Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng về ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam trong thời gian qua dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I: THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
1. Dệt may là ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam
Công nghiệp dệt may Việt nam được hình thành từ khá sớm với điểm mốc là năm 1897 khi thực dân Pháp bắt đầu công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa ở Việt Nam và cho xây dựng nhà máy sợi đầu tiên với 170 công nhân. Tuy nhiên trước năm 1976, các cơ sở sản xuất dệt may của Việt Nam còn rất ít ỏi, lẻ tẻ và toàn bộ nền sản xuất dệt may của Việt Nam chỉ để phục vụ nhu cầu trong nước. Sau năm 1976, Việt Nam có xuất khẩu hàng may mặc nhưng chủ yếu dưới dạng xuất khẩu hàng đổi hàng với các nước xã hội chủ nghĩa thuộc Đông Âu trước đây. Năm 1990-2010 liên bang Xô- Viết tan rã, chủ nghĩa xã hội bị sụp đổ ở Đông Âu, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dệt may Việt Nam nói riêng đứng trước một giai đoạn cực kỳ khó khăn. Nhưng bằng những nỗ lực không mệt mỏi của Chính phủ và các doanh nghiệp trong việc tìm kiếm thị trường mới, mở rộng xuất khẩu sang các nước trong khu vực và trên thế giới, dệt may Việt Nam đã kịp thời hồi sinh và khởi sắc. Một sự kiện quan trọng đánh dấu bước chuyển mình của dệt may Việt Nam là Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và EU được ký ngày 15/12/2011 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2012. Sau sự kiện này, xuất khẩu dệt may Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng và dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Kim ngạch xuất khẩu: Xét về kim ngạch xuất khẩu, dệt may luôn thuộc nhóm kim ngạch xuất khẩu đứng thứ 2 của Việt Nam (sau dầu thô), kể từ năm 2014 trở lại nay. Đặc biệt, đến thời điểm tháng 9 năm 2026, Bộ Công Thương cho biết dệt may đã chính thức vươn lên dành vị trí quán quân trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong gần 10 năm đầu của thế kỷ XXI, hàng dệt may luôn có tốc độ tăng trưởng khá cao, đạt 20%. Trung bình mỗi năm kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may chiếm khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (xem bảng 2.1). Năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may là 2 tỉ USD, gấp 19,6 lần so với năm 1990 và chiếm tỷ trọng 13,25% trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu. Năm 2024, dệt may là mặt hàng được kỳ vọng nhiều nhất với mức tăng trưởng xuất khẩu 16% – 19% và và lần đầu tiên đạt ngưỡng xấp xỉ 5 tỷ USD. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 5.834 tỷ USD, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, tăng trưởng 20.5% so với năm trước. 8 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 5,1 tỷ USD, tăng 29,6% so với cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu của ngành trong 9 tháng vừa qua đã đạt trên 5,805 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2025 [11]. Dự kiến năm 2029, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành sẽ đạt 10-12 tỷ USD và năm 2040 sẽ là 20- 22 tỷ USD, Việt Nam vững vàng đứng trong nhóm “Top ten” các nhà xuất khẩu dệt may lớn nhất trên thế giới. Đây là những con số rất đáng được khích lệ, tự hào, là những tín hiệu vui đối với ngành dệt may Việt Nam và đối với toàn bộ nền kinh tế.
- Bảng 2.1 Giá trị xuất khẩu dệt may qua các năm từ 2020 – 2026.
Thị trường: Việc mở rộng thị trường của ngành dệt may Việt Nam cũng có nhiều tín hiệu đáng mừng, năm 2025, thị trường xuất khẩu Mỹ đạt 3,044 tỷ USD (chiếm 55%), thị trường EU 1,243 (chiếm 20%), thị trường Nhật Bản 628 triệu USD (chiếm 11%), các nước Đông Bắc Á khác (trừ Nhật) đạt 325 triệu USD (chiếm 5,6%), các nước ASEAN 107 triệu USD (2%), Canada 97 triệu USD, Nga 62 triệu USD. Đến 9 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu quan trọng nhất với việc chiếm gần 60% kim ngạch xuất khẩu toàn ngành [33]. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Lực lượng lao động: Ngành dệt may là một trong những ngành thu hút nhiều lao động nhất. Năm 2020, ngành dệt may giải quyết công ăn việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động. Hiện nay (2026), công nghiệp dệt may thu hút 2,1 triệu lao động trực tiếp, gồm 1 triệu lao động công nghiệp và trên 1 triệu lao động tiểu thủ công nghiệp đang làm việc trong ngành dệt may, chiếm 4,5% lực lượng lao động toàn xã hội. Dự kiến đến năm 2029, ngành dệt may Việt Nam sẽ thu hút khoảng 4-4,5 triệu lao động.
So với nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực, Việt Nam có một lợi thế rất lớn là nguồn cung lao động dồi dào và giá nhân công rẻ. Giá lao động tại Việt Nam chỉ vào khoảng 0,24 USD/ giờ so với 1,18 USD/giờ của Thái Lan; 1,13 USD/giờ của Malaysia và 3,16 USD/ giờ của Singapore…do đó phần nào tạo được lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm dệt may trong nước.
Cơ cấu: Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai ) là nơi tập trung lớn nhất năng lực cuả ngành may cả nước: chiếm 60% năng lực toàn ngành và 85% năng lực xuất khẩu của các cơ sở đầu tư nước ngoài. Vùng tập trung công nghiệp lớn thứ hai của cả nước là đồng bằng sông Hồng có Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh và Hưng Yên, miền Trung có Đà Nẵng, đồng bằng sông Cửu Long có Cần Thơ, Long An [11]. Tại Đại hội lần thứ 3, Hiệp hội Dệt may Việt Nam diễn ra ngày 26/5/2026, báo cáo của Hiệp hội cho thấy đến cuối năm 2025, số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực dệt may đã lên tới khoảng 2019 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 0,5%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 25%, còn lại doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần chiếm 74,5%. Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh và phụ cận có khoảng 1400 doanh nghiệp; Hà Nội và phụ cận có khoảng 300 doanh nghiệp; đồng bằng Bắc Bộ có trên 70 doanh nghiệp; duyên hải miền Trung có khoảng 70 doanh nghiệp; đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 30 doanh nghiệp.
Trong toàn ngành dệt may Việt Nam, Tổng Công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex), đóng vai trò chủ đạo với năng lực kéo sợi chiếm 67% (đạt 111.000 tấn/170.000 tấn); kim ngạch xuất khẩu chiếm 24% (đạt trên 1 tỷ USD/4,3 tỷ USD); chế biến bông chiếm 85% (đạt 12.800 tấn/15.000 tấn) [42].
Có thể nói rằng, hiệu quả lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam là tạo ra hàng triệu việc làm, chủ yếu là việc làm cho lao động nữ, góp phần đảm bảo chính sách việc làm của Nhà nước, đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao tỷ lệ lao động phi nông nghiệp, góp phần thúc đẩy quá trình xoá đói giảm nghèo cho các vùng nông thôn của nước ta.
2. Dệt may vẫn là ngành mang lại hiệu quả kinh tế thấp Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Mặc dù ngành dệt may là ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam, nhưng chúng ta phải thừa nhận một thực tế rằng cho đến nay vẫn có rất nhiều yếu kém tồn tại trong ngành dẫn đến tính hiệu quả kinh tế mà ngành dệt may mang lại chưa cao.
- a. Những yếu kém của ngành dệt may.
Thứ nhất, lương bình quân của công nhân trong ngành tương đối thấp. Ngành dệt may xuất khẩu ra thị trường thế giới mỗi năm hàng tỷ USD nhưng lương công nhân trong ngành vẫn rất thấp, chỉ xấp xỉ từ 1-1,5 triệu VND/tháng chưa thuộc nhóm ngành có mức lương khá trong xã hội. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành xấp xỉ 6 tỷ USD, nhưng doanh số thực tế thu về cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ áng chừng 20-30% toàn bộ doanh thu xuất khẩu [41]. Do đó, hiện nay đang có một tình trạng khan hiếm lao động cục bộ tại các doanh nghiệp dệt may. Trong bối cảnh tự do hoá về chuyển dịch nguồn lực lao động, rất nhiều công nhân ngành dệt may đi theo xu hướng xuất khẩu lao động sang nước ngoài. Một số khác chuyển sang các ngành nghề có mức thu nhập cao hơn.
