Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam trong thời gian tới dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VÀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ DỆT MAY VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI.

1. Ngành dệt may

1.1. Dự báo phát triển:

Có thể nói rằng ngành dệt may Việt Nam đang hội tủ đủ các yếu tố chủ quan và khách quan hết sức thuận lợi cho việc phát triển.

Trước hết, do xu thế phát triển của thế giới trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, Việt Nam có những thuận lợi đặc biệt trong việc phát triển ngành dệt may, khi công nghiệp dệt may đang theo làn sóng chuyển dịch từ các nước phương Tây sang các nước châu Á, từ các nước phát triển mới trong khu vực sang các nước phát triển thấp hơn, trong đó có Việt Nam. Hơn nữa, cánh cửa hội nhập đang rộng mở đối với toàn thể ngành kinh tế Việt Nam trong đó có dệt may, mà như các chương trước của khoá luận đã nêu, trở thành thành viên của WTO là một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong ngành phát triển qui mô sản xuất và thị trường tiêu thụ.

Bên cạnh đó, Việt Nam có nhiều vùng miền có điều kiện khí hậu thổ nhưỡng phù hợp cho việc phát triển của các nguồn nguyên liệu thô như cây bông, cây dâu tằm do vậy rất thuận lợi để phát triển dệt may. Ngoài ra, Việt Nam nằm ở vị trí cửa ngõ của châu Á nên hết sức thuận lợi cho việc giao thương, trao đổi, buôn bán.

Đặc biệt ngành dệt may nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ Chính phủ Việt Nam bởi vì Chính phủ Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của dệt may trong nền kinh tế quốc gia, do đó đã tạo cho ngành dệt may nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Đồng thời các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng đã có một chỗ đứng nhất định trên thị trường thế giới.

Có thể dự báo rằng, trong tương lai sắp tới, dệt may vẫn sẽ tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong ngành kinh tế bởi những ưu việt trong khả năng cân bằng các lợi ích quốc gia mà nó đưa lại. Dệt may không chỉ là ngành mang lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất mà còn là ngành tạo ra nhiều công ăn việc làm nhất, tạo ra sự cân đối vùng, miền cao nhất. Trước mắt chưa có ngành công nghiệp nào có thể thay thế được vai trò to lớn của dệt may đối với nền kinh tế đất nước. Tuy có nhiều ngành kinh tế có lợi suất đầu tư cao hơn nhưng chưa phù hợp với điều kiện của Việt Nam vì chúng ta vẫn đang trong thời gian tích luỹ tư bản cho sự phát triển. Một thời gian dài chúng ta ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, và lịch sử đã chứng minh, khi chưa có đủ điều kiện về các nguồn lực thì đó là một lựa chọn sai lầm.

1.2. Quan điểm phát triển: Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Từ việc nhận thức tầm quan trọng của ngành dệt may đối với nền kinh tế nước nhà trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước là xây dựng ngành công nghiệp dệt may trở thành một ngành công nghiệp trọng điểm và mũi nhọn xuất khẩu của Việt Nam.

Ngành dệt may Việt Nam sẽ được phát triển theo hướng đa dạng hoá sở hữu và phát triển kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá qui mô, loại hình doanh nghiệp. Đối với ngành dệt: “Kinh tế nhà nước làm nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo; khuyến khích các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư trực tiếp của nước ngoài tham gia phát triển lĩnh vực này”[18]. Đối với ngành may: “Đẩy mạnh cổ phần hoá những doanh nghiệp may mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành may, nhất là tại các vùng đông dân cư, nhiều lao động”[18].

Huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để xây dựng Việt Nam trở thành trung tâm thời trang của khu vực trong mối liên kết đa ngành thương mại- văn hoá- du lịch- sản xuất thời trang. Trong “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 55/2020/QĐ – TTG ngày 23 tháng 4 năm 2020 phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2029”, khoản 2, điều 1 qui định:

  • “Tập trung đầu tư trang thiết bị hiện đại, công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến, trình độ chuyên môn cao. Chú trọng công tác thiết kế các sản phẩm mới, nhằm từng bước củng cố vững chắc uy tín nhãn mác hàng dệt Việt Nam trên thị trường thế giới”
  • “Tổ chức lại hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tê, tạo bước nhảy vọt về chất lượng, tăng nhanh sản lượng các sản phẩm dệt, nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước”
  • “Đẩy mạnh công tác thiết kế mẫu thời trang, kiểu dáng sản phẩm Tập trung đầu tư, cải tiến hệ thống quản lý sản phẩm, quản lý chất lượng, áp dụng các biện pháp tiết kiệm nhằm tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm may Việt Nam trên thị trường quốc tế”

Định hướng phát triển dệt may Việt Nam theo hướng thời trang hoá là một quyết định vô cùng đúng đắn. Trước hết, từ việc phân tích bài học của Bangadesh, tự tìm cho mình một phân đoạn thị trường – một “khe cửa hẹp” mà Trung Quốc, Ấn Độ đang bỏ trống. Hơn nữa, dòng sản phẩm thời trang luôn luôn có chỗ đứng trên thị trường bởi thị hiếu của người tiêu dùng đang thay đổi trên khắp thế giới, ngày nay người ta không chỉ “ăn no, mặc ấm” mà đang hướng tới “ăn ngon mặc đẹp”, do đó, một khi hạn ngạch bị bãi bỏ thì các nhà nhập khẩu luôn sẵn lòng tìm đến những nhà cung cấp có khả năng đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Nhìn xa hơn, vào năm 2027, Trung Quốc chính thức bãi bỏ hạn ngạch dệt may, khi đó sức mạnh dệt may Trung Quốc là không thể nào cưỡng lại đựơc. Liệu Việt Nam – một đất nước có qui mô sản xuất dệt may nhỏ hơn Trung Quốc hàng trăm lần, giá nhân công lại chẳng rẻ hơn bao nhiêu – có thể cạnh tranh được với người khổng lồ Trung Quốc về hàng giá rẻ, chất lượng trung bình hay không? Trong khi đó, đối với mặt hàng thời trang, mặt hàng cao cấp, khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam tương đương hoặc cao hơn một chút so với hàng Trung Quốc. Do vậy, trong bối cảnh và trình độ công nghệ cũng như năng suất lao động của ngành đang ở mức thấp như hiện nay, muốn cạnh tranh, Việt Nam không thể lấy yếu tố giá thành làm “điểm nhấn”, mà phải chú trọng đến “chất lượng” và “mẫu mã” sản phẩm.

Ngành dệt may Việt Nam được định hướng phát triển bền vững, theo chu trình khép kín từ khâu nguyên phụ liệu đến khâu sản xuất thành phẩm. Phát triển ngành dệt may đi kèm với việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may nhằm tạo một nền tảng vững chắc, một sự hậu thuẫn mạnh mẽ cho ngành dệt may. Nghĩa là, giá trị gia tăng trong mỗi sản phẩm dệt may Việt Nam sẽ tăng lên, các doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động tìm kiếm thị trường, sản xuất và xuất khẩu. Từ đó, nâng cao vị trí của ngành dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Một khi, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã có thể tự chủ được nguyên liệu đầu vào, tiến tới có thể xuất khẩu nguyên phụ liệu ra thị trường thế giới, các doanh nghiệp có thể chuyển khâu sản xuất may gia công sang các nước kém phát triển hơn như châu Phi. Khi đó việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu sẽ mang lại nhiều lợi thế hơn cho Việt Nam.

