Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần điện cơ Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát chung về công ty Cổ phần điện cơ Hải Phòng
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp.
2.1.1.1. Giới thiệu chung về công ty:
- Tên doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Điện Cơ Hải Phòng.
- Tên giao dịch tiếng Anh: Hai Phong Electrical Mechanical Joint Stock Company.
- Tên viết tắt: HAPEMCO
- Vốn điều lệ đăng ký kinh doanh: 8,450 tỷ đồng.
Trong đó:
- Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ đồng – chiếm 15%
- Vốn cổ đông trong công ty: 6,266 tỷ đồng – chiếm 74,2%
- Vốn cổ đông ngoài công ty: 884 triệu đồng – chiếm 10,8%
- Trụ sở chính: Số 734 đường Nguyễn Văn Linh – Lê Chân – Hải Phòng
- Cơ sở 2: Số 20 Đinh Tiên Hoàng – Hồng Bàng – Hải Phòng
- Điện thoại: 0313.835927 hoặc 0313.78332
- Fax: 0313.857393.
- Email: saleshapemco@gmail.vnn.
2.1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty.
Khoảng chục năm nay, trên thị trường quạt điện Việt Nam đã xuất hiện vô số các loại quạt có nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Đã xa rồi cái thời mà người người, nhà nhà chung thành duy nhất với những chiếc quạt con cóc, quạt trần hay kiểu quạt bàn vừa nhỏ vừa thô của Liên Xô (cũ). Nhu cầu và thói quen tiêu dùng của người dân nay đã khác, gia đình nào cũng có ít nhất 2 đến 3 chiếc quạt, có thể là quạt Việt Nam, Trung Quốc, hay quạt Nhật, Thái Lan, Hàn Quốc với nhiều kiểu dáng, mẫu mã đẹp mắt và tiện dụng. “Quạt Phong Lan” Là một trong những thương hiệu Việt Nam khá nổi, được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng, tin dùng. Và nơi sinh ra sản phẩm này không ai khác chính là Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng.
Những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX, khi miền Bắc bước vào giai đoạn cải tạo tư bản tư doanh, chủ trương của Đảng ta lúc này là thành lập một loạt các nhà máy để sản xuất ra tư liệu sản xuất phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Trong tình hình đó Xí nghiệp Hải Phòng Điện Khí được phép thành lập theo Quyết định số 169/QĐ-TCCQ ngày 16/3/1961 cua UBND thành phố Hải Phòng. Xí nghiệp được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 cơ sở tư doanh nhỏ trong nội thành Hải Phòng là: Xưởng Công Tư hợp doanh Khuy Trai, Xưởng loa truyền thanh và Xí nghiệp 19-8. Theo quyết định thành lập và giấy phép kinh doanh thì Xí nghiệp là đơn vị duy nhất nằm trong vùng Duyên Hải sản xuất các loại quạt điện dân dụng. Từ khi thành lập cho đến nay Xí nghiệp đã trải qua nhiều nấc thăng trầm. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Đây là thời kỳ Xí nghiệp hoạt động mang tính kế hoạch hóa tập trung, thực hiện nhiệm vụ theo các chỉ tiêu của Thành phố giao. Từ những năm 1961-1980 Xí nghiệp sản xuất các loại động cơ, máy hàn phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Sản phẩm của nhà mày sản xuất ra được cung cấp cho ngành điện, ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông. Ở thời kỳ này do điều kiện chiến tranh có những giai đoạn xí nghiệp phải sơ tán, song với tinh thần cố gắng tất cả vì mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xí nghiệp luôn hoàn thành tốt các chỉ tiêu của cấp trên giao.
Về kết cấu sản phẩm chủ yếu của Xí nghiệp thời kỳ này gồm 3 sản phẩm chính, sản xuất, phân phối và tiêu thụ theo kế hoạch của Nhà Nước là:
- Động cơ điện 3 pha từ 0,6 KW đến 10 KW
- Máy hàn điện 3 pha từ 380V – 21KV
- Quạt điện dân dụng và công nghiệp.
Về tổ chức bộ máy quản lý mang đầy đủ đặc điểm của thời kỳ bao cấp; Đảng lãnh đạo toàn diện. Vai trò của ban Giám đốc và điều hành không mang tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Về lao động: Số lao động trung bình 219 người (lao động gián tiếp 21%, lao động trực tiếp 79 %), trình độ lao động thấp, chủ yếu là lao động phổ thông.
Từ năm 1984 Xí nghiệp đổi tên thành Xí nghiệp Điện Cơ Hải Phòng . Có thể nói đây là thời kỳ vàng son của doanh nghiệp, sản phẩm sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Chính vì vậy mà doanh nghiệp có điều kiện đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, mở rộng sản xuất, cơ cấu sản phẩm cũng đa dạng. Uy tín của sản phẩm đã chiếm lĩnh được lòng tin của khách hàng. Xí nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh, đạt vượt mức doanh thu so với giai đoạn trước. Từ năm 1984-1987 doanh nghiệp đã nhiều lần giữ lá cờ đầu về sản xuất – kinh doanh của Sở Công Nghiệp Hải Phòng và được thưởng nhiều huân chương và bằng khen của cấp trên.
Sản phẩm sản xuất là các loại quạt điện, động cơ điện, máy hàn. Trong đó sản phẩm chủ yếu là quạt điện mang nhãn hiệu “Phong Lan”. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Từ những năm cuối của thập niên 80, khi đất nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, Xí nghiệp gặp rất nhiều khó khăn nhất là trong khâu tiêu thụ. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng hóa từ nước ngoài tràn vào lấn át thị trường nội địa, hàng hóa từ các Tỉnh phía Nam tràn ra bán tràn lan với giá rẻ lấn át thị trường quạt điện của Xí nghiệp. Trong khi đó sản phẩm của doanh nghiệp được sản xuất bằng công nghệ đã lạc hậu, chất lượng thấp, giá thành cao, mẫu mã không được đổi mới kịp thời để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Đồng thời đội ngũ Marketing của doanh nghiệp chưa đủ mạnh để thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế mới. Chính vì vậy, doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ phải đóng cửa, công nhân phải nghỉ việc nhiều tháng.
Trước tình hình đó, Đảng Ủy và Ban Giám Đốc đã ra quyết định phải nhanh chóng thay đổi công nghệ sản xuất ,đổi mới mẫu mã, kiểu dáng để kịp thời đưa ra thị trường sản phẩm đẹp về kiểu dáng, tiện dụng, chất lượng đảm bảo, giá thành hợp lý. Do đó doanh nghiệp dần dần ổn định, vượt qua được những khó khăn ban đầu, khôi phục sản xuất kinh doanh.