Thứ hai, dệt may phát triển kém bền vững trước các thách thức của thị trường. Năm 2021, khi Mỹ và Liên hiệp Châu Âu EU bãi bỏ một số hạn ngạch (áo jacket), trong khi nhập khẩu các mặt hàng này từ Trung Quốc vào EU tăng 164% thì các mặt hàng đó nhập khẩu từ Việt Nam vào EU giảm xuống còn 71% và dự báo có thể tiếp tục giảm xuống còn 50% [20]. Kể từ sau 1/1/2024, sau khi Hiệp định về dệt may ATC (Agreement on Textiles and Clothing) chấm dứt, các nước thành viên WTO dỡ bỏ 100% hạn ngạch nhập khẩu dệt may áp dụng cho các thành viên khác trong tổ chức WTO, Việt Nam đã phải đứng trước một sức ép cạnh tranh mạnh mẽ và khốc liệt từ các nước xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh…Thực tế chứng minh, khi không còn hạn ngạch, những cường quốc dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ sẽ phát triển và chiếm lĩnh thị trường thế giới, đè bẹp các đối thủ nhỏ hơn, như Việt Nam. Dường như, xoá bỏ hạn ngạch đến đâu thì hàng dệt may Việt Nam mất hoặc giảm thị phần đến đó. Bảy tháng đầu năm 2024, xuất khẩu dệt may Việt Nam sút giảm đáng kể ở mức kỷ lục, tăng trưởng chỉ đạt 0,2% so với cùng kỳ năm 2023 [31]. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch sang thị trường Mỹ chỉ đạt 783 triệu USD, giảm gần 10% so với cùng kỳ năm 2023. Tốc độ tăng trưởng của năm 2024 của toàn ngành còn khoảng 10% so với mức 20% của các năm trước [31]. Trong khi chỉ tiêu đề ra cho năm 2024 là kim ngạch xuất khẩu đạt từ 5,2-5,4 tỷ USD thì ngành dệt may chỉ đạt được con số 4,8 tỷ USD. Đặc biệt xuất khẩu dệt may bị sút giảm thị phần ở EU. Như vậy, nếu thời gian qua, ngành dệt may đạt được những con số ấn tượng với tốc độ tăng trưởng cao, thì không phải là do sức cạnh tranh nội lực của ngành mà phần lớn là nhờ chế độ áp dụng hạn ngạch từ một số thị trường lớn cũng như việc thực hiện may gia công cho các đối tác nước ngoài. Năm 2027, dệt may Trung Quốc chính thức bãi bỏ hạn ngạch, khi đó hàng dệt may Trung Quốc sẽ thả sức tràn ngập các thị trường, đây thực sự là một mối đe doạ rất lớn đối với dệt may Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Thứ ba, ngành dệt may Việt Nam chưa tận dụng được hết các cơ hội. Ngày 11/1/2026 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam chưa thể cất cánh, tạo ra một bước đột phá như nhiều nhà phân tích thị trường dự đoán. Việc gần như tự do đi vào cửa ngõ của hầu hết các thị trường tiềm năng nhất trên thế giới có vẻ không tác động nhiều đến ngành dệt may Việt Nam. Chúng ta hãy làm một phép so sánh nhỏ với ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc. Năm 2021, Trung Quốc gia nhập WTO và thoát khỏi một số hạn ngạch, sự phát triển của xuất khẩu dệt may Trung Quốc như một cơn bão không gì ngăn cản được. Sản phẩm dệt may Trung Quốc tràn ngập trên khắp các thị trường. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, vào năm 2029 thị phần dệt may của Trung Quốc sẽ là 50% nhu cầu tiêu thụ trên toàn thế giới. Mặc dù so sánh dệt may Việt Nam với dệt may Trung Quốc là vô cùng khập khiễng, nhưng phải nhấn mạnh rằng khả năng cạnh tranh của Việt Nam còn rất yếu kém, các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được cơ hội kinh doanh của mình.
Thứ tư, dệt may Việt Nam quá phụ thuộc vào thị trường Mỹ (chiếm 50-60% kim ngạch xuất khẩu). Điều này dẫn tới một rủi ro vô cùng lớn, hiện nay hầu hết các sản phẩm xuất khẩu chỉ bán cho các nhà buôn lớn của Mỹ nhưng chính các nhà buôn này lại không hề chia sẻ một chút rủi ro nào từ các tranh chấp pháp lý như kiện bán phá giá, áp đặt hạn ngạch hay cơ chế giám sát khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Trong khi đó, chúng ta hầu như không tập trung vào việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu và bỏ ngỏ thị trường nội địa. Theo Báo cáo của Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas), thị trường nội địa đối với hàng may mặc chỉ chiếm 7% tổng mức bán lẻ, đạt 1,8 tỷ USD. Con số này cho thấy thị trường nội địa bị yếu thế và tiềm ẩn rủi ro khi xuất khẩu gặp khó khăn.
- b. Những nguyên nhân dẫn sự yếu kém của ngành dệt may Việt Nam.
Trước những yếu kém của ngành dệt may Việt Nam, trong cuộc họp mới đây với Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Thứ trưởng thường trực Bùi Xuân Khu đã thẳng thắn phân tích một số nguyên nhân như sau: Hầu hết nguyên vật liệu vẫn phải nhập khẩu; Chưa có thương hiệu xuất khẩu thực sự nổi tiếng trong khu vực và quốc tế, mặc dù sản lượng tiêu thụ khá mạnh; Khâu thiết kế mẫu vải và mẫu quần áo rất yếu, thông thường là làm theo mẫu do khách hàng đưa đến; Khả năng cạnh tranh kém, tỷ lệ hàng hoá xuất khẩu theo phương thức mua đứt bán đoạn rất ít; Đội ngũ cán bộ quản lý còn thiếu và yếu ở những khâu then chốt như dệt nhuộm, bị phụ thuộc vào chuyên gia nước ngoài nên khó vận hành.
Tuy nhiên, trong bài khoá luận này, người viết chủ yếu đề cập đến một số thực trạng nổi cộm dẫn đến khả năng cạnh tranh kém của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam như sau: Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Thứ nhất, hàng dệt may Việt Nam chủ yếu là gia công xuất khẩu. Theo ông Hoàng Quốc Ân – Chủ tịch hiệp hội dệt may Việt Nam, ngành dệt may Việt Nam gia công 70-80% kim ngạch xuất khẩu. Còn theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, hiện nay 70% sản phẩm dệt may xuất khẩu từ Việt Nam thực hiện theo phương pháp gia công, 30% còn lại là bán gia công. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thực thu của các doanh nghiệp dệt may rất thấp là vì lý do này. Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ được hưởng một khoản tiền công ít ỏi từ các đơn hàng gia công.
Cũng theo ông Hoàng Quốc Ân, hàng dệt may Việt Nam cơ bản chưa thể đứng độc lập trên thị trường thế giới vì hiện nay hầu như chúng ta chưa có một thương hiệu có đẳng cấp nào. Tại thị trường trong nước cũng có xuất hiện một số cái tên nổi bật, nhưng đối với người tiêu dùng quốc tế thì đang rất xa lạ. Nguyên nhân là do đội ngũ thiết kế của Việt Nam đang tương đối yếu kém so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, chúng ta chưa thể chủ động sản xuất vì chưa làm chủ được đầu vào của công nghiệp dệt may. Cách thức làm ăn chủ yếu tại các doanh nghiệp là nhận các đơn đặt hàng gia công, phía đối tác sẽ chuyển giao cho chúng ta mẫu thiết kế, vải, các phụ kiện phụ liệu khác. Sự phụ thuộc này làm tăng giá thành sản xuất, tỷ suất lợi nhuận vốn đã thấp lại còn thấp hơn. Hiện nay, nhu cầu về nguyên liệu nhập khẩu để đảm bảo sản xuất cần đến 95% xơ bông, 70% sợi tổng hợp, 40% sợi xơ ngắn, 40% vải dệt kim và 60% vải dệt thoi [25]. Qua đó, có thể thấy rằng cả một ngành công nghiệp dệt may gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nước ngoài. Vì vậy, để sản xuất ổn định, hầu hết các doanh nghiệp ngành dệt may đều phả chấp nhận gia công cho đối tác nước ngoài dù lợi nhuận thấp. Bởi vì khi gia công, đối tác sẽ cung ứng kịp thời, đầy đủ nguyên phụ liệu, còn sản xuất theo dạng FOB (mua đứt bán đoạn), lợi nhuận cao hơn, nhưng bù lại phải chịu khó tìm nguồn nguyên phụ liệu bằng cách nhập khẩu.