1.3. Mục tiêu: Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Trong “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Dệt – May đến năm 2029” nêu rõ, mục tiêu của ngành Công nghiệp Dệt – May đến năm 2029 là: “hướng ra xuất khẩu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ, đảm bảo cân đối trả nợ và tái sản xuất mở rộng các cơ sở sản xuất của ngành, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước về số lượng, chủng loại và giá cả; từng bước đưa ngành Công nghiệp Dệt – May Việt Nam trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, thực hiện đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Mục tiêu này được cụ thể hoá đến năm 2029 với các chỉ tiêu như sau:

  1. Sản xuất: Vải lụa thành phẩm 1.400 triệu m2; dệt kim 500 triệu sản phẩm; may mặc 1.500 triệu sản phẩm.
  2. Kim ngạch xuất khẩu : 8.000 đến 9.000 triệu USD, đạt mức tăng trưởng 20%/năm
  3. Sử dụng lao động: Thu hút 4,0 đến 4,5 triệu USD
  4. Tỷ lệ giá trị sử dụng nguyên phụ liệu nội địa trên sản phẩm dệt may xuất khẩu: Trên 75%
  5. Vốn đầu tư phát triển: Tổng vốn đầu tư phát triển ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2025-2029 khoảng 000 tỷ đồng, trong đó Tổng công ty Dệt may Việt Nam khoảng 9.500 tỷ đồng.

2. Ngành công nghiệp phụ trợ dệt may

2.1. Dự báo phát triển:

Song song với cơ hội cất cánh của ngành dệt may Việt Nam, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may cũng được dự báo sẽ có những bước phát triển đột phá. Tuy thực trạng hiện nay ngành đang gặp nhiều khó khăn nhưng trong tương lai, khi các yếu tố đầu vào và các yếu tố phụ trợ phát triển thì ngành sẽ có rất nhiều thuận lợi trong việc mở rộng sản xuất.

Chẳng hạn, Việt Nam đang thực hiện chương trình phát triển công nghiệp hóa dầu. Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã được chính thức khởi công 12/2024 và theo kế hoạch sẽ đi vào hoạt động năm 2028, sẽ phục vụ cung cấp các sản phẩm hoá dầu để Việt Nam có thể chủ động sản xuất và tự đáp ứng nhu cầu về xơ sợi tổng hợp.

Bên cạnh đó, chương trình phát triển cây bông đến năm 2029 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã được đưa vào thực hiện và có những kết quả bước đầu. Hiện nay Việt Nam đã tạo ra được giống bông kháng sâu, rầy, có tiềm năng năng suất cao, chất lượng xơ tốt, đồng thời chủ động áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh (mà không bị chi phối bởi các yếu tố thời tiết) như bón phân đầy đủ, trồng dày và phun Pix hợp lý, bên cạnh đó không thực hiện trồng tràn lan mà từng bước tuyển chon các hộ nông dân có điều kiện trồng bông và những vùng đất có điều kiện tưới nước, thích hợp hơn với cây trồng.

Về nguồn lực lao động, hiện nay 42 triệu người trong độ tuổi lao động là một lợi thế của Việt Nam. Mặc dù ngành đang gặp nhiều khó khăn vì khan hiếm lao động tay nghề cao, có chuyên môn tốt, nhưng hiện nay đang có nhiều dự án đào tạo lao động bậc cao, điển hình như các dự án: Dự án đầu tư mở rộng Trường cao đẳng Công nghiệp Dệt May thời trang Hà Nội và trường cao đẳng Công nghiệp Dệt May thời trang Thành phố Hồ Chí Minh với tổng mức đầu tư 124 tỷ đồng.[43]

Trong tương lai không xa ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Hiện nay đã có rất nhiều dự án, đề án trình lên Bộ, ngành các cấp hoặc đang đi vào hoạt động như:

  • Dự án đầu tư nhà máy nhuộm in hoa hoàn tất 25 triệu m2/năm, trung tâm xử lý nước thải 5.000 m3/ngày đêm do liên doanh giữa Tổng công ty Phong Phú với Tập đoàn ITG Hoa Kỳ thực hiện tại khu công nghiệp Hoà Khánh, Đà Nẵng;
  • Dự án liên doanh sản xuất vải Denim 30 triệu m2/năm tại khu công nghiệp Hoà Xá, Nam Định giữa Tập đoàn Dệt may Việt Nam, công ty TNHH Thiên Nam và đối tác Hàn Quốc;
  • Dự án đầu tư 5 vạn cọc sợi và nhà máy may xuất khẩu tại Hưng Yên của công ty dệt kim Đông Xuân;
  • Dự án đầu tư 10 vạn cọc sợi tại Hà Tĩnh của Tổng công ty dệt may Hà Nội và 3 vạn cọc sợi của liên doanh cổ phần dệt Việt Thắng và cổ phần sợi Phú Bài tại Thừa Thiên Huế; Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
  • Dự án đầu tư 4 vạn cọc sợi, công suất 4.000 tấn/năm, tổng mức đầu tư 256,7 tỷ đồng gồm 2 vạn cọc đã thực hiện tại khu công nghiệp Phú Bài và 256,7 tỷ đồng gồm 2 vạn cọc đã thực hiện tại khu công nghiệp Phú Bái và 2 vạn cọc còn lại đang được triển khai đầu tư tại Tổng công ty cổ phần Dệt may Hòa Thọ.

Ngoài ra, ngay từ đầu năm 2025, Tổng công ty dệt may Việt Nam (Vinatex) đã tập trung thực hiện 33 dự án chuyển tiếp với tổng mức đầu tư 3.345,2 tỷ đồng. Phê duyệt 6 dự án với tổng mức đầu tư 95,47 tỷ đồng và phê duyệt chủ trương cho 10 dự án để các doanh nghiệp tự đầu tư theo phân cấp. Riêng Vinatex sẽ tập trung xây dựng 4 cụm dệt may là: cụm dệt may Phố Nối B (Hưng Yên); cụm dệt may Hoà Xá (Nam Định); cụm dệt may Hoà Khánh (Đà Nẵng); cụm dệt may Nhơn Trạch (Thành phố Hồ Chí Minh). Các cụm công nghiệp này được đầu tư theo hướng khép kín từ khâu sản xuất sơ, sợi đến dệt vải và nhuộm hoàn tất. Mỗi cụm công nghiệp sẽ xây dựng 01 nhà máy sản xuất xơ polyester công suất 300 tấn/năm; 01 nhà máy sản xuất vải mộc công suất 30 triệu m2/năm; 01 nhà máy nhuộm hoàn tất với công suất tương đương sản lượng vải là 30 triệu m2/ năm.[43]

Khi các dự án này đã hoàn tất và các cụm công nghiệp đi vào hoạt động, năng lực sản xuất của ngành sẽ tăng lên đáng kể trong thời gian tới, thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam.