Tháng 10/1992 UBND Thành phố ra quyết định số 1208/QĐ – UB ngày 11/10/1992 đối với việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước đối với Xí nghiệp Điện Cơ Hải Phòng. Từ đây doanh nghiệp được hoạt động một cách tự chủ, hạch toán có lãi. Sản phẩm sản xuất ra do thị trường quyết định chứ không mang tính kế hoạch hóa như trước đây nữa. Do đó doanh nghiệp chỉ sản xuất những sản phẩm thị trường cần và là thế mạnh của doanh nghiệp.
Sản phẩm sản xuất là các loại quạt, lồng quạt, cánh quạt các cỡ để phục vụ cho công nghệ sản xuất liên hoàn của doanh nghiệp và cung cấp linh kiện quạt cho các bạn hàng cùng sản xuất quạt điện.
Tháng 4/1998 Công ty đã ký kết với tập đoàn Mitsustar của Nhật để sản xuất các linh kiện quạt, công nghệ sản xuất được đầu tư hiện đại như: dây chuyền hàn lồng tự động, dây chuyền phun sơn tĩnh điện.
Từ năm 1999 – 2019 sản phẩm quạt điện Phong Lan của doanh nghiệp dã được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao. Thị trường của sản phẩm đã được mở rộng ra thị trường ngoài thành phố cũng như được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
- Đây là giai đoạn công ty hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần.
Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, hội nhập với các nước lân cận, các khu vực kinh tế. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế mới, nhất là nhu cầu về vốn. Ngày 26/12/2019 Công ty Điện Cơ Hải Phòng đổi tên thành Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng theo Quyết định số 3430/QĐ-UB ngày 26/12/2019 của UBND thành phố Hải Phòng. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng số 0203000691 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Hải Phòng cấp ngày 13/01/2020.
- Vốn Điều Lệ trên Giấy đăng ký kinh doanh là 8,450 tỷ đồng .
Trong đó:
- Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ đồng, chiếm 15%
- Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ, chiếm 15%
- Vốn Cổ Đông trong Công ty: 6,266 tỷ, chiếm 74,20%
- Vốn Cổ Đông ngoài Công ty: 884 triệu, chiếm 10,80%
Đến nay, Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng hoạt động đã được 6 năm dưới hình thức cổ phần hoá. Hoạt động đã lâu năm trong nghề và có bề dày lịch sử nên hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã được mở rộng, sản phẩm đa dạng, nhiều chủng loại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Đặc biệt mục tiêu hoạt động vì lợi nhuận và nâng cao thị phần đã được công ty thực hiện tốt trong 6 năm trở lại đây. Kể từ ngày được cổ phần hoá, Công ty đã tự chủ trong hoạt động lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, do đó từng năm qua, công ty đã thu được lợi nhuận vừa để chia cho các cổ đông, phần được giữ lại để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đặc biệt thị phần công ty trong vài năm trở lại đây đã tăng mạnh, mở rộng thị trường sản xuất ra các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Đó là những thắng lợi của tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty đã nỗ lực hết mình vì sự phát triển của toàn doanh nghiệp.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp (ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp) Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
- Sản xuất các loại quạt điện, linh kiện quạt, các đồ điện gia dụng khác.
- Kinh doanh xuất nhập khẩu máy móc, vật tư.
- Kho bãi và lưu giữ hàng hóa.
- Bán buôn, bán lẻ các loại sắt thép, đồ điện gia dụng và đồ điện công nghiệp.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức (Sơ đồ cơ cấu tổ chức doanh nghiệp )
- Hình 2.1. Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
Về cơ cấu bộ máy quản lý, Công ty duy trì bộ máy quản lý theo kiểu Trực tuyến – chức năng.
- Hội đồng quản trị:
Đây là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty. Nhưng đồng thời Hội đồng quản trị khi thực hiện công việc phải luôn tuân thủ theo đúng những quy định của pháp luật, điều lệ của công ty và các quyết định của đại hội cổ đông.
Hội đồng quản trị có nhiệm vụ quan trọng như: Quyết định các chiến lược, kế hoạch phát triển của công ty hàng năm; có những kiến nghị, các quyết định liên quan tới việc phát hành, mua, bán, chuyển nhượng các cổ phần, huy động vốn; ngoài ra, Hội đồng quản trị là cơ quan có quyền giải quyết những vấn đề quan trọng bậc nhất trong công ty như: phương án xử lý lãi, lỗ, chia cổ tức…
- Giám đốc Công ty (đồng thời là chủ tịch Hội đồng quản trị):
Là thủ trưởng cấp cao nhất trong doanh nghiệp, là người trực tiếp điều hành các bộ phận phòng ban, đồng thời cũng được sự giúp sức của phó giám đốc công ty, các phòng ban chức năng và các chuyên gia trong việc nghiên cứu, bàn bạc tìm giải pháp tối ưu cho những vấn đề phức tạp. Tuy nhiên quyền quyết định những vấn đề ấy vẫn thuộc về giám đốc. Giám đốc công ty là người đại diện cho Nhà nước, đại diện cho công nhân viên chức quản lý doanh nghiệp, có quyền quyết định việc điều hành hoạt động của doanh nghiệp theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của đại hội công nhân viên chức.
- Phó giám đốc công ty (đồng thời là phó chủ tịch Hội đồng quản trị):
Chịu trách nhiệm về các lĩnh vực marketing, tìm kiếm khách hàng, tiêu thụ sản phẩm và các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ,dây chuyền sản xuất, xây dựng cơ bản… Ngoài ra phó giám đốc còn có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc lập kế hoạch chiến lược sản xuất kinh doanh của công ty trong từng thời kỳ. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
- Phòng Tổ chức – Hành chính:
Có nhiệm vụ tổng hợp chương trình kế hoạch công tác của công ty ; thu thập, xử lý và quản lý các thông tin trong công ty; truyền đạt các quyết định quản lý của lãnh đạo, theo dõi việc triển khai thực hiện các quyết định, tổng hợp tình hình hoạt động của các đơn vị để báo cáo lãnh đạo; tham mưu, đề xuất các biện pháp phục vụ sự chỉ đạo điều hành của lãnh đạo. Đồng thời phòng Tổ chức – Hành chính còn có nhiệm vụ tổ chức nhân sự, công tác hành chính và đời sống cán bộ công nhân viên, bảo vệ hàng hoá, máy móc và nhà cửa, thiết bị của công ty.