Thứ hai, ngành dệt may đang phải phụ thuộc quá nhiều vào nguyên phụ liệu nhập khẩu nước ngoài. “Đến cái khuy áo cũng phải nhập khẩu!” là lời phàn nàn của một chủ doanh nghiệp dệt may trong hội chợ nguyên phụ liệu dệt may tổ chức vào tháng 4/2026 tại Hà Nội, về thực trạng ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay.
Theo thống kê, trong tháng 7 năm 2026, kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may gồm bông, xơ, sợi đã tăng 32% so với cùng kỳ năm 2025, đạt trên 200 triệu USD. Tháng 6 đạt 250 triệu USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng đầu năm, nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may đạt khoảng 1,3 tỷ USD, tăng15% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó số tiền dành cho nhập khẩu vải là 2598 triệu USD, dành cho sợi là 473 triệu USD, bông là 197 triệu USD [25]
Vì phụ thuộc tới gần 80-90% vào nguyên phụ liệu nhập khẩu nên hàng dệt may Việt Nam bị đội giá tới 20-30%. So với Trung Quốc, một số sản phẩm của doanh nghiệp trong nước khi xuất khẩu thường có giá cao hơn 5-10%, thậm chí có những mặt hàng cao hơn 15%. Trong xu hướng giảm giá của dệt may thế giới, thế cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam sẽ càng yếu thêm.
Để làm rõ hơn tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu của ngành dệt may Việt Nam hiện nay, xin đơn cử điển hình Tổng công ty dệt may Hà Nội (Hanosimex). Đây là một Tổng công ty lớn thuộc tập đoàn Vinatex, hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con. Hanosimex gồm có rất nhiều đơn vị trực thuộc là: nhà máy sợi, nhà máy may, nhà máy dệt kim, nhà máy dệt thoi, trung tâm dệt kim Phố Nối, nhà máy dệt vải Denim, công ty cổ phần dệt Hà Đông, công ty cổ phần may Đông Mỹ. Trong những năm qua, nhằm đáp ứng nhu cầu gia công sản xuất hàng dệt may, Tổng công ty đã phải nhập khẩu một lượng sản phẩm rất lớn, thể hiện trong bảng 2.2 dưới đây: Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
- Bảng 2.2: Nhập khẩu nguyên phụ liệu, phụ tùng thiết bị tại Hanosimex trong các năm qua.
Để có thể sản xuất được một chiếc áo phông cho nam giới, mã sản phẩm 3A1835, công ty đã phải nhập khẩu tới 16 chi tiết nguyên vật liệu, đó là:
- Bảng 2.3: Định mức nguyên phụ liệu cho một đơn vị sản phẩm mã 3A1835
Đối với toàn ngành, số liệu nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may được thể hiện trong bảng 2.4 sau đây:
- Bảng 2.4: Một số mặt hàng dệt may nhập khẩu từ năm 2019- 2024
Thứ ba, tồn tại sự phát triển không đồng đều giữa ngành dệt và ngành may. Theo con số thống kê nêu trên, hàng năm các doanh nghiệp phải nhập khẩu một lượng vải rất lớn mà nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng phát triển không đồng đều – “chân cao- chân thấp” giữa ngành dệt và ngành may. Theo tính toán của TS Nguyễn Văn Thông, Viện trưởng Viện kinh tế kỹ thuật dệt may (Vinatex), trong tổng số hàng may mặc mà chúng ta xuất khẩu thì lượng vải do các nhà máy dệt trong nước “đóng góp” ở thời điểm lớn nhất chỉ là 25%. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta phải nhập khẳu tới 75% lượng vải phục vụ cho các đơn hàng may mặc trong nước. Có thể nói, tốc độ phát triển của “ông anh” ngành may trong những năm vừa qua khiến cho “người em” dệt chạy hụt hơi mà vẫn không kịp, chưa kể khoảng cách càng ngày càng xa.
- Bảng 2.5: Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Theo thống kê trong khoảng thời gian từ 2014 cho đến 2019 sản lượng sản xuất ngành may là 400% trong khi đó ngành dệt (sản xuất sợi, vải) khiêm tốn với 50%. Cơ cấu giá trị hàng dệt và hàng may mặc trong tổng giá trị sản xuất của cả ngành dệt may đã thay đổi lần lượt từ 73% và 27% năm 1990 thành 47% và 53% năm 2019 [20]. Trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nói chung cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa hai ngành dệt và may (bảng 2.5), ngành dệt chưa đóng góp được quá 10% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Trong ngành sản xuất sợi, dệt số lượng máy móc của Việt Nam còn quá khiêm tốn so với các quốc gia sản xuất dệt may trong khu vực. Năm 2023, cả nước chỉ có khoảng 50.000 máy dệt và 2,2 triệu cọc sợi với tổng năng lực sản xuất đạt hơn 200.000 tấn/ năm, đáp ứng được gần 50% nhu cầu trong nước [20], riêng Tổng Công ty Dệt may có khoảng 1,2 triệu cọc sợi (chiếm 55%) và 9.500 hộp kéo sợi OE, sản xuất được 115.000 tấn sợi. Trong khi đó, Indonesia có 4,5 triệu cọc sợi, Pakitstan có 9 cọc sợi, các cường quốc dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ lần lượt có 50 triệu và 40 triệu cọc sợi. Đối với hoạt động dệt thoi, Việt Nam hiện có khoảng 305 cơ sở sản xuất dệt thoi với tổng số máy dệt khoảng 17.000 máy, cho năng lực sản xuất khoảng 700 triệu m2 vải, tương đương 40.000 tấn vải. Riêng Tổng Công ty Dệt may chiếm khoảng 30% năng lực sản xuất với khoảng 5.000 máy dệt gồm 3.000 máy dệt có thoi và 2.000 máy dệt không thoi. Tuy nhiên phần lớn máy dệt có thoi thuộc loại lạc hậu, tốc độ chậm, hệ thống tự động kém, khả năng đa dạng các mặt hàng rất hạn chế, cho năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, khổ hẹp, chi phí sản xuất cao.
Hơn nữa, công nghiệp hoá chất ở Việt Nam chưa phát triển, khâu in, nhuộm, hoàn tất vải hầu như phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu, công nghệ, chuyên gia của nước ngoài. Hiện nay, toàn bộ thiết bị trên đều thuộc các công ty quốc doanh trong Tổng Công ty Dệt may Việt Nam. Ngoài ra, ngành dệt hiện nay đang thiếu đội ngũ thiết kế vải.
Kết quả là, ngành dệt không những không đáp ứng đủ số lượng về vải của ngành may mà còn không thể đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng đối với vải xuất khẩu. Vải được sản xuất ra chủ yếu chỉ được tiêu thụ ở nông thôn hoặc các vùng tỉnh lẻ. Hiện nay, Việt Nam cũng mới chỉ sản xuất được những loại vải đơn giản như vải bông 100%, vải bông pha polyester…, chưa sản xuất được các dòng vải cao cấp. Nếu có, cũng chỉ sản xuất với một qui mô rất nhỏ. Chẳng hạn, Hanosimex và Công ty dệt Phong phú đã sản xuất được mặt hàng vải Demin (vải bò), nhưng số lượng chỉ là 16 triệu m2/ năm, Công ty Dệt Việt Thắng, Dệt Nam Định đã sản xuất được vải kaki, vải chéo cho may xuất khẩu với một số lượng hết sức khiêm tốn.