2.2. Quan điểm phát triển:

Trước hết, công nghiệp phụ trợ dệt may nhằm mục đích hỗ trợ cho ngành côn nghiệp dệt may. Chính phủ Việt Nam khẳng định: ngành công nghiệp phụ trợ dệt may chính là tấm đệm, bệ phóng để đẩy nhanh quá trình phát triển của ngành dệt may đồng thời giúp ngành dệt may có thể phát triển bền vững, làm chủ quá trình sản xuất, nâng cao vị thế của dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Bùi Xuân Khu nhận xét “sản phẩm nào cũng cần có công nghiệp phụ trợ, bởi đây là ngành sản xuất thiết bị cho công nghiệp, tức đầu vào của sản phẩm công nghiệp. Phát triển công nghiệp phụ trợ là động lực để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, là vệ tinh cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp lớn trong tương lai”[43]. Công nghiệp phụ trợ muốn trở thành động lực thực sự cho ngành công nghiệp chính thì phải đảm bảo 2 yếu tố: chất lượng và thời gian giao hàng. Hàng dệt may Việt Nam được định hướng là để đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài, do đó các sản phẩm phụ trợ cho hàng dệt may phải có chất lượng tốt, đáp ứng được yêu cầu của các đơn hàng xuất khẩu, việc sản xuất sản phẩm phụ trợ phải ổn định, đảm bảo đúng tiến độ. Hơn nữa, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may phải đáp ứng được yêu cầu phát triển theo chiều hướng thời trang hoá của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Thứ hai, phát triển công nghiệp phụ trợ cần lấy thay thế nhập khẩu làm động lực, trong đó tiềm năng ở khối dân doanh. Theo Thứ trưởng Bùi Xuân Khu, Việt Nam cần xác định rõ mục tiêu của công nghiệp phụ trợ trong giai đoạn đầu là thay thế nhập khẩu.

Xác định định hướng phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may trong thời gian tới là để thay thế nhập khẩu là rất đúng mực. Định hướng này sẽ giúp đặt ra các mục tiêu chính xác, gần gũi với thực tiễn của Việt Nam hơn, hiện nay, các nguồn lực của Việt Nam chưa cho phép chúng ta đẩy mạnh xuất khẩu nguyên phụ liệu ra nước ngoài. Nếu ngành dệt may tự đặt cho mình mục tiêu này thì có thể dẫn đến việc kỳ vọng quá mức và phải “gồng mình” lên để đầu tư đồng thời phải sử dụng vốn – đáng lẽ dành đầu tư cho nhiều ngành khác – vào tập trung sản xuất công nghiệp phụ trợ dệt may để xuất khẩu. Điều này có thể dẫn đến việc phân bổ đầu tư không hợp lý trong nội bộ nền kinh tế, không phát huy được hiệu quả đồng vốn, bản thân ngành công nghiệp phụ trợ dệt may có thể sẽ trở thành “con nợ” của nhiều chủ đầu tư. Việc sản xuất các sản phẩm phụ trợ thay thế nhập khẩu, cung ứng đầy đủ nhu cầu nguyên liệu trong nước là một chiến lược “lấy ngắn nuôi dài”, tích luỹ tư bản, công nghệ, kinh nghiệm để có thể tiến tới xuất khẩu trong một thời gian nữa.

Việc xác định tiềm năng phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may nằm ở khối dân doanh cũng là một quan điểm hết sức đúng đắn, phù hợp với xu hướng phát triển chung về công nghiệp phụ trợ trên thế giới. Điều này làm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, đồng thời các doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc sản xuất kinh doanh, nhằm tạo ra một môi trường ngành năng động, tăng sức cạnh tranh của toàn ngành.

Thứ ba, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may là phải có chọn lọc, không đầu tư phát triển tràn lan. Các chuyên gia cho rằng, bất kỳ quốc gia sản xuất dệt may nào, thậm chí cả Trung Quốc cũng phải nhập khẩu một số nguyên phụ liệu, phụ kiện nhất định. Ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam không thể sản xuất tất cả các sản phẩm phụ trợ. Trong giai đoạn hiện nay, phải đặc biệt dành ưu tiên cho sản xuất vải bởi vì vải là “khâu đột phá quan trọng quyết định việc tăng tỷ lệ hàng F.O.B (xuất khẩu trực tiếp)”. Hàm lượng giá trị của vải trong một sản phẩm may mặc là rất cao. Do đó, ngành sẽ tập trung ưu tiên phát triển sản xuất một số mặt hàng chủ lực, thông dụng, có yêu cầu số lượng cao ở các doanh nghiệp may xuất khẩu như vải bông, bông pha. Ngoài ra, nghiên cứu sản xuất các loại vải chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu may thời trang. Chọn khâu nhuộm, hoàn tất là khâu then chốt để thực hiện chuyên môn hoá sản xuất và kinh doanh, nhằm nâng cao chất lượng, đẳng cấp mặt hàng và hạ giá thành sản phẩm. Hơn nữa, nếu không có sự qui hoạch rõ ràng, sẽ dễ dẫn đến tình trạng sản xuất không cân đối theo kiểu có những sản phẩm doanh nghiệp nào cũng sản xuất, trong khi có những sản phẩm lại không có doanh nghiệp nào làm cả.

Thứ tư, đầu tư phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may phải gắn liền với phát triển bền vững. Bảo vệ môi trường là một yêu cầu quan trọng trong việc xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ, nhất là trong bối cảnh các thảm hoạ môi trường liên tiếp xảy ra, đe doạ cuộc sống của con người. Hiện nay, có nhiều khu vực dân cư gần các khu công nghiệp bị ô nhiễm nước thải, hoá chất, khí độc do việc xây dựng các khu công nghiệp không hợp lý. Do vậy, Chính phủ qui hoạch xây dựng các khu công nghiệp sản xuất công nghiệp phụ trợ phần lớn ở xa trung tâm các đô thị lớn, các khu dân cư đông đúc. Các doanh nghiệp chuyên ngành sợi, dệt, nhuộm và hoàn tất vải sẽ phải tập trung xây dựng các khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng đủ điều kiện cung cấp điện, nước, xử lý nước thải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường theo qui định của Nhà nước.

2.3. Mục tiêu: Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Nhằm cụ thể hoá các quan điểm phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may như trên, Chính phủ Việt Nam đã đề ra các mục tiêu cụ thể đối với ngành công nghiệp phụ trợ dệt may, phản ánh trong “Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt qui hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Dệt – May đến năm 2029”:

Đến năm 2029, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may phải đáp ứng được mục tiêu tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm dệt may là 75%, trong đó: Bông xơ đạt 80.000 tấn; xơ sợi tổng hợp 120.000 tấn; sợi các loại 300.000 tấn, vải lụa thành phẩm 1.400 triệu m2.

Trong dài hạn, mục tiêu đến năm 2035 đạt 39% và năm 2040 đạt 40% nhu cầu vải dệt thoi; đến năm 2029 tự sản xuất trong nước từ 10-70% tuỳ loại phụ tùng cơ khí dệt may và 40-100% vào năm 2040; năm 2035 đáp ứng 50% nhu cầu nội địa về các sản phẩm xơ và sợi tổng hợp, năm 2040 đáp ứng 80% nhu cầu nội địa và tiến tới xuất khẩu sau năm 2040.

Để thực hiện mục tiêu trên, ngành dệt may sẽ thực hiện tập trung 10 cụm công nghiệp dệt gồm 4 cụm phía Bắc (Hà Nôi – Hà Tây – Vĩnh Phúc, Phố Nối Hưng Yên, Thái Bình – Nam Định, Lệ Môn Thanh Hoá); 2 cụm miền Trung (Huế – Đà Nẵng – Khánh Hoà; Dung Quất Quảng Ngãi) và 4 cụm miền Nam (Thành phố Hồ Chí Minh, Nhơn Trạch, Bình An Bình Dương, Biên Hoà Đồng Nai), trong đó mỗi cụm sẽ bao gồm:

  • Nhà máy kéo sợi 2 đến 3 vạn cọc 200 tấn/năm
  • Nhà máy dệt vải mộc cho áo sơmi (vải nhẹ) 10 triệu m2/năm
  • Nhà máy dệt vải mộc cho quần âu (vải nặng) 10 triệu m2/năm
  • Nhà máy nhuộm và hoàn tất cho vải bông 25 triệu m2/năm
  • Nhà máy dệt, nhuộm, hoàn tất vải tổng hợp 20 triệu m2/năm

Bên cạnh đó Hiệp hội dệt may Việt Nam cũng đã đề ra một số chương trình trọng điểm trong giai đoạn 2026-2029. Cụ thể:

  • Chương trình đầu tư sản xuất nguyên liệu: đầu tư sản xuất xơ sợi tổng hợp đủ sức cung ứng nhu cầu dệt. Phát triển bông xơ nội địa đáp ứng 15% nhu cầu kéo sợi năm 2029.
  • Chương trình đầu tư phát triển 1 tỷ mét vải phục vụ may mặc xuất khẩu vào năm 2035.
  • Chương trình đầu tư hạ tầng, xây dựng 3 khu công nghiệp dệt nhuộm có hạ tầng cấp nước sạch và xử lý nước thải để thu hút đầu tư.

Đây là những mục tiêu hết sức phù hợp với lộ trình phát triển ngành dệt may, để Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu dệt may hàng đầu trong thời gian tới. Nhưng xét trong tình hình sản xuất công nghiệp phụ trợ dệt may trong thời gian qua, mục tiêu đến năm 2029 có vẻ quá cao đối với thực tiễn của ngành. Hiện nay, ngành mới chỉ đáp ứng được từ 20-30% nhu cầu nguyên phụ liệu dệt may, như vậy để đạt được mục tiêu tỷ lệ nội địa hoá 75% trong năm 2029, và 80% trong năm 2040 và tiến tới xuất khẩu nguyên phụ liệu dệt may sau năm 2040, bắt buộc ngành phải có những bước tiến nhảy vọt. Tuy nhiên, đây hoàn toàn không phải là mục tiêu không thể đạt được, nếu có được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ Chính phủ Việt Nam, có được đường lối phát triển đúng đắn cùng những nỗ lực hết mình của các doanh nghiệp trong ngành, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam sẽ có thể đạt được những kết quả hết sức khả quan trong thời gian tới.

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ DỆT MAY TRONG THỜI GIAN TỚI. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Để thực hiện đựơc mục tiêu chiến lược đề ra đối với ngành công nghiệp phụ trợ dệt may như trên, Việt Nam cần triển khai kịp thời, đồng bộ các giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may trong thời gian tới.

Trong khoá luận này, em xin trình bày các nhóm giải pháp đối với 2 chủ thể chính trong ngành sản xuất công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam hiện nay. Đó là Nhà nước và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành.

1. Nhóm giải pháp đối với Nhà nước:

Trong mô hình kim cương của M.Porter, Nhà nước có một vai trò vô cùng quan trọng, có thể tác động, điều hành tất cả các yếu tố còn lại thông qua các hoạt động: Định hướng phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển ngành; Tạo môi trường pháp lý và kinh tế; Điều tiết hoạt động và phân phối lợi ích một cách công bằng; Kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo đúng pháp luật và chính sách đề ra.

1) Giải pháp nâng cao các yếu tố đầu vào:

Phát triển cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may đòi hỏi phải có qui mô, đồng bộ, và đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường. Như thế Nhà nước phải có các đề án xây dựng các khu công nghiệp công nghệ cao, ưu tiên đầu tư xây dựng tổng thể, đảm bảo cung ứng đầy đủ điện, nước, ở vị trí địa lý thuận lợi cho việc vận chuyển và thông tin liên lạc.

Chính phủ không nên đầu tư xây dựng tràn lan các khu công nghiệp mà đầu tư có chọn lọc vào một số khu công nghiệp chính có nhiều điều kiện thuận lợi về sản xuất dệt may. Hơn nữa trong giai đoạn đầu nên tập trung xây dựng các khu công nghiệp sản xuất và chế biến vải từ các khâu kéo sợi, sản xuất vải mộc đến in, nhuộm, hoàn tất.

Để đảm bảo tính liên kết và chuyên môn hoá sâu trong ngành công nghiệp phụ trợ dệt may, Chính phủ cần qui hoạch các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ trợ gần các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dệt may.

Phát triển nguồn vốn: Theo ước tính của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương), đến năm 2029 nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành dệt may vào khoảng 3 tỷ USD, trong đó riêng vốn đầu tư cho hoạt động sản xuấ nguyên liệu chiếm khoảng gần 90%, cụ nguyên liệu dệt chiếm khoảng 180 triệu USD; các dự án dệt nhuộm 2.275 triệu USD [44]

Đây quả là một con số khổng lồ, là bài toán nan giải đối với ngành dệt may nói chung và ngành công nghiệp phụ trợ dệt may nói riêng. Do vậy, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích huy động vốn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn từ nhiều nguồn ngoài xã hội. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Thứ nhất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay vốn. Các dự án đầu tư phát triển trong ngành công nghiệp phụ trợ dệt may đa phần là các dự án có nhu cầu vốn lớn so với các dự án đầu tư vào ngành may đồng thời thời gian hoàn vốn tương đối dài (trung bình 10-15 năm), như vậy Nhà nước cần ưu tiên bố trí các nguồn vốn dài hạn (có thể là trên 10 năm) với lãi suất cạnh tranh đối với các dự án này.

Hiện nay, các dự án đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất: sợi, dệt, in nhuộm hoàn tất, nguyên liệu dệt, phụ liệu may và cơ khí dệt may được hưởng các ưu đãi đầu tư như sau:

  • Được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, trong đó 50% vay với lãi suất bằng 50% mức lãi suất theo qui định hiện hành tại thời điểm rút vốn, thời hạn vay 12 tháng, 3 năm ân hạn; 50% còn lại được vay theo qui định của Quỹ Hỗ trợ phát triển;
  • Được coi là lĩnh vực ưu đãi đầu tư và được hưởng các ưu đãi đầu tư theo qui định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước.
  • Trong trường hợp cần thiết, được Chính phủ bảo lãnh khi mua thiết bị trả chậm, vay thương mại của các nhà cung cấp hoặc tổ chức tài chính trong và ngoài nước;
  • Được cấp lại tiền thu sử dụng vốn trong thời hạn 5 năm (2020-2024) để tái đầu tư;
  • Được ưu tiên cấp bổ sung một lần đủ 30% vốn lưu động đối với từng doanh nghiệp [18]

Đây là một chính sách hết sức ưu đãi đối với ngành công nghiệp phụ trợ dệt may. Tuy nhiên, lại không phải là một biện pháp khả thi về lâu dài, bởi hiện nay Việt Nam đã là thành viên của WTO, do đó các biện pháp trên được xem là các biện pháp trợ giá của Chính phủ và sẽ bị các quốc gia nhập khẩu áp dụng các biện pháp tự vệ và trả đũa, lúc đó sẽ gây nhiều bất lợi cho ngành dệt may. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Thứ hai, cổ phần hoá các doanh nghiệp không cần thiết có vai trò chủ đạo của Nhà nước nhằm thu hút vốn đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ từ kênh chứng khoán. Tuy nhiên muốn cổ phần hoá thành công các doanh nghiệp dệt may cần đặc biệt quan tâm đến sự minh bạch về tài chính của các doanh nghiệp này.

Thứ ba, áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đây chính là biện pháp lâu dài để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, thu hút FDI không phải là việc dễ dàng. Trong “thế giới phẳng” ngày nay, như các học giả kinh tế trên thế giới đã đưa ra kết luận, đồng vốn chảy về nơi có tỷ suất sinh lời cao và môi trường đầu tư thuận lợi, do đó nhà nước cần áp dụng các biện pháp cần thiết sau:

  • Tạo ra một môi trường đầu tư công bằng, minh bạch trong mắt các nhà đầu tư.

Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, được giới đầu tư nhận xét là một nước có môi trường chính trị, an ninh ổn định, tốc độ tăng trưởng cao.Tuy nhiên, ở Việt Nam nổi cộm lên vấn đề nan giải là tệ nạn tham nhũng, quan liêu còn phổ biến. Đây là sức cản lớn đối với đầu tư nước ngoài. Năm 2024, chỉ số về tham nhũng (Corruption Perception Index – do Tổ chức Minh Bạch Quốc tế đánh giá) của Việt Nam chỉ ở mức 2,6 điểm trên thang điểm 10, trong đó 10 điểm là mức tiêu chuẩn cao nhất. Mức điểm này của Việt Nam xấu hơn rất nhiều so với các quốc gia trong khu vực vốn cũng bị lên án vì tệ quan liêu tham nhũng.

Để thu hút đầu tư, thời gian tới Chính phủ cần cương quyết bài trừ các tệ nạn nêu trên, tinh giảm bộ máy biên chế Nhà nước hiện đang rất cồng kềnh hiện nay. Rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư, giải quyết một số vần đề còn tồn đọng hiện nay liên quan đến giải phóng mặt bằng.

Xem xét lại hành lang pháp lý liên quan đến đầu tư nước ngoài, sửa đổi một số luật lệ phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu hướng chung trên thế giới để tạo ra hệ thống pháp luật rõ ràng, ổn định vì theo đánh giá của các nhà đầu tư hệ thống luật pháp Việt Nam còn phức tạp, hay thay đổi, việc thực thi pháp luật còn kém.

Đồng thời Chính phủ cần kịp thời kiện toàn các chính sách về thu hút vốn đầu tư, cần sớm hoàn thiện và ban hành Luật khuyến khích đầu tư chung áp dụng cho mọi đối tượng bao gồm cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Đưa công nghiệp phụ trợ vào lĩnh vực được ưu đãi đầu tư. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Ngăn ngừa và hạn chế tối đa lạm phát cũng là một nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ. Khi đầu tư vào Việt Nam, các nhà đầu tư quan tâm đến giá trị đồng vốn đó khi họ rút chúng ra. Hiện nay, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam còn cao, đồng nội tệ liên tục bị mất giá, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến thu hút FDI. Theo thời báo Saigontime, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam trong những năm qua là:

  • Bảng 3.1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua (2023-2026)

Thứ tư, khuyến khích các thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước tham gia. Để khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân trong nước, Nhà nước cần:

Giảm bớt các thủ tục phiền hà khi các doanh nghiệp đệ trình dự án đầu tư vào ngành, miễn phí thẩm tra dự án, giảm thiếu tiến tới xoá bỏ các các điều kiện làm phát sinh chi phí ẩn đối với doanh nghiệp.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển; nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản để thành lập hệ thống ngân hàng phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Có một số ưu đãi về thuế: Nhà nước có thể xem xét miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các đơn vị sản xuất sản phẩm phụ trợ dệt may trong một khoảng thời gian nhất định, có thể là từ 3-5 năm, số tiền này có thể quy định là để tái đầu tư. Hoặc Nhà nước cho phép hoàn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản lợi nhuận liên quan đến tái đầu tư. Tuy nhiên, việc miễn giảm thuế chỉ là biện pháp tạm thời do biện pháp này thuộc danh mục các chính sách sẽ bị bãi bỏ dần dần khi Việt Nam là thành viên của WTO.

Đối với thuế VAT, Chính phủ nên cho phép áp dụng cơ chế đối với vải và phụ liệu may sản xuất trong nước nếu bán cho các đơn vị sản xuất gia công hàng xuất khẩu tại Việt Nam được hưởng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng như đối với hàng xuất khẩu.

Ngoài ra, có thể áp dụng chính sách miễn thuế xuất khẩu đối với các doanh nghiệp bán hàng cho khu chế xuất hoặc các doanh nghiệp may xuất khẩu. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

  • Có các hỗ trợ về kỹ thuật, công nghệ đối với các doanh nghiệp. Nhà nước chỉ đạo cho Hiệp hội xây dựng các trung tâm thông tin, tư vấn để giúp các doanh nghiệp thường xuyên cập nhật, nghiên cứu về xu hướng đầu tư phát triển các kỹ thuật chuyên ngành trong thiết bị và công nghệ sản xuất. Ngoài ra Nhà nước nên tiếp tục duy trì các hội chợ triển lãm công nghệ để các doanh nghiệp có cơ hội giao lưu học hỏi với các nhà cung cấp thiết bị trên thế giới.
  • Có các hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực quản lý của các doanh nghiệp: Nhà nước chỉ đạo Hiệp hội tổ chức các khoá học đào tạo, nâng cao chất lượng quản lý trong ngành.

Phát triển nguồn nguyên liệu thô: Đối với các nguyên liệu đầu vào như sắt, thép, Nhà nước cần phải kiểm soát giá cả chặt chẽ, tránh tình trạng leo thang giá cả từng ngày.

Nhà nước cần qui hoạch và khuyến khích đầu tư xây dựng các trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu dệt may tại các vùng trọng điểm dệt may, các trung tâm này giúp cho các nhà cung ứng gặp gỡ được các doanh nghiệp dệt may có nhu cầu. Như vậy sẽ giúp cho các doanh nghiệp dệt may chủ động được nguyên phụ liệu đầu vào, giảm bớt các chi phí trong khâu tìm mua nguyên phụ liệu. Đồng thời giúp các nhà sản xuất nguyên phụ liệu tìm được đầu ra cho sản phẩm của mình, tạo ra một chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành để đáp ứng được các đơn hàng khổng lồ theo yêu cầu của đối tác.

Đối với nguyên liệu bông: Nhà nước cần qui hoạch mở rộng các vùng trồng bông hiện nay như Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và phát triển mới vùng trồng bông tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đồng thời cho xây dựng các nhà máy chế biến bông tại các vùng trồng bông. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Vì bông là giống cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, vì vậy Nhà nước cần chỉ đạo cho Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn và Viện bông nghiên cứu lai tạo một giống bông có khả năng thích ứng với thời tiết cao hơn đồng thời có năng suất cao hơn. Điều cần tập trung là hiệu quả của việc trồng bông, phải nghiên cứu thổ nhưỡng từng vùng để gieo từng giống bông trồng phù hợp.

Đối với bà con nông dân, để họ có phương pháp sản xuất đúng, Nhà nước cần phải hỗ trợ về giống, kỹ thuật trồng và các công nghệ mới trong các công đoạn trồng bông từ tỉa hạt, tưới tiêu, thu hoạch, sấy khô. Phải kịp thời cử cán bộ kỹ thuật đến hướng dẫn và giúp bà con giải quyết các vấn đề liên quan đến trồng và chăm sóc bông. Cần khuyến khích bà con canh tác theo mô hình trang trại nhằm tận dụng lợi thế của qui mô sản xuất và khả năng áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật tiên tiến.

Ngoài ra, cần phải trợ giá giống, phân bón và bao tiêu đầu ra cho bà con trong tình hình giá đầu vào tăng cao trong khi giá bông sụt giảm như hiện nay. Nhà nước cũng nên cho phép quĩ hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp lập quĩ bảo lãnh tín dụng để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư tín dụng cho nông dân trồng bông; lập quĩ bảo hiểm về giá cho người trồng bông với giá thu mua bông.

  • Tơ tằm: Nhà nước cần có các dự án quy hoạch các vùng trồng dâu nuôi tằm hiện nay, đồng thời chỉ thị cho Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn nỗ lực nghiên cứu tìm ra một giống tằm mới có khả năng thích nghi cao hơn với thời tiết, cho năng suất kén cao hơn.
  • Đối với các sản phẩm hoá dầu, Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp hóa dầu đồng bộ làm nền tảng cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất các nguyên liệu tổng hợp, các loại hoá chất tẩy nhuộm và thực hiện thu hút đầu tư vào các dự án sản xuất xơ tổng hợp. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Phát triển công nghệ: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI có các dự án chuyển giao công nghệ khuyến khích chuyển giao công nghệ hiện đại vào sản xuất tại Việt Nam, đặc biệt thúc đẩy “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản”, tăng cường thu hút nguồn vốn ODA, thành lập các trung tâm công nghệ cao, tư vấn cho các doanh nghiệp về công nghệ.

Bên cạnh đó Nhà nước cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo chuẩn quốc tế làm căn cứ cho việc định hướng phát triển; hỗ trợ phát triển và nâng cấp các tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng sản phẩm trong ngành, hỗ trợ chi phí mua bản quyền cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển công nghệ.

Ngoài ra, học tập kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực, Nhà nước nên xây dựng các viện nghiên cứu công nghệ dệt may

Phát triển nguồn nhân lực: Nhà nước cần nâng cao chất lượng dạy và học tại các trường đại học, cao đẳng, trung tâm đào tạo nghề. Có phương án thuê các chuyên gia nước ngoài về trực tiếp giảng dạy để nâng cao chất lượng chuyên môn và giúp sinh viên nắm bắt được xu hướng khoa học công nghệ mới trong ngành dệt may.

Tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thuật các ngành thiết kế, chế tạo máy, luyện kim, điều khiển tự động, điện tử tin học để làm chủ các công nghệ được chuyển giao, nghiên cứu thiết kế ra công nghệ nguồn và kiểu dáng sản phẩm riêng của Việt Nam.

Giải quyết tốt các chế độ phúc lợi xã hội, nhà ở, bảo hiểm và các chính sách tiền lương thoả đáng để nâng cao năng suất lao động và đời sống nhân dân, đồng thời có các chính sách chăm sóc sức khoẻ cho người lao động.

2) Thúc đẩy các chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh lành mạnh trong ngành công nghiệp phụ trợ dệt may.

  • Trước hết Nhà nước cần kịp thời nghiên cứu, hoàn thiện đầy đủ các văn bản pháp luật về ngành công nghiệp phụ trợ, trong đó có ngành công nghiệp phụ trợ dệt may, bao gồm cả các qui định về thị trường vốn, chính sách thuế và luật chống độc quyền, từ đó, ngành có các cơ sở pháp lý để xây dựng chiến lược, cơ cấu hợp lý trong nội bộ ngành.
  • Nhà nước phải có các biện pháp tích cực để phòng chống buôn lậu, đặc biệt là qua con đường tiểu ngạch, hàng hoá từ Trung Quốc tràn sang. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.
  • Nhà nước cần đề ra các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với các doanh nghiệp trong ngành, tạo ra sức ép khiến các doanh nghiệp phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm.
  • Nhà nước cần đối xử bình đẳng các doanh nghiệp quốc doanh và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, quan hệ giữa các doanh nghiệp thuần tuý là quan hệ về kinh tế, do các quy luật của thị trường tạo ra, nhằm phát triển môi trường cạnh tranh lành mạnh.

3) Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan đến ngành công nghiệp phụ trợ dệt may

  • Nhà nước cần có một chiến lược dài hạn, tổng thể đối với tổng thể nền kinh tế đặc biệt đối với các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan đến ngành công nghiệp phụ trợ dệt may, tạo ra một sự phát triển hợp lý, bền vững, hỗ trợ, liên kết lẫn nhau giữa các ngành công nghiệp trong nền kinh tế.
  • Đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của ngành hoá dầu, sản xuất thép, hoá chất, cơ khí, vận tải, thông tin liên lạc…

4) Phát triển thị trường cho ngành công nghiệp phụ trợ dệt may

Thị trường quan trọng nhất của ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam là các doanh nghiệp dệt may trong nước. Các doanh nghiệp dệt may càng “ăn nên làm ra”, đơn hàng càng nhiều, thị trường cho ngành công nghiệp phụ trợ dệt may càng rộng lớn.

Do đó, trước hết cần chú tâm phát triển thị trường xuất khẩu cho ngành dệt may. Chính phủ cần chỉ đạo các doanh nghiệp dệt may đa dạng hoá các thị trường xuất khẩu, nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng giao hàng đúng thời hạn để nâng cao uy tín của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trên thế giới. Ngoài ra, cần chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu dệt may Việt Nam để dệt may Việt Nam có được chỗ đứng ổn định, vững chắc trên thị trường thế giới. Việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu dệt may cũng rất quan trọng, tránh tình trạng phụ thuộc vào thị trường Mỹ như hiện nay, ngoài ra nên mở rộng sang các thị trường mà từ trước đến này dệt may Việt Nam chưa xuất khẩu.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần chỉ đạo Hiệp hội dệt may lập ra các dự án để từng bước phục hồi lại thị trường nội địa. Thị trường trong nước với gần 82 triệu dân là một thị trường vô cùng tiềm năng đối với ngành dệt may.

2. Nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất sản phẩm phụ trợ dệt may. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Mỗi ngành nghề khi có được sự hậu thuẫn của Nhà nước đều có tiềm năng phát triển. Tuy nhiên nội lực mới là yếu tố quyết định cho sức cạnh tranh của ngành. Nội lực đó nằm trong bản thân các doanh nghiệp. Để tăng sức mạnh của ngành, hơn ai hết các doanh nghiệp cần củng cố, kiện toàn lại bộ máy sản xuất của mình, có các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ dệt may cũng không nằm ngoài qui luật đó.

Phát triển nguồn vốn: Các doanh nghiệp không nên ỷ lại, chờ vào nguồn ngân sách rót xuống của Nhà nước mà nên tích cực tìm kiếm các nguồn vốn để chủ động sản xuất và đầu tư mở rộng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.

Các doanh nghiệp nên đa dạng nguồn vốn đầu tư đồng thời đa sở hữu các nguồn vốn đầu tư. Chẳng hạn, nếu cần 100 đồng vốn cho dự án thì vốn chủ sở hữu là 30%, vốn vay thương mại là 70%.

Doanh nghiệp cần huy động mọi nguồn lực tự có trong công ty như nguồn quĩ khấu hao cơ bản, vốn có được bằng việc bán, cho thuê các tài sản không dùng đến, giải phóng hàng tồn kho, huy động từ các cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp, thậm chí từ quĩ hưu trí của các cán bộ công nhân viên đã về hưu.

Bên cạnh đó cần kêu gọi vốn từ các nhà đầu tư thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu từ kênh thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, như người viết đã trình bày ở trên, nguồn vốn chỉ chảy về nơi có tỷ suất lợi nhuận trên một đồng vốn đầu tư cao. Do đó các doanh nghiệp phải đặc biệt xem xét, cất nhắc việc phân chia cổ tức vừa để hấp dẫn các nhà đầu tư, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Một số công ty cổ phẩn của Vinatex đã chia cổ tức là 12%/năm, thậm chí có một số công ty chia cổ tức 15-27%. Đây cũng là một tỷ lệ mà các doanh nghiệp nên tham khảo.

Khi đã thu hút được một lượng vốn đầu tư nhất định, các doanh nghiệp cũng nên cân nhắc đối với danh mục đầu tư. Các doanh nghiệp không nên đầu tư ồ ạt vào sản xuất tất cả các mặt hàng, mà nên chuyên môn hoá một vài sản phẩm là thế mạnh của doanh nghiệp mình. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Phát triển nguồn nhân lực: Các doanh nghiệp cũng nên chủ động đối với việc phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp mình. Bên cạnh những chính sách thu hút lao động hợp lý, các doanh nghiệp phải biết “giữ chân” được lao động giỏi trong doanh nghiệp mình bằng những chính sách ưu đãi cụ thể tuỳ theo đặc điểm từng doanh nghiệp và bằng văn hoá doanh nghiệp của đơn vị mình. Vì hiện nay người lao động không chỉ quan tâm đến chế độ lương bổng mà họ còn thực sự chú trọng đến môi trường làm việc, đến văn hoá làm việc của công ty mình.Ở đây, em xin đưa ra một số giải pháp như sau:

Các doanh nghiệp nên liên kết với các trung tâm đào tạo để có chiến lược đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp mình. Nên đầu tư một số quỹ học bổng để khuyến khích sinh viên nỗ lực rèn luyện ngay từ khi đang ngồi trên giảng đường, đồng thời tạo các cơ hội thực tập, kiến tập tại các cơ sở sản xuất nhằm giúp sinh viên có những kiến thức thực tế.

Có các chính sách thu hút lao động hợp lý, tạo ra các ưu đãi đối với người lao động về lương thưởng, giờ làm, chăm sóc sức khoẻ, thai sản…Có tổ chức công đoàn đứng ra bảo vệ quyền lợi của người lao động. Hơn nữa nên chăm lo đời sống sinh hoạt của người lao động, hiện nay một số doanh nghiệp có các biện pháp độc đáo để thể hiện sự quan tâm của mình đến người lao động như: quĩ khen thưởng con em các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp có thành tích học tập tốt, quĩ hiếu hỉ…

  • Tổ chức các cuộc thi tay nghề giỏi trong doanh nghiệp để người lao động có cơ hội chứng tỏ năng lực của mình, đồng thời tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong toàn doanh nghiệp.
  • Chủ động thuê các chuyên gia nước ngoài về đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật cho các lao động trong doanh nghiệp.

Phát triển công nghệ: Công nghệ là yếu tố sống còn trong việc sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho ngành dệt may, vì phần lớn các sản phẩm này đòi hỏi hàm lượng công nghệ cao.

  • Các doanh nghiệp nên mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Xem chất lượng sản phẩm là trọng tâm của đổi mới công nghệ. Tuy như thế có thể làm tăng giá thành sản phẩm, nhưng so với các sản phẩm đồng loại với chất lượng tương đương các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ trong nước vẫn có thể cạnh tranh được vì chúng ta không mất nhiều chi phí vận chuyển, môi giới bằng.
  • Các doanh nghiệp nên tích cực tham gia các triển lãm hội chợ quốc tế về công nghệ để có thể giao lưu học hỏi các nhà cung cấp thiết bị công nghệ tại các nước tiên tiến.
  • Các doanh nghiệp nên đứng ra tổ chức hoặc tài trợ các cuộc thi thiết kế máy móc thiết bị công nghệ.

Phát triển thị trường: Mỗi doanh nghiệp tuỳ theo đặc điểm của mình, phải xây dựng một chiến lược phát triển thị trường với 3 nội dung cụ thế: sản xuất mặt hàng nào, bán cho ai, các đối thủ cạnh tranh trong phân khúc thị trường của mình là ai và phải làm gì để cạnh tranh với họ. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất phụ kiện may, đối thủ cạnh tranh đối với các sản phẩm phụ kiện may như khoá kéo, khuy, nút… chủ yếu đến từ Hongkong, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, vậy các doanh nghiệp sản xuất phụ kiện may phải đối phó như thế nào? Một thuận lợi của các doanh nghiệp này là vị trí địa lý gần gũi với các doanh nghiệp may xuất khẩu nên có thể giao hàng nhanh, đúng tiến độ đồng thời nhanh chóng nhận được phản hồi từ đối tác để có những xử lý kịp thời. Ngoài ra, cước phí vận tải thấp hơn, không phải thực hiện thủ tục và nộp lệ phí hải quan… nên có thể có đề ra mức giá cạnh tranh hơn. Nên các doanh nghiệp này nên cạnh tranh bằng chất lượng, với các sản phẩm có chất lượng tương đồng thị hàng Việt Nam chắc chắn sẽ có lợi thế hơn.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất máy móc trang thiết bị dệt may, hiện nay do trình độ kỹ thuật chưa thể so sánh được với các doanh nghiệp nước ngoài có trình độ cao, thì nên có chiến lược tập trung vào các cơ sở sản xuất dệt may nhỏ lẻ, là vệ tinh cho các công ty may mặc lớn. Cụ thể, như người viết đã trình bày ở chương II, hiện nay hệ thống máy móc trang thiết bị ở các làng nghề truyền thống đang rất lạc hậu, kém hiệu quả, trong khi các hộ sản xuất thủ công ở đây không đủ điều kiện nhập khẩu máy móc tốt năng suất lao động cao nhưng giá thành cũng rất đắt đỏ từ nước ngoài. Do đó các doanh nghiệp nên tập trung nghiên cứu sản xuất máy móc cho các đối tượng tiêu thụ này.

Các doanh nghiệp cần có chiến lược quảng bá hình ảnh doanh nghiệp, giới thiệu rộng rãi đơn vị mình với các doanh nghiệp dệt may trong nước. Tích cực tham gia vào trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu dệt may, luôn lấy chất lượng và giao hàng đúng hạn làm kim chỉ nam cho hoạt động của mình, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trong ngành và trong lĩnh vực dệt may.

Phát triển liên kết giữa các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp cũng nên tạo ra mối liên kết trong ngành, cụ thể, cùng hợp tác phát triển một số lĩnh vực trong ngành. Đặc biệt các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng nên có sự liên kết, hỗ trợ nhau cùng tham gia cung ứng sản phẩm cho một đơn hàng lớn, không nên giành giật đơn hàng về doanh nghiệp mình bằng việc hạ thấp giá sản phẩm, vừa gây bất lợi cho doanh nghiệp, vừa gây bất lợi cho toàn ngành.

Bên cạnh đó, ở Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều làng nghề với các hộ gia đình sản xuất thủ công, các doanh nghiệp nên liên kết, hợp tác với các cơ sở sản xuất này để có thể giải quyết các lô hàng lớn, kịp tiến độ giao hàng. Như vậy, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ có thể trở thành vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn trong ngành.

Nâng cao quản lý doanh nghiệp và chất lượng sản phẩm. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp cần có một đội ngũ quản trị giỏi với phương pháp quản lý chất lượng sản phẩm hợp lý. Đặc biệt đội ngũ quản lý, nhất là các nhà quản lý tại các doanh nghiệp nhà nước cần có một tinh thần kinh doanh mạnh mẽ trước các khó khăn, thay đổi của thị trường, không nên xem công việc hiện thời chỉ là vị trí công tác tạm thời trước khi luân chuyển sang vị trí công tác khác hoặc về hưu. Như vậy, đối với đội ngũ quản lý, các doanh nghiệp cần giao quyền lợi và trách nhiệm một cách rõ ràng, cụ thể cho họ. Có các chính sách thưởng phạt đúng đắn, kịp thời.

Đối với biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm, khi xoá bỏ hạn ngạch, có thể các nước sẽ bảo hộ nền sản xuất trong nước bằng các biện pháp tinh vi hơn như các qui định khắt khe về môi trường, lao động. Do đó, các doanh nghiệp không những áp dụng hệ thống tiêu chuẩn ISO9000 mà cần áp dụng cả ISO14000 và SA8000 để sản phẩm của doanh nghiệp đủ tiêu chuẩn đứng vũng và phát triển trên thị trường thế giới trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xây dựng một mạng lưới thông tin điều hành nhằm nâng cao hiệu quả của việc điều hành và quản lý doanh nghiệp.

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam là một ngành công nghiệp non trẻ, đang trong giai đoạn tạo dựng hình hài nhưng lại có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế là ngành dệt may Việt Nam. Có thể nói, ngành công nghiệp phụ trợ dệt may có vai trò tạo lực đẩy để ngành công nghiệp dệt may có thể phát triển nhanh, phát triển mạnh và phát triển bền vững. Trong những năm qua, vì các điều kiện khách quan và chủ quan mà Việt Nam hầu như chưa có ngành công nghiệp dệt may, điều này đã gây ra một tác động hết sức sâu sắc đối với ngành dệt may Việt Nam. Tuy ngành dệt may đã không ngừng lớn mạnh, luôn thuộc nhóm 2 ngành công nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao nhất nhưng đây cũng là một trong những ngành có thế đứng “chông chênh” nhất khi kim ngạch xuất khẩu chủ yếu là từ gia công (chiếm 70-80% kim ngạch xuất khẩu) và phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu của nước ngoài (80-90%). Do đó, tìm kiếm các giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may là một đòi hỏi cấp bách của thực tiễn hiện nay, bởi đây cũng chính là chìa khoá để ngành dệt may có thể cất cánh trong tương lai không xa.

Trong khoá luận này, để giải quyết vấn đề về giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may em đã đưa ra 02 nhóm giải pháp cụ thể với hai chủ thể chính là Chính phủ và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành. Đó là các giải pháp về các yếu tố đầu vào; yếu tố cạnh tranh, thị trường; về liên kết hoá sản xuất, về nhân lực… Chính phủ cũng như các doanh nghiệp không nên đầu tư tràn lan mà đầu tư vào các dự án có trọng điểm nhằm phát huy hiệu quả kinh tế.

Phát triển thành công và bền vững ngành công nghiệp phụ trợ dệt may là yếu tố chủ chốt để củng cố và thúc đẩy sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam. Với chiến lược và định hướng phát triển đúng đắn của Chính phủ Việt Nam, với nỗ lực không bền bỉ của cộng đồng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may Việt Nam, việc đề xuất và thực hiện tốt các giải pháp phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam sẽ góp phần tạo dựng một ngành công nghiệp phụ trợ vững mạnh, là lực đẩy cho ngành công nghiệp dệt may cất cánh.

Để hoàn thiện khoá luận tốt nghiệp này, em đã nỗ lực hết mình để tìm tòi, nghiên cứu, đào sâu suy ngẫm vấn đề được đặt ra trong khoá luận. Em hy vọng, khoá luận là một đóng góp thiết thực về mặt nghiên cứu đối với việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may nói riêng và ngành dệt may Việt Nam nói chung. Khóa luận: Giải pháp ngành công nghiệp phụ trợ dệt may VN.

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, em không thể tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các độc giả để em có thể hoàn thiện hơn nữa nghiên cứu của mình trong tương lai.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ dệt may Việt Nam

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x