- Phòng Tài chính – Kế toán:
Có nhiệm vụ thực hiện công tác kế hoạch tài chính,tổ chức hạch toán kế toán hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo quy định của pháp luật. Đông thời có nhiệm vụ cung cấp thông tin giúp cho giám đốc thực hiện chức năng quản trị và quản lý công ty.
- Phòng Kỹ thuật – KCS:
Có nhiệm vụ quản lý kỹ thuật trong quá trình sản xuất, xây dựng kế hoạch áp dụng công nghệ cũng như tìm tòi, sáng chế về mặt kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời phòng Kỹ thuật – KCS còn có chức năng giám sát kỹ thuật trong quá trình sản xuất cũng như kiểm tra chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó phòng còn chịu trách nhiệm quản lý công nghệ, máy móc định kỳ.
- Phòng Kế hoạch – Vật tư:
Có nhiệm vụ hoạch định nhiệm vụ sản xuất kinh doanh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đồng thời Phòng cũng có nhiệm vụ Hoạch định công tác nhập khẩu, mua máy móc thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ quả trình sản xuất. Bên cạnh đó còn giám sát việc thực hiện kế hoạch, đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm đạt được kết quả cao nhất so với kế hoạch đề ra.
- Phòng tiêu thụ sản phẩm:
Tư vấn cho Phó giám đốc ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu máy móc vật tư, các hợp đồng mua bán, giao dịch với khách hàng và đối tác cũng như thực hiện các hợp đồng mua bán xuất nhập khẩu.
- Các Trưởng phòng , quản đốc phân xưởng: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Được giao toàn quyền quản lý, bố trí lao động điều hành các công việc cụ thể trong phạm vi quản lý cua mình để thực hiện nhiệm vụ được giao. Trưởng các bộ phận có thể giao nhiệm vụ hoặc ủy quyền cho cấp phó một số công việc hoặc quyền hạn nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm trước Giám đốc về việc phân công và ủy quyền trên .
Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng là một công ty Nhà nước đã cổ phần hoá, hoạt động đã lâu năm trong nghề, có bề dày lịch sử, hoạt động sản xuất kinh doanh đã được mở rộng, sản phẩm đa dạng, nhiều chủng loại. Việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý theo kiểu trực tuyến – chức năng là hoàn toàn hợp lý trong thời đại kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta hiện nay. Đây cũng là cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được nhiều doanh nghiệp hiện nay đang áp dụng. Nó vừa đảm bảo phát huy năng lực chuyên môn của các bộ phận chức năng, vừa đảm bảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến. Các phòng ban được bố trí tương đối gọn nhẹ, không chồng chéo và có quan hệ mật thiết với nhau về mạt nghiệp vụ. Điều này giúp cho công ty có thể dễ dàng kiểm tra việc thực hiện mệnh lệnh của Giám đốc và giúp cho Giám đốc có những chỉ đạo nhanh chóng kịp thời trong các hoạt động của công ty.
2.2 Một số kết quả kinh doanh của công ty trong thời gian qua. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Bảng 2.2. Bảng cân đối kế toán năm 2025
- Nhìn vào bảng trên ta thấy:
Vốn sản xuất kinh doanh của công ty năm 2024 chỉ tăng so với năm 2023 là 15,41%. Nhưng đến năm 2025 vốn của công ty đã tăng thêm 7.079.900.000 tương ứng với 20%. Nguồn vốn chủ yếu đầu tư vào tài sản ngắn hạn:
- Bảng 2.3. Cơ cấu tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp
Tài sản của công ty chủ yếu là tài sản ngắn hạn ( chiếm hơn 80% tổng tài sản).Vốn của công bị ứ đọng và bị chiếm dụng nhiều. Thể hiện ở: Trong tài sản ngắn hạn chủ yếu là hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn. Điều này sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ luân chuyển vòng quay của vốn, làm giảm hiệu quả của vốn trong sản xuất kinh doanh. Năm 2025 tài sản ngắn hạn của công ty giảm 1.05 % từ 81.6% xuống còn 80.55%, như vậy chứng tỏ công ty giảm bớt được tình hình ứ đọng và chiếm dụng vốn trong kinh doanh. Tuy nhiên tỷ lệ giảm này không đáng kể, tài sản ngắn hạn vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng tài sản, công ty cần có các biện pháp khắc phục để cải thiện tình hình, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh.
Vốn của công ty chủ yếu được huy động từ nguồn vốn vay( chỉ vay ngắn hạn, không vay dài hạn): Vốn vay chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn vốn như vậy công ty ít có khả năng tự chủ về vốn trong sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên sang năm 2025 vốn chủ sở hữu đã tăng tỷ trọng lên làm cho khả năng tự chủ về vốn phần nào được cải thiện
Bảng 2.4. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
- Nhận xét:
Năm 2025 doanh thu đã tăng so với năm 2024 là 14.183.000.000 tương ứng với tỷ lệ tăng là 18.83%, lợi nhuận sau thuế cũng tăng lên 1.778.280.000 tương ứng với 78.38%. Như vậy tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu, chứng tỏ năm 2025 doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn năm 2024.
- Nguyên nhân: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Năm 2024 do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nên tình hình kinh doanh của công ty không thuận lợi, lãi suất vay tăng cao mà nguồn vốn của công ty chủ yếu là vốn vay nên chi phí tài chính lớn, lợi nhuận giảm đi so với năm 2023. Nhưng đến năm 2025, nhà nước kích cầu tiêu dùng nên lãi vay giảm, chi phí tài chính ít hơn. Bên cạnh đó thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng giảm từ 28% xuống 25% nên lợi nhuận sau thuế của công ty cũng tăng cao.
2.3. Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty.
2.3.1. Ảnh hưởng của môi trường kinh tế quốc tế.
Không ai phủ nhận toàn cầu hóa đang là xu thế, và xu thế này không tạo cơ hội cho các doanh nghiệp, các quốc gia trong việc phát triển sản xuất, kinh doanh. Điều quan trọng là khi hội nhập, các rào cản về thương mại sẽ dần dần được gỡ bỏ, doanh nghiệp có cơ hội buôn bán với các đối tác ở cách xa khu vực địa lý. Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng cũng nằm trong bối cảnh chung đó, tham gia vào thị trường toàn cầu, công ty có cơ hội để tiếp cận thành quả khoa học, công nghệ, những nguồn vốn, những kỹ năng quản trị kinh doanh của các nước tiên tiến. Hiện nay công ty đã có quan hệ với hãng quạt Misubishi của Thái Lan, công ty đang nhập khẩu hai mặt hàng quạt của Misubishi. Công ty đang có kế hoạch nghiên cứu mở rộng thị trường xuất khẩu sang một số nước lân cận như Lào, Campuchia, Thái Lan. Tuy nhiên bên cạnh đó toàn cầu hóa tạo ra các sức ép cạnh tranh, các đối thủ đến từ mọi khu vực. Đối thủ của công ty không còn bó hẹp trong nước nữa mà còn có nhiều đối thủ nước ngoài như quạt Lion của Hàn Quốc, quạt Sentro của Nhật, và rất nhiều các loại quạt của Trung Quốc,..Quá trình hội nhập khiến doanh nghiệp phải điều chỉnh phù hợp với các lợi thế so sánh để vượt qua các đối thủ của mình.
2.3.2. Ảnh hưởng của môi trường kinh tế quốc dân.
- a) Kinh tế: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Sang năm 2025 nền kinh tế nước ta đã có dấu hiệu phục hồi rõ nét sau suy thoái năm 2024. Kinh tế phục hồi và tăng trưởng làm tăng sức mua của khách hàng đối với tất cả các sản phẩm hàng hoá dịch vụ nói chung và mặt hàng quạt điện nói riêng. Người tiêu dùng có điều kiện mua sắm hơn và khả năng chi trả cũng cao hơn.
- b) Văn hoá:
Môi trường văn hoá bao gồm quan điểm sống, mức sống, phong cách sống, niềm tin, thói quen chi tiêu, tỷ lệ tăng dân số, trình độ văn hoá, phong tục tập quán. Những biến đổi về các yếu tố xã hội cũng tạo nên những cơ hội hoặc nguy cơ cho doanh nghiệp. Dân số ngày càng gia tăng khiến nhu cầu tiêu dùng quạt điện cũng tăng lên là cơ hội cho doanh nghiệp thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm, vì tính trung bình mỗi người dân đều có ít nhất một chiếc quạt. Tuy nhiên, mức sống của người dân được nâng lên khiến người tiêu dùng ngày càng có nhu cầu được đáp ứng tốt hơn về chất lượng sản phẩm, đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến chất lượng, mẫu mã để phù hợp với nhu cầu của thị trường.
- c) Pháp luật:
Pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến cạnh tranh. Luật chống độc quyền, luật thuế, các ngành lựa chọn để điều chỉnh hay ưu tiên, luật lao động, là những lĩnh vực trong đó các chính sách quản lý Nhà nước có thể tác động đến hoạt động và khả năng sinh lợi của ngành hay của các doanh nghiệp. Ví dụ như luật thuế năm 2025 quy định mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 28% xuống còn 25% làm cho chi phí thuế TNDN giảm đi và lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên. Ngoài ra luật cạnh tranh là công cụ bảo vệ doanh nghiệp trước những hành động xấu của đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên cạnh tranh trong ngành quạt điện từ trước đến nay đều rất lành mạnh, công ty chưa bao giờ phải sử dụng đến pháp luật cạnh tranh để giải quyết tranh chấp với đối thủ của mình.
- d) Tự nhiên:
Tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những mặt hàng theo mùa vụ như công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng. Theo dự báo của các nhà khoa học thì trái đất đang nóng dần lên và sự biến động của việc thay đổi khí hậu làm cho nhu cầu sử dụng quạt ngày một tăng lên. Cụ thể theo dự báo của trung tâm khí tượng thuỷ văn thì mùa hè trong những năm tới có rất nhiều đợt nắng nóng kéo dài, lượng quạt cần cung cấp cho thị trường sẽ tăng cao, doanh nghiệp cần có chính sách cụ thể để sản xuất hàng hoá kịp thời đáp ứng cho thị trường.
- e) Công nghệ:
Khoa học công nghệ đang hàng ngày, hàng giờ ra đời định hình lại cấu trúc cạnh tranh ở hầu hết các ngành và các quốc gia. Nếu như trước đây quạt điện có kiểu dáng rất thô và cục mịch, tiêu hao nhiều điện năng thì ngày nay nhờ có máy móc hiện đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến, nên các loại quạt bán ra trên thị trường có kiểu dáng rất phong phú, có nhiều tính năng, có độ an toàn cao, tiết kiệm điệm. Vì vậy để có được lợi thế cạnh tranh buộc doanh nghiệp phải cải tiến sản phẩm, phải áp dụng khoa học công nghệ vào quá trình sản xuất để cải tiến chất lượng, giảm giá thành.
2.3.3. Ảnh hưởng của môi trường ngành: Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
2.3.3.1. Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành.
Khó có ngành nào mà hàng nội lại chiếm ưu thế như ngành điện cơ. Theo nhận định của các chuyên gia thì có đến 95% các loại quạt điện được tiêu thụ trên thị trường là hàng Việt Nam như quạt Phong Lan, Hoa Phượng, ASIA, Hoa Lan, Thống Nhất, Điện cơ 91,…còn quạt ngoại chiếm thị phần nhỏ nhưng cũng nhiều chủng loại như KDK (Nhật), Mitsubishi, Panasonic (Thái Lan), Tatung (Đài Loan), Midea (Trung Quốc)… Hiện nay công ty đang đứng trong một cuộc cạnh tranh khốc liệt để giành lấy thị phần. Bên cạnh việc phải cải tiến chất lượng để cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn, sản phẩm có chất lượng cao thì công ty còn phải tìm những biện pháp giảm giá thành để có thể cạnh tranh được với “hàng chợ” không rõ nguồn gốc xuất xứ có giá rất rẻ đang gia tăng với tốc độ chóng mặt. Đây quả là một bài toán khó mà doanh nghiệp cần phải tính toán thật kỹ lưỡng để tìm ra đáp án.
2.3.3.2. Sức ép từ đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.
Lực lượng này bao gồm các công ty hiện không cạnh tranh trong ngành nhưng họ có khả năng làm điều đó nếu họ muốn. Như đã phân tích ở trên, nhiệt độ ngày một tăng lên khiến nhu cầu sử dụng quạt càng gia tăng. Nhận thấy thị trường quạt điện là một mảnh đất màu mỡ nên đã có rất nhiều doanh nghiệp chuyển hướng kinh doanh sang mặt hàng này. Hiện nay đã có một số doanh nghiệp kinh doanh thiết bị gia đình cũng kinh doanh thêm mặt hàng quạt điện như hàng tiêu dùng LION ( trước đây kinh doanh các mặt hàng nồi cơm điện, máy xay sinh tố, nay có thêm mặt hàng quạt điện). Nhận diện các đối thủ mới có thể thâm nhập vào ngành là một điều quan trọng, bởi họ có thể đe doạ đến thị phần của các công ty hiện có trong ngành, họ sẽ đem vào cho ngành các năng lực sản xuất mới. Chính vì vậy công ty cần phải hoạt động hiệu quả hơn để nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
2.3.3.3. Sức ép từ người cung ứng.
Khả năng của nhà cung cấp yêu cầu với công ty tuỳ thuộc vào quyền lực tương đối giữa họ với công ty. Do nguyên liệu đang ngày càng khan hiếm nên giá của nguyên liệu đầu vào tăng cao khiến cho giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên, việc cạnh tranh gặp nhiều khó khăn hơn. Đối với ngành quạt điện thì nguyên liệu chính sử dụng là nhựa, chiếm gần 80% tổng chi phí nguyên vật liệu. Tuy nhiên công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng không phải chịu sức ép lớn từ phía nhà cung ứng vì đây là một nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước và ổn định, mặt khác công ty có ba nhà cung cấp nguyên liệu nhựa APS và PP là công ty Cổ phần Nhựa Thiếu Niên Tiền Phong, công ty Nhựa An Phú và công ty Nhựa Thành Đạt.
2.3.3.4. Sức ép từ phía khách hàng.
Cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thực chất là cạnh tranh giành lấy niềm tin và tình cảm của khách hàng. Nhu cầu của khách hàng ngày một phong phú và đa dạng, họ yêu cầu cao hơn về sản phẩm. Khách hàng thường mong muốn mua được những sản phẩm có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp mà giá cả lại phải chăng. Chính khách hàng là động lực để các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
2.3.3.5. Sức ép từ sản phẩm thay thế.
Những sản phẩm thay thế là những sản phẩm của các ngành mà phục vụ những nhu cầu khách hàng tương tự như đối với ngành đang phân tích. Sự tồn tại của các sản phẩm thay thế gần gũi biểu hiện một sự đe doạ cạnh tranh, làm giới hạn khả năng đặt giá cao và do đó giới hạn khả năng sinh lời của nó. Do xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của người dân tăng cao, họ có nhu cầu được sử dụng những sản phẩm cao cấp hơn như điều hoà nhiệt độ, quạt nóng đảo chiều,… Ngày nay máy điều hoà nhiệt độ đang được nhiều người tiêu dùng lựa chọn để thay thế quạt điện. Đó là một đe doạ lớn không chỉ với riêng công ty mà với tất cả các ngành sản xuất và kinh doanh quạt điện.
2.4. Phân tích năng lực cạnh tranh của công ty. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Công ty xác định hai Phượng” của công ty TNHH đối thủ cạnh tranh trực Điện cơ Hoa Phượng và tiếp của mình là “Quạt Hoa “Quạt ASIA” của công ty cổ phần Quạt Việt Nam. Chúng ta sẽ cùng phân tích năng lực cạnh tranh của công ty thông qua việc so sánh với các đối thủ.
2.4.1. Thị phần doanh nghiệp.
- Bảng 2.5. Thị phần quạt điện năm 2025
- Biểu 2.6. Thị phần quạt tại Việt Nam 2025
- Bảng 2.7 : Tốc độ tăng trưởng thị phần tại Hải Phòng:
- Bảng 2.8. Tốc độ tăng trưởng thị phần tại Hải phòng
Thị phần của doanh nghiệp được xác định bằng công thức:
Sản phẩm Quạt Phong Lan chiếm một tỷ trọng lớn nhất tại khu vực Hải Phòng (60%), chiếm vị trí ưu thế trên thị trường Hải Phòng. Nhưng xét tổng thể thị trường quạt Việt Nam thì Quạt Phong Lan có thị phần nhỏ (13.77%). Như vậy quạt Phong Lan chưa mở rộng được nhiều sang các thị trường ngoại tỉnh như ASIA. Cụ thể hiện nay quạt ASIA đã có một mạng lưới phân phối rộng khắp ở tất các tỉnh thành trên cả nước, thậm chí còn xuất khẩu sang một số nước ở khu vực Đông Nam Á, hiện nay ASIA đang làm thủ tục để xuất khẩu hàng sang thị trường Mỹ còn quạt Phong Lan thì mới chỉ bó hẹp ở thị trường Hải Phòng và một số tỉnh ở miền Bắc và miền Trung. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Qua bảng tốc độ tăng trưởng thị phần ta có thể thấy thị phần quạt Phong Lan đang bị thu hẹp dần tại thị trường Hải Phòng, nhường chỗ cho sự gia tăng của quạt Hoa Phượng và các hãng quạt khác.
Trên đây là số liệu mà công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng cử nhân viên đi điều tra thị trường năm 2025. Tuy nhiên số liệu trên chỉ là con số ước tính của công ty chứ chưa có con số điều tra cụ thể, chính xác vì rất khó có thể biết được các con số chính xác về tình hình kinh doanh của các công ty.
2.4.2. Vị thế tài chính.
- Bảng 2.9. Bảng cân đối kế toán của 3 công ty năm 2025
- Bảng 2.10. Báo cáo kết quả kinh doanh của ba công ty Năm 2025
- Bảng 2.11.Tỷ số thanh khoản:
a) Tỷ số thanh khoản:
Tỷ số thanh toán hiện hành cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn phải trả của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng để thanh toán. Tỷ số thanh toán hiện hành của Điện cơ Hải Phòng là 1.27 > 1 nên tài sản lưu động của doanh nghiệp đủ đảm bảo cho việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Nói chung tình hình thanh khoản của doanh nghiệp không bằng Quạt Việt Nam nhưng tốt hơn Hoa Phượng.
Tỷ số thanh toán nhanh cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn phải trả của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể huy động ngay để thanh toán. T ỷ số này của Điện cơ Hải Phòng là 0.2 <1 chứng tỏ tài sản lưu động có thể sử dụng ngay của doanh nghiệp không đủ đảm bảo thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn, không tốt bằng Hoa Phượng và ASIA.
So sánh hai tỷ số thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh ta thấy giá trị tồn kho và giá trị tài sản lưu động kém thanh khoản khác của doanh nghiệp chiểm tỷ trọng khá cao trong giá trị tài sản lưu động, cao hơn Hoa Phượng và ASIA.
Như vậy khả năng thanh toán của Phong Lan không bằng hai đối thủ.
- b) Tỷ số quản lý nợ:
- Bảng 2.12. Tỷ số quản lý nợ.
Tỷ số nợ / tổng tài sản = 0.63; tỷ số nợ / vốn chủ sở hữu = 1.73 > 1 chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay hơn là sử dụng vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản. Điều này khiến cho doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào nợ vay và khả năng tự chủ về tài chính cũng như khả năng còn được vay nợ của doanh nghiệp thấp thấp hơn hai đối thủ.
Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay đo lường khả năng sử dụng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh để trả lãi vay của doanh nghiệp. Nó cho biết mối quan hệ giữa chi phí lãi vay và lợi nhuận của doanh nghiệp, đánh giá xem doanh nghiệp có khả năng trả lãi vay hay không. Công ty tạo ra lợi nhuận trước thuế gấp 6.4 lần chi phí lãi vay như vậy khả năng trả lãi của doanh nghiệp tuy không bằng ASIA nhưng vẫn rất tốt. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
- c) Tỷ số hiệu quả hoạt động:
- Bảng 2.13. Tỷ số hiệu quả hoạt động.
Hàng tồn kho của Phong Lan quay được 3.27 vòng một năm để tạo ra doanh thu, việc quản lý tồn kho hiệu quả hơn Hoa Phượng. Tuy nhiên rất khó so sánh với ASIA vì Phong Lan và Hoa Phượng bán hàng chủ yếu ở miền Bắc, phân mùa vụ rõ rệt nên hàng tồn kho nhiều còn ASIA được bán chủ yếu ở miền Nam nên hàng bán quanh năm, số ngày tồn kho thấp.
Kỳ thu tiền bình quân cho biết doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu. Kỳ thu tiền của Phong Lan khá thấp cho thấy doanh nghiệp ít bán chịu hàng hoặc thời hạn bán chịu ngắn. Có thể do số ngày tồn kho của doanh nghiệp khá cao nên doanh nghiệp không thể bán chịu hàng hoá nhiều hoặc dài hạn vì như vậy sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động tài sản nói chung. Như vậy việc quản lý khoản phải thu không bằng ASIA nhưng hiệu quả hơn Hoa Phượng.
Hiệu quả sử dụng tài sản, tài sản lưu động và tài sản cố định cho biết mỗi đồng tài sản, tài sản lưu động, tài sản cố định của doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu. Phong Lan sử dụng tài sản nói chung hiệu quả hơn Hoa Phượng nhưng không bằng ASIA.
- d) Cơ cấu tài sản, nguồn vốn.
- Bảng 2.14: Cơ cấu tài sản, nguồn vốn
Vốn của công ty bị ứ đọng và bị chiếm dụng nhiều hơn hai đối thủ, thể hiện ở: tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản là lớn nhất ( 80.55 % ). Trong tài sản ngắn hạn chủ yếu là hàng tồn kho và các khoản phải thu ngắn hạn. Điều này sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới tốc độ luân chuyển vòng quay của vốn, làm giảm hiệu quả của vốn trong sản xuất kinh doanh.
Vốn của công ty chủ yếu được huy động từ nguồn vốn vay: Vốn vay chiếm tỷ trọng lớn (63.4%) trong cơ cấu nguồn vốn như vậy công ty ít có khả năng tự chủ về vốn trong sản xuất kinh doanh so với hai đối thủ.
2.4.3. Năng lực quản trị. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng từ khi thành lập đến nay đã đổi tên bốn lần và thay đổi hình thức công ty từ một xí nghiệp nhỏ thành doanh nghiệp Nhà nước và bây giờ là công ty Cổ phần, giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng quản trị. Kể từ ngày được cổ phần hoá, Công ty đã tự chủ trong hoạt động lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, do đó từng năm qua, công ty đã thu được lợi nhuận vừa để chia cho các cổ đông, phần được giữ lại để mở rộng sản xuất kinh doanh. Giám đốc của công ty là ông Trần Văn Long, một lãnh đạo rất có kinh nghiệm trong quản lý, là người hoạch định chiến lược phát triển cho công ty. Bên cạnh đó không thể không kể đến phó giám đốc Hoàng Thanh Hải, người nắm giữ cổ phần nhiều nhất của công ty, cũng là một lãnh đạo công ty rất nhạy bén, sáng tạo và linh hoạt, đã có rất nhiều biện pháp đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty. Giám đốc Vũ Đình Phương của công ty Cổ phần Quạt Việt Nam và giám đốc Phạm Văn Ninh của Công ty TNHH Điện cơ Hoa Phượng cũng đều là những lãnh đạo có uy tín trong ngành quạt điện.
2.4.4. Hoạch định chiến lược.
Chiến lược phát triển của công ty Cổ phần Điện Cơ Hải Phòng là: Xây dựng thương hiệu “Phong Lan” ngày càng ổn định và phát triển mạnh mẽ.
Công ty đưa ra khẩu hiệu: “Không ngừng cải tiến để đưa ra các sản phẩm ngày càng thoả mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng”.
Công ty TNHH Điện Cơ Hoa Phượng hoạch định chiến lược phát triển trong 5 năm tới là: tăng thị phần để giành vị trí số 1 tại thị trường Hải Phòng.
Công ty Cổ phần Quạt Việt Nam hoạch định các chiến lược phát triển từ 5-10 năm là kế hoạch tái cấu trúc bộ máy hoạt động và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán để chuẩn bị cho một giai đoạn phát triển mới, cần nhiều vốn đầu tư và khả năng quản trị bao quát hơn. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Mỗi công ty có những chiến lược phát triển khác nhau nhưng chúng có một điểm chung đó là đều hướng tới một tương lai tốt đẹp, ban lãnh đạo các công ty đều có tầm nhìn chiến lược xây dựng công ty ngày một lớn mạnh và phát triển bền vững. Tuy nhiên ta có thể nhận thấy chiến lược mà công ty Cổ phần Điện Cơ Hải Phòng đưa ra là một chiến lược dài hạn, công ty nên đưa ra những chiến lược cụ thể hơn trong 5-10 năm nữa để phục vụ cho chiến lược lâu dài đó của công ty.
2.4.5. Sản phẩm.
- Bảng 2.15. Danh mục quạt điện của công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng
- Bảng 2.16. Danh mục sản phẩm của công ty TNHH Điện cơ Hoa Phượng
- Bảng 2.17. Danh mục sản phẩm của công ty Cổ phần Quạt Việt Nam
- Bảng 2.18. Bảng so sánh sản phẩm ba công ty.
Công ty Cổ phần Điện Cơ Hải Phòng là doanh nghiêp đầu tiên tại Hải Phòng sản xuất ra các loại quạt điện. Sản phẩm của công ty đa dạng, nhiều chủng loại nhất, bao gồm 14 chủng loại sản phẩm (ASIA có 10 chủng loại, Hoa Phượng có 5 chủng loại). Năm 2024 tỷ lệ phế phẩm của công ty là 4% nhưng năm nay công ty đã giảm được con số đó xuống 2%, đây là một thành tích đáng kể trong khâu sản xuất sản phẩm, chứng tỏ công ty rất chú trọng đến quá trình sản xuất.
Tuy nhiên màu sắc và kiểu dáng sản phẩm quạt Phong Lan không phong phú. Ví dụ như hai loại QH 300 và QH 350 chỉ khác nhau về kích cỡ còn kiểu dáng và màu sắc được thiết kế hoàn toàn giống nhau.Tốc độ cải tiến chất lượng, mẫu mã sản phẩm còn chậm, chưa đáp ứng kịp thị hiếu và nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng ( Khoảng từ 2 đến 3 năm công ty mới có một sản phẩm mới hoàn toàn, có một số sản phẩm như HD 1476, 400E, B300, B400 hơn mười năm nay chưa có một sự thay đổi nào về kiểu dáng, mẫu mã hay tính năng. Thường thì quạt Phong Lan chỉ có sự thay đổi khi quạt Hoa Phượng có sản phẩm mới trước). Lồng quạt chỉ có 98 nan không an toàn cho ngón tay trẻ em. Sản phẩm quạt công nghiệp 750 có công suất lớn (290W) trong khi đó quạt cùng loại của ASIA chỉ có 100W, như vậy quạt Phong Lan vẫn chưa tiết kiệm điện năng so với ASIA.
2.4.6. Giá cả.
- Bảng 2.19: Bảng giá bán buôn một số loại quạt giống nhau
Trên đây là bảng giá bán buôn của một số sản phẩm giống nhau của ba công ty, giá của quạt Phong Lan thấp hơn ASIA nhưng lại cao hơn Hoa Phượng. Chính sách giá của công ty có ưu điểm là định giá bán lẻ ( 269.500 , 225.500) khiến cho khách hàng cảm thấy mình mua sản phẩm là hợp lý vì công ty đã tính rất sát sao các chi phí để có thể định ra mức giá đó. Giá cả của sản phẩm thay đổi uyển chuyển theo mối quan hệ cung cầu trên thị trường. Mùa đông chỉ bán được quạt sưởi, quạt nóng lạnh còn các loại quạt làm mát thì nhu cầu giảm rõ rệt nên mức giá hạ thấp, mùa hè nhu cầu tăng, doanh nghiệp thường xuyên bám sát thị trường và điều chỉnh mức giá phù hợp. Tuy nhiên doanh nghiệp sử dụng vũ khí giá chưa tốt, vì đối thủ mạnh nhất của công ty tại thị trường Hải Phòng là Quạt Hoa Phượng, so với Hoa Phượng thì Phong Lan hoàn toàn có tự chủ về giá hơn vì quạt Phong Lan được sản xuất theo một chu trình khép kín, còn quạt Hoa Phượng vẫn phải nhập một số linh kiện về lắp ráp (cụ thể là lồng quạt vẫn nhập của công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng) vậy mà giá của quạt Phong Lan vẫn cao hơn quạt Hoa Phượng. Đây cũng là một phần nguyên nhân khiến cho quạt Hoa Phượng ngày càng được nhiều người tiêu dùng lựa chọn, chiếm dần thị phần của quạt Phong Lan.
2.4.7. Trình độ khoa học công nghệ. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Trong thời đại cạnh tranh khốc liệt ngày nay, công nghệ sản xuất luôn luôn được quan tâm hàng đầu. Công nghệ tiên tiến sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, tính năng độc đáo, giá thành hạ. Chính vì vậy các công ty rất chú trọng đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất sản phẩm.
- a) Công ty Cổ Phần Điện cơ Hải Phòng:
Từ năm 2022, Công ty cổ phần điện cơ Hải Phòng hoàn thành đầu tư, đưa vào hoạt động dây chuyền kéo rút thép, công suất 4 tấn/ngày trị giá trên 500 triệu đồng. Dây chuyền này đã giúp công ty kéo rút thép từ phi 6mm xuống tới phi 4, phi 3, phi 2 mm, năng suất rút thép tăng gần gấp đôi, góp phần chủ động sản xuất lồng quạt là sản phẩm chính và phục vụ cho các đơn vị sản xuất công nghiệp.
Sản phẩm Quạt Phong lan được sản xuất trên một dây chuyền khép kín: đúc áp lực các chi tiết bằng nhôm hợp kim, đột trên máy đột cao tốc bằng khuôn đột liên tục, các máy chuyên dùng và máy tự động: máy tiện, hệ thống sản xuất lưới bảo vệ, thiết bị vào dây stato …mài vô tâm, công nghệ tẩm sấy dùng chân không, dây chuyền sơn bột tĩnh điện, dây chuyền lắp ráp đạt công suất 1200 sản phẩm / ngày.
- Bảng 2.20. Máy móc thiết bị công ty CPĐC Hải Phòng
- Bảng 2.21. Máy móc thiết bị CT TNHH Điện Cơ Hoa Phượng
- Bảng 2.22.Máy móc thiết bị Công ty Cổ phần Quạt Việt Nam:
Qua bảng so sánh về máy móc thiết bị ta thấy công ty Cổ Phần Điện cơ Hải Phòng đã trang bị đầy đủ máy móc để sản xuất sản phẩm quạt hoàn chỉnh, trong đó có đến 55 máy sản xuất bán thành phẩm lồng quạt, chứng tỏ ngoài việc sản xuất và kinh doanh quạt điện, công ty cũng rất chú trọng đến việc sản xuất bán thành phẩm lồng quạt để bán lại cho các cơ sở kinh doanh khác. Cả ba công ty đều có sự đầu tư vào máy móc sản xuất, tuy nhiên Điện cơ Hoa Phượng vẫn còn thiếu một số máy móc nên chưa tự chủ trong khâu sản xuất như Phong Lan và ASIA
2.4.8. Nhân sự. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
Nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh, không có con người sẽ không tồn tại bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào trong xã hội.
Chất lượng lao động cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động trong mỗi doanh nghiệp. Chất lượng lao động được thể hiện qua các tiêu chí: Trình độ tay nghề,trình độ văn hoá, mức thâm niên nghề…
- Bảng 2.23 : Bảng cơ cấu lao động lao động của ba công ty
Công ty Cổ phần Điện cơ hải Phòng có tỷ lệ công nhân bậc cao lớn nhất, chiếm 30% tông số công nhân kỹ thuật nên hạn chế được tỷ lệ phế phẩm trong sản xuất. Tỷ lệ lao động ở độ tuổi từ 45 đến 60 của công ty cũng lớn nhất, chiếm 30% tổng số lao động, đây là độ tuổi phát huy được nhiều kinh nghiệm nhất. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường đầy cạnh tranh này, máy móc thiết bị đã trợ giúp cho con người rất nhiều nên vấn đề kinh nghiệm không còn quan trọng nhất nữa. Điều cần nhất đối với doanh nghiệp kinh doanh trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt này là sự năng động, nhiệt tình và sáng tạo, những yếu tố này thường có ở độ tuổi từ 20 đến 45 tuổi. Nhưng so với hai đối thủ thì số nhân viên ở độ tuổi từ 20 đến 45 của công ty là thấp nhất, chỉ chiếm 56 % tổng số nhân viên ( trong khi đó độ tuổi này của Hoa Phượng chiếm 67 % và ASIA chiếm 77 %).
Công ty có 46 lao động gián tiếp và 234 lao động trực tiếp. Lao động gián tiếp chiếm 16.43 % tổng số lao động, như vậy bộ máy lao động của công ty chưa tinh gọn, công ty phải chi phí nhiều cho lao động gián tiếp.
Tuy nhiên những con số này chưa phản ánh thực chất chất lượng lao động của các công ty, cần phải so sánh về mức độ đáp ứng công việc của từng nhân viên.
Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động của ba công ty:
- Bảng 2.24. Hiệu quả sử dụng lao động của ba công ty
Những chỉ tiêu trên cho biết mỗi một người lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, bao nhiêu đồng doanh thu và bao nhiêu sản phẩm hoàn chỉnh. Như vậy một người lao động ở công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng chỉ tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, thấp hơn hai đối thủ.
- Bảng 2.25. Số lao động được đào tạo năm 2025:
Trong năm 2025 công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng có tổ chức đào tạo kiến thức và nâng cao tay nghề cho 20 công nhân, chiếm 7.14% tổng số lao động của công ty. Như vậy tỷ lệ lao động được đào tạo của công ty là thấp hơn hai đối thủ.
- Bảng 2.26. Tỷ lệ luân chuyển công tác của ba công ty năm 2025.
Trong năm 2025 công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng có 6 người chuyển công tác đi nơi khác, chiếm 2.14% tổng số lao động trong công ty. Tong khi đó Điện cơ Hoa Phượng không có người nào chuyển đơn vị công tác. Như vậy chứng tỏ Điện cơ Hải Phòng chưa có nhiều chính sách ưu đãi khuyến khích người lao động gắn bó hơn với công ty.
So với hai đối thủ thì hoạt động quản trị nhân sự của công ty chưa tốt bằng.
2.4.9. Kết quả kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
- Bảng 2.27. Sản lượng, doanh thu, lợi nhuận của ba công ty
Doanh thu năm 2024 của công ty giảm 6.870.000.000 so với năm 2023, tương ứng với tỷ lệ giảm là 8,36% dẫn đến lợi nhuận sau thuế của công ty giảm 521.640.000. Tuy nhiên đến năm 2025 doanh thu đã tăng so với năm 2024 là 14.183.000.000 tương ứng với tỷ lệ tăng là 18.83%, lợi nhuận sau thuế cũng tăng lên 1.778.280.000 tương ứng với 78.4%.
- Bảng 2.28. Tỷ lệ tăng doanh thu, lợi nhuận của ba công ty.
So với hai đối thủ thì tỷ lệ tăng doanh thu của công ty là thấp nhất (18.82%), tuy nhiên tỷ lệ tăng lợi nhuận của công ty lại lớn nhất (78.41%). Chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong năm 2025 hiệu quả hơn hai đối thủ.
- Bảng 2.29. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Công ty đã khôi phục được tình hình sản xuất kinh doanh sau khủng hoảng kinh tế năm 2024. Năm 2025 cả doanh thu và lợi nhuận đều tăng và đặc biệt, tỷ số lợi nhuận trên doanh thu tăng từ 3.01% lên 4.52 %. Như vậy cứ 100 đồng doanh thu tạo ra có 4.52 đồng lợi nhuận, tăng thêm 1,51 đồng lợi nhuận so với năm 2024. Tỷ số này cao hơn Hoa Phượng nhưng vẫn thấp hơn của ASIA, công ty cần có các biện pháp cắt giảm chi phí để tăng lợi nhuận. Tuy nhiên nếu so sánh với năm 2024 thì Phong Lan vẫn kinh doanh hiệu quả hơn ASIA vì tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của ASIA năm 2025 lại giảm đi so với năm 2024 từ 8.97% xuống còn 7.5%.
2.4.10. Đánh giá thương hiệu
- Bảng 2.30. Mức độ quen thuộc của sản phẩm với người tiêu dùng Hải Phòng
- Bảng 2.31. Mức độ quen thuộc của sản phẩm với người tiêu dùng toàn quốc
Trên đây là số liệu mà công ty Cổ phần Điện cơ hải Phòng cử nhân viên đi điều tra khảo sát thị trường, công ty đã khảo sát 500 người trên địa bàn Hải Phòng và 4000 người tiêu dùng trên toàn quốc. Qua bảng số liệu điều tra ta có thể dễ dàng nhận thấy “Quạt Phong Lan” là một cái tên quen thuộc và gần gũi đối với mọi người dân Hải Phòng, là thương hiệu số 1 tại Hải Phòng. Tuy nhiên thương hiệu ấy còn xa lạ đối với người tiêu dùng ở các khu vực khác trên cả nước. Đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam hầu như không có khách hàng nhận ra lo go của sản phẩm, còn tên sản phẩm thì có rất ít người biết đến. Trong khi đó quạt ASIA được đông đảo người tiêu dùng biết đến. Như vậy quạt điện Phong Lan cần phải xây dựng thương hiệu ngày một phát triển hơn nữa. Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty điện cơ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Biện pháp năng lực cạnh tranh tại công ty điện cơ
