng trên đất được Nhà nước giao hay cho thuê để trồng rừng đều được công nhận là chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng thay vì trước đây chỉ áp dụng với hình thức giao đất để trồng rừng, sự thay đổi này góp phần thu hút nguồn vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào ngành lâm nghiệp khi tạo cho họ cơ hội được sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng ở Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

2.1.2 Phương thức thực hiện quyền sở hữu tư nhân đối với Rừng sản xuất là rừng trồng

Với tư cách là một chủ rừng, chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng có những quyền và nghĩa vụ chung như những chủ rừng khác được quy định tại Điều 59 và Điều 60 Luật BVPTR. Chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng được hỗ trợ kỹ thuật, vốn để sử dụng rừng ổn định, lâu dài, kết hợp sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp, nghiên cứu khoa học, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đó, chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng cần sử dụng rừng đúng theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt kèm theo các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn vốn rừng và thực hiện các nghĩa vụ tài chính (nộp thuế, tiền sử dụng đất…) đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Ngoài các quyền lợi được hưởng như các chủ rừng khác, chủ sở u Rừng sản xuất là rừng trồng được pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng quy định thêm các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của mình. Cụ thể:

Chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng bằng hình thức ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong hồ sơ địa chính của địa phương. Đây là một trong những điểm khác biệt quan trọng dùng để phân biệt giữa chủ rừng đồng thời là chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng với các loại chủ rừng còn lại không được công nhận quyền sở hữu rừng mà chỉ được thừa nhận quyền sử dụng rừng.

Khác với các chủ rừng được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng chỉ được sở hữu cây trồng, vật nuôi do chủ rừng đầu tư thêm trong quá trình quản lý rừng, chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng tự bỏ vốn trồng rừng trên diện tích đất được giao, được cho thuê hoặc nhận chuyển nhận quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng nên họ được sở hữu toàn bộ cây trồng, vật nuôi và tài sản trên đất trồng rừng. Hơn nữa, chủ sở hữu rừng được tự quyết định tuổi khai thác rừng trồng, thủ tục khai thác, tự chủ trong việc thực hiện tận thu lâm sản, các sản phẩm khai thác từ rừng trồng của chủ rừng được tự do lưu thông trên thị trường trong khi các chủ rừng chỉ có quyền sử dụng rừng phải thông qua các cơ quan có thẩm quyền thay mặt Nhà nước quyết định việc khai thác, tận thu rừng.

Về các quyền giao dịch, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sở hữu rừng được phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng; được thế chấp, bảo lãnh bằng giá trị Rừng sản xuất là rừng trồng tại tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam; được góp vốn bằng giá trị Rừng sản xuất là rừng trồng với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; được hưởng giá trị tăng thêm từ rừng khi nhận chuyển nhượng Rừng sản xuất là rừng trồng từ tay chủ rừng khác.

Chủ sở hữu rừng còn được cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác thuê rừng để kết hợp sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường, đầu tư nghiên cứu khoa học theo quy chế quản lý rừng. Trong trường hợp chủ sở hữu rừng là cá nhân (công dân Việt Nam sinh sống trong nước hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài) thì họ được phép để thừa kế là quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định của pháp luật dân sự. Ngoài ra, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư để thực hiện các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, tạo thành Rừng sản xuất trên đất không có rừng được Nhà nước giao, cho thuê thì cũng được công nhận là chủ sở u rừng và có đầy đủ các quyền lợi nêu trên. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Trường hợp Nhà nước giao rừng, giao đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê để trồng rừng thì ngoài quyền của chủ sở hữu đối với Rừng sản xuất là rừng trồng, chủ rừng còn được Nhà nước trao quyền sử dụng đất rừng lâm nghiệp. Khi đó, chủ sở hữu Rừng sản xuất sẽ đồng thời là người sử dụng đất, được phép chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Pháp luật quy định nghĩa vụ của chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng như sau:

Khi khác thác rừng trồng chủ sở hữu rừng phải báo trước mười (10) ngày làm việc cho Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi có rừng biết, trong trường hợp rừng đó là rừng trồng cây gỗ quý, hiếm thì khi khai thác phải thực hiện theo quy định của Chính phủ. So với rừng trồng thuộc sở hữu tư nhân, quy định về khai thác Rừng sản xuất là rừng trồng nhưng có vốn từ ngân sách Nhà nước và Rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghiêm ngặt hơn nhiều, chủ Rừng sản xuất là rừng trồng có vốn từ ngân sách Nhà nước phải lập hồ sơ khai thác trình cơ quan có thẩm quyền duyệt nguồn vốn quyết định, đối với Rừng sản xuất là rừng tự nhiên, tùy vào loại chủ rừng mà có những yêu cầu khác nhau, ví dụ:

Chủ rừng là tổ chức: phải phải có phương án điều chế rừng (hoặc phương án quản lý rừng bền vững) và thiết kế khai thác được Sở NNPTNT phê duyệt.

Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn: phải có kế hoạch quản lí, bảo vệ và sản xuất, kinh doanh rừng có phương án khai thác rừng do Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt hoặc ủy quyền cho phòng chức năng của cấp huyện phê duyệt phương án khai thác rừng.

Sau khi khai thác, chủ sở hữu rừng phải trồng lại rừng vào thời vụ trồng rừng ngay sau đó hoặc thực hiện biện pháp tái sinh tự nhiên trong quá trình khai thác. Nếu chủ rừng muốn kết hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp trong khu rừng của mình thì cần đảm bảo sử dụng không quá 40% diện tích đất không có rừng là đất rừng ngập mặn hoặc không quá 30% diện tích đất không có rừng là đất Rừng sản xuất không phải là đất ngập mặn để sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; được trồng xen cây nông nghiệp dưới tán rừng nhưng không làm ảnh hưởng tới mục đích sử dụng chính của rừng. Những loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; nguồn gen động vật rừng quý, hiếm sinh trưởng trong rừng thuộc sở hữu tư nhân được quản lý, bảo vệ theo quy định của Chính phủ, chủ sở hữu rừng không có quyền sở hữu đối với những đối tượng này. Mặt khác, khi khai thác các loài loài động vật rừng hoang dã tuy không nằm trong danh mục động vật rừng quý, hiếm nhưng việc săn, bắt, bẫy, nuôi nhốt phải theo quy định của Bộ NNPTNT và phải thực hiện theo đúng quy định trong giấy phép đã được cấp.

Như vậy, chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách trực tiếp thông qua các hoạt động quản lý, sử dụng, phát triển rừng và các quyền chiếm hữu, sử dụng định đoạt. Điều này hoàn toàn khác biệt với một chủ sở hữu rừng khác là Nhà nước, qua việc giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng để thực hiện quyền sở hữu một cách gián tiếp qua hoạt động cụ thể của các chủ rừng thông thường.

2.1.3 Thực trạng quyền sở hữu tư nhân đối với Rừng sản xuất là rừng trồng Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Về mặt pháp lý, Nhà nước đã trao quyền sở hữu rừng cho tư nhân, đây là điều kiện thuận lợi để các chủ rừng tự do khai thác lợi ích và phát triển rừng theo những kế hoạch riêng. Tuy vậy trên thực tế, việc các cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng không nhiều khi diện tích Rừng sản xuất là rừng trồng chỉ có khoảng 2,65 triệu ha (chiếm khoảng 19% tổng diện tích rừng), trong đó một diện tích không nhỏ đã thuộc sở hữu Nhà nước. Mặt khác, nhìn vào cơ cấu chủ rừng phân theo diện tích quản lý không hề có số liệu thống kê của chủ rừng là cá nhân, chủ rừng là các tổ chức (không bao gồm doanh nghiệp nhà nước) cũng quản lý một diện tích khá khiêm tốn khoảng 6%. Không chỉ ở Việt Nam, mà ở các quốc gia quy định nhiều hình thức sở hữu rừng cũng phổ biến tình trạng chênh lệch giữa diện tích sở hữu rừng của Nhà nước và diện tích sở hữu rừng của tư nhân. Ví dụ: tại quốc gia châu Mỹ Bazil tư nhân chỉ sở hữu 10% diện tích rừng cả nước, con số này là 6,5% tại Canada. Ngược lại, có những quốc gia đứng đầu thế giới về trữ lượng gỗ như Mỹ hay Trung Quốc rừng thuộc sở hữu tư nhân khá lớn, trên 50% tổng diện tích rừng.

Sau 10 năm thực hiện Luật BVPTR 2004, với nhiều chính sách, kế hoạch khuyến khích người dân bỏ vốn đầu tư vào Rừng sản xuất trong giai đoạn 2007-2015, tốc độ tăng quy mô của Rừng sản xuất do tổ chức kinh tế tư nhân, hộ gia đình, cá nhân quản lý vẫn tương đối thấp, chỉ tăng 1 triệu ha Rừng sản xuất. Trong các loại Rừng sản xuất, Nhà nước chỉ công nhận quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư do vậy, trên thực tế, rừng thuộc sở hữu tư nhân ở Việt Nam chiếm một diện tích rất nhỏ.

Năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam lên kế hoạch trồng 16,5 ha cây Sao đen với ước tính chi phí cụ thể (Việt Nam Đồng) cho một ha rừng như sau:

Đây là ví dụ minh họa cho một kế hoạch trồng rừng cụ thể tại một địa phương, tuy không phải là diện tích Rừng sản xuất thuộc sở hữu tư nhân nhưng căn cứ vào những số liệu trên có thể suy ra những khó khăn, bất cập mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phải đối mặt khi có dự án đầu tư vào Rừng sản xuất là rừng trồng. Trước hết, để sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng, các chủ rừng phải bỏ một số vốn rất lớn để mua vật tư, thuê nhân công trồng, chăm sóc rừng trên diện tích đất Rừng sản xuất được giao, được cho thuê (trừ những trường hợp nhận chuyển nhượng Rừng sản xuất là rừng trồng đã có sẵn từ chủ sở hữu rừng khác thì vốn đầu tư bỏ ra để nhận chuyển nhượng Rừng sản xuất là rừng trồng) – nếu trồng 16,5 ha Sao đen họ phải bỏ ra gần 730 triệu đồng trong suốt quá trình nuôi trồng – đây là cản trở lớn nhất đối với các chủ rừng, đặc biệt là hộ gia đình, cá nhân khi muốn trở thành chủ sở hữu rừng nhưng thiếu một nguồn vốn ổn định và lâu dài, gây là tình trạng nhiều chủ rừng đã lao động, sản xuất lâu năm trên diện tích Rừng sản xuất là rừng trồng song vẫn không được công nhận là chủ sở hữu rừng.

Thời gian sinh trưởng của cây rừng tương đối dài, từ lúc bắt đầu gieo trồng tới khi đạt được tiêu chuẩn khai thác mất từ 5-10 năm cho các giống cây thông thường, với Sao đen là 7 năm; ngoài ra chủ rừng phải đảm bảo về diện tích nuôi trồng mới có thể thu được lợi nhuận từ rừng. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Lượng vốn bỏ ra nhiều, thời gian thu hồi vốn lâu, không thể tính toán chính xác được hiệu quả đầu tư nếu như không xây dựng được một kế hoạch phù hợp, chưa kể đến khâu chăm sóc theo từng giai đoạn, đảm bảo kỹ thuật lâm nghiệp, thị trường đầu ra, nguy cơ bị thu hồi rừng phục vụ cho mục đích công cộng…là những nguyên nhân khiến nhiều hộ gia đình, cá nhân không thể có cơ hội sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng. Mặt khác, chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng được tự do quyết định phương án trồng và khai thác rừng nhưng đa phần các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân không hiểu biết nhiều về kỹ thuật lâm nghiệp khiến cho hiệu quả kinh tế của rừng cũng như chất lượng rừng chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường.

Đối với các tổ chức kinh tế, thường là các công ty lâm nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận với Rừng sản xuất là rừng trồng hơn so với hộ gia đình, cá nhân. Trên thực tế diện tích rừng các công ty lâm nghiệp sở hữu cũng chiếm ưu thế hơn cả, song tình trạng các dự án đầu tư chậm tiến độ, doanh nghiệp hủy dự án do thiếu vốn đầu tư, không chăm sóc và bảo vệ rừng vẫn còn khá phổ biến ở các tỉnh Tây Nguyên, miền Trung nước ta.

Sự không đồng nhất giữa chế độ pháp lý đối với tài nguyên rừng và chế độ pháp lý đối với đất rừng, đất đai luôn thuộc sở hữu Nhà nước trong khi Rừng sản xuất là rừng trồng trên đất có thể thuộc sở hữu tư nhân gây khó khăn cho chủ rừng nếu họ thực hiện các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, chuyển đổi, góp vốn… sẽ phát sinh nhiều trường hợp phức tạp như chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng đồng thời là người sử dụng đất có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu rừng của mình cho chủ thể khác nhưng chỉ có thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất rừng, việc giao dịch càng không đơn giản khi chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng không đồng thời là người có quyền sử dụng đất.

2.2 Hình thức sở hữu Nhà nước đối với rừng Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

2.2.1 Cơ sở xác lập

Hình thức sở hữu Nhà nước đối với rừng được xác lập thông qua cơ chế đại diện của chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng. Theo đó, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu cho toàn thể nhân dân thống nhất, quản lý đối với toàn bộ diện tích rừng tự nhiên, rừng được phát triển bằng vốn của Nhà nước, rừng do Nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng từ các chủ rừng.

Hình thức sở hữu Nhà nước đối với các loại rừng kể trên được khẳng định trong các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật dân sự, Luật BVPTR. Với tư cách một chủ sở hữu đặc biệt, Nhà nước sẽ thực thi các quyền định đoạt đối với rừng thông qua các phương thức điều phối rừng như giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; từ đó trao quyền sử dụng rừng cho các đối tượng phù hợp.

Như vậy, Nhà nước thực hiện quyền sở hữu một cách gián tiếp, chủ yếu thông qua các hoạt động của chủ rừng đối với rừng. Nhà nước kiểm tra, giám sát các chủ rừng bằng hệ thống pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng và hệ thống các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương.

2.2.2 Các phương thức điều phối rừng của Nhà nước

2.2.2.1 Phương thức giao rừng

a. Giao rừng không thu tiền sử dụng rừng

Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt, quỹ rừng của từng địa phương và nhu cầu sử dụng rừng của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Nhà nước tiến hành giao rừng không thu tiền sử dụng rừng cho các đối tượng sau: Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Ban quản lý Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng: Những khu Rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung có diện tích từ 5.000 ha trở lên hoặc có diện tích dưới 5.000 ha nhưng có tầm quan trọng về chức năng phòng hộ hoặc Rừng phòng hộ ven biển quan trọng được giao không thu tiền sử dụng cho Ban quản lý – là tổ chức sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập theo quy chế quản lý rừng. Đối với vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng bảo vệ cảnh quan (cần thiết có Ban quản lý) sẽ được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng cho Ban quản lý rừng đặc dụng.

Đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp khi có nhu cầu cũng được UNBD cấp tỉnh giao Rừng phòng hộ hoặc Rừng đặc dụng không thu tiền sử dụng phục vụ cho yêu cầu an ninh – quốc phòng và nghiên cứu khoa học.

Tổ chức kinh tế trong nước, hộ gia đình, cá nhân trong nước: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giao Rừng phòng hộ hoặc Rừng sản xuất (là rừng tự nhiên hoặc rừng trồng) cho các tổ chức kinh tế tại địa phương. Căn cứ vào phương án giao rừng, Ủy ban nhân dân cấp huyện sẽ giao Rừng phòng hộ, Rừng sản xuất (rừng tự nhiên hoặc rừng trồng) không thu tiền sử dụng rừng cho các hộ gia đình, cá nhân sinh sống trên địa bàn thuộc cấp xã nơi có rừng trực tiếp lao động lâm nghiệp với hạn mức được giao tối đa không quá 30 ha đối với mỗi loại rừng. Xuất phát từ tầm quan trọng của Rừng đặc dụng là những khu rừng được thành lập chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, do đó Nhà nước chỉ giao cho Ban quản lý hoặc các đơn vị vũ trang, tổ chức nghiên cứu khoa học do Nhà nước thành lập sử dụng vào những mục đích không mang tính kinh doanh thương mại nhằm hạn chế tối đa sự tác động của con người làm thay đổi cảnh quan, môi trường rừng.

Khi được giao Rừng phòng hộ, các chủ rừng nói trên được phép khai thác lâm sản nhưng phải đảm bảo nguyên tắc mang tính kết hợp trong khuôn khổ không làm ảnh hưởng đến chức năng phòng hộ của rừng. Thông thường, các chủ rừng được phép khai thác cây chết, cây sâu bệnh trong rừng phòng hộ là rừng tự nhiên; được khai thác cây phụ trợ, chặt tỉa thưa khi rừng phòng hộ là rừng trồng có mật độ lớn hơn mật độ quy định, khai thác cây trồng chính khi đạt tiêu chuẩn khai thác; khai thác măng, tre nứa, các loại lâm sản khác ngoài gỗ khi đã đạt yêu cầu phòng hộ. Tuy Nhà nước công nhận quyền sử dụng rừng nhưng ngoại trừ trường hợp chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được chuyển đổi diện tích Rừng phòng hộ được giao cho các hộ gia đình, cá nhân trên cùng địa bàn, cá nhân được để thừa kế quyền sử dụng rừng, còn lại các chủ rừng không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng rừng. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Đối với Rừng đặc dụng, việc cho phép khai thác lâm sản rất hạn chế, chỉ được thực hiện với cây gỗ đã chết, gãy đổ, thực vật rừng ngoài gỗ, trừ các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị cấm khai thác theo quy định của Chính phủ trong khu bảo vệ cảnh quan và phân khu dịch vụ – hành chính của vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên . Nhà nước khuyến khích các hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập kết hợp kinh doanh cảnh quan nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái môi trường đáp ứng điều kiện về lập dự án cụ thể kèm theo sự phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền. Riêng Ban quản lý Rừng đặc dụng, do phải quản lý một diện tích rừng khá lớn, vượt quá khả năng nhân lực và vật lực nên có thể tiến hành  khoán bảo vệ rừng theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hoặc các tổ chức kinh tế thuê cảnh quan để kinh doanh du lịch sinh thái – môi trường theo dự án.

Các chủ thể được giao Rừng sản xuất, tùy thuộc vào từng đối tượng chủ rừng và loại Rừng sản xuất sẽ có những quy định về quyền và nghĩa vụ riêng. Nhưng nhìn chung, các chủ rừng sẽ được khai thác lâm sản theo những nguyên tắc của từng loại Rừng sản xuất và chỉ được  thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng tăng thêm do chủ rừng tự đầu tư so với giá trị quyền sử dụng rừng được xác định tại thời điểm được giao. Với diện tích Rừng sản xuất là rừng trồng phát triển bằng vốn Nhà nước, chủ rừng là tổ chức kinh tế không được tự ý thực hiện các giao dịch nói trên. Hộ gia đình, cá nhân được giao Rừng sản xuất là rừng trồng không thu tiền sử dụng rừng được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị Rừng sản xuất là rừng trồng, được để thừa kế quyền sử dụng rừng.

Cộng đồng dân cư thôn: Tuy không phải là chủ rừng nhưng cộng đồng dân cư thôn vẫn được Ủy ban nhân dân cấp huyện giao những diện tích rừng (không phân biệt loại rừng) giáp ranh giữa thôn, xã, huyện, khu rừng giữ nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng hoặc gắn liền với phong tục, tập quán, văn hóa – tín ngưỡng của cộng đồng mà không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý. Cộng đồng được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài để khai thác, bảo vệ và phát triển khu rừng vì lợi ích chung của cộng đồng do đó không được phân chia rừng cho các thành viên trong cộng đồng dân cư thôn; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao.

b. Giao rừng có thu tiền sử dụng rừng

Hình thức giao rừng có thu tiền sử dụng áp dụng đối với Rừng sản xuất là rừng tự nhiên và Rừng sản xuất là rừng trồng, theo đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ giao rừng cho các tổ chức kinh tế (trong nước hoặc liên doanh với nước ngoài), người Việt Nam định cư tại nước ngoài đầu tư vào Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư về lâm nghiệp. Trường hợp giao Rừng sản xuất là rừng tự nhiên sẽ do Chính phủ hướng dẫn cụ thể. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Nếu chủ rừng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có dự án đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước giao Rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng thì sẽ được công nhận là chủ sở hữu đối với diện tích Rừng sản xuất là rừng trồng đó.

Đối với chủ rừng là tổ chức kinh tế cần tuân theo các quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng, được hưởng các giá trị tăng thêm của rừng, khai thác lâm sản, cho các đối tượng khác thuê rừng để kết hợp sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường, đầu tư nghiên cứu khoa học theo quy chế quản lý rừng. Bên cạnh đó, tùy thuộc vào nguồn gốc tiền trả cho việc sử dụng vào Rừng sản xuất là rừng trồng có từ ngân sách Nhà nước  hay không mà chủ rừng có những quyền lợi và nghĩa vụ riêng:

Tiền sử dụng rừng có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước: chủ rừng không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng rừng và chỉ được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng tăng thêm do chủ rừng tự đầu tư so với giá trị quyền sử dụng rừng được xác định tại thời điểm được giao rừng.

Tiền sử dụng rừng không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước: chủ rừng được chuyển nhượng quyền sử dụng rừng; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng.

2.2.2.2 Phương thức cho thuê rừng

a. Cho thuê rừng trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê

Những dự án đầu tư lâm nghiệp phát triển Rừng sản xuất là rừng trồng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam sẽ được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét cho thuê rừng trả tiền một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án đầu tư kết hợp sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường.

Mặc dù là hình thức thuê rừng, nhưng nếu tiền thuê được thanh toán một lần cho cả thời gian thuê thì pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài rất giống với quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng, đặc biệt trong quyền chuyển nhượng rừng, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị Rừng sản xuất là rừng trồng, để thừa kế. Sự khác biệt được thể hiện ở quyền cho thuê lại Rừng sản xuất là rừng trồng và chỉ được tặng cho Nhà nước hoặc cộng đồng dân cư thôn.

Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng này được quy định giống nhau trong cả hai trường hợp thuê Rừng sản xuất là rừng trồng (thuê trả một lần hay thuê trả hàng năm), chủ yếu căn cứ vào giá trị tăng thêm của rừng do chủ rừng tự đầu tư trong thời gian thuê để có các quyền giao dịch tương ứng với giá trị tăng thêm đó, quyền khai thác lâm sản phải tuân theo quy định của pháp luật về khai thác Rừng sản xuất là rừng trồng tại Khoản 2 Điều 55, Khoản 2 Điều 57 Luật BVPTR

b. Cho thuê rừng trả tiền thuê hàng năm Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Đối với tổ chức kinh tế trong nước: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho thuê các loại rừng (RPH, Rừng đặc dụng là khu bảo vệ cảnh quan, Rừng sản xuất) trả tiền thuê hàng năm. Đối với Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng là khu bảo vệ cảnh quan, chủ rừng được phép khai thác lâm sản trong rừng theo quy định tại Điều 47, Điều 51 Luật BVPTR, chấp hành quy chế quản lý rừng, quy chế quản lý Rừng phòng hộ và không được thực hiện các giao dịch về tài sản như góp vốn, thế chấp, bảo lãnh, chuyển nhượng, cho thuê lại… quyền sử dụng hai loại rừng này.

Đối với Rừng sản xuất, ngoài khai thác lâm sản đáp ứng yêu cầu của từng loại Rừng sản xuất, chủ rừng còn được sở hữu đối với cây trồng, vật nuôi, tài sản gắn liền với rừng do chủ rừng tự đầu tư do đó được phép thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng tăng thêm so với giá trị quyền sử dụng rừng được xác định tại thời điểm được thuê.

Hộ gia đình, cá nhân: Ủy ban nhân dân cấp huyện cho hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại địa bàn có rừng thuê Rừng sản xuất trả tiền hàng năm để sản xuất lâm nghiệp, kết hợp sản xuất lâm nghiệp – nông nghiệp – ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – môi trường. Quyền khai thác lâm sản và sở hữu các giá trị tăng thêm từ rừng do hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư được quy định giống với chủ rừng là tổ chức kinh tế thuê Rừng sản xuất trả tiền thuê hàng năm. Ngoài ra, chủ rừng được chuyển nhượng, cho thuê lại quyền sử dụng Rừng sản xuất là rừng trồng bằng vốn từ ngân sách Nhà nước hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị Rừng sản xuất là rừng trồng do mình đầu tư.

Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài: chủ thể này được lựa chọn giữa hình thức thuê rừng trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê hoặc thuê rừng trả tiền thuê hàng năm đối với Rừng sản xuất là rừng trồng. Đối với hình thức thuê rừng trả tiền thuê hàng năm, quyền và nghĩa vụ của họ tương tự như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế thuê Rừng sản xuất là rừng trồng trả tiền thuê rừng hàng năm.

2.2.2.3 Giao đất, cho thuê đất để trồng rừng

Việt Nam có gần 15,4 triệu ha đất lâm nghiệp, trong đó trên 13 triệu ha là đất có rừng. Hiến pháp năm 2013 quy định đất đai sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý nhưng khác với hai hình thức sở hữu đối với tài nguyên rừng, đất đai chỉ có duy nhất một hình thức sở hữu Nhà nước, người sử dụng đất chỉ được công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Hiện nay, hoạt động giao, cho thuê đất để trồng rừng được điều chỉnh bởi Luật Đất đai 2013 và Luật BVPRT 2004. Theo đó, tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sẽ được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất lâm nghiệp để trồng Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng, Rừng sản xuất. Cụ thể: Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Đối với đất Rừng phòng hộ: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các Ban quản lý Rừng phòng hộ để khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Với những khu quy hoạch trồng Rừng phòng hộ nhưng chưa có Ban quản lý, Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn đang sinh sống tại đó bảo vệ và phát triển rừng. Ngoài ra, tổ chức kinh tế (trong nước hoặc có vốn đầu tư nước ngoài), hộ gia đình, cá nhân còn được thuê đất để trồng Rừng phòng hộ.

Đối với đất Rừng đặc dụng: do đặc thù sinh thái của loại rừng này nên Nhà nước chỉ giao đất Rừng đặc dụng cho Ban quản lý Rừng đặc dụng để quản lý, bảo vệ theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đó, tổ chức kinh tế có thể thuê đất Rừng đặc dụng thuộc khu vực được kết hợp với kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái – môi trường dưới tán rừng.

Đối với đất Rừng sản xuất: trừ đất Rừng sản xuất là rừng tự nhiên được giao cho tổ chức quản lý rừng còn lại đất Rừng sản xuất là rừng trồng sẽ được giao hoặc cho tổ chức kinh tế (trong nước hoặc nước ngoài), hộ gia đình, cá nhân (trong nước hoặc nước ngoài), người Việt Nam định cư tại nước ngoài có dự án đầu tư vào lâm nghiệp thuê để phát triển rừng nhằm mục đích kinh doanh. Nếu nguồn gốc vốn để phát triển Rừng sản xuất là rừng trồng không phải từ ngân sách Nhà nước thì tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân bỏ vốn đầu tư sẽ được công nhận quyền sở hữu đối với diện tích Rừng sản xuất là rừng trồng đó.

Hạn mức và thẩm quyền giao đất, cho thuê đất để trồng tuân theo quy định của pháp luật về đất đai. Chủ rừng khi phát triển rừng trên đất được giao, được cho thuê có các quyền và nghĩa vụ đối với rừng tương tự như khi được giao rừng, cho thuê rừng. Trong trường hợp chủ rừng là tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trồng Rừng sản xuất, Rừng phòng hộ trên đất được giao thì họ sẽ được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Cùng với các chính sách giao rừng, cho thuê rừng, chính sách giao đất và cho thuê đất để trồng rừng đang dần khẳng định sự cần thiết của mình, đặc biệt sau khi Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg ngày 17/10/2005 về tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, trong đó có việc đẩy mạnh trồng rừng và tái trồng rừng trên những diện tích đất mất rừng, đất trống đồi trọc trước ngày 31/12/1989 theo Cơ chế phát triển sạch (AR-CDM); trồng rừng theo Chương trình hành động quốc gia về “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng” (Chương trình REDD+) là các dự án đầu tư có nguồn vốn hỗ trợ từ nước ngoài rất lớn đang được thực hiện ở Lào Cai, Bắc Cạn, Lâm Đồng, dự án AR-CDM thí điểm tại Hòa Bình, Thừa Thiên Huế. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

2.2.2.4 Thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng

a. Thu hồi rừng

Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình có thể bị thu hồi diện tích rừng đã được giao trong các trường hợp Nhà nước sử dụng rừng và đất để phát triển rừng vào mục đích công cộng, chủ rừng không còn hoặc không có nhu cầu sử dụng rừng (chủ rừng là cá nhân đã chết mà không có người thừa kế hợp pháp, chủ rừng tự nguyện trả lại rừng…), chủ rừng vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ và sử dụng rừng, phát triển rừng, rừng được giao không đúng thẩm quyền hoặc không được gia hạn khi đã hết thời hạn. Trên thực tế, rừng bị thu hồi thường rơi vào hai nguyên nhân chính:

Thu hồi rừng vì mục đích công cộng thường kèm với hoạt động chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng các công trình thủy điện, khai thác khoảng sản, lập các khu công nghiệp, phát triển kinh tế theo quy hoạch hoặc để đảm bảo an ninh – quốc phòng. Ví dụ: vào ngày 15/3/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam đã thu hồi giấy chứng nhận đầu tư dự án 1000 ha rừng sản xuất là rừng trồng cây nguyên liệu của Công ty Innovgreen Quảng Nam (Tập đoàn InnovGreen, Hồng Kông – Trung Quốc) trên địa bàn 5 xã thuộc huyện Nam Trà My sau gần 6 năm cho tập đoàn nước ngoài này thuê đất trồng rừng với lí do đất này là vùng biên giới, nằm trong khu vực ảnh hưởng đến an ninh – quốc phòng nên buộc phải thu hồi.

Thu hồi rừng do có vi phạm pháp luật. Tình trạng các chủ rừng vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng (thực hiện không đúng dự án đầu tư, tự ý chuyển mục đích sử dụng của rừng…) hay người dân lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép còn khá phổ biến ở các tỉnh Tây Nguyên, Hà Tĩnh, Ninh Thuận…trong khi công tác thu hồi rừng của các cơ quan chức năng còn chậm do gặp nhiều khó khăn về nhân lực và vật lực.

Trong trường hợp nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần rừng cho các mục đích công cộng hoặc trong trường hợp thời hạn sử dụng rừng đã hết hoặc chủ rừng tự nguyện trả lại rừng thì chủ rừng rừng được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư , tài sản bị thu hồi. Việc bồi thường này được thực hiện bằng hiện vật hoặc bằng tiền tại thời điểm có quyết định thu hồi. Đây là khoản tiền mà Nhà nước phải trả cho chủ rừng tương xứng với các khoản thu nhập chủ rừng có thể được hưởng trong thời gian còn lại mà chủ rừng được giao, được thuê từ khai thác lâm sản; kinh doanh cảnh quan du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học theo quy chế quản lý và sử dụng rừng. Thẩm quyền thu hồi rừng được quy định trùng với thẩm quyền giao rừng, nghĩa là cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao loại rừng nào thì cũng có thẩm quyền thu hồi loại rừng đó.

b. Chuyển mục đích sử dụng rừng Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Tùy vào quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt mà Nhà nước sẽ quyết định chuyển các diện tích Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng, Rừng sản xuất sang mục đích sử dụng khác và việc chuyển mục đích sử dụng từ loại rừng này sang loại rừng khác theo quy định của pháp luật. Thẩm quyền chuyển mục đích sử dụng rừng được quy định trùng với thẩm quyền xác lập các khu rừng, theo đó Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng đối với những khu rừng so các cơ quan này xác lập trước đó.

Đối với các dự án phải chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, các đơn vị khi trình dự án phải đồng thời có báo cáo đánh giá tác động môi trường, có phương án đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng, đảm bảo trồng rừng mới thay thế diện tích rừng sẽ chuyển sang mục đích sử dụng khác có sự phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền hoặc phải nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Trước đây, Luật BVPTR 1991 chỉ dừng ở việc quy định mức đền bù, bồi hoàn giá trị của rừng trong trường hợp thay đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác mà chưa quan tâm nhiều đến phục hồi lại diện tích rừng bị mất, do đó Luật BVPTR hiện hành đã bổ sung thêm hoạt động này nhằm bảo tồn quỹ rừng cả nước.

2.2.3 Thực trạng thực hiện quyền sử dụng rừng ở Việt Nam

Thứ nhất, các tổ chức kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận với rừng,

Tuy Luật BVPTR quy định tới bảy nhóm đối tượng có thể có đủ điều kiện để trở thành chủ rừng nhưng theo thống kê thực tế về phân chia tỉ lệ các chủ rừng theo diện tích quản lý thì các nhóm chủ rừng chính bao gồm Ban quản lý Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng (hiện đang nắm giữ 4,74 triệu ha rừng, tương đương với 33% trong tổng diện tích), hộ gia đình (3,4 triệu ha, 25%), doanh nghiệp Nhà nước mà chủ yếu là các công ty lâm nghiệp (14%), diện tích rừng được giao cho cộng đồng gần 600.000 ha. Và mặc dù Luật BVPTR không quy định Ủy ban nhân dân xã là một đơn vị chủ rừng nhưng diện tích rừng chưa có chủ rừng được giao cho Ủy ban nhân dân xã quản lý rất lớn, khoảng 2,3 triệu ha. Trong khi đó, tổ chức kinh tế khác (doanh nghiệp không có vốn Nhà nước) chỉ nắm 1% tổng diện tích rừng với khoảng hơn 200.000 ha chủ yếu là rừng trồng (76,54%). Các tổ chức vẫn có nhu cầu sử dụng rừng, nhất là Rừng sản xuất với diện tích lớn để đầu tư phát triển rừng nhằm mục đích kinh doanh song lại gặp vướng mắc từ nhiều phía, thông thường do vốn đầu tư trồng rừng quá lớn  khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể tiếp cận được rừng, nhiều doanh nghiệp đã nhận dự án cũng đứng trước nguy cơ không hoàn thành kế hoạch hoặc tiến độ trồng rừng chậm do thiếu vốn xoay vòng, việc vay vốn của ngân hàng thương mại để trồng Rừng sản xuất rất khó khăn (lãi suất cao, thời hạn vay ngắn trong khi chu kỳ sản xuất dài). Hơn nữa, công tác rà soát đất đai, khảo sát lập hồ sơ thiết kế, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phức tạp, tốn thời gian, chưa kể đến khoản thuế phải trả hàng năm cho việc sử dụng đất rừng rất cao, nếu doanh nghiệp không thể hoàn thành các nghĩa vụ tài chính này cũng đồng nghĩa với việc không có tài sản (quyền sử dụng đất) để thế chấp vay vốn từ các tổ chức tín dụng, không có vốn các doanh nghiệp không thể nào tạo được bước đột phá trong phát triển sản xuất kinh doanh từ rừng. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Thứ hai, hoạt động quản lý, bảo vệ rừng của các Ban quản lý Rừng đặc dụng, Rừng phòng hộ, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng chưa đạt hiệu quả cao.

Hiện nay, Ban quản lý Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng quản lý diện tích rừng tương đối lớn, chiếm tới 33% tổng diện tích rừng của cả nước, hầu hết là các khu rừng tự nhiên có vai trò quan trọng trong phòng hộ và bảo tồn thiên nhiên thế nhưng thực tế tình trạng suy thoái rừng ở nước ta cho thấy đây là những diện tích phải đối mặt với nạn phá rừng trái phép nhiều nhất và ngày càng có chiều hướng gia tăng, riêng khu vực Tây nguyên – Đông Nam Bộ có tới gần 10.000 ha Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng bị tàn phá mỗi năm. Gần đây nhất là vụ phá Rừng đặc dụng nghiêm trọng Bà Nà – Núi Chúa ở Đà Nẵng, chặt phá công khai Rừng phòng hộ Nam Cát Tiên ở Đăk Nông, phá PRH Phú Quốc…. Nguyên nhân mất rừng xuất phát từ nhiều lí do, trước hết xuất phát từ sự quản lý chưa hiệu quả của các Ban quản lý. Với nguồn kinh phí hoạt động hạn chế, lực lượng mỏng lại phải duy trì kiểm soát một diện tích rừng tương đối lớn có nguy cơ bị xâm hại cao do có nhiều loài thực vật, động vật giá trị cao sinh trưởng trong khu rừng gây ra nhiều khó khăn cho các lực lượng chức năng trong công tác bảo vệ rừng. Mặt khác, Ban quản lý Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng với tư cách là một chủ rừng nhưng lại thiên về quản lý Nhà nước, chế độ “hưởng lợi” từ khu rừng họ đang quản lý hầu như không có (khai thác rừng hạn chế, không được chuyển nhượng, góp vốn, bảo lãnh giá trị quyền sử dụng rừng như các chủ rừng khác) không những khiến các Ban quản lý không thể thực hiện tốt nghĩa vụ với rừng mà đôi khi còn lí giải vì sao là chủ rừng nhưng lại vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng.

Đối với cộng đồng dân cư thôn, Trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhiều quốc gia như Campuchia, Bu-tan, Indonesia, Thái Lan… cũng áp dụng phương thức giao rừng cho cộng đồng dân cư địa phương vùng có rừng như một biện pháp bảo tồn rừng hiệu quả. Ở Việt Nam, tính đến hết năm 2013, đã giao cho cộng đồng quản lý trên toàn quốc gần 600.000 ha rừng chiếm 4,3% tổng điện tích rừng trong cả nước, trong đó, rừng tự nhiên chiếm tuyệt đại đa số lên đến 96%, rừng trồng chỉ chiếm có 4%. Việc Nhà nước giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn không những góp phần nâng cao công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng mà còn tạo cơ hội cải thiện kinh tế, tăng thu nhập cho một cộng đồng nhất định từ sản xuất lâm nghiệp kết hợp du lịch sinh thái, những thành quả này là không thể phủ nhận thông qua ví dụ điển hình giao rừng cho cộng đồng ở huyện Phú Lộc – tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên qua một thời gian thực hiện chính sách giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn đã bộc lộ một số bất cập đáng kể trên thực tế: Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

 Một là, một trong những căn cứ quan trọng để tiến hành giao rừng cho một cộng đồng dân cư là dựa vào tầm ảnh hưởng của khu rừng đối với một nhóm dân cư nhất định, đặc biệt là về văn hóa, tín ngưỡng, truyền thống lâu đời gắn liền với đời sống tâm linh như rừng thiêng, rừng ma, rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng đa phần là của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Vấn đề đặt ra là, các cộng đồng dân tộc này khi quản lý rừng thường không áp dụng pháp luật về lâm nghiệp hiện hành của Nhà nước mà thường sử dụng luật tục truyền thống từ xưa để lại gây không ít khó khăn cho các cơ quan quản lý rừng thực hiện đồng bộ các quy hoạch, kế hoạch quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn, mặt khác sự hạn chế về nhận thức pháp luật cũng khiến nhiều mô hình giao rừng cho cộng đồng dân cư khó thành công trên thực tế khi không thể thiết kế một kế hoạch phát triển rừng cụ thể để vận hành các hoạt động trong khu rừng của cộng đồng sao cho phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.

Hai là, điều kiện kinh tế nói chung của các cộng đồng dân cư nơi địa bàn có rừng tương đối thấp trong khi rừng được giao cho cộng đồng lại là diện tích rừng nghèo kiệt, trữ lượng thấp, nguồn ngân sách hỗ trợ còn nhiều hạn chế cũng gây nhiều khó khăn cho hoạt động tái sinh rừng.

Ba là, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước công nhận quyền sử dụng rừng, bảo vệ và phát triển rừng như các chủ rừng khác nhưng không được công nhận tư cách chủ rừng, không được chuyển nhượng, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng do cộng đồng đầu tư.

Thứ ba, quy định về thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng chưa đáp ứng được yêu cầu bảo tồn vốn rừng.

Về phân loại rừng, việc quản lý và bảo vệ rừng theo 3 loại rừng là Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng, Rừng sản xuất như hiện nay tạo ra nhiều khó khăn cho việc xây dựng chiến lược, lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của từng địa phương do khó xác định được chính xác được loại rừng, nhiều khu vực có rừng nhưng diện tích rừng bị chia nhỏ thành nhiều loại nằm xen kẽ nhau, không tập trung. Thêm vào đó, bản thân mỗi loại rừng đều có các chức năng phòng hộ, bảo tồn thiên nhiên và có thể đưa vào sản xuất, kinh doanh dịch vụ nhưng việc phân chia theo 3 loại rừng đã tuyệt đối hóa chức năng của từng loại rừng, không những làm cho các chủ rừng khó phát huy được hiệu quả quản lý, sử dụng rừng mà còn chưa thực sự phù hợp với cách phân loại rừng của quốc tế. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Về lập quy hoạch, kế hoạch phát triển và bảo vệ rừng, các cơ quan quản lý lâm nghiệp các cấp như Tổng cục Lâm nghiệp, Sở NNPTNT là các cơ quan chuyên môn song lại chưa tham gia nhiều vào việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở từng địa phương hay hỗ trợ cho Ủy ban nhân dân các cấp thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh nội dung quy hoạch, kế hoạch; quyết định xác lập các khu rừng. Điều này khiến cho các quy hoạch, kế hoạch khó đảm bảo được tính phù hợp với thực tiễn. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân cấp xã bị hạn chế rất nhiều về năng lực chuyên môn của cán bộ, kinh phí hoạt động thấp, lực lượng mỏng lại có thẩm quyền lập quy hoach, kế hoạch sử dụng rừng ở địa phương là chưa hợp lý.

Về chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, Luật BVPTR nước ta khá cởi mở về việc lập quy hoạch, kế hoạch, trao quyền tự chủ cho các địa phương, trong đó có hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sao cho phù hợp với mục tiêu phát triển của của tỉnh đó. Hiện nay, hầu hết các tỉnh đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế, điều này đã dẫn tới hệ quả là trong năm 2013, có 37 tỉnh chuyển 9.528,48 ha rừng sang mục đích khác không phải lâm nghiệp, trong đó: khai thác khoáng sản 1.014,99 ha; thuỷ điện 332,71 ha; thuỷ lợi 451,41 ha; làm đường 461,57 ha; khu du lịch và sân golf 13,79 ha; khu công nghiệp, cảng 37,21 ha; nông nghiệp 2.868,57 ha; an ninh – quốc phòng 136,01 ha; mục đích khác 4.212,23 ha.

Đối với các dự án phải chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, các đơn vị khi trình dự án phải đồng thời có báo cáo đánh giá tác động môi trường, có phương án đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng, đảm bảo trồng rừng mới thay thế diện tích rừng sẽ chuyển sang mục đích sử dụng khác có sự phê duyệt của các cơ quan có thẩm quyền hoặc phải nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Tuy nhiên, tính riêng với các dự án thủy điện, đến tháng 10/2013, diện tích rừng trồng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng chỉ đạt 13% (2.571 ha/19.805,3 ha) và chưa có một chủ đầu tư dự án thủy điện nào nộp tiền về Quỹ. Bên cạnh đó, các vị trí các công trình thủy điện hầu hết ở vùng núi cao, khu vực đầu nguồn nên diện tích rừng bị chuyển đổi đa phần là rừng tự nhiên; tính bình quân, một nhà máy thủy điện cần 59 ha rừng mà Việt Nam có gần 834 công trình thủy điện lớn nhỏ, như vậy có tới gần 20.000 ha rừng trong đó bao gồm 3.060 ha Rừng phòng hộ, 4.411 ha Rừng đặc dụng phải nhường đất cho thủy điện (số liệu thống kê tới năm 2013).

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện các biện pháp khôi phục rừng sau khi chuyển mục đích sử dụng khó triển khai trên thực tế, theo Thông tư Số 24/2013/TT-BNNPTNT của Bộ NNPTNT ban hành ngày 06/5/2015 quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích sử dụng khác  tại khoản 1 Điều 3: “Tổ chức, cá nhân là chủ dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác chịu trách nhiệm tổ chức lập phương án trồng rừng thay thế” trong khi các chủ dự án này không hề có chức năng hay chuyên môn nghiệp vụ về lâm nghiệp, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của phương án, thời gian chờ thẩm định, phê duyệt từ phía các cơ quan có thẩm quyền; việc tìm quỹ đất phù hợp để trồng rừng mới thay thế cho diện tích rừng trước đó cũng không dễ dàng bởi vướng mắc quy hoạch, kế hoạch đất lâm nghiệp; để khắc phục những khó khăn đã nêu Nhà nước cho phép các chủ dự án lựa chọn nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng song do thiếu các quy định thời hạn nộp, cơ chế phạt nộp trễ hạn nên các chủ dự án thường trì hoãn mặc dù đã nhận rừng.

Việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích sử dụng khác mà không có phương án tái sinh các diện tích rừng đã mất một cách hiệu quả đang làm suy thoái nguồn tài nguyên rừng một cách nhanh chóng, đặc biệt đối với những khu rừng tự nhiên một khi bị khai thác triệt để trên diện tích lớn sẽ không có cơ hội phục hồi, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường trong tương lai. Mặt khác, lợi ích đạt được từ những dự án chuyển đổi rừng cũng chưa thực sự bù đắp được những thiệt hại do mất rừng gây ra. Nhà nước cần xây dựng những phương án cụ thể, thiết thực hơn để vừa đảm bảo quỹ đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế vừa bảo tồn tốt nguồn tài nguyên rừng ở nước ta. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Thứ tư, một số bất cập trong quy định của pháp luật về giao rừng, cho thuê rừng 

Hiện nay, các tổ chức kinh tế được giao Rừng sản xuất là rừng tự nhiên có thu tiền sử dụng rừng đối nhưng phần lớn rừng giao cho chủ rừng này là rừng nghèo, rừng phục hồi, chưa thể đưa vào khai thác trong một thời gian dài và cần một số vốn rất lớn để phát triển rừng. Hơn nữa khi khai thác rừng, chủ rừng đã phải đóng thuế tài nguyên do vậy nếu vẫn quy định tổ chức kinh tế phải nộp tiền sử dụng rừng cho loại rừng này khi lợi ích thu được từ rừng chưa có là không phù hợp.

Nội dung pháp lý về quyền sử dụng, quyền hưởng lợi từ rừng tự nhiên cũng chưa được quy định rõ ràng, minh bạch trong các văn bản pháp lý, đặc biệt là mối quan hệ về lợi ích giữa nhà nước – với tư cách là đại diện chủ sở hữu rừng tự nhiên và chủ rừng với tư cách là người được nhà nước giao quyền sử dụng rừng thông qua hình thức giao rừng, cho thuê rừng. Các chính sách giao, cho thuê rừng thường hướng vào bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hơn là bảo hộ tài sản và lợi ích chính đáng của các chủ rừng.

Luật BVPTR quy định tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước cho thuê rừng thu tiền thuê rừng hàng năm, trong khi đó, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài lại được chọn trả tiền thuê rừng hàng năm hoặc trả tiền một lần cho cả thời gian thuê. Điều này dẫn đến sự không bình đẳng giữa tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước với tổ chức, cá nhân nước ngoài.

2.3 Hướng hoàn thiện pháp luật về sở hữu rừng ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Thứ nhất, xây dựng cơ chế hỗ trợ cho các chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng.

Quan điểm chỉ đạo của Nhà nước trong giai đoạn hiện nay là “khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng và chế biến lâm sản theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng” để đến hết năm 2015 cả nước có 5 triệu ha Rừng sản xuất, bình quân mỗi năm 250 nghìn ha. Để đạt được mục tiêu này Nhà nước cần quan tâm khắc phục khó khăn cho các chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng và tạo cơ hội công nhận quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu sử dụng rừng nhưng còn thiếu một số điều kiện nhất định. Cụ thể:

Về vấn đề tài chính, thay vì thực hiện cơ chế hỗ trợ vốn (hỗ trợ sau đầu tư và hỗ trợ đầu tư) như hiện nay Nhà nước nên đẩy mạnh việc thành lập các nguồn vay ưu tiên, cho vay với lãi suất ưu đãi trong thời gian dài, chủ rừng có thể hoàn trả khoản vay sau khi rừng đã đi vào khai thác, tìm kiếm các nguồn hỗ trợ từ nước ngoài như ODA, vốn cho các dự án phát triển theo Cơ chế AR-CDM, REDD+… rồi chuyển giao lại cho các đối tượng trong nước còn thiếu hụt vốn phát triển rừng. Nhân rộng các mô hình cho vay lại đã đạt những thành công nhất định như mô hình Dự án phát triển Lâm nghiệp do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ đã mang lại hiệu quả mạnh mẽ về kinh tế, tác động tích cực về xã hội và môi trường cho các cộng đồng dân cư. Triển khai từ năm 2005 đến năm 2015 tại các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Nghệ An và Thanh Hóa, hơn 43.000 hộ dân đã được tiếp cận với các khoản vay lãi suất thấp và hỗ trợ kỹ thuật để trồng hơn 76.500 héc ta rừng bằng chính vốn vay từ thế chấp quyền sử dụng đất rừng. Cần chú ý rằng các biện pháp này không phải là Nhà nước trợ cấp cho chủ rừng trồng rừng thuộc sở hữu Nhà nước mà hướng tới chuyển giao quyền sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoặc hỗ trợ các chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng an tâm phát triển khu rừng của mình. Bởi so với các chủ rừng chỉ có quyền sử dụng rừng, chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng luôn đầu tư và bảo vệ cho diện tích rừng mình đang quản lý tốt hơn khi lợi ích của họ gắn liền với Rừng sản xuất là rừng trồng.

Về kỹ thuật nuôi trồng, hiện nay, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh các địa phương đều có tổ chức các cơ sở khuyến lâm, cơ sở hướng dẫn về lâm nghiệp tuy nhiên đa phần hoạt động mang tính hình thức, hoạt động không thường xuyên do vậy chưa thể hiện được vai trò quan trọng trong việc đồng hành cùng các chủ rừng phát triển rừng. Để giải quyết vấn đề này, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm từ Phần Lan – một trong những quốc gia thực thi thành công nhất việc bảo vệ và quản lý rừng bền vững với hơn 74% diện tích rừng thuộc sở hữu tư nhân. Quốc gia này xây dựng các dịch vụ lâm nghiệp trên cả nước được chia thành hai phần, một phần là hỗ trợ các khu rừng nhà nước và một phần có trách nhiệm giám sát và hỗ trợ hoạt động lâm nghiệp tư nhân trong đó có hỗ trợ chủ rừng lập kế hoạch phát triển rừng, dạy kỹ thuật nuôi trồng và chăm sóc rừng đạt tiêu chuẩn để lấy được Chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn chung của EU. Mô hình vừa cho vay vốn vừa hỗ trợ kỹ thuật của Dự án phát triển Lâm nghiệp do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ tại các tỉnh miền Trung cũng đáng để học hỏi, khi những người chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng có thể thu được lợi nhuận cao từ chính khu rừng mình bỏ vốn đầu tư, thậm chí là đạt tiêu chuẩn lấy chứng chỉ rừng quốc tế. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động điều phối rừng của Nhà nước

Thay đổi quy định về phân loại rừng, vẫn căn cứ vào mục tiêu sử dụng song chỉ chia làm hai loại (1) Rừng sản xuất hay rừng kinh tế, gồm toàn bộ diện tích Rừng sản xuất, Rừng phòng hộ xung yếu và ít xung yếu hiện nay và (2) Rừng bảo vệ, bảo tồn, bao gồm toàn bộ diện tích Rừng đặc dụng và Rừng phòng hộ rất xung yếu hiện nay. Cách thức phân loại mới tương đối phù hợp với quy định của quốc tế, thuận lợi cho tổ chức quản lý một cách thống nhất, thống nhất, tạo điều kiện mở rộng rừng Rừng sản xuất chuyên canh. Để từng bước thực hiện phân loại lại rừng Nhà nước nên chuyển đổi những diện tích Rừng phòng hộ ít xung yếu sang Rừng sản xuất nhưng vẫn đảm bảo chức năng phòng hộ của chúng.

Nâng cao vai trò của các cơ quan chuyên môn về lâm nghiệp trong các hoạt động lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, giao rừng, cho thuê rừng… Cần bãi bỏ thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Yêu cầu xây dựng thống nhất giữa chế độ pháp lý của tài nguyên rừng và chế độ pháp lý đối với đất rừng bằng cách xây dựng khung pháp lý quy định về việc phối hợp cũng như trách nhiệm của ngành NNPTNT và ngành Tài nguyên môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng gắn với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, đảm bảo việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kịp thời với việc giao rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

Nhà nước nên cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước khi thuê rừng được lựa chọn giữa hai hình thức thuê rừng trả tiền thuê một lần và thuê trả hàng năm để ưu tiên tối đa hóa cơ hội tiếp cận rừng của các chủ rừng trong nước trước cũng như thu hút vốn đầu tư vào rừng.

Để tránh tình trạng suy thoái tài nguyên rừng do rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng sang mục đích khác như hiện nay cần quy định chặt chẽ hơn về thẩm quyền cho chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đặc biệt với những dự án sử dụng đến đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 ha trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 ha trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, dự án, công trình có ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng chắn sóng lấn biển, bảo vệ môi trường từ 200 ha trở lên; Rừng sản xuất từ 500 ha trở lên phải trình Quốc Hội quyết định chủ trương đầu tư.

Bên cạnh đó, các dự án đầu tư trên diện tích rừng chuyển đổi bắt buộc phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường phải và có ý kiến bằng văn bản của cơ quan chuyên ngành cấp trên; có sự tham gia của các cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp và cơ quan thẩm định độc lập; có phương án đền bù giải phóng mặt bằng khu rừng có sự đồng thuận của cộng đồng dân cư địa phương nơi bị chuyển đổi và phối hợp với các cấp chính quyền địa phương lên phương án trồng rừng mới thay thế diện tích bị chuyển đổi mục đích sử dụng. Chỉ khi các chủ dự án hoàn thành phương án trồng rừng thay thế hoặc đã nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng họ mới được Nhà nước giao rừng để thực hiện các dự án theo hồ sơ đã đăng ký.

Thứ ba, xã hội hóa nghề rừng, góp phần nâng hiệu quả của các hình thức sở hữu đối với rừng

Trong quá trình tái cơ cấu ngành lâm nghiệp ở Việt Nam, chủ trương xã hội hóa nghề rừng luôn được đặt lên hàng đầu nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Xã hội hóa trong ngành lâm nghiệp Việt Nam được hiểu là sự tham gia rộng rãi của các chủ thể trong xã hội như hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng và các tổ chức vào thực hiện các hoạt động gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường, mang lại lợi ích thiết thực cho các thủ thể tham gia, mà trước đó các hoạt động này do các cơ quan Nhà nước, các thành phần kinh tế Nhà nước và tập thể quản lý và thực hiện là chủ yếu. Hiểu đơn giản, xã hội hóa lâm nghiệp tức là tạo cơ hội tiếp cận rừng bình đẳng cho mọi cá nhân trong xã hội, trao quyền định đoạt nhiều hơn cho các chủ rừng đang trực tiếp quản lý rừng, chủ rừng được hưởng lợi ích nhiều hơn từ chính khu rừng họ đầu tư sản xuất thay vì chủ yếu thông qua hoạt động của các cơ quan Nhà nước như trước đây.

Để từng bước hoàn thiện xã hội hóa lâm nghiệp ở Việt Nam cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó ưu tiên hàng đầu là đẩy mạnh giao, cho thuê những diện tích rừng chưa có chủ rừng do Ủy ban nhân dân quản lý tới các đối tượng chủ rừng trong xã hội, Nhà nước nên chỉ đóng vai trò quản lý hoạt động của các chủ rừng bởi rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng của quốc gia đồng thời là nguồn tư liệu sản xuất có thể đem lại những lợi ích kinh tế rất cao nếu được quản lý và sử dụng hiệu quả.

Khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng đầu tư sản xuất lâm nghiệp bằng các hoạt động khuyến lâm, hỗ trợ các hộ nông dân, cộng đồng về giống, kỹ thuật, vốn và đầu ra để họ chủ động đầu tư vào sản xuất trên các diện tích rừng và đất rừng đã nhận. Tăng tính tự chủ cho các chủ rừng trong công tác lập kế hoạch phát triển phù hợp cho khu rừng của mình không quan trọng nguồn gốc vốn đầu tư là của Nhà nước hay tư nhân.

Đối với Ban quản lý Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng: Được khai thác rừng theo phương án quản lý rừng bền vững, được ngân sách nhà nước đầu tư cho các công trình trong khu rừng phòng hộ; được Nhà nước cấp kinh phí sự nghiệp thường xuyên và được cấp kinh phí quản lý, bảo vệ rừng ổn định để tổ chức thuê, khoán, hợp đồng cộng đồng dân cư tại chỗ, mua sắm trang thiết bị để quản lý, bảo vệ rừng; Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư cho cộng đồng dân cư thôn bản để đồng quản lý Rừng phòng hộ, Rừng đặc dụng; khuyến khích ban quản lý tổ chức du lịch sinh thái trong rừng phòng hộ hoặc liên kết với các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch sinh thái; được thực hiện các dịch vụ môi trường rừng để tạo nguồn thu cho quản lý bảo vệ rừng

Đối với tổ chức kinh tế: cần xóa bỏ được những khó khăn, vướng mắc khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận được với rừng như hiện nay bằng cách thực hiện giao rừng không thu tiền sử dụng rừng đối với các công ty lâm nghiệp đang quản lý Rừng sản xuất là rừng tự nhiên nghèo và mới phục hồi; bổ sung quy định Rừng sản xuất là rừng tự nhiên giao cho công ty lâm nghiệp là tài sản của công ty và được góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng để liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp và hộ gia đình trên nguyên tắc phải bảo toàn vốn rừng; được vay vốn ưu đãi, lãi suất thấp, giảm thuế sử dụng đất đối với diện tích đất để phát triển rừng. Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Đối với cộng đồng dân cư thôn: Ưu tiên giao các khu Rừng sản xuất là rừng tự nhiên và Rừng phòng hộ quy mô nhỏ cho các cộng đồng dân cư thôn quản lý và sử dụng lâu dài, đặc biệt là các diện tích do Ủy ban nhân dân cấp xã đang tạm thời quản lý và các diện tích rừng mà các chủ rừng khác quản lý bảo vệ chưa có hiệu quả đồng thời quan tâm xây dựng xây dựng quy chế quản lý rừng cộng đồng và chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng để nâng cao chất lượng các mô hình giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn hoạt động chưa hiệu quả hiện nay bởi so với các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư thôn có những thuận lợi nhất định khi sinh sống trong khu vực có rừng, phụ thuộc vào rừng, có khả năng về nhân lực do đó nếu nhận được sự quan tâm, hỗ trợ kịp thời từ phía các cơ quan Nhà nước về tổ chức quản lý, hỗ trợ một phần vốn, kỹ thuật thì họ có thể trở thành một trong các chủ rừng bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả nhất, quản lý tốt những diện tích Rừng sản xuất là rừng tự nhiên và Rừng phòng hộ quy mô nhỏ một cách ổn định, lâu dài.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Quyền sở hữu tư nhân đối với Rừng sản xuất là rừng trồng được thể hiện qua nội dung quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng. Chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng được công nhận quyền sở hữu đối với Rừng sản xuất là rừng trồng do họ tự bỏ vốn đầu tư và có toàn quyền định đoạt đối với cây trồng, vật nuôi trên đất – quyền sở hữu này chỉ mang tính chất tương đối. Diện tích Rừng sản xuất là rừng trồng ở Việt Nam hiện nay tương đối ít và các chủ sở hữu rừng còn gặp khó khăn về nhiều mặt.

Nhà nước thực hiện quyền sở hữu của mình đối với tài nguyên rừng thông qua hoạt động điều phối rừng bao gồm các phương thức giao rừng, cho thuê rừng, giao đất, cho thuê đất để trồng rừng, thu hồi rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng. Bên cạnh những thành tích đạt được góp phần phát triển kinh tế lâm nghiệp cả nước, vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng gây ra tình trạng suy thoái tài nguyên rừng.

Đề xuất một số hướng hoàn thiện pháp luật về sở hữu tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay.

KẾT LUẬN Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 và Kế hoạch phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 đều khẳng định rõ mục tiêu phát triển lâm nghiệp Việt Nam hiệu quả và bền vững theo hướng bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có kết hợp với các phương án nâng độ che phủ của rừng; giữ sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng nhanh, lâm sản hàng hóa ngày càng thích ứng với biến đổi của thị trường thế giới và góp phần nâng cao đời sống người làm nghề rừng; chủ trương xã hội hóa nghề rừng. Để đạt được những mục tiêu đã đề ra cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong đó có tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, mà ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở nước ta.

Đề tài nghiên cứu “Chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam” đưa ra cái nhìn khái quát về chế độ sở hữu toàn dân đối với tài nguyên rừng với hai hình thức sở hữu, đó là: hình thức sở hữu tư nhân đối với Rừng sản xuất là rừng trồng và hình thức sở hữu Nhà nước đối với tài nguyên rừng. Bên cạnh đó, tác giả phân tích thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam qua hai hình thức sở hữu đối với rừng, từ đó làm rõ  một số điểm chưa phù hợp trong các quy định pháp lý về quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng, những bất cập, khó khăn trên thực tế khi áp dụng các quy định liên quan đến sở hữu rừng.

 Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ và phát triển rừng cũng như hoàn thiện chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam: Khóa luận: Thực trạng quyền sở hữu rừng ở Việt Nam.

  • Xây dựng kế hoạch khuyến khích, hỗ trợ chủ sở hữu Rừng sản xuất là rừng trồng về vốn, kỹ thuật, thị trường…;
  • Hoàn thiện hoạt động điều phối rừng của Nhà nước qua cơ chế giao rừng, cho thuê rừng; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng;
  • Xã hội hóa nghề rừng, góp phần nâng hiệu quả của các hình thức sở hữu đối với tài nguyên rừng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Chế độ sở hữu đối với tài nguyên rừng ở Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x