- Bảng 2.6: Năng lực sản xuất của ngành dệt
Thứ tư, sự lạc hậu trong hệ thống máy móc trong ngành dệt may. Một nguyên nhân sâu xa khác của tình trạng yếu kém trong ngành dệt may là do hệ thống máy móc, thiết bị của ngành dệt may (chủ yếu là ngành dệt) đã bị lạc hậu, không đồng bộ. Qua khảo sát tại một số làng nghề lân cận Hà Nội như Vạn Phúc, Hà Đông (Hà Tây) người viết nhận thấy phần lớn máy dệt ở đây là máy dệt khung gỗ đời cũ, nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, cho năng suất vải mộc không cao chỉ khoảng 15m2/ngày/máy. Theo đánh giá của Tổ chức phát triển Liên Hiệp Quốc – UNDP, ngành dệt may Việt Nam đang ở trình độ công nghệ bậc 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu 2-3 thế hệ, đặc biệt là công nghệ dệt. Nhìn chung, trình độ công nghệ của ngành dệt may Việt Nam còn lạc hậu so với các nước tiên tiến trong khu vực khoảng hơn một thập kỷ, riêng công nghệ cắt may và may còn lạc hậu hơn so với các nước phát triển trong khu vực gần 5 năm.
3. Tác động của sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đối với ngành dệt may Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/1/2026 vừa qua có một ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với ngành công nghiệp dệt may Việt Nam. Việc tham gia vào mái nhà chung WTO chính là một bước tiến quan trọng trong quá trình “tái hội nhập quốc tế”[3] của Việt Nam, nó mang đến nhiều điều kiện thuận lợi cả về khách quan lẫn chủ quan.
Về khách quan, những rào cản về xuất khẩu sẽ giảm. Cụ thể, Mỹ xoá bỏ hạn ngạch (quota) đối với hàng dệt may của Việt Nam, mở ra một cơ hội cực kỳ lớn cho các doanh nghiệp xâm nhập vào thị trường tiềm năng bậc nhất thế giới này. Một số nước trước đây áp dụng mức thuế cao đối với hàng dệt may từ các nước không phải là thành viên của WTO, nay mức thuế đó đối với Việt Nam sẽ giảm. Ngoài ra, cũng giống như những năm 1990 khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế chào đón các nhà đầu tư nước ngoài, chúng ta đã thu hút được một khối lượng đầu tư nước ngoài rất lớn, thì hiện nay, khi là thành viên của WTO cùng với những qui định thông thoáng hơn về đầu tư, chúng ta có quyền hy vọng một làn sóng đầu tư mới sẽ đến với ngành công nghiệp dệt may Việt Nam cùng với những tiến bộ về khoa học công nghệ và trình độ quản lý. Đó là chưa kể đến những tác động lan truyền như giá đầu vào dệt may sẽ giảm (chi phí điện, bưu chính viễn thông,…) do xuất hiện nhiều nhà cung cấp cùng cạnh tranh trong lĩnh vực này.
Về chủ quan, sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ tác động mạnh mẽ đến các nhà quản lý, các chủ doanh nghiệp Việt Nam. Họ sẽ phải trang bị cho mình một tâm thức mới, một cách nhìn mới năng động và thực tế hơn, họ phải thay đổi cách thức quản lý, cách thức hoạt động sao cho hiệu quả hơn trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế này. Rõ ràng, thói quen ỷ lại vào sự bao cấp, bảo hộ của nhà nước sẽ dần dần bị xoá bỏ, các doanh nghiệp phải tự chủ động đối với các cơ hội kinh doanh của mình. Điều này đặc biệt quan trọng đối với ngành dệt may Việt Nam một ngành từ trước đến nay vẫn được nhà nước dành nhiều ưu ái. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Tuy nhiên khi cánh cửa hội nhập mở ra, ngành dệt may Việt Nam phải đối diện không ít thách thức. Theo các nhà phân tích sẽ có khả năng xảy ra tác động ngược chiều khi chế độ hạn ngạch đối với thị trường Mỹ được dỡ bỏ. Ngành dệt may Việt nam đang phải đối mặt với nguy cơ mất thị trường Mỹ bởi các nhà nhập khẩu Mỹ cho rằng việc áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Chính phủ Mỹ sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của họ. Vì vậy, các nhà nhập khẩu Mỹ sẽ quay lưng lại với hàng dệt may Việt Nam. Ông Lê Quốc Ân cho biết: “theo dự báo trước đây, kim ngạch hàng xuất khẩu dệt may sẽ tăng 15-20%/năm nhưng nếu Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với hàng dệt may Việt Nam và áp dụng chống bán phá giá, thì mức tăng trưởng chỉ còn khoảng 5-7%”[25]
Hơn nữa, theo cảnh báo của bộ trưởng Bộ thương mại (nay là Bộ công thương) Trương Đình Tuyển, bỏ hạn ngạch cạnh tranh sẽ gay gắt hơn, các nước nhập khẩu sẽ được tự do chọn nơi nào có khả năng cạnh tranh mạnh hơn để nhập khẩu cụ thể họ sẽ lựa chọn cơ sở nào có năng lực sản xuất dồi dào, chất lượng sản phẩm tốt đồng đều và giá cả cạnh tranh – những yếu tố mà hiện nay dệt may Việt Nam cần phải khắc phục nhiều.
Ngoài ra, khi là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ phải chịu sự điều chỉnh của nhiều qui định và đòi hỏi chặt chẽ, khắt khe về cơ chế thị trường như phải bãi bỏ các hỗ trợ đầu tư, xoá bỏ dần các khuyến khích về miễn giảm thuế thu nhập… Đây sẽ là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp mà còn đối với toàn ngành công nghiệp dệt may Việt Nam.
II. THỰC TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
1. Thực trạng chung của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam
Hiện nay, nhiều chuyên gia cũng như các nhà phân tích trong lĩnh vực kinh tế đã cảnh báo “Công nghiệp chủ lực (dệt may) đang lâm nguy!” – mà nguyên nhân chủ yếu là do chưa có một ngành công nghiệp phụ trợ dệt may tương xứng. Công nghiệp dệt may Việt Nam chưa có nguồn cung đầu vào các sản phẩm dệt may ổn định, chủ động. Khi mà khả năng cạnh tranh của sản phẩm vẫn chủ yếu dựa trên “giá thành” và “chất lượng” thì nguyên nhân chủ chốt của việc hàng dệt may Việt Nam chưa thực sự có chỗ đứng trên thị trường thế giới và việc nguồn lợi thu về của ngành dệt may còn thấp, là do ngành công nghiệp phụ trợ dệt may quá yếu kém. “Hiệu quả sản xuất dệt may đang giảm dần, do những yếu kém của các ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam.” – Đây chính là hồi chuông cảnh báo cho các nhà hoạch định phát triển sản xuất để các sản phẩm của dệt may Việt Nam có thể đứng vững trên sân chơi của WTO.
Vì thế, mục 2.1.2 sẽ đi sâu đánh giá thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam trong thời gian qua. Trong bài khoá luận này, người viết áp dụng mô hình kim cương của M.Porter để đánh giá.
Trước hết, điều kiện các yếu tố đầu vào: Ở Việt Nam hiện nay, cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng dành cho ngành công nghiệp phụ trợ dệt may nói riêng đang rất yếu kém. Các nhà xưởng cơ khí, sản xuất nguyên liệu cũ kỹ, phần lớn là được sửa chữa và nâng cấp từ những năm 2014, 2016 nhưng còn rất lạc hậu, chưa thể nằm trong mặt bằng chung của các nước xuất khẩu dệt may trên thế giới. Do đó, chúng ta chưa có cơ sở sản xuất nào đạt tiêu chuẩn quốc tế, chưa thể đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về chất lượng.
Nguồn vốn để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may đang tương đối thấp và không đạt hiệu quả. Để có thể xây dựng được một ngành công nghiệp phụ trợ tương xứng với tiềm lực của ngành dệt may, chúng ta cần một khoản vốn rất lớn. Tuy nhiên ngành dệt may nói chung là một ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp, đầu tư vào máy móc công nghệ lại tương đối đắt đỏ và lâu thu hồi vốn nên không hấp dẫn các nhà đầu tư. Có thể nói, vốn là vấn đề nan giải nhất hiện nay đối với ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam. Xét về trình độ công nghệ trong các yếu tố đầu vào thì có thể nói Việt Nam luôn đi sau các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Về nhân lực, Việt Nam tuy có nhiều lợi thế về nhân công dệt may, nhưng tương đối bất lợi về nhân công trong ngành công nghiệp phụ trợ dệt may. Mặc dù ở một số ngành sản xuất thủ công, có tính chất hộ gia đình như trồng bông, nuôi tằm, thì nhân công tương đối dồi dào vì đây là những ngành không đòi hỏi nhiều công nghệ, kỹ thuật, tuy nhiên đối với các ngành cơ khí sản xuất máy móc trang thiết bị và các phụ kiện dệt may cũng như ngành nhuộm, in, hoàn tất vải hiện nay chúng ta lại thiếu các chuyên gia, công nhân lành nghề có trình độ cao một cách trầm trọng.
Các nguồn tài nguyên là đầu vào trực tiếp như bông, tơ tằm, vật liệu máy móc, sản phẩm hoá dầu sẽ được trình bày cụ thể ở phần sau.
Thứ hai, các ngành hỗ trợ và có liên quan: Ở đây, chỉ đề cập đến một số ngành chủ chốt, có ảnh hưởng sâu sắc đến ngành công nghiệp phụ trợ dệt may như cơ khí, hoá dầu, sản xuất thép.
Ngành cơ khí là ngành công nghiệp then chốt của nền kinh tế, tuy nhiên ở Việt Nam chủ yếu là phát triển cơ khí sửa chữa, số lượng nhà máy cơ khí chế tạo không nhiều và chưa có qui mô xứng đáng với tầm vóc của ngành. Hiện nay, cơ khí Việt Nam mới chỉ đáp ứng được 8-9% nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Một con số quá nhỏ bé so với nhu cầu sản xuất của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam hiện nay.
Ngành thép: Thép là một đầu vào quan trọng của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam, tuy nhiên ngành thép Việt Nam chủ yếu là sản xuất nhỏ, phân tán, nặng về gia công chế biến từ phôi và bán thành phẩm nhập khẩu. Năng lực sản xuất phôi thép quá nhỏ bé và chất lượng sản phẩm còn hạn chế. Do vậy, hiện nay Việt Nam phải nhập khẩu một khối lượng thép rất lớn mà vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu thép trong nước dẫn tới giá thành càng ngày càng cao.
Ngành công nghiệp dầu khí là một thế mạnh của nền kinh tế Việt Nam (kim ngạch xuất khẩu dầu thô luôn đứng đầu danh mục xuất khẩu Việt Nam trong những năm vừa qua). Tuy nhiên ngành công nghiệp hoá dầu – có ảnh hưởng quan trọng đến ngành nhuộm, hoàn tất trong ngành công nghiệp phụ trợ dệt may cũng như đối với toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp phụ trợ dệt may lại chưa phát triển. Hiện nay, chủ trương của Chính phủ là tập trung vào các sản phẩm hoá dầu với các dự án có qui mô, tầm cỡ nhưng chưa mang lại hiệu quả. Và Việt Nam vẫn đang phải nhập khẩu các sản phẩm hoá dầu để làm nguyên liệu và phục vụ quá trình sản xuất. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Trong khi đó giá dầu trên thế giới càng ngày càng tăng mạnh và chưa có ý dừng lại bởi vì nhu cầu về nguyên liệu dầu của Trung Quốc – đại công xưởng của thế giới vẫn chưa thể được đáp ứng đầy đủ. Điều này sẽ góp phần làm tăng giá thành sản xuất các sản phẩm thuộc ngành công nghiệp phụ trợ dệt may.
Ngoài ra tại Việt Nam, giá điện, cước phí vận chuyển tương đối cao, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tính cạnh tranh của ngành.
Thứ ba, chiến lược, cơ cấu, môi trường cạnh tranh: Chỉ mới mấy năm gần đây, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may mới được chú trọng ở Việt Nam và bắt đầu có một số chủ trương kế hoạch phát triển. Trong “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp dệt – may đến năm 2029”, được ban hành tại Hà Nội, ngày 04 tháng 9 năm 2017 cũng như trong “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 55/2020/QĐ – TTG ngày 23 tháng 4 năm 2020 phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2029” cũng đã đề ra những chiến lược để xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam, thông qua những chiến lược cụ thể phát triển ngành dệt, may, bông, phụ liệu dệt may của Việt Nam.
Nhìn chung ngành công nghiệp phụ trợ dệt may chưa tách rời thành một bộ phận độc lập với ngành dệt may Việt Nam. Hiện nay chưa có một khu công nghiệp nào chuyên sản xuất các sản phẩm của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may, trong khi đó hầu như tại bất kỳ địa phương nào cũng có một vài cơ sở sản xuất (vải, linh kiện) nhỏ lẻ. Nguyên nhân là do cơ cấu phát triển ngành công nghiệp dệt may “dàn hàng ngang”. Hiện tượng này bắt nguồn từ việc các địa phương đều ưu tiên xây dựng một vài nhà máy sản xuất hàng dệt may xuất khẩu để lấy thành tích. Điều này dẫn đến tính kém hiệu quả trong việc sản xuất ra các sản phẩm phụ trợ. Vì việc dàn trải các cơ sở sản xuất dẫn đến lãng phí các nguồn lực đầu vào (như nguyên liệu thô, nhân công) mà hiệu quả không cao do không tận dụng được hiệu suất theo qui mô. Hơn nữa, ngành công nghiệp phụ trợ đòi hỏi phải đầu tư lớn về vốn và công nghệ, nếu sản xuất công nghiệp hỗ trợ tiếp tục “dàn hàng ngang” như hiện nay sẽ không tập trung được vốn và không thể đầu tư theo chiều sâu để có thể chuyên môn hoá sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.
Bên cạnh đó, theo nhận định của một số chuyên gia, tâm lý của nhiều doanh nghiệp Việt Nam là “thích ăn xổi ở thì”, ngại đầu tư nhà xưởng vì lâu thu hồi vốn, họ chỉ thích nhập về bán lại thu lợi nhuận ngay. Do đo, ngành công nghiệp phụ trợ không lớn nổi.
Hiện tại, các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất dệt may chủ yếu vẫn đang sản xuất nguyên phụ liệu theo “mô hình chiều dọc”, nghĩa là mỗi doanh nghiệp tự túc sản xuất các nguyên liệu đầu vào cũng như máy móc trang thiết bị. Đặc biệt là tại các tổng công ty lớn. Chẳng hạn, tại Tổng công ty dệt may Hà Nội, việc cung cấp vải cho các nhà máy may thuộc Tổng công ty này sẽ do công ty dệt Phố Nối- một công ty con của Tổng công ty đảm nhiệm. Do vậy, hầu như không có sự cạnh tranh trong nội bộ ngành, vì các cơ sở sản xuất nguyên phụ kiện chủ yếu hoạt động theo kế hoạch sản xuất của Công ty mẹ Các cơ sở này không phải chủ động trong sản xuất và cũng không lo đến việc cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể tồn tại và phát triển. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp phụ trợ dệt may cũng do đó mà yếu đi. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Tuy nhiên các sản phẩm công nghiệp phụ trợ dệt may lại gặp sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các sản phẩm đồng loại của nước ngoài, đặc biệt là của Trung Quốc về giá cả, mẫu mã đa dạng và chất lượng cao. Và sự cạnh tranh ấy sẽ ngày càng mạnh mẽ khi Việt Nam tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế. Theo lộ trình thực hiện nghĩa vụ cắt giảm thuế CEPT/AFTA trong khuôn khổ nội bộ khối ASEAN, thì ngay từ năm 2019, Việt Nam đã phải xây dựng bản lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu hàng dệt may, từ chỗ đang được bảo hộ mức cao. Cụ thể: sợi 20%, vải 40%, áp dụng trước ngày 1/1/2019 theo hướng giảm dần từng năm và xuống mức tối đa còn 0-5% vào năm 2025, đồng nghĩa với việc bản thân ngành dệt may phải chấp nhận cạnh tranh trong khu vực. Khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, áp lực cạnh tranh càng được đẩy cao hơn đối với những ngành công nghiệp phụ trợ dệt may non trẻ, đặc biệt như đối với ngành sản xuất máy móc trang thiết bị dệt may khi hàng rào thuế quan đã hoàn toàn bị dỡ bỏ.
Thứ tư, cầu trong nước: Công nghiệp dệt may Việt Nam vẫn là một ngành đầy tiềm năng như đã được phân tích ở trên, do đó thị trường tiêu thụ của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam là vô cùng rộng lớn. Tuy nhiên cũng cần phải nhận thức rằng so với Trung Quốc, Ấn Độ, thậm chí cả Bangladesh và một số quốc gia trong khu vực, thì qui mô ngành dệt may của chúng ta còn rất khiêm tốn, chưa kể, sản phẩm của chúng ta bị cạnh tranh gay gắt và có phần yếu thế. Nếu chúng ta không kịp thời nâng cấp ngành dệt may, có thể chúng ta sẽ bị mất rất nhiều thị phần từ những người khổng lồ như Trung Quốc, Ấn Độ chưa kể sẽ thua ngay trên sân nhà là thị trường trong nước. Khi đó thị trường của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may sẽ bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng vì các doanh nghiệp dệt may không cạnh tranh được trên thị trường, không bán được sản phẩm sẽ thu hẹp qui mô của mình lại, thậm chí đóng cửa. Theo nhận định của Bloomberg, hãng tin kinh tế – tài chính của Mỹ, nguy cơ “biến mất” từ 1/3 cho tới 1/2 trong số 2.000 doanh nghiệp dệt may có thể thành hiện thực khi Việt Nam gia nhập WTO. Hiện tại, dự báo này chưa xảy ra, nhưng chúng ta chưa thể chắc chắn được điều gì trong những năm tới.
Tại thời điểm hiện nay, cả nước có 96 doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu, kéo sợi và 35 doanh nghiệp sản xuất phụ trợ, phụ liệu cho ngành dệt may với năng lực sản xuất đang hết sức nhỏ bé. Theo điều tra của Tổng công ty dệt may Việt Nam, hiện nay ngành công nghiệp phụ trợ dệt may mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu trong nước. Như vậy khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam đang hết sức khiêm tốn, được thể hiện trong bảng số liệu 2.7 dưới đây.
- Bảng 2.7: Số liệu một số sản phẩm công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam 2019- 2025
Hơn nữa, đòi hỏi của thị trường về chất lượng đang vượt quá khả năng đáp ứng của ngành. Theo phó Chủ tịch Hội Dệt may – Thêu đan, thì con số khả năng cung ứng 30% nhu cầu dệt may hiện nay không có nghĩa là năng lực của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may là kém, không đủ sức sản xuất. Về cơ bản, nguyên phụ liệu nội địa có thể đáp ứng đến 70% nhu cầu sản xuất. Nhưng do yêu cầu về thành phẩm của đối tác nước ngoài rất cao, nguyên phụ liệu Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng. Hơn nữa, hiện nay Việt Nam cũng chưa có đội ngũ thiết kế nguyên phụ liệu (vải, phụ kiện may) chuyên nghiệp. Các sản phẩm công nghiệp phụ trợ dệt may hiện nay chủ yếu được tiêu thụ trong nước, mà cũng chỉ ở một số vùng nông thôn, tỉnh lẻ. Như vậy, thực trạng lớn nhất của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam chính là chất lượng sản phẩm kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Thứ năm, vai trò của Chính phủ: Chính phủ có một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành. Trong một thời gian dài Việt Nam không đủ điều kiện để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may nên Chính phủ chưa có những chỉ đạo cụ thể. Tuy nhiên trong thời gian này, Chính phủ và các quan chức ngành dệt may nhận thức được rõ ràng tầm quan trọng của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may nên bắt đầu có những động thái xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may tương xứng với tiềm năng của ngành dệt may Việt Nam. Điều 2 – “Một số cơ chế, chính sách để hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2029” của “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 55/2020/QĐ – TTG ngày 23 tháng 4 năm 2020 phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2029” qui định:
Nhà nước hỗ trợ nguồn vốn ngân sách, vốn ODA đối với các dự án qui hoạch phát triển vùng nguyên liệu, trồng bông, trồng dâu nuôi tằm; đầu tư các công trình xử lý nước thải; qui hoạch các cụm công nghiệp dệt; xây dựng các cơ sở hạ tầng đối với các cụm công nghiệp mới; đào tạo và nghiên cứu của các viện, trường và trung tâm nghiên cứu chuyên ngành dệt may.
Các dự án đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất: sợi, dệt, in nhuộm hoàn tất, nguyên liệu dệt, phụ liệu may và cơ khí dệt may:
- Được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, trong đó 50% vay với lãi suất bằng 50% mức lãi suất theo qui định hiện hành tại thời điểm rút vốn, thời hạn vay 12 tháng, 3 năm ân hạn; 50% còn lại được vay theo qui định của Quỹ Hỗ trợ phát triển;
- Được coi là lĩnh vực ưu đãi đầu tư và được hưởng các ưu đãi đầu tư theo qui định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.
- Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủ để trình uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho phép áp dụng cơ chế đối với vải và phụ liệu may sản xuất trong nước nếu bán cho các đơn vị sản xuất gia công hàng xuất khẩu tại Việt Nam được hưởng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng như đối với hàng xuất khẩu.
- Đối với các doanh nghiệp nhà nước sản xuất sợi, dệt, in nhuộm hoàn tất, nguyên liệu dệt, phụ liệu may và cơ khí dệt may:
- Trong trường hợp cần thiết, được Chính phủ bảo lãnh khi mua thiết bị trả chậm, vay thương mại của các nhà cung cấp hoặc tổ chức tài chính trong và ngoài nước;
- Được cấp lại tiền thu sử dụng vốn trong thời hạn 5 năm (2020-2024) để tái đầu tư;
- Được ưu tiên cấp bổ sung một lần đủ 30% vốn lưu động đối với từng doanh nghiệp.”
Rõ ràng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may đang có rất nhiều thuận lợi về phía hỗ trợ của chính phủ. Chính phủ đã tạo ra nhiều ưu đãi nhằm khuyến khích sự phát triển của ngành này trong sự phát triển chung của ngành dệt may.
Cuối cùng là các cơ hội: Cũng giống như tình hình chung đối với ngành dệt may, việc gia nhập WTO mang lại cho ngành công nghiệp phụ trợ dệt may cả những thuận lợi và khó khăn. Chúng ta có quyền hy vọng vào các luồng đầu tư FDI từ nước ngoài, đồng thời phải đối diện với làn sóng cạnh tranh ngày càng gay gắt khi thuế nhập khẩu các nguyên phụ liệu, máy móc giảm xuống. Trước khi vào WTO, thuế nhập khẩu vải là 40%, thuế nhập khẩu sợi là 20% thì khi vào WTO tất cả phải giảm xuống 2/3 cho hợp với khung của thế giới[30]. Khi đó vải và sợi của Trung Quốc sẽ tràn vào nước ta và các doanh nghiệp của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Hơn nữa, theo xu thế chuyển dịch tất yếu của sản xuất dệt may sang các nước có lợi thế về chi phí sản xuất thấp và giá nhân công rẻ, đầu tư vào ngành dệt may đang có xu hướng tiếp tục chuyển dịch từ các nước công nghiệp mới và một số nước trong khu vực sang Việt Nam và một số nước có chi phí lao động thấp hơn. Đồng thời, làn sóng chuyển dịch cũng bắt đầu bước vào giai đoạn hai, từ các nước ASEAN sang các nước châu Phi. Do đó, Việt Nam có thể chuyển giao công nghệ đang sử dụng trong nước sang các nước châu Phi để đón nhận các thiết bị máy móc, công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển. Nếu tận dụng cơ hội này, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may sẽ có những bước khởi sắc.
Như vậy, xét theo mô hình của Micheal Porter, thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam còn tồn tại nhiều điểm hạn chế dẫn tới khả năng cạnh tranh yếu. Nói chung, năng lực sản xuất của ngành chưa cao và chất lượng sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu của ngành công nghiệp dệt may và chưa thể cạnh tranh được với sản phẩm của nước ngoài. Tuy nhiên với các thuận lợi về cơ hội sản xuất kinh doanh, sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Chính phủ, chúng ta có quyền hi vọng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may sẽ có những bước tiến dài trong thời gian tới, một khi ngành có được những bước đi phù hợp.
2. Thực trạng một số ngành công nghiệp phụ trợ dệt may cụ thể
- a. Ngành sản xuất máy móc trang thiết bị
Theo đánh giá của các chuyên gia ngành dệt may “công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may còn nhiều bất cập, nếu như không muốn nói là quá yếu. Năng lực cơ khí chuyên ngành dệt may hiện tại quá nhỏ bé, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong ngành”.
Ngay tại “Triển lãm quốc tế ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, vải và phụ kiện 2026” tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ 17-19/4 vừa qua, trong số hàng trăm gian hàng giới thiệu máy móc thiết bị dệt may chủ yếu đến từ Trung Quốc, Italia, Nhật Bản… gian hàng của các doanh nghiệp Việt Nam rất ít. Ông John Tan, Giám đốc Công ty Huanye, trụ sở tại Thượng Hải chuyên sản xuất thiết bị máy móc in chữ, in ảnh lên vải và máy cắt vải cho biết: “Triển lãm này là cơ hội để chúng tôi bán các loại máy móc, bởi thị trường Việt Nam chưa thấy đầu tư các nhà máy này”.
Để hiểu rõ hơn về thực trạng của ngành sản xuất máy móc thiết bị, trong khoá luận này sẽ lấy Tổng Công ty Dệt May Việt Nam (Vinatex) làm dẫn chứng vì đây là đơn vị chủ đạo và là doanh nghiệp lớn nhất trong ngành dệt may cả nước.
Vinatex có nhiều xưởng cơ khí chuyên sửa chữa, thay thế phụ tùng, cơ kiện và 4 Công ty chuyên ngành sản xuất các loại phụ tùng, cơ kiện và trang thiết bị phục vụ cho ngành Dệt May như: Công ty Cổ phần Cơ khí may Gia Lâm; Công ty Cổ phần Cơ khí may Nam Định; Công ty Cổ phần Cơ khí Hưng Yên và Công ty Cơ khí Thủ Đức. Trong thời gian qua các đơn vị này tuy có nhiều cố gắng nhưng do năng lực còn hạn chế, thiết bị lạc hậu nên không đáp ứng kịp yêu cầu phát triển rất nhanh của các doanh nghiệp dệt may. Cả 4 công ty cơ khí này trị giá sản xuất mỗi năm chỉ vào khoảng 9 triệu USD, tương đương với gần 4.000 tấn phụ tùng, chủ yếu là phụ tùng, trang thiết bị nhỏ lẻ như: máy trải vải, máy kiểm tra vải, máy hút hơi là, máy san chỉ, máy hút chỉ, máy dập cúc, máy cắt vải, hệ thống chiếu sáng, hệ thống làm mát và một số phụ tùng như tủ đựng hồ sơ, ghế ngồi may, kệ để nguyên liệu, xe vận chuyển nội bộ, … phục vụ ngành may là chính, mà cũng mới chỉ đáp ứng được một phần. Còn phụ tùng, cơ kiện cho ngành dệt, các doanh nghiệp chủ yếu vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Âu từ 70-80%, trị giá hàng chục triệu USD mỗi năm.[29] Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Ngoài ra trong ngành sản xuất máy móc trang thiết bị dệt may tồn tại một thực trạng đầy nghịch lý. Đó là khi các doanh nghiệp dệt may phải nhập khẩu máy móc thiết bị thì các doanh nghiệp sản xuất trong nước lại không tìm được thị trường đầu ra vì các xưởng cơ khí nằm trong các Công ty dệt may đến nay đều không phát huy được hiệu quả, do không đáp ứng được yêu cầu khắt khe về chất lượng, cả cả và thời gian giao hàng của các doanh nghiệp dệt may. Vì vậy các xưởng cơ khí này thường phải gia công cho các doanh nghiệp ngoài ngành.
Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của ngành sản xuất máy móc, trang thiết bị dệt may được các chuyên gia trong ngành kết luận như sau:
Một là, do trình độ máy móc thiết bị của các nhà máy cơ khí dệt may trong ngành đã quá lạc hậu, không được đổi mới nên không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp về chất lượng và thời gian giao hàng.
Hai là, phụ tùng, cơ kiện phục vụ cho ngành Dệt may đang nhập lậu vào Việt Nam từ Trung Quốc với số lượng lớn, giá rẻ. Bên cạnh đó, tâm lý các doanh nghiệp không muốn đổi mới thiết bị cơ khí để sản xuất phụ tùng, vì sợ không cạnh tranh nổi với sản phẩm của Trung Quốc cũng là điều dễ hiểu, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay.
Ba là, giá sắt thép trong nước thường xuyên biến động và tăng cao, nên sản xuất phụ tùng không có hiệu quả.
Bốn là, phụ tùng cơ kiện của ngành dệt rất phức tạp, yêu cầu khắt khe về chất lượng, đồi hỏi phải có trang thiết bị hiện đại, điều này các doanh nghiệp cơ khí trong ngành chưa đủ vốn để đầu tư.
Năm là, yếu kém về nguồn nhân lực. Ngành sản xuất máy móc trang thiết bị dệt may đòi hỏi nhân công có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo cơ bản về kỹ thuật và tay nghề cao, trong khi hệ thống các trường dạy nghề của chúng ta chưa đáp ứng được. Các doanh nghiệp sản xuất khi tiếp nhận lao động vẫn phải đào tạo lại cho họ để phù hợp với thực tiễn sản xuất. Chưa kể, hiện nay tình trạng thiếu lao động kỹ thuật vẫn xảy ra một cách nghiêm trọng.
Sáu là, thiếu nguồn thông tin chính xác, kịp thời về cung và cầu giữa các doanh nghiệp trong ngành, và giữa các doanh nghiệp sản xuất máy móc thiết bị với các doanh nghiệp dệt may. Do vậy có những mặt hàng máy móc thiết bị được các doanh nghiệp đồng loại sản xuất tràn lan. Trong khi có những mặt hàng không doanh nghiệp nào sản xuất. Chưa kể, các máy móc thiết bị do các doanh nghiệp sản xuất không phù hợp yêu cầu của các doanh nghiệp dệt may do sự khác biệt về thông số kỹ thuật cũng như kiểu dáng và chức năng. Nên cung không gặp cầu, gây ra nghịch lý đã nêu ở trên.
Như vậy, muốn ngành sản xuất trang thiết bị dệt may phát triển được, đáp ứng được nhu cầu hiện đại hoá hiện nay của ngành dệt may, ít nhất chúng ta phải khắc phục sáu yếu kém trên. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
Ngành sản xuất nguyên liệu thô (bông, tơ tằm). Có thể nói rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng chân cao chân thấp giữa ngành dệt và ngành may là do ngành sản xuất nguyên liệu thô của Việt Nam chưa thực sự ổn định.
Bông: Bông cùng với cây đay, dâu tằm là các cây nguyên liệu cho công nghiệp kéo sợi dệt vải. Đây là cây đòi hỏi nhiều lao động để sản xuất và chế biến. Cây bông đòi hỏi khí hậu khô, nóng ( 25-300C), không cần nhiều độ ẩm. Mùa ra bông cần nhiều mưa, lúc quả chín cần thời tiết tuyệt đối hanh khô. Do đó, ở nước ta chỉ có một số nơi thích hợp cho việc phát triển bông. Đó là các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (từ Phú Yên đến Bình Thuận), Đắc Lắc và Đồng Nai. Các tỉnh Sơn La, Lai Châu cũng là vùng truyền thống trồng bông, gắn với nghề dệt thủ công của đồng bào Thái. Diện tích bông của cả nước không ổn định vì hiệu quả kinh tế thấp, chỉ dao động khoảng 20 nghìn ha (Bảng 2.8).[12, tr197-198]
- Bảng 2.8: Tình hình sản xuất bông của Việt Nam
Báo cáo của Công ty Bông Việt Nam cho biết ngành Bông đã đầu tư ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, đổi mới phương thức quản lý, thực hiện nhiều giải pháp mang tính chiến lược lâu dài, như hỗ trợ giá, vật tư bao tiêu sản phẩm…cho người trồng bông, nhờ đó, đã đưa diện tích trồng bông từ 10.676 ha, năng suất 6,43 tạ/ha, sản lượng bông hạt đạt 6.866 tấn (niên vụ 2015-2016) lên tới diện tích 32.000 ha, năng suất 15-25 tạ/ha, sản lượng bông hạt đạt 32.627 tấn (niên vụ 2021-2022). Thế nhưng, trong mấy năm gần đây, sản xuất bông trong nước lại có xu hướng giảm sút, diện tích trồng bông bị thu hẹp dần chỉ còn 20-30.000 ha, thậm chí chỉ còn 15.000 ha trong niên vụ 2025-2026, gần bằng với diện tích trồng bông cách đây 10 năm [15].
- Vì sao lại có sự tụt hậu này?
Trước hết, đó là những diễn biến bất lợi của thời tiết mấy năm gần đây, như hạn hán liên tục, mưa lớn kéo dài gây ra những ảnh hưởng không tốt cho việc trồng bông, giảm năng suất bông. Đơn cử niên vụ 2023-2024, trong tổng diện tích trồng bông gần 19.000 ha bông vụ mưa, có tới 10.000 ha không cho thu hoạch hoặc thu hoạch với năng suất rất thấp do bị hạn hán sớm (khoảng 50-70 ngày sau khi gieo hạt). Vụ mùa năm 2024-2025 diễn biến thời tiết còn bất thường và phức tạp hơn các niên vụ trước. Mưa lớn kéo dài từ khi bông bắt đầu nở quả cho đến cuối tháng 12 đã làm cho phần lớn diện tích bông bị hư hỏng nặng, làm giảm sản lượng bông từ 40-60%, ngoài ra còn làm giảm tỷ lệ xơ bông. Niên vụ 2025-2026, thời tiết cũng không thuận lợi làm cho nhiều diện tích bông gieo muộn vào cuối tháng 8 và đầu tháng 9 có năng suất rất thấp.
Tiếp đó là do giá các cây trồng như ngô, đậu, mì… tăng cao hơn so với giá cây bông. Giá bông xơ trong 5 năm qua không ổn định, thậm chí có những thời điểm còn thấp dưới giá thành. Trong khi đó, giá các loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp, chế biến bông, nhiên liệu… trên thị trường tăng mạnh và luôn ở mức cao. Với giá cả của cây bông và các cây trồng khác như hiện nay, cây bông muốn cạnh tranh được thì năng suất bông được tưới tự nhiên bằng nước mưa phải đạt tối thiểu 18 tạ/ha và bông được tưới bằng hệ thống nước nhân tạo phải đạt 30 tạ/ha. Trong khi đó, nhìn chung năng suất của cây bông vẫn còn quá thấp, chưa đạt 50% tiềm năng của các giống lai [12]. Nhận thấy thu nhập từ trồng bông thấp, nhiều nông dân đã bỏ trồng bông để trồng các loại cây mang lại những lợi ích cao hơn. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
- Bảng 2.9: Tình hình sản xuất và nhập khẩu bông xơ của Việt Nam
Bảng 2.9 cho chúng ta thấy được tình hình sản xuất và nhập khẩu bông xơ trong thời gian qua ở Việt Nam. Theo ông Lê Quốc Ân, hiện tại, ngành phải nhập khẩu một tỷ lệ bông xơ rất lớn. Mỗi năm ngành dệt cần khoảng 60.000 tấn bông xơ, nhưng nguồn bông trong nước chỉ mới sản xuất được khoảng 13.000 tấn, một con số quá nhỏ bé so với nhu cầu.
Tơ tằm: Cây dâu tằm từ bao đời gắn liền với truyền thống dệt tơ lụa ở nước ta. Có rất nhiều vùng nổi tiếng về nghề tơ tằm: Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định, Quảng Nam, Bảo Lộc (Lâm Đồng). Theo số liệu thống kê của Tổng công ty dâu tằm tơ Việt Nam, diện tích dâu tằm của Việt Nam hiện khoảng 25.000 ha, đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Tuy nhiên do thị trường tơ tằm không ổn định, diện tích trồng dâu giảm sút nghiêm trọng, cả nước chỉ còn khoảng 20.000 ha. Hơn nữa hiệu quả mang lại rất thấp. Hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập hơn 500 tấn tơ sống để se tơ và dệt lụa từ Trung Quốc, Udơbêkixtan…[21] Nguyên nhân là do kén tằm trong nước phẩm cấp quá thấp, chỉ không tới 30% có thể sản xuất được tơ tằm tiêu chuẩn cấp A, còn hơn 70% là tơ thường không thể xếp hạng gì trong bảng xếp hạng tơ tằm từ A đến E của thế giới. Một vấn đề bất cập trong ngành tơ tằm là các làng nghề dệt lụa nổi tiếng như Vạn Phúc, Hà Đông lại không thể tự cung ứng nguyên liệu tơ tằm mà phải nhập khẩu từ các vùng khác, đặc biệt phải nhập khẩu từ Trung Quốc. Điều này làm tăng giá thành sản phẩm dệt do phải chi trả chi phí vận chuyển và môi giới. Do đó các cơ sở dệt tơ tằm nhỏ lẻ ở đây chỉ sản xuất theo kiểu làm gia công theo đơn đặt hàng của người thuê gia công, nghĩa là họ nhận tơ tằm rồi dệt thành lụa theo mẫu mã và số lượng đã qui định trước. Trước đây, các làng nghề này cũng phát triển ngành trồng dâu nuôi tằm, nhưng hiện nay do việc trồng dâu nuôi tằm không đem lại hiệu quả kinh tế nên diện tích trồng dâu bị thu hẹp dần dần, đến nay thì không còn nữa.
- c. Ngành phụ kiện may
Hiện nay ngành phụ kiện may của Việt Nam vẫn đang kém phát triển, thể hiện trong bảng số liệu ( bảng 2.10) dưới đây.
Mặc dù thời gian qua có một số nhà máy như công ty cổ phần phụ liệu may Nha Trang, công ty may Việt Tiến, công ty dệt vải công nghiệp và các công ty tư nhân đã sản xuất được nhiều loại phụ kiện như khoá kéo, tấm lót, cúc, chỉ,… nhưng sản lượng còn thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 20-25% nhu cầu của ngành [29]. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu phải nhập khẩu phụ liệu từ nước ngoài. Hiện nay, trên thị trường Hà Nội cũng như tại một số địa phương khác cũng có các cửa hàng buôn bán hàng phụ kiện may, nhưng chỉ buôn bán với số lượng nhỏ lẻ, chủ yếu bán cho các hiệu may nhỏ. Mà hàng hoá ở đây phần lớn nhập khẩu từ Trung Quốc, Đài Loan, chất lượng cũng tương đối thấp. Thậm chí, tại “Triển lãm quốc tế ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, vải và phụ liệu 2026” vừa qua, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã không thể tìm được phụ liệu may ngay tại Việt Nam để vận hành thử các máy móc của mình. Chị Phùng Ngọc Thảo, đại diện của Tập đoàn SWF chuyên cung ứng máy thêu từ Hàn Quốc cho biết, những cuộn chỉ thêu để máy thêu vận hành tại gian hàng cũng phải đưa từ Hàn Quốc sang vì ở Việt Nam rất khó tìm nổi một cuộn chỉ cho chiếc máy này.[42]
- Bảng 2.10: Năng lực sản xuất một số sản phẩm phụ kiện may của Việt Nam
Tuy các phụ kiện, phụ liệu may đòi hỏi tính chuyên môn hoá rất cao nhưng hiện nay, số lượng các công ty SMEs tham gia sản xuất mặt hàng này rất ít, vì gặp phải 2 trở ngại lớn là vốn và công nghệ. Hơn nữa, qui mô của các công ty SMEs cũng là một vấn đề, bởi vì sản xuất sản xuất với qui mô nhỏ không thể đem lại khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp vì họ khó có thể giảm giá thành sản phẩm.
Ngoài ra, các sản phẩm phụ kiện của Việt Nam hiện nay không đồng đều về chất lượng. Đơn cử như mặt hàng khuy quần bò, trong khi sản phẩm của một số hãng uy tín như YKK, chất lượng sản phẩm rất đồng đều, đưa vào máy dập đạt hiệu quả 100%, thì khuy dập của Việt Nam khi đưa vào máy, 20-30% là bị gãy khuy, một số bị mất lớp màu bên ngoài, thậm chí có những chiếc không thể đưa vào máy dập vì kích cỡ quá lớn hoặc quá bé. Khóa luận: Thực trạng ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN
