Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần
Luật Doanh nghiệp năm 2014 tại Khoản 5 Điều 113 có quy định: “Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau”. Như vậy, quy định này trên thực tế đã chỉ ra một cách khái quát nhất những quyền và nghĩa vụ mà bất kỳ một cổ đông nào trong công ty cũng có tùy thuộc vào loại cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ. Cổ đông phổ thông có các quyền và lợi ích cơ bản, tối thiểu khi đầu tư vào công ty và nghĩa vụ phải thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Cổ đông ưu đãi sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, ưu đãi hoàn lại, ưu đãi cổ tức, ưu đãi khác cũng được hưởng những quyền và lợi ích khi họ đầu tư vào công ty. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, các cổ đông ưu đãi này được hưởng một quyền hoặc một số quyền khác so với cổ đông phổ thông nhưng họ cũng phải từ bỏ hay không có một số quyền khác mà cổ đông phổ thông có được.
2.1.1. Quyền của cổ đông
Sự đa dạng về loại cổ phần với các quyền và mức độ khác nhau được Luật Doanh nghiệp quy định đã cho phép công ty thiết lập được một cơ cấu tài chính linh hoạt đáp ứng nhu cầu huy động vốn của công ty và cho phép các cổ đông sử dụng nó như công cụ bảo vệ lợi ích của mình khi đầu tư vào công ty. Mặc dù, tất cả các cổ đông được quyền bình đẳng về những quyền tương tự nhau, phần lớn các quyền này nhằm mục tiêu hoặc có lợi ích đặc biệt trong việc giúp đỡ những cổ đông không có quyền hành hoặc cổ đông nhỏ bảo vệ lợi ích của mình khỏi sự chèn ép của các thành viên Hội đồng quản trị và các cổ đông lớn.
2.1.1.1. Quyền cơ bản của cổ đông
Với tư cách là chủ sở hữu công ty cổ phần, các cổ đông đều có những quyền hạn chung, trong một số trường hợp có thể thay đổi tùy thuộc vào loại cổ phần mà cổ đông đó sở hữu hoặc tỷ lệ cổ phần phổ thông mà cổ đông, nhóm cổ đông nắm giữ. Theo quy định tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì quyền của cổ đông phổ thông có thể phân chia vào các nhóm sau: các quyền liên quan đến sở hữu, các quyền liên quan đến hoạt động quản lý công ty, các quyền liên quan đến việc tiếp nhận thông tin và quyền khởi kiện.
a, Nhóm quyền liên quan đến sở hữu Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, vốn điều lệ của công ty được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần [19, Điều 110]. Với tư cách là cổ đông của công ty cổ phần thì quyền cơ bản của cổ đông là quyền sở hữu đối với công ty tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà họ nắm giữ. Khi sở hữu cổ phần, cổ đông được hưởng những quyền sau đây:
Thứ nhất, Quyền chuyển nhượng cổ phần:
Điểm d Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp quy định cổ đông phổ thông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết hoặc cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập. Hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập chỉ hạn chế trong ba năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.
Việc chuyển nhượng cổ phần được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Người nhận được cổ phần bằng việc mua bán, thừa kế hay tặng cho chỉ trở thành cổ đông của công ty từ thời điểm thông tin của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông [19, Điều 126]. Như vậy, công ty chỉ có vai trò chứng nhận việc chuyển nhượng cổ phần và ghi vào Sổ đăng ký cổ đông chứ không phải là phê chuẩn giao dịch chuyển nhượng. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, hiệu lực pháp lý của việc chuyển nhượng phụ thuộc vào việc đăng ký các thông tin vào Sổ đăng ký cổ đông chứ dường như chưa phát sinh tại thời điểm các bên hoàn thành việc chuyển giao quyền sở hữu cổ phần một cách hợp pháp.
Quy định về quyền chuyển nhượng cổ phần của cổ đông cho phép cổ đông có thể rút vốn đầu tư khỏi công ty để đảm bảo quyền lợi của mình mà không gây ảnh hưởng đến cơ cấu vốn cũng như các hoạt động kinh doanh khác của công ty.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
Thứ hai, Quyền nhận cổ tức:
Như chúng ta đã biết, một người đầu tư vào công ty đều nhằm hai mục đích: một là, được nhận cổ tức; hai là, được lợi nhờ giá cổ phiếu tăng lên. Nhận cổ tức là một trong những quyền cơ bản mà cổ đông được hưởng khi đầu tư vào công ty. Theo Điểm b Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì cổ đông được nhận cổ tức với mức theo quy định của Đại hội đồng cổ đông. Cổ tức ở đây chính là “khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ đông bằng tiền mặt hoặc tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty cổ phần sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài chính” [19, Điều 4]. Như vậy, công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức của cổ phần phổ thông khi có đủ các điều kiện sau đây: Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
- Công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; – Đã trích lập các quỹ công ty và bù đắp lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty;
- Ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản đến hạn khác.
Với cổ đông ưu đãi cổ tức thì họ sẽ được trả cổ tức cao hơn so với mức cổ tức cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm. Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng, cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức. Quy định này nhằm hạn chế số lợi nhuận có thể sử dụng để chia cho cổ đông, bảo đảm sau khi chia cổ tức, sự tồn tại và phát triển của công ty cũng như lợi ích của các chủ nợ vẫn được đảm bảo, duy trì ở mức cần thiết, đồng thời bảo vệ được lợi ích lâu dài cho các cổ đông khi đầu tư vào công ty.
Thứ ba, Quyền nhận lại tài sản khi công ty giải thể hoặc phá sản:
Theo Điểm g Khoản 1 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông được nhận một phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ cổ phần sở hữu tại công ty. Quy định này cho thấy, với cổ đông nói chung thì khi sở hữu cổ phần bên cạnh những quyền có được cùng với sự tồn tại của công ty trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh, họ cũng được hưởng quyền thanh lý với phần tài sản còn lại của công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản. Theo Luật phá sản năm 2014, một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là “khi doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn” [20, Điều 4]. Còn doanh nghiệp phá sản là “doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” [20, Điều 4]. Luật phá sản năm 2014 cũng quy định về thứ tự phân chia tài sản khi công ty phá sản, theo đó cổ đông của công ty cổ phần chỉ nhận lại tài sản khi công ty đã chi trả chi phí phá sản, chi trả lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm phục hồi hoạt động kinh doanh, nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước, khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ, khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ [20, Điều 54].
Thứ tư, Quyền ưu tiên đối với cổ phiếu mới phát hành:
Cổ đông của công ty cổ phần được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán tương ứng với tỷ lệ cổ phần phổ thông của từng cổ đông trong công ty. Đây là một trong những quyền quan trọng mà cổ đông có được khi công ty bán cổ phần huy động thêm vốn, tức là bán đi một phần quyền sở hữu của công ty cho người khác mà kết quả sẽ làm thay đổi vị thế từng có của cổ đông hiện hữu trong công ty. Do đó, quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi của cổ đông hiện hữu của công ty, những người đã gắn bó với công ty, khi công ty hoạt động hiệu quả thì họ nên là những người đầu tiên được hưởng lợi từ hoạt động kinh doanh. Vì công ty chỉ phát hành thêm cổ phần khi công ty kinh doanh có lợi, phát hành thêm cổ phần mới để huy động thêm vốn. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Về nguyên tắc, Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá chào bán cổ phần. Giá bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm chào bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ những trường hợp được quy định tại Điều 125 Luật Doanh nghiệp năm 2014, trong đó có trường hợp cổ phần chào bán cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của họ ở công ty [19, Điều 125]. Như vậy, khi cổ đông mua cổ phần do công ty phát hành, họ sẽ được ưu tiên giá và ưu tiên về thứ tự mua so với những nhà đầu tư khác. Theo đó, cổ đông hiện hữu sẽ được mua cổ phiếu với giá thấp hơn so với giá thị trường và số cổ phiếu mới chào bán sẽ bán cho cổ đông hiện hữu trước, sau đó phần còn lại công ty mới bắt đầu chào bán ra công chúng.
Thứ năm, Quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông:
Theo Điều 129 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì “cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về việc tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình. Công ty phải mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông với giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trường hợp không thỏa thuận được về giá thì các bên có thể yêu cầu một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Công ty giới thiệu ít nhất 03 tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp để cổ đông lựa chọn và lựa chọn đó là quyết định cuối cùng”. Đây là một trong những quyền quan trọng mà cổ đông sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình. Cổ đông có thể rút vốn đầu tư ra khỏi công ty bằng việc yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình mà không ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông khác khi cổ đông không đồng ý với việc tổ chức lại công ty hay thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông.
b, Nhóm quyền liên quan đến hoạt động quản lý công ty
Với tư cách là người sở hữu công ty, cổ đông có quyền tham gia vào hoạt động quản lý của công ty để giám sát và bảo vệ quyền lợi của mình. Khi tham gia quản lý công ty cổ đông có các quyền sau:
Thứ nhất, Quyền tham dự và phát biểu trong Đại hội đồng cổ đông:
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trừ các cổ đông ưu đãi cổ tức và cổ đông ưu đãi hoàn lại và các cổ đông khác, tất cả các cổ đông của công ty có thể trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham dự họp Đại hội đồng cổ đông. Quyền tham dự họp Đại hội đồng cổ đông là một trong những quyền cơ bản, tối thiểu của các cổ đông chứng tỏ sự hiện diện và xác nhận tư cách thành viên của các cổ đông trong công ty cổ phần.
Thứ hai, quyền biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông: Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định “Cổ đông có quyền tham dự và phát biểu trong các Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật, điều lệ công ty quy định. Mỗi cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết”. Các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành, tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định đối với các nội dung được quy định tại Khoản 1 Điều 144. Các nội dung khác được thông qua khi số cổ đông đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp tán thành. Đối với việc thông qua nghị quyết bằng hình thức lấy ý kiến bằng văn bản thì nghị quyết Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết tán thành [19, Điều 114].
Quy định mới về tỷ lệ biểu quyết và hình thức họp đại hội đồng cổ đông tạo điều kiện cho các cổ đông nhỏ phát huy vai trò trong đại hội. Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã giảm yêu cầu về tỷ lệ biểu quyết thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông xuống 51% đối với nghị quyết thông thường và 65% đối với nghị quyết “đặc biệt”. Trước kia, tỷ lệ tương ứng theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 là 65% và 75%. Quy định về quyền biểu quyết của cổ đông tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông chính là công cụ, là chỗ dựa cho các cổ đông nhỏ giám sát, thực hiện và bảo vệ quyền lợi của mình. Mặt khác, với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, theo quy định khi biểu quyết vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định.
Thứ ba, quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông:
“Đại hội đồng cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần, gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết” [19, Điều 135]. Đại hội đồng cổ đông họp thường niên mỗi năm một lần. Ngoài cuộc họp thường niên, Đại hội đồng cổ đông có thể họp bất thường. Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, cổ đông hoặc nhóm cổ đông có thể triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông. Có thể thấy, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông là một trong những quyền của cổ đông. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông khi thuộc một trong những trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 114. Quy định này là quy định tùy nghi, theo đó cho phép cổ đông có thể thỏa thuận định ra một tỷ lệ phù hợp với điều kiện của công ty nhằm bảo vệ các cổ đông thiểu số, đồng thời tạp ra những hấp dẫn cho đầu tư và huy động vốn vào công ty. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Điều kiện để tiến hành Đại hội đồng cổ đông là khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết, tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định. Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành, cuộc họp đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông đại diện ít nhất 33% tổng số phiếu biểu quyết; trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành, cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành không phụ thuộc vào tổng số phiếu biểu quyết của các cổ đông dự họp. Chỉ có Đại hội đồng cổ đông mới có quyền thay đổi chương trình họp. Thể thức tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông, hình thức biểu quyết do Điều lệ công ty quy định.
Thứ tư, quyền hạn của cổ đông đối với chương trình, nội dung và nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông:
Luật Doanh nghiệp cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền kiến nghị vấn đề đưa vào chương trình họp Đại hội đồng cổ đông. Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông, cổ đông, nhóm cổ đông trên có quyền yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài xem xét, hủy bỏ nghị quyết hoặc một phần nội dung nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2, 3 Điều 148.
Thứ năm, quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát:
“Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông” [19, Điều149]. Ban kiểm soát là cơ quan thực hiện các thủ tục kiểm soát nội bộ hằng ngày trong công ty. Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát và kiểm soát nội bộ, trực tiếp giám sát Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc. Ban kiểm soát có vai trò ngang bằng Hội đồng quản trị, cùng chịu trách nhiệm trước cổ đông trong việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ chính của mình. Luật Doanh nghiệp quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Quy định trên đã góp phần bảo vệ quyền lợi của cổ đông trong công ty cổ phần khi họ có thể đề cử những người theo họ là tốt tham gia vào hoạt động quản lý công ty, qua đó nâng cao tính minh bạch trong hoạt động quản trị công ty.
Ngoài các quyền liên quan đến việc triệu tập, tham dự, phát biểu, biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát thì cổ đông còn có những quyền khác liên quan đến hoạt động quản lý như xem xét, tra cứu, trích lục các thông tin trong danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi khi không chính xác; xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
c, Quyền được cung cấp thông tin Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Quyền được nắm bắt những thông tin về công ty một cách đầy đủ là cơ sở để cổ đông thực hiện các quyền cơ bản khác như quyền biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, quyền bầu và miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và cả quyền chuyển nhượng cổ phần. Chính vì vậy, đây là một trong những quyền quan trọng nhằm giúp cổ đông đặc biệt là cổ đông nhỏ bảo vệ lợi ích của mình thông qua việc nhận được những thông tin cơ bản về tài chính, quản lý và hoạt động kinh doanh của công ty. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì cổ đông có quyền:
- Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác;
- Xem xét, tra cứu, trích lục hoặc sao chụp Điều lệ công ty, biên bản họp Đại hội đồng cổ đông và các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;
- Cổ đông hoặc nhóm cổ sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có quyền:
- Xem xét và trích lục sổ biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa và hàng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo Ban kiểm soát;
Ngoài ra, cổ đông còn có quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục và sao danh sách cổ đông có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông. Người quản lý công ty phải cung cấp kịp thời thông tin sổ đăng ký cổ đông, sửa đổi, bổ sung thông tin sai lệch theo yêu cầu của cổ đông, đồng thời chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, không chính xác thông tin sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu. Người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải chuẩn bị chương trình, nội dung cuộc họp. Người triệu tập họp phải gửi thông báo mời họp đến tất cả các cổ đông có trong danh sách cổ đông có quyền dự họp chậm nhất 10 ngày trước ngày khai mạc nếu Điều lệ công không quy định dài hơn. Thông báo mời họp phải gửi kèm các tài liệu sau: Chương trình họp, các tài liệu sử dụng trong cuộc họp và dự thảo nghị quyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp.
Đây là một quyền quan trọng đối với cổ đông nhỏ lẻ, nhưng thường không được cổ đông áp dụng. Theo cuốn Cẩm nang quản trị công ty do Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) thực hiện, “quyền xem xét, tra cứu danh sách cổ đông cho phép cổ đông cơ hội liên hệ với các cổ đông khác và kết hợp quyền biểu quyết cho các vấn đề cần có hành động tập thể”. Như vậy, quyền này cho phép các cổ đông có danh sách cổ đông của toàn công ty, để từ đó cổ đông nhỏ lẻ có thể tập hợp lại, trao đổi thông tin và gom cổ phiếu để cùng hành động.
d, Quyền khởi kiện của cổ đông Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Một số vi phạm liên quan đến quyền cổ đông được xem là những tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo đó, Bộ luật Tố tụng dân sự đã nêu: “Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty” [22, Điều 30] sẽ do toà án giải quyết. Quy định này chủ yếu thể hiện dưới dạng quyền của các chủ thể, bằng cách các chủ thể có thể khởi kiện yêu cầu toà án bảo vệ quyền của mình.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có cải tiến phù hợp các thông lệ quốc tế, sửa đổi theo hướng đơn giản hóa và tạo thuận lợi hơn cho các cổ đông giám sát, khi phát hiện vi phạm sẽ tự quyết định việc khởi kiện người quản lý. Quy định chi tiết hơn về bổn phận người quản lý công ty; luật hóa và đơn giản hóa trình tự, thủ tục khởi kiện người quản lý nhằm tạo thuận lợi hơn cho cổ đông theo dõi, giám sát và khởi kiện người quản lý khi cần thiết.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 1% số cổ phần phổ thông liên tục trong thời hạn 06 tháng có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc khi thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 161. So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, trình tự khởi kiện người quản lý của cổ đông đã được đơn giản hóa và tạo thuận lợi hơn cho các cổ đông. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, thủ tục khởi kiện phức tạp và không hiệu quả vì quy định đặt ra điều kiện cổ đông, nhóm cổ đông chỉ được khởi kiện người quản lý, Giám đốc/Tổng giám đốc nếu Ban kiểm soát không khởi kiện theo yêu cầu của cổ đông/nhóm cổ đông. Tức là, cổ đông không trực tiếp khởi kiện người quản lý mà phải thông qua Ban kiểm soát, sau đó nếu Ban kiểm soát không đáp ứng được yêu cầu của cổ đông thì mới thực hiện khởi kiện. Đây được xem là rào cản, gây chậm trễ cho cổ đông trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Với quy định hiện hành, cổ đông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm dân sự đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc mà không cần phải qua Ban kiểm soát của công ty nữa. Chi phí khởi kiện trong trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông khởi kiện nhân danh công ty sẽ tính vào chi phí của công ty.
Ngoài ra, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Đại hội đồng cổ đông cũng có quyền “xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty”. Đại hội đồng cổ đông không có quyền áp dụng pháp luật nhưng họ có quyền xem xét và xử lý nếu Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát làm thiệt hại đến quyền, lợi ích của các cổ đông. Nếu việc xử lý không thể dẫn đến một kết quả tốt, khôi phục các thiệt hại về quyền, lợi ích của các cổ đông, các cổ đông có thể thực hiện quyền khởi kiện ở toà án với tư cách là tranh chấp kinh tế giữa công ty với thành viên công ty theo Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
2.1.1.2. Quyền của cổ đông ưu đãi
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì có các loại cổ phần ưu đãi là cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi hoàn lại, cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi sẽ trở thành cổ đông ưu đãi của công ty. Như vậy, có bao nhiêu loại cổ phần ưu đãi thì sẽ tương ứng có bấy nhiêu loại cổ đông ưu đãi. Khi sở hữu cổ phần ưu đãi, bên cạnh một số quyền như cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi sẽ được pháp luật trao cho một số quyền khác, đồng thời cũng hạn chế một số quyền của họ như quyền biểu quyết, quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông. Tùy vào việc sở hữu loại cổ phần ưu đãi nào mà cổ đông có các quyền, lợi ích khác nhau.
Cổ đông ưu đãi biểu quyết: Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập mới được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có các quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông với số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Tuy nhiên, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh [19, Điều 116].
Cổ đông ưu đãi hoàn lại: Là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đâi hoàn lại, theo đó cổ đông ưu đãi hoàn lại có quyền yêu cầu công ty hoàn lại vốn góp, nếu công ty phá sản hoặc giải thể thì có quyền nhận lại phần vốn góp trước các loại cổ đông khác trong công ty. Tuy nhiên, cổ đông ưu đãi hoàn lại không có quyền tham dự họp Đại hội đồng cổ đông, không có quyền biểu quyết, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát [19, Điều 117].
Cổ đông ưu đãi cổ tức: Là cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức sẽ được nhận mức cổ tức cao hơn so với mức cổ tức của cổ đông phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm. Cổ tức được chia hàng năm gồm cổ tức thưởng và cổ tức cố định, cổ tức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Ngoài ra, cổ đông ưu đãi cổ tức còn có quyền nhận phần tài sản còn lại tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần tại công ty, sau khi công ty đã thanh toán hết các khoản nợ, cổ phần ưu đãi hoàn lại khi công ty giải thể hoặc phá sản.
Do có nhiều quyền ưu tiên được hưởng nên cổ đông ưu đãi cổ tức cũng bị hạn chế một số quyền như không có quyền biểu quyết, dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát [19, Điều 118].
Do khi sở hữu cổ phần ưu đãi cổ đông sẽ được hưởng những quyền lợi cao hơn so với cổ đông phổ thông nên để đảm bảo hoạt động kinh doanh công ty hiệu quả, bảo vệ quyền lợi của các cổ đông, tránh các giao dịch tư lợi mà Luật Doanh nghiệp đã hạn chế một số quyền của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi.
Cổ đông ưu đãi cổ tức hay cổ đông ưu đãi hoàn lại họ bị hạn chế một số quyền liên quan đến hoạt động quản lý công ty. Bởi dù, công ty hoạt động kinh doanh có lãi hay thua lỗ thì họ vẫn nhận được cổ tức (cổ đông ưu đãi cổ tức) hay có thể rút vốn ra khỏi công ty khi đưa ra yêu cầu hay theo các điều kiện được ghi tạo cổ phiếu ưu đãi (cổ đông ưu đãi hoàn lại) nên những cổ đông này có thể đề cử những người chưa thực sự có năng lực vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, hay biểu quyết thông qua những quyết định chưa thực sự hiệu quả cho công ty, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty, quyền lợi của các cổ đông khác.
2.1.2. Nghĩa vụ của cổ đông Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Luật Doanh nghiệp có quy định “mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau”[19, Điều 113]. Như vậy, ngoài các quyền được hưởng, họ cũng có những nghĩa vụ nhất định đối với công ty. Trước hết là nghĩa vụ góp đủ, đúng số lượng vốn cam kết góp vào công ty. Khi góp vốn vào công ty, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tà sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. Ngoài nghĩa vụ đóng góp, Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2014 còn quy định các nghĩa vụ khác của cổ đông, cụ thể như sau:
- Thanh toán đủ và đúng thời hạn số cổ phần cam kết mua.
- Tuân thủ Điều lệ và quy chế quản lý nội bộ của công ty.
- Chấp hành nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị.
- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Những nghĩa vụ trên không chỉ áp dụng với cổ đông phổ thông mà được áp dụng đối với tất cả các cổ đông sở hữu các loại cổ phần khác nhau trong công ty cổ phần. Trong các nghĩa vụ nêu trên, việc cổ đông phải có nghĩa vụ “Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty” là một quy định mở. Theo đó:
Với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết, ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định ngoài quyền được hưởng từ loại cổ phần mà họ nắm giữ ra thì cồ đông đó không có quyền biểu quyết, không có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông, không có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát;
Với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác. Với cổ đông sáng lập thì hạn chế trên là 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn đó, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó. Sau thời hạn 03 năm, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập được chuyển thành cổ phần phổ thông và họ có quyền tự do chuyển nhượng cho người khác; Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Với cổ đông sáng lập nắm giữ cổ phần phổ thông thì trong 03 năm đầu kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán tại thời điểm đăng ký kinh doanh;
Trường hợp việc thanh toán cổ phần mua lại trái với quy định tại khoản 1 Điều 131 hoặc trả cổ tức trái với quy định tại Điều 132 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì các cổ đông phải hoàn trả cho công ty số tiền, tài sản khác đã nhận; trường hợp cổ đông không hoàn trả được cho công ty thì tất cả thành viên Hội đồng quản trị phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi giá trị số tiền, tài sản đã trả cho cổ đông mà chưa được hoàn lại.
Ngoài các nghĩa vụ trên, nếu Điều lệ công ty quy định các nghĩa vụ khác của cổ đông không trái với đạo đức và quy định pháp luật như: nghĩa vụ trung thành với chiến lược kinh doanh của công ty, phải giữ bí mật kinh doanh, không được phép thành lập doanh nghiệp để cạnh tranh với chính ngành nghề kinh doanh của công ty,.. thì cổ đông có nghĩa vụ tuân thủ nghiêm túc các quy định này.
2.2. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần
2.2.1. Thực tiễn áp dụng quy định về quyền và nghĩa vụ của cổ đông
Thứ nhất, Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông:
Luật Doanh nghiệp quy định rất rõ ràng tất cả các cổ đông phổ thông có quyền tham dự và biểu quyết mọi vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Mỗi một cổ phần phổ thông có một phiếu biểu quyết. Như vậy, về nguyên tắc đã là cổ đông nắm giữ cổ phần của công ty dù ít hay nhiều đều có quyền ngang nhau về việc tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông.
Trên thực tế, hầu hết các công ty cổ phần đều không thực hiện triệt để nguyên tắc này. Lý do mà các công ty đưa ra đều không dựa trên cơ sở pháp lý cụ thể mà chỉ dựa trên ý chí của từng công ty để biện minh cho sự vi phạm của mình như do địa điểm tổ chức chật hẹp, không đủ diện tích cho tất cả các cổ đông của công ty tham gia dự họp.
Trong thông báo về nội dung họp Hội đồng cổ đông năm 2007, công ty cổ phần Momota viện dẫn căn cứ theo Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông năm 2006 quy định: cổ đông sở hữu số cổ phần chiếm tỷ lệ từ 0,1% vốn điều lệ tương đương 12.000 cổ phần phổ thông được tham dự trực tiếp các kỳ họp Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông sở hữu ít hơn 0,1% vốn điều lệ có thể tập hợp thành nhóm cổ đông nắm giữ bằng hoặc ít hơn 0,1% vốn điều lệ để cử người đi dự họp theo mẫu giấy ủy quyền. Tương tự, tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Hà Nội, cổ đông sở hữu 0,3% vốn điều lệ trở lên ( vốn điều lệ của công ty là 100 tỷ) tính đến thời điểm chốt danh sách cổ đông thì mới được tham dự Đại hội đồng cổ đông. Cổ đông sở hữu ít hơn 0,3% vốn điều lệ có thể ủy quyền bằng văn bản cho cổ đông hoặc người khác có đủ năng lực pháp lý và hành vi để đủ vốn sở hữu theo điều lệ công ty để tham dự Đại hội đồng cổ đông. Những trường hợp trên đã xâm phạm đến quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết của cổ đông tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông [13, 42]. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Thứ hai, Quyền thông tin của cổ đông:
Phần lớn các cổ đông không được tiếp cận với các thông tin quan trọng của công ty hoặc được tiếp cận nhưng thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác, trung thực. Các cổ đông nhỏ hầu như không được nhận thông tin về các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, tóm tắt báo cáo tài chính, thông báo về việc trả cổ tức mặc dù pháp luật quy định họ được quyền tiếp cận những thông tin đó.
Cổ đông chỉ được tiếp cận thông tin ở mức độ rất khiêm tốn, không được xem sổ sách kế toán của công ty mà chỉ có thể nhận được báo cáo tài chính hằng năm với nội dung không rõ ràng, chưa phản ánh được trung thực tình trạng tài chính của công ty. Một loại tài liệu khác mà cổ đông có quyền được xem xét là các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, tuy nhiên quyết định đó cũng chỉ được thông báo cho cổ đông có quyền dự họp.
Việc nắm bắt được đầy đủ, chính xác các thông tin liên quan đến tài chính, hoạt động quản lý của công ty sẽ tạo điều kiện cho các cổ đông nhỏ liên kết với nhau để phản đối các quyết định chưa đúng của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị khi những quyết định đó ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các cổ đông, cũng như ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty .
Trường hợp Everpia năm 2014, nhờ nắm được danh sách cổ đông, mà cổ đông Red River Holding đã gửi thư cho tất cả cổ đông khác của Everpia để vận động bỏ phiếu phản đối tỷ lệ chia cổ tức thấp tại Công ty. Một trường hợp khác, trước Đại hội đồng cổ đông Vinamilk năm 2015, có một cuộc vận động ngầm trong giới cổ đông của Vinamilk để phản đối đề xuất của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước. Kết quả, 2 đề xuất của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước tại Đại hội đồng cổ đông Vinamilk năm đó đã không được thông qua. Trước đó, tại Đại hội đồng cổ đông năm 2014, nhiều cổ đông nhỏ đã gom phiếu đủ tỷ lệ 10% theo điều lệ công ty để đề cử bà Lê Thị Băng Tâm là thành viên Hội đồng quản trị độc lập của Vinamilk, đối trọng với 2 thành viên Hội đồng quản trị độc lập do Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước đề cử. Ngoài việc gom phiếu để đề cử, các cổ đông này còn vận động nhiều cổ đông khác bỏ phiếu cho bà Lê Thị Băng Tâm.
Tuy nhiên, như đã nói ở trên các thông tin mà cổ đông nhận được thường không đầy đủ, chính xác, trung thực ví dụ như trường hợp của cổ đông Công ty cổ phần Nhựa y tế (Mediplast). Ngày 5/5/2017, Mediplast bất ngờ tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường để thông qua việc sáp nhập công ty vào Vinamed. Tuy nhiên, các lãnh đạo của Mediplast không công bố phương án sáp nhập cho cổ đông biết, chỉ công bố hợp đồng sáp nhập, thiếu công khai minh bạch,…[5] Những điều này đã xâm phạm tới quyền và lợi ích của cổ đông trong công ty.
Thứ ba, quyền ưu tiên đối với cổ phiếu mới phát hành Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Quyền ưu tiên mua đối với cổ phiếu mới phát hành bị vi phạm hoặc lạm dụng; và nó thường biểu hiện dưới một số hình thức sau đây. Một là, cổ đông đa số với vị thế chi phối của mình tại Đại hội đồng cổ đông đã bỏ phiếu ra nghị quyết phát hành thêm cổ phần mới theo phương thức phát hành nội bộ và dành cho mình quyền mua nhiều hơn so với các cổ đông khác. Hai là, phát hành dưới hình thức “ưu tiên cho người lao động”. Trong các Công ty cổ phần được chuyển đổi từ Doanh nghiệp nhà nước, thì phần lớn, thậm chí tất cả cổ đông đều là người lao động. Đại hội đồng cổ đông biểu quyết ưu tiên cho người lao động mua cổ phần cũng chính là ưu tiên cho mình, nhưng với tỷ lệ khác so với tỷ lệ sở hữu. Lúc này, những cổ đông đã làm việc lâu năm và thường là thành viên Hội đồng quản trị và những người quản lý khác được hưởng lợi nhiều hơn so với các cổ đông – người lao động khác. Ba là, hình thức lạm dụng cổ đông chiến lược. Cụ thể là, các cổ đông lớn trong công ty tự coi mình là cổ đông chiến lược và cố tình vận động các cổ đông khác coi mình là cổ đông chiến lược. Với vị thế lớn cổ đông lớn và với danh nghĩa là cổ động chiến lược, cổ đông này đã hợp pháp hóa nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông dành quyền ưu tiên mua cổ phần mới phát hành của công ty với tỷ lệ cao hơn và với mức giá thấp hơn nhiều so với các cổ đông bình thường khác. Những hiện tượng nói trên đã vi phạm nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa các cổ đông cùng loại; là hành vi tước đoạt một phần giá trị tài sản của các cổ đông nhỏ; và đó cũng có thể coi là một hình thức tham ô giá trị tài sản của công ty.
Thứ tư, quyền chuyển nhượng cổ phần
Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác trừ một số trường hợp quy định Khoản 3 Điều 119 và Khoản 1 Điều 126. Việc chỉ ghi nhận quyền chuyển nhượng cổ phần nhưng không đặt ra nghĩa vụ của công ty phải đăng ký kịp thời đã tạo ra rủi ro cho các bên giao dịch chuyển nhượng cổ phần, đặc biệt là bên nhận chuyển nhượng bởi quyền sở hữu của người này không được công ty bảo đảm. Hậu quả sâu xa hơn là các nhà đầu tư khó có thể biết chính xác là ai đang nắm giữ cổ phần.
Đối với cổ đông nhỏ sẽ gặp phải khó khăn để biết được ai đang là người nắm giữ liên tục trong thời hạn ít nhất 6 tháng để cùng tập hợp lại thành những nhóm cổ đông nắm giữ trên 10% vốn điều lệ của công ty với mong muốn có được những kiến nghị trong cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông hay đề cử người vào Ban kiểm soát, Hội đồng quản trị để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Thứ năm, sự lạm quyền của cổ đông lớn: Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Cổ đông lớn (nhất là cổ đông nhà nước) đã lạm dụng quyền và thực thi quyền của mình chưa đúng với quy định của pháp luật như trực tiếp bổ nhiệm đại diện của mình làm thành viên Hội đồng quản trị, trực tiếp quyết định tăng vốn điều lệ hoặc điều chuyển, sử dụng tài sản của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của mình hoặc cho công ty con khác; hoặc đã sử dụng vị thế là cổ đông lớn biểu quyết dành cho mình quyền mua nhiều hơn với giá ưu đãi khi công ty phát hành thêm cổ phần mới…
Cổ đông lớn trong Công ty Cổ phần Dịch vụ Sài Gòn – Savico (SCV) đã lạm dụng quyền hành của mình để mua cổ phiếu của công ty với giá ưu đãi. Công ty Cổ phần Dịch vụ Sài Gòn Savico đã cho lãnh đạo mua cổ phiếu ưu đãi với giá 30.000 đồng, trong khi đó giá thị trường là 118.000 đồng. Trong sự việc này, bên mua là lãnh đạo SCV đã hưởng lợi nhuận rất lớn, đồng thời phía chịu thiệt chính là những cổ đông nhỏ. Dù những cổ đông nhỏ đã phản đối, nhưng với ưu thế cổ đông nhà nước và cổ đông là nhân viên công ty chiếm đa số vốn điều lệ nên việc này vẫn được đa số thông qua. Tương tự như vậy, trong phương án tăng vốn điều lệ, Công ty Cổ phần vận tải xăng dầu cho phép cổ đông lớn mua với giá 15.000 đồng/cổ phiếu, còn cổ đông nhỏ lại phải mua với giá 40.000 đồng/cổ phiếu [1].
Thứ sáu, cổ đông sáng lập không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình
Cổ đông sáng lập không góp đủ và đúng số cổ phần đăng ký mua là khá phổ biến. Có sự nhầm lẫn phổ biến giữa vốn điều lệ, số cổ phần tạo thành vốn điều lệ và số cổ phần được quyền phát hành. Vốn điều lệ là “tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần” [19, Điều 4]. Tuy vậy, trên thực tế ở một số lớn Công ty cổ phần ở nước ta, vốn điều lệ khai báo và đăng ký là giá trị danh nghĩa của cả số cổ phần đã bán và số cổ phần được quyền chào bán (nhưng chưa bán hay chưa phát hành). Thậm chí ở một số công ty số cổ phần đã phát hành chỉ chiếm một số rất nhỏ (khoảng 1/20) tổng số cổ phần đăng ký thành vốn điều lệ của công ty [13, 46].
Ngoài ra, còn có một số biểu hiện khác trong việc thực hiện chưa đúng các quy định về quyền của cổ đông như: (i) bỏ phiếu tại cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông theo đầu người, chứ không theo sổ cổ phần sở hữu; (ii) Điều lệ của một số công ty đã quy định chỉ có những cổ đông với một mức sở hữu cổ phần nhất định mới được quyền trực tiếp tham dự họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, hay quy định hạn chế quyền tự do chuyển nhượng sổ chứng nhận sở hữu cổ phần; (iii) một số không nhỏ Công ty cổ phần không lập Sổ đăng ký cổ đông và không cấp cổ phiếu cho cổ đông …
Vi phạm nói trên đã tạo ra một số hệ quả không tốt đối với công ty, cổ đông của công ty và cả các bên có liên quan [2].
Thứ nhất, nó tạo ra một sự nhầm lẫn về sở hữu và cơ cấu sở hữu công ty; có thể có sự chênh lệch lớn giữa cơ cấu sở hữu theo cổ phần đã góp và cơ cấu sở hữu theo số cổ phần đăng ký góp. Và đó là nguyên nhân của không ít các tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ cổ đông của công ty. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Thứ hai, về bản chất, có thể coi số cổ phần đã đăng ký và chưa góp đó là số cổ phần mà cổ đông đã mua chịu của công ty. Bằng cách đó, công ty đã mất đi cơ hội huy động vốn cổ phần để phát triển. Điều này làm hại đến phát triển lâu dài của công ty và cả lợi ích âu dài của cổ đông.
Thứ ba, gây nhầm lẫn có thể dẫn đến việc lừa dối làm hại đến lợi ích của bên thứ ba ít nhất trên 2 điểm. Điểm thứ nhất là, vốn điều lệ thực tế, đúng nghĩa và hợp pháp có thể thấp hơn nhiều so với vốn điều lệ đăng ký; điều này có thể gây nhầm lẫn đối với chủ nợ và các bên có quan tâm tìm hiểu về công ty; qua đó, có thể thiết lập giao dịch với công ty dựa trên thông tin không chính xác. Điểm thứ hai là, cổ đông hiện hữu chuyển nhượng “cổ phần” của mình cho người khác có thể chỉ là chuyển nhượng “quyền mua” cổ phần. Hay nói cách khác, người nhận chuyển nhượng cổ phần có thể hiểu nhầm, coi “quyền mua” cổ phần là cổ phần và đã trả giá chuyển nhượng cho quyền mua ngang bằng với thị giá của cổ phần. Tất cả những điều nói trên là vi phạm quy định của Luật Doanh nghiệp về việc yêu cầu cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đăng ký mua và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty trong phạm vi giá trị số cổ phần đã thanh toán.
Các cổ đông trong các công ty, kể cả một số công ty niêm yết có xu hướng thiên về lợi ích ngắn hạn của riêng mình mà không chú ý đúng mức đến lợi ích phát triển lâu dài của công ty và của chính họ. Xu hướng nói trên thể hiện trong một số hình thức sau đây. Một là, chia cổ tức bằng cổ phiếu, tính theo mệnh giá, chứ không phải là thị giá của cổ phiếu khi giá cổ phiếu của công ty đang tăng lên. Bằng cách này, trên thực tế, các cổ đông đã lấy đi một phần thặng dư vốn của công ty, một nguồn vốn hết sức cần thiết để phát triển. Ngoài ra, cách làm nói trên còn có thể làm giảm giá trị cổ phần của công ty theo hai cách: (i) “pha loãng” cổ phiếu công ty, tức là tăng cung về cổ phiếu công ty, và (i) làm suy giảm tiềm năng phát triển của công ty trong tương lai. Hai là, “cổ phần hóa” thặng dư vốn và phân phối số cổ phần đó cho cổ đông. Cách làm này về thực chất là công ty chia cổ phần cho các cổ đông; và thay vì phát hành cổ phần để huy động vốn, thì các cổ đông đã chia cổ phần đó cho nhau để chuyển nhượng cho người khác không chi thu lại vốn đã đầu tư mà cả phần thăng dư vốn đáng ra là thuộc sở hữu của công ty. Ba là, phát hành nội bộ theo mệnh giá, khi thị giá cổ phần của công ty cao hơn, thậm chí cao hơn nhiều so với mệnh giá của nó. Hệ quả của cách làm này tương tự như cách làm thứ nhất nói trên. Tóm lại, cổ đông của không ít các cổ phần đang có xu hướng chạy theo lợi ích ngắn hạn, đầu cơ trước mắt, hơn là chú ý tăng cường tiềm năng phát triển lâu dài của công ty để đảm báo lợi ích lâu dài và bền vừng của chính họ.
2.2.2. Việc xử lý vi phạm quyền và nghĩa vụ của cổ đông Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Trước hết, chúng ta nhận thấy nhiều cổ đông chưa nhận biết được quyền của mình nên ngay bản thân cổ đông không biết mình có bị vi phạm hay không các quyền của mình và như thế, càng không thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp và áp dụng các biện pháp chế tài xử lý vi phạm được. Cũng có trường hợp cổ đông biết quyền bị vi phạm nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau để cổ đông không yêu cầu bảo vệ như ngại kiện tụng, ngại tốn kém thời gian, tiền bạc để yêu cầu bảo vệ quyền của mình. Thậm chí, cũng có trường hợp các cổ đông thực sự không am hiểu quyền cổ đông của mình và có những hành xử vi phạm pháp luật.
Từ một góc nhìn khác, chúng ta lại thấy rằng, các Công ty cổ phần (thông qua những người quản trị công ty) lại không muốn thực hiện các nghĩa vụ nhằm đảm bảo quyền cổ đông, và đôi khi xâm hại đến các quyền đó. Song song đó, việc quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng chưa được sát sao, thủ tục để các cổ đông thực hiện các quyền yêu cầu đối với những vi phạm quyền cổ đông chưa đáp ứng với điều kiện kinh tế thị trường.
Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm các quyền cổ đông chủ yếu là Toà án, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền, Sở Kế hoạch và Đầu tư (Thanh tra kế hoạch và đầu tư, Thanh tra chuyên ngành), Uỷ ban chứng khoán nhà nước, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế… và một số cơ quan có thẩm quyền khác. Với thẩm quyền của mình, các cơ quan có thẩm thực hiện thủ tục theo quy định của pháp luật và áp dụng các chế tài hành chính, chế tài dân sự, chế tài hình sự.
Các tranh chấp liên quan đến các công ty chứng khoán có xử lý nhiều hơn, như trong năm 2011, Ủy ban chứng khoán nhà nước đã ban hành 164 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các tổ chức và cá nhân với tổng số tiền thu nộp về ngân sách gần 11 tỷ đồng, cụ thể: Ủy ban chứng khoán nhà nước đã xử lý 63 trường hợp vi phạm các quy định về chào bán chứng khoán ra công chúng, chế độ báo cáo và công bố thông tin; xử lý 9 cá nhân có hành vi giao dịch giả tạo, thao túng thị trường. Ngoài ra, Ủy ban chứng khoán nhà nước cũng đã xử lý 47 trường hợp có hành vi thực hiện giao dịch chứng khoán không báo cáo của các cổ đông nội bộ công ty niêm yết; 11 trường hợp vi phạm quy định về chế độ báo cáo và công bố thông tin của công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ; kiên quyết làm rõ sai phạm và xử lý nghiêm đối với các Công ty niêm yết có hành vi vi phạm quy định về chế độ báo. Đặc biệt, là quy trách nhiệm pháp lý cụ thể tới từng cá nhân tại các công ty có vi phạm [24].
Việc xử lý vi phạm quyền cổ đông phổ thông ít được thực hiện có thể do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, thủ tục tố tụng theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại thường phức tạp, kéo dài. Nếu tính tương quan giữa thời gian, công sức bỏ ra theo đuổi vụ kiện và lợi ích từ kết quả của các vụ kiện là không nhiều, nhất là thiệt hại xâm hại đến quyền cổ đông không lớn. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
Thứ hai, xử lý các vi phạm liên quan đến quyền cổ đông phổ thông theo Nghị định 50/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư còn chưa được quan tâm. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ít kiểm tra, thanh tra và tiến hành xử lý các vi phạm quyền cổ đông trong công ty cổ phần. Một mặt, họ không có đủ nhân lực cho việc thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm; mặc khác, cũng có yếu tố nể nang, cả nể trong việc xử lý và bản thân cổ đông không nhận thức được các quyền của mình có vi phạm hay không.
Thứ ba, trường hợp Đại hội đồng cổ đông xem xét xử lý các vi phạm quyền cổ đông là khó xảy ra. Các vi phạm chủ yếu là do những cơ quan, người quản trị doanh nghiệp thực hiện. Họ lại là những người trực tiếp thực hiện những công việc liên quan đến nội dung, chương trình họp Đại hội cổ đông nên khả năng đưa vào chương trình cuộc họp là khó khả thi. Vì không ai muốn đưa ra cuộc họp nội dung công việc xử lý mà họ đã vi phạm.
Thứ tư, còn một yếu tố rất quan trọng là sự thờ ơ của cổ đông đối với những quyền của mình bị vi phạm.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần nhìn chung đã có nhiều quy phạm tiến bộ, bước đầu đã có sự tương thích với thông lệ quốc tế và nguyên tắc về quản trị công ty của OECD; có sự bổ sung các quy định nhằm định hình cơ chế bảo vệ các quyền của cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số. Luật Doanh nghiệp năm
2014 cũng đã đổi mới phương thức tăng cường tạo thuận lợi cho cổ đông thực hiện quyền khởi kiện đối với người quản lý công ty khi cần thiết; trình tự, thủ tục khởi kiện đã rút gọn đơn giản hơn, khắc phục bất cập về chi phí cho các cổ đông công ty.
Thực tiễn cho thấy việc quy định quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp năm 2014 vẫn chưa được thực thi và áp dụng một cách triệt để và hiệu quả trên thực tế. Cơ chế thực thi, giám sát chưa nghiêm và một phần cũng do chính các cổ đông không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, so với các nền kinh tế khác, nền kinh tế nước ta còn khá non trẻ. Từ khía cạnh lập pháp đến vận dụng và áp dụng pháp luật từ phía cơ quan nhà nước đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chính các doanh nghiệp và nhà đầu tư còn gặp nhiều lúng túng. Hệ thống cơ quan giám sát, tòa án cũng chưa có kinh nghiệm và chưa được trang bị các công cụ pháp lý một cách đầy đủ để giải quyết các tranh chấp, xung đột về quyền và nghĩa vụ của các bên một cách tốt nhất. Thói quen làm việc hay quản lý kinh doanh ở nước ta cũng còn dựa nhiều vào mối quan hệ quen biết, theo sự chỉ đạo. Pháp luật chưa được áp dụng một cách triệt để vào mọi hoạt động của nền kinh tế.
Để có một nền kinh tế phát triển, một hệ thống quản trị vững mạnh, thu hút được sự quan tâm và tham gia của các nhà đầu tư đòi hỏi chúng ta phải thực hiện từng bước từ việc ban hành pháp luật, cơ chế áp dụng, giám sát và các thiết chế thực thi nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ nhà đầu tư một cách hiệu quả nhất. Xây dựng hành lang pháp lý xuất phát từ quyền lợi thiết thực và chính đáng của các nhà đầu tư, khi ta bảo vệ được quyền lợi của họ, xây dựng một cơ chế kiểm soát, đảm bảo sự an toàn và có hiệu quả cho đồng vốn mà họ bỏ ra đầu tư thì họ sẽ yên tâm đầu tư. Khi doanh nghiệp phát triển thì nền kinh tế sẽ tăng trưởng và bền vững. Vì vậy, trong chương 3 tôi xin đưa ra một số giải pháp để góp phần hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông trong công ty cổ phần, để cổ đông khi đầu tư vào công ty sẽ thực sự được hưởng những quyền lợi nhất định và có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ đối với công ty. Để làm được điều này không chỉ phải quy định chi tiết, cụ thể các quy định về quyền và nghĩa vụ mà còn phải nâng cao cơ chế kiểm tra, giám sát và có các biện pháp xử lý đối với những hành vi xâm phạm quyền của các cổ đông, hành vi trốn tránh trách nhiệm đối với công ty. Khóa luận: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Kiến nghị pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông
