Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty kỹ thuật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty kỹ thuật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty

  • Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Thương mại và Dịch vụ Kỹ thuật Việt Dũng Địa chỉ: Số 2 Lô E khu 4HA, Phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội
  • Mã số thuế: 0102960496
  • Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng là một công ty Cổ phần, được thành lập theo giấy phép số 204-GP/UB ngày 18/09/2021 của UBND Thành phố Hà Nội.
  • Vốn điều lệ: 5.500.000.000 đồng (Năm tỷ năm trăm triệu đồng Việt Nam)

Công ty có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh. Công ty tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh bảo toàn và phát triển vốn theo quy định của nhà nước. Công ty thực hiện chức năng kinh doanh theo điều lệ pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế hiện hành.

Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của công ty là kinh doanh hàng điện tử như camera quan sát và đầu ghi hình kỹ thuật số của hãng AVtech – Đài Loan. Ngoài ra Công ty kinh doanh sửa chữa bảo hành ủy quyền các sản phẩm điện tử của hãng Panasonic, Avtech, Jarguar Suhyoung, Guinness, Music Core và Music Ware.

Là nhà tích hợp hệ thống (System Integrator) và đối tác tin cậy của các hãng nổi tiếng trên thế giới về lĩnh vực này như: ITX, KCE, AVtech, Questeck, HoneyWell, Sony, Samsung, Panasonic,… Việt Dũng xây dựng các dịch vụ của của mình dựa trên các tiêu chuẩn của chính hãng. Các dịch vụ này thường xuyên được kiểm tra, cập nhật và cải tiến nhằm đáp ứng tốt nhất với các yêu cầu của khách hàng. Cũng nhờ mối quan hệ trực tiếp với các nhà cung cấp, các dịch vụ bảo hành của Việt Dũng luôn được đảm bảo bởi tiêu chuẩn của nhà sản xuất danh tiếng nhất.

Với phương châm chọn sự hài lòng của khách hàng là quyền lợi của mình, nên công ty đã không ngừng phấn đấu để nâng cao chất lượng kỹ thuật cho sản phẩm và chất lượng phục vụ khách hàng. Trong thời gian vừa qua công ty đã tạo được uy tín, mối quan hệ rộng rãi với các ban ngành tại trung ương, địa phương cũng như chủ đầu tư trên khắp cả nước. Vị thế của công ty ngày càng được nhiều bạn hàng biết đến, đối tác của chúng tôi ngoài các khách hàng trong nước còn có các tập đoàn và công ty nước ngoài.

2.1.2. Bộ máy tổ chức và các phòng ban Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty kỹ thuật.

Sơ đồ 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý hành chính của Công ty

  • Đại Hội đồng cổ đông

Đại Hội đồng cổ đông bao gồm các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong Công ty, có quyền quyết định mọi vấn đề thuộc về hoạt động SXKD của Công ty. Đại Hội đồng cổ đông hoạt động theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.

  • Hội đồng quản trị

HĐQT là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến SXKD và quyền lợi của Công ty như quyết định chiến lược phát triển của Công ty, quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường,…trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ. HĐQT hoạt động theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.

  • Ban kiểm soát

Ban kiểm soát có chức năng giám sát HĐQT, Ban Tổng Giám đốc Công ty về việc quản lý và điều hành Công ty. Chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong thực hiện các nhiệm vụ đươc giao.

  • Ban Tổng Giám đốc

Tổng Giám đốc của Công ty là Ông Lê Trọng Việt, là người đại diện mọi quyền lợi, nghĩa vụ của Công ty trước pháp luật và trước cơ quan quản lý Nhà nước. Quản lý và lãnh đạo toàn bộ hoạt động SXKD của Công ty, báo cáo HĐQT về các hoạt động của Công ty. Ban Tổng Giám đốc thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo điều lệ tổ chức, hoạt động của Công ty và pháp luật của Nhà nước.

  • Các phòng ban chức năng, trung tâm dịch vụ và bộ phận khách hàng

Có nhiệm vụ thực hiện các công việc do Ban Tổng Giám đốc giao, hoàn thành các công việc được giao theo đặc điểm riêng của từng phòng. Bao gồm các phòng hành chính – nhân sự, phòng kinh doanh, phòng tài chính – kế toán, trung tâm bảo hành, bộ phận dịch vụ khách hàng.

2.1.3. Tình hình kinh doanh của Công ty

Căn cứ vào Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty trong 3 năm 2023, 2024 và 2025 (bảng 2.1) ta có thể thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có một vài thay đổi. Có thể thấy rõ nhất là sự thuyên giảm của doanh thu qua từng năm, lợi nhuận sau thuế giảm đi đáng kể, năm sau thấp hơn so với năm trước. Để hiểu thêm điều này ta có thể đi sâu phân tích các chỉ tiêu. Cụ thể như sau:

  • Bảng 2.1. Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2023 – 2025

Tình hình doanh thu: Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ năm 2024 giảm 21,75% so với năm 2023. Năm 2025, doanh thu thuần vẫn tiếp tục giảm thêm 22,37% so với năm 2024. Mức giảm này mang tính tiêu cực và không có lợi cho Công ty. Nguyên nhân một phần là do trong năm 2024 và 2025, công tác bán hàng không tốt, các đơn hàng bán tại cửa hàng cũng như một số đơn hàng lớn quan trọng bán cho các trung tâm điện máy giảm do nhu cầu về các sản phẩm điện tử có thương hiệu đến từ Đài Loan ít được ưa chuộng hơn, sự phát triển mạnh mẽ của các thương hiệu lớn trên thế giới như Sony, Samsung, LG,…một phần nào đó đã ảnh hưởng khá lớn đến các thương hiệu nhỏ hơn. Tuy nhiên chỉ có một số mặt hàng như đâu thu kỹ thuật số là khó bán, còn lại các sản phẩm camera quan sát vẫn bán khá tốt, đồng thời nhận được sự ủy quyền bảo hành sửa chữa của các hãng Panasonic, Avtech, Music Core,…hoạt động kinh doanh sửa chữa bảo hành của Công ty vẫn diễn ra bình thường. Một nguyên nhân khác cũng được tính đến đó là tình hình kinh tế ngày một khó khăn, người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, mọi năm vào các dịp lễ tết là dịp Công ty kinh doanh tốt nhất do nhu cầu mua các đầu ghi hình kỹ thuật số phục vụ giải trí trong ngày lễ tăng cao, tuy nhiên vài năm trở lại đây thì nhu cầu này đã giảm đi khá nhiều

Tình hình chi phí: Doanh thu thuần năm 2024 giảm đồng nghĩa với chỉ tiêu giá vốn hàng bán của năm 2024 cũng giảm đi 0,76 lần tương ứng với giảm 24,03% so với năm 2023. Với tốc độ giảm như vậy, có thể thấy tốc độ giảm của giá vốn hàng bán nhanh hơn so với tốc độ giảm doanh thu thuần. Điều này dẫn đến lợi nhuận gộp chỉ giảm 19,12% so với năm 2023. Nguyên nhân là do tình hình kinh doanh kém đi, để kích cầu, Công ty phải sử dụng một số các chương trình khuyến mại giảm giá dành cho các khách hàng đến mua sắm tại cửa hàng. Năm 2025, do doanh thu tiếp tục giảm kéo theo mức giá vốn hàng bán giảm 19,73%, giá vốn hàng bán năm này giảm chậm hơn so với doanh thu thuần một phần do giá thành hàng hóa đã tăng lên do chi phí vận chuyển tăng, phần còn lại do Công ty chưa chú trọng trong việc tiết kiệm tối đa chi phí giá vốn, vẫn còn để phát sinh nhiều khoản chi phí không cần thiết trong quá trình bán hàng.

Chỉ tiêu chi phí quản lý kinh doanh trong 3 năm phân tích giảm nhưng không đều. Chỉ tiêu này giảm chứng tỏ công tác quản lý bán hàng và quản lý doanh nghiệp của công ty đã tốt hơn. Năm 2024, mặc dù doanh thu giảm nhưng chi phí quản lý kinh doanh năm 2024 vẫn tăng 15%. Nguyên nhân là do nhận thấy tình hình kinh doanh năm 2024 đã bắt đầu sa sút, Công ty đã mạnh tay chi tiền vào công tác bán hàng, kích thích tiêu dùng tuy nhiên hiệu ứng mang lại không cao, doanh thu vẫn giảm. Sang đến năm 2025, chi phí quản lý kinh doanh đã giảm 14,07% so với năm 2024. Để làm ăn có lãi đòi hỏi Công ty phải tiết kiệm các khoản chi phí hoạt động khác, tận dụng tối ta năng suất lao động của nhân viên, sử dụng tối đa các tài sản phục vụ mục đích chuyên chở, hạn chế thuê ngoài sẽ giúp công ty tiết kiệm được một khoản chi phí khá lớn.

Công ty không có hoạt động đi vay các Ngân hàng để vay vốn kinh doanh mà chủ yếu chiếm dụng vốn từ đối tác, vay nội bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty. Do tình hình kinh doanh kém đi, Công ty cũng ít nhập hàng hóa hơn, để đảm bảo uy tín Công ty vẫn tiếp tục thanh toán dần các khoản nợ cũ, các khoản nợ mới phát sinh không nhiều đã giúp cho Công ty giảm đi gánh nặng trả nợ.

Mặc dù tình hình kinh doanh không thuận lợi, doanh thu và lợi nhuận giảm nhưng Công ty vẫn đảm bảo nghĩa vụ trả thuế đầy đủ.

Tình hình lợi nhuận: Lợi nhuận sau thuế là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế năm 2024 giảm 33,08% so với năm 2023 do cho doanh thu thuần năm 2024 giảm. Tuy nhiên có thể thấy lợi nhuận sau thuế giảm nhanh hơn doanh thu thuần khá lớn. Nguyên nhân là do sự phát sinh tăng của các khoản chi phí hoạt động, đặc biệt là chi phí quản lý kinh doanh đã làm cho lợi nhuận sau thuế giảm nhanh hơn. Năm 2025, do tình hình kinh doanh vẫn tiếp tục đi xuống, doanh thu thuần giảm đã làm cho lợi nhuận sau thuế tiếp tục giảm thêm 39,86%. Có thể thấy lợi nhuận sau thuế của công ty khá nhỏ so với doanh thu. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế thì đây cũng là kết quả chung của nhiều DN kinh doanh thương mại trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, trong bối cảnh lạm phát thì chi phí giá vốn, chi phí hoạt động của các DN đều tăng. Sự hỗ trợ của nhà nước trong việc điều chỉnh giảm thuế suất thuế TNDN từ 28% xuống mức 25% có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 đã phần nào giảm bớt gánh nặng cho các DN trong giai đoạn khủng hoảng.

2.2. Thực trạng sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng

2.2.1. Phân tích tình hình biến động vốn tại Công ty

  • Phân tích tình hình biến động vốn theo nguồn hình thành

Qua bảng số liệu đã tính toán (bảng 2.2), trước hết có thể đưa ra những nhận xét tổng quan về tình hình nguồn vốn của Công ty như sau: Quy mô nguồn vốn của Công ty có xu hướng giảm nhưng không đều trong giai đoạn 2023 – 2025. Tuy nhiên, lượng tăng (giảm) chủ yếu nằm ở nợ phải trả, vốn chủ sở hữu cũng có giảm nhưng với một lượng khá nhỏ. Cụ thể, năm 2024 tổng nguồn vốn tăng 1.375 triệu đồng so với năm 2022, tương đương tốc độ 16,86%, tập trung phần lớn ở nợ phải trả với tốc độ gia tăng 64,00%. Sang đến năm 2025, tổng nguồn vốn lại giảm nhanh 2.506 triệu đồng so với năm 2024, tương ứng tỉ lệ giảm 26,28%, lượng giảm vẫn chủ yếu ở nợ phải trả với tỉ lệ ở mức cao (51,20)%. Sự thay đổi của từng khoản mục trong tổng nguồn vốn được trình bày cụ thể hơn ở phần sau đây: Nợ phải trả: Công ty không có nợ dài hạn, nợ ngắn hạn có xu hướng giảm nhưng không đều. Cụ thể:

  • Bảng 2.2. Tình hình biến động vốn theo nguồn hình thành tại Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng

Nợ ngắn hạn: Nợ ngắn hạn của Công ty có sự gia tăng trong năm 2024 và giảm trong năm 2025. Nợ ngắn hạn năm 2024 tăng lên so với năm 2023 do trong năm Công ty chiếm dụng vốn, trả chậm vốn của đối tác kinh doanh. Năm 2024, công tác bán bàng không tốt, các đơn hàng bán tại của hàng và các đơn hàng lớn với các trung tâm điện máy giảm cả về số lượng lẫn quy mô đã làm cho quy mô doanh thu giảm, hàng tồn kho tăng do không bán được và một số lượng hàng đặt trước đã về đến kho , Công ty không đủ tiền thanh toán cho nhà cung cấp vì vậy đã thực hiện gia hạn mua chịu đối với bên cung cấp hàng đến từ Đài Loan và Trung Quốc.

Ngược lại với năm 2024, nợ ngắn hạn năm 2025 lại giảm xuống. Nguyên nhân xuất phát từ hoạt động kinh doanh các mặt hàng khác ngoài đầu thu kỹ thuật số như camera quan sát vẫn kinh doanh khá tốt đã làm giảm một lượng khá lớn hàng tồn trong kho, Công ty có tiền để thanh toán cho nhà cung cấp.

Vay ngắn hạn: Công ty không đi vay và nợ ngắn hạn từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Công ty không đi vay ngắn hạn tại ngân hàng sở dĩ Công ty là một doanh nghiệp nhỏ, vốn chủ sở hữu đủ để thực hiện đầu tư mua sắm hàng hóa. Thêm vào đó, nhờ vào uy tín là nhà đại diện bán các mặt hàng điện tử của các hãng đến từ Đài Loan và Trung Quốc, Công ty đã nhận được sự tin tưởng và hậu thuẫn khá nhiều từ các nhãn hàng này khi đồng ý cho vay nợ hoặc trả chậm tiền hàng. Điều này sẽ giúp Công ty tiết kiệm được một khoản chi phí lãi vay khá lớn thay vì phải đi vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Tuy nhiên, việc không đi vay ngắn hạn cho thấy Công ty chưa biết vận dụng những lợi ích từ đòn bẩy tài chính đem lại, không tạo được động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời chi phí huy động vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu thường khá cao.

Phải trả người bán: So với năm 2023, khoản mục này tăng khá nhiều trong năm 2024, tăng tới 1.405 đồng hay 60,68%. Tuy nhiên, năm 2025 lại giảm 1.924 triệu đồng, giảm 51,82% so với năm 2024. Có sự tăng giảm đột biến như vậy là do năm 2024 Công ty có nhập thêm hàng hóa là các sản phẩm âm li, loa đài, đầu kỹ thuật số để phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

Phải trả người bán tăng cho thấy Công ty đã được sự tin tưởng của nhà cung cấp nên được nới lỏng chính sách bán chịu dành cho Công ty. Bên cạnh đó, Công ty muốn chiếm dụng vốn của nhà cung cấp, một phần không đủ dự trữ tiền để có thể thanh toán ngay, hai là do tình hình kinh doanh kém khiến Công ty không có đủ tiền để trả nợ. Người mua trả tiền trước: năm 2024 tăng 137 triệu đồng, tốc độ tăng 134,96%. Đây chủ yếu là các khoản tiền ứng trước cho Công ty. Điều này có được là do Công ty trong thời gian qua đã nhận được sự tin tưởng cao hơn từ phía khách hàng. Đây là nguồn vốn chiếm dụng có chi phí sử dụng vốn thấp, Công ty cần chú trọng sử dụng tốt nguồn vốn này để duy trì và đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh. Sang năm 2025 giảm 83 triệu đồng, tốc độ giảm 34,91%.

Thuế và các phải nộp Nhà nước có xu hướng giảm qua 3 năm, cụ thể năm 2024 giảm 100%, sang năm 2025 Công ty không còn nợ tiền thuế phải nộp Nhà nước. Điều này cho thấy Công ty đã luôn cố gắng hoàn thành tốt nghĩa vụ nợ với Nhà nước. Điều này làm tăng hình ảnh của Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng đối với Chi Cục Thuế Ba Đình.

Mặc dù tình hình kinh doanh có sự giảm sút, tuy nhiên hàng tháng công ty vẫn thực hiện thanh toán lương đều đặn cho cán bộ công nhân viên trong Công ty, khoản phải trả người lao động năm 2023 không đáng kể. Điều này giúp tạo động lực làm việc cho nhân viên, giúp họ an tâm trong công việc. Các khoản phải trả ngắn hạn khác phát sinh trong năm không lớn, chủ yếu là các khoản chi phí trả trước ngắn hạn trong một số hoạt động mua sắm phát sinh không thường xuyên.

Nhìn vào bảng tình hình biến động vốn cho thấy, Công ty không có hoạt động đi vay nợ dài hạn mà chủ yếu sử dụng nợ ngắn hạn và vốn chủ sở hữu để đầu tư cho hoạt động kinh doanh. Có thể thấy việc tiếp cận nguồn vay ngắn hạn và dài hạn từ phía ngân hàng và các tổ chức tín dụng thường rất khó và thiếu khả thi đối với các công ty quy mô nhỏ như Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng.

Vốn chủ sở hữu: Khoản mục này luôn giảm dần qua các năm, tuy nhiên lượng giảm không nhiều. Sự thay đổi này nằm ở khoản lợi nhuận chưa phân phối mà Công ty trích lập, Công ty đã trích lập lợi nhuận cho nhà đầu tư nhiều hơn lượng lợi nhuận sau thuế hàng năm đã làm cho khoản lợi nhuận sau thuế chưa phân phối năm 2025 bị âm 461 triệu đồng, còn vốn đầu tư của chủ sở hữu vẫn không thay đổi. Năm 2024, vốn chủ sở hữu giảm 178 đồng tương ứng tốc độ giảm 3,09% so với năm 2024 trong đó lợi nhuận chưa phân phối giảm 178 triệu đồng (giảm 95,55%). Sang đến năm 2025, vốn chủ sở hữu giảm với tốc độ nhanh hơn 8,44% trong đó lợi nhuận chưa phân phối giảm 469 triệu đồng. Như vậy qua 3 năm vốn chủ sở hữu của Công ty ít có sự biến động mạnh và đang giảm dần, đây là một điểm yếu của Công ty khi cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên địa bàn. Công ty cần có các chủ trương tăng vốn đầu tư của chủ sở hữu nhằm nâng cao tính tự chủ về mặt tài chính.

  • Phân tích tình hình biến động vốn theo tốc độ luân chuyển

Bảng 2.3. Tình hình biến động vốn theo tốc độ luân chuyển tại Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng

Tổng quan về vốn: Năm 2024 tổng vốn tăng 16,86% so với năm 2023. Trong đó, chủ yếu là đầu tư vào vốn lưu động trong khi đầu tư vào vốn cố định giảm.

Vốn lưu động: Năm 2024 tăng 20,34% so với năm 2023; năm 2025 lại giảm 26,86%. Sự biến động của vốn lưu động chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi của các khoản mục cấu thành nên vốn lưu động đó là tiền và các khoản tương đương tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và vốn lưu động khác.

Tiền và các khoản tương đương tiền: Khoản mục này của Công ty chủ yếu là lượng tiền mặt được Công ty giữ tại két, Công ty không thực hiện hoạt động đem tiền gửi ngân hàng để lấy lãi mà thường để tại két để thực hiện thanh toán. Năm 2023, Công ty giữ một lượng tiền mặt rất lớn lên tới 2.132 triệu đồng. Việc giữ một lượng tiền trong két lơn như vậy sẽ giúp Công ty đảm bảo thanh toán các khoản chi phí thường xuyên, thanh toán kịp thời tiền hàng hay thanh toán sớm để hưởng chiết khấu thanh toán từ nhà cung cấp. Tuy nhiên, việc Công ty giữ một tiền mặt quá lớn sẽ đánh mất đi cơ hội đầu tư sinh lời vào các đầu tư. Thông thường, lượng tiền mặt nếu không được sử dụng sẽ không có khả năng sinh lời. Đến những năm sau đó, Công ty đã nhận thức được tính không hiệu quả của việc giữ quá nhiều tiền mặt, lượng tiền mặt cũng vì thế mà giảm dần qua từng năm. Năm 2024, lượng tiền mặt đã giảm 301 triệu đồng khi chỉ còn 1.831 triệu đồng có trong két. Sang đến năm 2025, lượng tiền mặt lúc này chỉ còn 670 triệu đồng (giảm 1.161 triệu đồng so với năm 2024, tương ứng với mức giảm 63,40%). Lượng tiền mặt hàng năm giảm khá nhanh đã tác động làm cho vốn lưu động tại Công ty có xu hướng giảm và giảm mạnh nhất vào năm 2025, cùng với năm lượng tiền mặt giảm mạnh nhất.

Các khoản phải thu: Các khoản phải thu của Công ty chủ yếu là khoản phải thu khách hàng, một phần nhỏ đến từ khoản tiền Công ty trả trước cho người bán. Là một công ty kinh doanh thương mại vì thế Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng không tránh khỏi việc cho khách hàng vay nợ hàng hóa để đảm bảo mối quan hệ lâu dài, đồng thời tìm kiếm thêm các khách hàng mới khi thực hiện chính sách nới lỏng tín dụng cho khách hàng. Khoản phải thu khách hàng lớn sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới công tác thu hồi vốn lưu động để đầu tư kinh doanh cho kỳ sau. Năm 2024, khoản phải thu khách hàng tăng 248 triệu đồng, tương ứng với tăng 8,62%. Lúc này, khoản phải thu khách hàng đã đạt mức 3.245 triệu đồng năm 2024 so với mức 2.875 triệu đồng vào năm 2023. Khoản phải thu khách hàng năm 2024 tăng là do sức ảnh hưởng từ tình hình kinh doanh kém, thị trường hàng điện tử, đầu thu kỹ thuật số, camera ngày càng trở nên khốc liệt và khó cạnh tranh hơn dưới sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của các thương hiệu điện tử lớn như Samsung, Sony, LG,… Các thương hiệu này hiện nay đã bắt đầu tấn công khá nhiều sang phân khúc các sản phẩm điện tử giá rẻ đã tạo nên sức ép lớn cho các hãng điện tử đến từ Đài Loan, Trung Quốc,…xưa nay đã nổi tiếng với các sản phẩm giá rẻ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng đủ đáp ứng cho nhu cầu của người tiêu dùng. Chính vì lẽ đó, để đảm bảo các mặt hàng luôn bán được, đảm bảo doanh thu, Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng đã tích cực thực hiện các biện pháp giảm giá, nới lỏng tín dụng cho khách hàng, gia hạn thời hạn trả tiền,… để kích cầu. Chính điều này đã làm cho khoản phải thu khách hàng trong năm tăng mạnh.

Mặc dù đã thực hiện khá nhiều các chiêu thức giảm giá, nới lỏng tín dụng nhưng tình hình kinh doanh cũng không được cả thiện nhiều. Vì vậy, để đảm bảo có vốn, Công ty đã tích cực thu hồi các khoản nợ cũ từ khách hàng, thu hồi các khoản tiền khách hàng được gia hạn đến hạn trả nợ. Chính vì lẽ đó mà trong năm 2025, khoản phải thu khách hàng đã giảm 670 triệu đồng, tương ứng với giảm 21,56% khi chỉ còn 2.545 triệu đồng. Mặc dù giảm, nhưng khoản phải thu vẫn còn rất lớn. Do đó, trong thời gian tới Công ty nên tích cực và chú trọng công tác thu hồi nợ hơn nữa. Sự tăng giảm không đều của khoản phải thu công với quy mô các khoản phải thu lớn đã tác động không nhỏ tới tình hình biến động vốn của Công ty.

Hàng tồn kho là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn lưu động. Vì thế, bất kì sự thay đổi nào của hàng tồn kho cũng đều ảnh hưởng đến quy mô vốn lưu động. Vốn lưu động năm 2024 tăng do khoản phải thu khách hàng năm 2024 tăng lên một lượng là 248 triệu đồng (tăng 8,62% so với năm 2023), ngoài ra khoản trả trước cho người bán cũng tăng thêm 121.569.835 đồng. Cũng trong năm 2024 hàng tồn kho tăng 53,60% so với năm 2023. Do đặc thù là đơn vị kinh doanh thương mại là chính nên tỷ trọng hàng tồn kho cao trong tổng tài sản của Công ty để đảm bảo cung ứng kịp thời trong kinh doanh. Năm 2025, vốn lưu động giảm nhiều hơn so với tốc độ tăng của năm 2024 khi giảm thêm 26,85%. Ngoài nguyên nhân đến từ lượng tiền tại Công ty giảm mạnh, khoản phải thu năm 2025 cũng giảm 20,60% so với năm 2024 thì còn đến từ nguyên nhân xuất phát từ việc hàng tồn kho trong năm 2025 cũng bị giảm 619 triệu đồng, tương ứng với tốc độ giảm 15,54%. Dưới tác động tổng hợp trên làm cho vốn lưu động giảm khá nhiều trong năm 2025.

Vốn cố định: Vốn cố định của Công ty chỉ bao gồm phần tài sản cố định. Vốn cố định tại Công ty qua 3 năm liên tục giảm. Năm 2024, mặc dù nguyên giá tài sản tăng nhẹ 1,57% do Công ty mua thêm tài sản phục vụ cho mục đích bảo quản, trưng bày sản phẩm nhưng vốn cố định tại Công ty vẫn giảm 35,66% so với năm 2023. Trong đó, tài sản cố định hữu hình giảm 20,03% và vốn cố định khác giảm 78,58%. Trong năm 2024 và 2025, Công ty ít đầu tư mua thêm vốn cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình và chủ yếu đầu tư vào vốn lưu động. Tại Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng, tài sản cố định hữu hình chiếm một tỷ trọng khá nhỏ trong tổng nguồn vốn. Điều này phù hợp với một doanh nghiệp kinh doanh thương mại với các loại thiết bị phục vụ kinh doanh đơn giản.

2.2.2. Phân tích cơ cấu vốn tại Công ty

  • Phân tích cơ cấu vốn theo nguồn hình thành

Bảng 2.4. Cơ cấu theo nguồn hình thành của Công ty

Qua bảng 2.4 có thể dễ dàng nhận thấy, cơ cấu nguồn vốn của Công ty có sự chuyển dịch bằng cách giảm dần tỷ trọng nợ phải trả (chỉ có nợ ngắn hạn trong nợ phải trả nên có thể nói giảm dần tỷ trọng nợ ngắn hạn) và tăng dần tỷ trọng vốn chủ sở hữu. Cơ cấu này cũng thể hiện cả hệ số nợ và tỉ suất tự tài trợ của Công ty. Bảng trên cho thấy hệ số nợ phải trả hay tỉ trọng nợ của Công ty đang có xu hướng tăng dần từ 29,73% năm 2023 lên đến 41,73% vào năm 2024 và sang đến năm 2025 lại giảm xuống còn 27,62%. Và tỷ trọng này chênh lệch rất lớn so với tỷ trọng vốn chủ sở hữu. Ngược lại tỉ suất tự tài trợ (hay tỉ trọng vốn chủ sở hữu) lại tăng dần nhưng không đều qua các năm, từ 70,27% năm 2023 xuống còn 58,27% năm 2025 và sang đến năm 2025 lại tăng lên 72,38%. Điều này cho thấy năm 2024 Công ty đang tăng cường sử dụng các nguồn chiếm dụng vốn từ bên ngoài nhưng sang năm 2025 lại thay đổi chính sách sử dụng vốn chủ sở hữu nhiều hơn. Vốn chủ sở hữu có ưu điểm là không phải chịu chi trả lãi, có độ ổn định cao giúp Công ty có những kế hoạch phát triển cho lâu dài, mặt khác nguồn vốn chủ sở hữu, tuy chi phí sử dụng vốn cao hơn nhưng nó đảm bảo được khả năng tự chủ về mặt tài chính, giảm rủi ro tài chính.

  • Phân tích cơ cấu vốn theo tốc độ luân chuyển

Bảng 2.5. Cơ cấu vốn theo tốc độ luân chuyển của Công ty

Cơ cấu vốn lưu động là quan hệ tỷ lệ giữa các khoản mục trong vốn lưu động, thể hiện mức độ đầu tư, phân bổ vốn lưu động trong DN. Qua đó, ta có thể nhận định được loại hình DN và các chính sách đầu tư ngắn hạn của DN. Bên cạnh đó, thông qua sự biến đổi trong cơ cấu vốn lưu động, ta có thể nhìn thấy sự thay đổi tích cực hay không của công tác quản lý, sử dụng vốn lưu động tại một DN.

Năm 2023, tổng vốn lưu động của Công ty chiếm tỷ trọng 93,77% trong tổng vốn kinh doanh, sang năm 2024 và 2025 có sự tăng thêm trong quy mô vốn lưu động, khi chiếm tỷ trọng 96,57% trong tổng vốn kinh doanh năm 2024 và 95,83% năm 2025. Nguyên nhân của sự tăng này vừa do sự điều chỉnh của Công ty, vừa do sự thay đổi của các khoản mục trong quá trình kinh doanh. Trong đó hàng tồn kho luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn lưu động, kế đến là khoản phải thu, tiền và cuối cùng là Vốn lưu động khác.

Tiền và các khoản tương đương tiền: Năm 2023, khoản mục này chiếm tỷ trọng 26,13% trong tổng vốn lưu động và có xu hướng giảm nhanh hơn về những năm tiếp theo. Năm 2024 tiền và các khoản tương đương tiền giảm còn 19,20%, năm 2025 thì chỉ còn 9,53% trong tổng vốn lưu động. Ta có thể thấy trong 3 năm năm phân tích, dự trữ tiền mặt giảm trong khi dự trữ vốn lưu động của Công ty lại có xu hướng tăng, cho đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của tỷ trọng này. Việc Công ty điều chỉnh giảm lượng dự trữ tiền mặt là biện pháp tích cực và nên tiếp tục thực hiện trong tương lai và chỉ nên dự trữ một lượng tiền tối thiểu đủ để đảm bảo các chi phí giao dịch thường xuyên.

Hàng tồn kho: Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn lưu động (năm 2023 là 31,80%, năm 2024 là 41,79% và năm 2025 là 47,88%) do đặc thù là DN kinh doanh thương mại nên việc dự trữ hàng hóa phục vụ cho hoạt động kinh doanh bán hàng là điều đương nhiên và hết sức cần thiết để đảm bảo việc đáp ứng kịp thời các đơn hàng. Tuy nhiên, việc dự trữ tồn kho có thể gây ra các chi phí không cần thiết như chi phí bảo quản và không giúp DN sinh lời. Do vậy, đơn vị cần có kế hoạch cụ thể về lượng đặt hàng tối ưu, tránh dự trữ quá nhiều, đồng thời đẩy nhanh tốc độ bán hàng và hoàn thành hợp đồng nhằm giảm đến mức tối thiểu khoản mục hàng tồn kho.

Các khoản phải thu: Các khoản phải thu luôn là khoản mục chiếm tỷ trọng cao thứ hai trong tổng vốn lưu động, năm 2024 là 32,76% và năm 2025 là 34,39%. Như vậy có nghĩa là một tỷ lệ khá lớn vốn lưu động của Công ty đang tồn đọng dưới dạng các khoản phải thu, bị khách hàng chiếm dụng. Mặc dù tỷ trọng năm 2025 tăng lên so với năm 2024 nhưng nhìn vào con số cụ thể trong Bảng cân đối kế toán, ta thấy năm 2025 quy mô các khoản phải thu đã giảm đi so với năm 2024 cho thấy Công ty đang có những biện pháp tích cực trong việc thu hồi công nợ. Việc Công ty thường xuyên theo dõi khoản phải thu và đôn đốc, ghi nhận thời hạn trả nợ của khách hàng, gửi thư thông báo thời hạn trả nợ hoặc điện thoại với khách hành xác nhận thời hạn trả nợ, chủ động liên hệ với khách hàng sớm, thay vì chờ đến ngày hoá đơn hết hạn thanh toán đã giúp Công ty không những quản lý tốt các khoản phải thu mà còn giúp Công ty giữ được mối quan hệ tốt với khách hàng.

Vốn lưu động khác: Các vốn lưu động còn lại trong Công ty chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn nhưng tỷ trọng lại đang có xu hướng tăng lên qua mỗi năm. Năm 2023, vốn lưu động khác chỉ chiếm 0,61% trong tổng vốn lưu động, trong đó chủ yếu là thuế giá trị gia tăng được khấu trừ và một phần tài sản ngắn hạn khác. Năm 2024, vốn lưu động khác chiếm 1,55% tổng vốn lưu động và năm 2025 là 2,21%.

Như vậy, qua phân tích cơ cấu vốn lưu động tại Công ty, ta có thể nhận thấy xu hướng chung của Công ty là giảm lượng tiền mặt và tăng các khoản phải thu cũng như tăng lượng dự trữ hàng tồn kho. Có thể thấy một số chuyển biến tích cực tuy nhiên vẫn còn những điểm chưa hợp lý như: Dự trữ quá nhiều hàng tồn kho gây chi phí không cần thiết; các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn gây giảm khả năng thanh toán bằng tiền, lượng tiền mặt thấp… Để đạt được hiệu quả tối đa từ sử dụng vốn lưu động, Công ty cần có các biện pháp khắc phục những hạn chế này, đồng thời theo dõi chặt chẽ và đánh giá thường xuyên các bộ phận cấu thành của vốn lưu động.

Cơ cấu vốn cố định qua 3 năm phân tích đang có xu hướng giảm nhưng không đều giữa các năm. Năm 2023 – 2024: Cơ cấu vốn cố định giảm từ 6,23% xuống còn 3,43% trong tổng nguồn vốn (giảm 2,8% so với năm 2023). Trong đó, tài sản cố định hữu hình giảm từ 4,56% xuống còn 3,12% (giảm 1,44% so với năm 2023) và vốn cố định khác (chủ yếu là khoản phải thu dài hạn) giảm từ 1,66% xuống còn 0,30% trong tổng vốn cố định. Tuy nhiên sang năm 2025, tỷ trọng vốn cố định có xu hướng tăng lên, nguyên nhân chủ yếu đến từ khoản phải thu dài hạn tăng đã làm cho vốn cố định tăng mặc cho tài sản cố định vẫn đang giảm đi.

2.2.3. Chiến lược quản lý vốn tại Công ty

Xem xét kết cấu tài sản – nguồn vốn tại Công ty, ta có thể nhận thấy vốn tại Công ty được quản lý theo chính sách thận trọng. Để có cái nhìn rõ nét hơn, chúng ta sẽ theo dõi hình minh họa dưới đây:

  • Hình 2.1. Mô hình chính sách quản lý vốn tại Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng

Chúng ta có thể thấy rõ chính sách thận trọng trong quản lý vốn tại Công ty: Tỷ trọng tài sản ngắn hạn luôn lớn hơn nợ ngắn hạn, do đó một phần nguồn vốn dài hạn được sử dụng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn. Chính sách này mang lại khá nhiều ưu điểm, vì nguồn vốn dài hạn mang tính ổn định, ít rủi ro. Do đó, với chính sách này, Công ty đạt được khả năng tự chủ cao về mặt tài chính.

Năm 2024, tài sản ngắn hạn tại Công ty được quản lý thận trọng hơn với việc tăng từ 93,77% lên 96,57% và nợ ngắn hạn được quản lý một cách cấp tiến hơn với việc tăng từ 29,73% lên 41,73%. Quan sát sự thay đổi cơ cấu tài sản và nguồn vốn giữa hai năm, chúng ta có thể nhận thấy một sự thay đổi khi chính sách vốn tại Công ty đang dần trở nên thận trọng hóa.

Năm 2025, tài sản ngắn hạn của Công ty được quản lý cấp tiến hơn với việc giảm từ 96,57% năm 2024 xuống còn 95,83% năm 2025 và nợ ngắn hạn được quản lý một cách thận trọng hơn khi giảm từ 41,73% năm 2024 xuống còn 27,62% năm 2025. Tuy nhiên ta có thể thấy TSNH luôn > NVNH cho thấy mặc dù tỷ trọng của TSNH và NVNH có thay đổi như thế nào thì Công ty vẫn luôn phải dùng một lượng NVDH để tài trợ cho TSNH cho thấy chính sách qua 3 năm của Công ty vẫn luôn theo đuổi đó chính là chính sách quản lý vốn thận trọng.

Thực chất của chính sách này là dùng gần như hoàn toàn vốn chủ sở hữu để tài trợ cho phần tài sản ngắn hạn mà sử dụng rất ít nguồn nợ phải trả. Điều này một mặt đảm bảo sự ổn định về tài chính do không vấp phải nhiều áp lực chi trả nợ vay nhưng mặt khác, nó cũng cho thấy sự thiếu linh hoạt, có phần thụ động của đơn vị trong công tác tìm kiếm nguồn vốn đầu tư khi chỉ nhận vốn từ nhà đầu tư. Sự kết hợp giữa vốn chủ sở hữu và vốn vay là xu hướng chung của các DN ngày nay, Công ty cũng nên đi theo hướng này, tận dụng các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế, dân cư… để chủ động tạo ra những áp lực tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh, giảm sự thụ động trong công tác quản lý và tránh lãng phí vốn khi không được sử dụng một cách hiệu quả.

2.3. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn của Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng thông qua một số chỉ tiêu tài chính

2.3.1. Hiệu quả quản lý vốn theo tốc độ luân chuyển

  • Hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Trước tiên ta sẽ đi phân tích khả năng thanh toán của Công ty , các chỉ tiêu thuộc nhóm này là một thước đo quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.

  • Bảng 2.7. Chỉ tiêu khả năng thanh toán

Nhìn vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của Công ty, chúng ta có thể đưa ra một số nhận xét:

Khả năng thanh toán ngắn hạn: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi trong ngắn hạn các tài sản lưu động thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn. Theo số liệu tính toán ở trên, chỉ tiêu này năm 2024 bị giảm đi 0,84 lần so với năm 2023, đến năm 2025 lại tăng thêm 1,16 lần. Tuy nhiên, hệ số này của cả 3 năm đều lớn hơn 2 (năm 2023 là 3,15 lần, năm 2024 là 2,31 lần và năm 2025 là 3,47 lần). Do đó có thể thấy dự trữ tài sản lưu động của đơn vị đủ khả năng đảm bảo cho các khoản nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, chỉ tiêu này quá cao có thể gây ứ đọng vốn và tạo chi phí cơ hội không cần thiết khi dự trữ tài sản lưu động quá nhiều khiến giảm vốn đầu tư vào các tài sản sinh lời khác. Do vậy, Công ty nên quản lý chặt chẽ chỉ tiêu này để đảm bảo dung hòa giữa khả năng thanh khoản với tính hiệu quả đầu tư.

Tuy nhiên, khả năng thanh toán ngắn hạn thường không phản ánh chính xác khả năng thanh toán của một DN, do trữ lượng hàng tồn kho trong tài sản lưu động là khoản mục có tính thanh khoản rất thấp. Bởi vậy, khả năng thanh toán nhanh được quan tâm hơn.

Khả năng thanh toán nhanh: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng chuyển đổi tức thời tài sản lưu động thành tiền để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn. Vì vậy mà hàng tồn kho được loại trừ vì đây là khoản mục có tính thanh khoản thấp nhất trong số các tài sản lưu động. Có thể thấy, khả năng thanh toán ngắn hạn của Công ty bị tăng những biến động qua 3 năm nhưng cả 3 năm đều cho con số lớn hơn 2. Cùng với chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này cho thấy khả năng sẵn sàng thanh toán của Công ty khá tốt đối với nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này mặc dù giảm đi và nhỏ hơn so với chỉ tiêu trên do hàng tồn kho được dự trữ rất lớn, lớn nhất trong tổng tài sản lưu động, khả năng thanh toán nhanh vẫn đảm bảo lớn hơn 1.Điều này rất có lợi cho Công ty khi phải thường xuyên thu mua hàng hóa phục vụ cho hoạt động kinh doanh thương mại.

Khả năng thanh toán tức thời: Khả năng thanh toán tức thời phản ánh mức độ chi trả ngay bằng tiền các khoản nợ ngắn hạn của DN. Chúng ta có thể nhận thấy so với các chỉ tiêu trên thì chỉ tiêu này nhỏ nhất và đang có xu hướng giảm dần xuống. Năm 2023, khả năng thanh toán tức thời của Công ty là 0,88 lần, lớn hơn 0,5, lúc này Công ty có đủ khả năng để thanh toán ngay các nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Nhưng càng về sau, khả năng thanh toán tức thời của Công ty càng giảm và xuống thấp hơn 0,5, điều này phản ánh mức độ dự trữ tiền mặt của Công ty năm 2024 và 2025 chưa đủ để chi trả ngay các nghĩa vụ nợ ngắn hạn. Cụ thể, năm 2023, chỉ tiêu này là 0,88 lần, nghĩa là một đồng nợ ngắn hạn chỉ đáp ứng bằng 0,88 đồng dự trữ tiền mặt. Năm 2025, chỉ tiêu này nhỏ hơn nữa, giảm xuống còn 0,35 lần. Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một khía cạnh của tính thanh khoản và không phải càng lớn càng tốt vì dự trữ tiền mặt quá lớn gây ra rất nhiều chi phí cơ hội cho DN.

Tóm lại, trong cả ba năm 2023, 2024 và 2025, doanh nghiệp luôn duy trì được khả năng thanh toán ngắn hạn cao hơn 1, thậm chí là lớn hơn 2 cho thấy Công ty hoàn toàn có thể đảm bảo được khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số khả năng thanh toán nhanh mặc dù có xu hướng giảm nhưng chỉ tiêu này vẫn nằm trong mức an toàn khi luôn lớn hơn 1. Chỉ tiêu này cho thấy công ty vẫn có thể thanh toán các khoản nợ bằng tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh nhất có thể. Tuy nhiên cũng cẫn phải lưu ý rằng cho dù trị số của chỉ tiêu này vẫn lớn hơn 1, nếu không do áp lực phá sản hay một lí do nào đó, hiếm có một doanh nghiệp nào lại bán toàn bộ tài sản ngắn hạn hiện có (trừ hàng tồn kho) để thanh toán toàn bộ nợ ngắn hạn bởi như vậy sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty. Mặt khác, không phải tài sản ngắn hạn nào của doanh nghiệp cũng có thể bán ngay được. Còn đối với hệ số khả năng thanh toán tức thời đang giảm khá nhanh và nhỏ hơn 0,5 thì doanh nghiệp hầu như khó có thể đảm bảo được khả năng thanh toán tức thời nếu có sự phát sinh các khoản nợ phải trả trong thời gian 3 tháng và nếu Công ty không đảm bảo được khả năng này thì có lẽ các nhà quản trị Công ty nên cân nhắc áp dụng ngay các biện pháp tài chính khẩn cấp để tránh Công ty phải rơi vào tình trạng phá sản.

Vốn lưu động là bộ phận không thể thiếu trong mọi DN, mọi tổ chức kinh tế. Tuy nhiên, việc sử dụng vốn lưu động như thế nào để phát huy được hiệu quả trên mỗi đồng vốn bỏ ra là một bài toán khó và không phải DN nào cũng thực hiện tốt.

Bảng 2.6. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty giai đoạn 2023 – 2025

  • Vòng quay vốn lưu động

Giai đoạn năm 2023 – 2024: Năm 2023 vòng quay vốn lưu động là 1,36 vòng, năm 2024 giảm xuống 0,87 vòng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty chưa cao, tốc độ thu hồi vốn lưu động giảm. Nguyên nhân do năm 2024, quy mô vốn lưu động tăng từ 7.652 triệu đồng lên mức 9.208 triệu đồng, trong khi doanh thu thuần năm 2024 giảm xuống khiến cho vòng quay vốn lưu động giảm. Vốn lưu động tăng do các khoản mục khoản phải thu và hàng tồn kho tăng. Năm 2024, điều nhận thấy rõ nhất đó là tình hình kinh doanh của Công ty đang kém dần, để kích cầu, Công ty đã thực hiện nới lỏng tín dụng cho khách hàng nhằm tìm kiếm thêm khách hàng mới cũng như giữ được lượng khách cũ. Chính sách bán chịu được sử dụng tại Công ty là: x/5 net 30. Trong đó, x là tỷ lệ chiết khấu mà Công ty dành cho khách hàng hưởng trong vòng 5 ngày kể từ khi khách hàng nhận được hóa đơn. Tỷ lệ chiết khấu này thay đổi theo giá trị đơn hàng. 30 ngày là số ngày trả chậm tối đa mà Công ty cho phép khách hàng nợ. Trong đó, nếu khách hàng thanh toán trong vòng 5 ngày kể từ khi nhận hóa đơn mới được chiết khấu, thanh toán trong thời hạn còn lại sẽ không được hưởng chiết khấu. Nếu ngoài 30 ngày mà khách hàng chưa thanh toán sẽ phải chịu lãi suất phạt là lãi suất bình quân liên ngân hàng mà Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thanh toán trên số tiền nợ.

Tuy nhiên trên thị trường, sự bùng nổ và thắng thế của các thương hiệu điện tử lớn như Samsung, Sony, LG,…đã khiến không ít các mặt hàng điện tử cùng chủng loại như tăng âm, loa đài, đầu thu kỹ thuật số của một số hãng nhỏ hơn đến từ Đài Loan, Trung Quốc rơi vào tình trạng khó bán. Thêm vào đó, tình hình kinh tế bất ổn, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm, lạm phát leo thang khiến người tiêu dùng ngày càng thắt chặt chi tiêu khiến cho tình hình kinh doanh chung giảm xuống, sự ảnh hưởng này không những các doanh nghiệp lớn mà các doanh nghiệp nhỏ như Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng cũng phải gánh chịu. Hàng hóa mua về không bán được, doanh thu giảm, hàng tồn kho tăng lên đã làm cho vòng quay vốn lưu động trong Công ty giảm. Và việc tăng dự trữ vốn lưu động có thể là không phải là một cách hay trong thời điểm khi mà doanh thu đang có xu hướng giảm xuống, lợi nhuận sau thuế thu lại không cao, vốn lưu động bị chiếm dụng lớn.

Giai đoạn năm 2024 – 2025: Năm 2025 vòng quay vốn lưu động lại tăng lên mức 0,94 vòng do Công ty đã có những biện pháp tích cực trong công tác thu hồi công nợ và tích cực giảm lượng hàng tồn kho. Để có vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh cho những kỳ sau, việc thu hồi công nợ là một hành động cần thiết lúc này. Có thể thấy, công tác thu hồi công nợ phải thu của Công ty đã giảm đi đáng kể khi khoản phải thu khách hàng trong năm 2025 đã giảm thêm 22,60% so với năm 2024. Tình hình kinh doanh khó khăn cũng khiến Công ty nhập ít hàng hơn từ đối tác để đảm bảo hàng tồn trong kho của kỳ trước được bán hết. Hàng tồn kho năm 2025 cũng đã giảm thêm 15,54%, điều này sẽ giúp Công ty tiết kiệm được một khoản chi phí lưu kho, bảo quản hàng hóa.

  • Chu kỳ luân chuyển vốn lưu động

Giai đoạn năm 2023 – 2024: Năm 2023 vòng quay vốn lưu động là 1,36 vòng, năm 2024 giảm xuống 0,87 vòng đã làm cho chu kỳ luân chuyển vốn lưu động đã tăng lên từ 264,4 ngày lên 413,6 ngày. Có thể thấy năm 2024 phải mất hơn 1 năm Công ty mới thực hiện xong 1 vòng quay vốn lưu động, đây có thể nói là một thời gian khá dài đối với một công ty kinh doanh thương mại.

Giai đoạn năm 2024 -2025: Do tốc độ quay vòng vốn lưu động tăng nhẹ lên 0,94 vòng đã làm thời gian trung bình luân chuyển vốn lưu động cũng giảm xuống, từ 413,4 ngày năm 2024 xuống còn 383,28 ngày năm 2025. Mặc dù thời gian luân chuyển vốn lưu động giảm nhưng vẫn phải mất hơn 1 năm Công ty mới thu hồi được vốn lưu động để bắt đầu cho một kì kinh doanh mới. Vì vậy, trong tương lai Công ty cần tiếp tục thực hiện mạnh mẽ hơn những biện pháp thu hồi công nợ, giảm các khoản phải thu để đạt hiệu quả cao hơn nữa.

Ngoài các chỉ tiêu trên, hiệu quả sử dụng Vốn lưu động còn được thể hiện thông qua mức tiết kiệm Vốn lưu động: Mức tiết kiệm vốn lưu động có được do tăng tốc độ luân chuyển vốn được biểu hiện bằng hai chỉ tiêu là mức tiết kiệm tương đối và mức tiết kiệm tuyệt đối.

Trong đó:

  • Vtktđ1: Vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối
  • Vtktđ2: Vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối
  • M0 ,M1: Doanh thu thuần kỳ trước, kỳ này
  • V0 ,V1: Hiệu suất sử dụng vốn lưu động kỳ trước và kỳ này

Dựa vào công thức trên, áp dụng vào Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng ta tính được các mức tiết kiệm tuyệt đối và tương đối như sau:

  • Mức tiết kiệm tuyệt đối:

Chỉ tiêu này cho thấy: năm 2024, để đạt được mức doanh thu bằng năm 2023, Công ty cần bỏ ra một lượng vốn lưu động nhiều hơn so với năm 2023 là 4.313.812.699 đồng và năm 2025, để đạt được mức doanh thu bằng năm 2024, Công ty cần bỏ ra một lượng vốn lưu động ít hơn hơn so với năm 2024 là 675.064.208 đồng.

  • Mức tiết kiệm tương đối:

Chỉ tiêu này có nghĩa là năm 2024, Công ty cần phải bỏ thêm 3.319.710.238 đồng vốn lưu động lẽ ra phải bỏ để mở rộng doanh thu. Điều này có nghĩa là Công ty đã lãng phí tương đối 3.319.710.238 đồng. Một lượng vốn lưu động bị lãng phí và đáng lẽ sẽ được sử dụng để đầu tư mua sắm hàng hóa phục vụ cho hoạt động kinh doanh sẽ ảnh hưởng lớn tới doanh thu cũng lợi nhuận của Công ty, Công ty có thể rơi vào tình trạng thiếu vốn để đầu tư. Nhưng sang năm 2025 do tốc độ luân chuyển vốn lưu động tăng nên năm 2025, Công ty đã tiết kiệm được 532.894.665 đồng vốn lưu động để mở rộng doanh thu. Việc tiết kiệm được vốn lưu động hay nói cách khác việc bỏ ra lượng vốn lưu động ít hơn nhưng vẫn đảm bảo doanh thu và lợi nhuận sẽ đem lại nhiều lợi ích tích cực trong hoạt động đầu tư mở rộng kinh doanh cho những kì tiếp theo. Như vậy, trong cả 3 năm, chúng ta có thể thấy nhờ tăng hoặc giảm tốc độ luân chuyển vốn lưu động mà Công ty đã tiết kiệm hoặc phải bỏ thêm một phần vốn lưu động để đạt được mức doanh thu như cũ hay mở rộng doanh thu.

Sức sinh lời vốn lưu động: Được đo bằng lượng lợi nhuận sau thuế thu được trên 1 đồng vốn bỏ ra. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất bởi nó cho biết chính xác lợi nhuận mà Công ty đạt được trên 1 đồng vốn lưu động bỏ ra do đã loại trừ chi phí thuế TNDN. Ta có thể thấy mặc dù doanh thu thuần đạt được trên vốn lưu động khá lớn nhưng chỉ tiêu này lại hết sức khiêm tốn. Cụ thể, năm 2023 một đồng vốn lưu động tạo ra 0,103 đồng lợi nhuận sau thuế, sang năm 2024 giảm xuống còn 0,057 đồng lợi nhuận sau thuế, đến năm 2025 tiếp tục giảm thêm khi lúc này 1 đồng vốn bỏ ra chỉ thu về 0,047 đồng lợi nhuận sau thuế. Tình hình kinh doanh vẫn theo chiều hướng đi xuống, doanh thu thuần giảm, các khoản chi phí lớn kéo theo lợi nhuận sau thuế giảm, thêm vào đó, hàng hóa không bán được đã làm cho lượng hàng trong kho tăng lên khiến cho vốn lưu động tăng đã làm cho sức sinh lời trên vốn lưu động giảm.

Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động: Năm 2023 là 0,73 lần, năm 2024 là 1,15 lần và năm 2025 là 1,06 lần cho thấy để tạo ra một đồng doanh thu thuần, số vốn lưu động bình quân phải bỏ ra của năm 2025 nhiều hơn so với năm 2023 là 0,33 đồng và ít hơn năm 2024 là 0,09 đồng. Việc hệ số đảm nhiệm vốn lưu động tăng lên chứng tỏ Công ty chưa khai thác được hết lợi ích mà vốn lưu động đem lại, muốn giữ vững được doanh thu, lợi nhuận Công ty đã phải bỏ ra nhiều vốn đầu tư hơn.

Các chỉ tiêu bộ phận đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

  • Các chỉ tiêu đánh giá hàng tồn kho

Tại Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng, hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng vốn lưu động. Hàng tồn kho tại Công ty chỉ bao gồm hàng hóa thành phẩm Công ty để phục vụ cho kinh doanh, bán hàng.

  • Bảng 2.8. Tình hình hàng tồn kho

Dự trữ là khâu quan trọng trong quá trình kinh doanh của công ty, dự trữ nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty được liên tục, đáp ứng yêu cầu kịp thời của khách hàng, nếu dự trữ ở mức hợp lý sẽ góp phần đem lại hiệu quả sử dụng vốn, giảm được chi phí dự trữ hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu kinh doanh khá quan trọng bởi vì sản xuất dự trữ hàng hóa để tiêu thụ nhằm đạt mục đích doanh số và lợi nhuận như mong muốn trên cơ sở đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.

Dựa vào bảng số liệu trên, ta có thể thấy hàng tồn kho tại Công ty quay vòng với tốc độ tương đối nhanh nhưng đang giảm dần qua từng năm: 3,21 vòng/năm vào năm 2023, 1,59 vòng/năm vào năm 2024 và 1,51 vòng/năm vào năm 2025. Chỉ tiêu này giảm trong 3 năm phân tích phản ánh tốc độ luân chuyển hàng tồn kho của Công ty chậm. Năm 2023 là năm hàng tồn kho có tốc độ quay vòng lớn nhất, lúc này hàng hóa ở trong kho trước khi bán ra trung bình kéo dài khoảng 112,18 ngày. Năm 2024, vòng quay hàng tồn kho giảm xuống còn 1,59 vòng, lúc này số ngày quay vòng hàng tồn kho cũng tăng tương ứng lên mức 226,81 ngày. Đây là biểu hiện không tốt vì khả năng chuyển thành tiền của hàng tồn kho đã giảm. Nguyên nhân là do giá vốn hàng bán giảm 23,90% thấp hơn 53,60% là mức độ tăng của hàng tồn kho, bởi vì tiêu thụ bị hạn chế nên không đẩy mạnh tương xứng với lượng mua vào và sản xuất trong năm.

Năm 2025, vòng quay hàng tồn kho bắt đầu giảm rất nhiều so với năm 2023. Năm 2023, một đồng hàng tồn kho tạo ra 3,21 đồng giá vốn hàng bán, nhưng năm 2025 chỉ còn 1,51 đồng giá vốn hàng bán. Hệ số này giảm cho thấy doanh nghiệp bán hàng chậm và hàng tồn kho bị ứ đọng nhiều.

Tóm lại, thông qua những điều phân tích ở trên ta thấy giá trị tồn kho cuối kỳ thấp hơn nhiều so với giá vốn hàng bán ra trong năm cho thấy tình hình tiêu thụ trong công ty tương đối tốt. Tuy nhiên số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm xuống, vì tiêu thụ chưa tương xứng với quy mô hoạt động của Công ty. Số vòng quay hàng tồn kho có xu hướng giảm trung bình đạt 2,1 vòng, đồng thời làm thời gian quay vòng hàng tồn kho tăng với giá trị trung bình xoay quanh 192,5 ngày. Nguyên nhân cũng đã được đề cập ở trên do năm các năm này tốc độ tăng của hàng tồn kho luôn lớn hơn tốc độ tăng của giá vốn hàng bán. Do đó công ty cần đẩy mạnh tiêu thụ hơn nữa để đẩy nhanh quá trình chuyển thành tiền của hàng hóa đảm bảo cho nhu cầu thanh toán.

Các chỉ tiêu đánh giá về tình hình các khoản phải thu

  • Bảng 2.9. Chỉ tiêu đánh giá khoản phải thu

Vòng quay các khoản phải thu từ năm 2023 đến năm 2025 đang có xu hướng giảm nhưng không đều. Cụ thể:

Năm 2024 giảm so với năm 2023 từ 3,62 vòng xuống còn 2,47 vòng trong năm 2024. Điều đó cho thấy tốc độ quay vòng vốn bị chiếm dụng của Công ty đang kém hiệu quả hơn. Nguyên nhân đến từ việc Công ty nới lỏng tín dụng dành cho khách hàng để kích cầu tiêu dùng do năm 2024, tình hình kinh doanh có dấu hiệu đi xuống, để đảm bảo doanh thu và có lợi nhuận, Công ty đã cho khách hàng chiếm dụng vốn nhiều hơn, khiến cho khoản phải thu khách hàng năm 2024 đã tăng lên thêm 248 triệu đồng so với năm 2023.

Đến năm 2025 một lượng khoản phải thu đã giảm đi (giảm 706 triệu đồng) làm cho vòng quay các khoản phải thu tăng nhẹ lên mức 2,49 vòng và kỳ thu tiền trung bình giảm xuống từ 145,75 ngày năm 2024 xuống còn 144,82 ngày trong năm 2025. Điều này cho thấy trong chính sách quản lý các khoản phải thu của Công ty không tốt mặc dù công ty đã thực hiện nhiều chính sách tín dụng cho khách hàng nhằm kích thích khách hàng trả nợ, giúp rút ngắn số ngày thu tiền bình quân và tăng tốc độ quay vòng của các khoản phải thu.

Trong 3 năm, các chỉ tiêu về tình hình các khoản phải thu tăng giảm theo chiều hướng không tốt. Chỉ số này của công ty luôn giữ ở mức trung bình khoảng 2,86 vòng tương ứng với kỳ thu tiền trung bình là 130 ngày chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp được đánh giá là không tốt bởi với chính sách thu nợ là x/5 net 30 thì thời gian thu tiền trên là hoàn toàn quá hạn. Và lúc này khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bởi các khoản phải thu của Công ty giảm. Vì vậy trong thời gian tới Công ty cần phải có những nỗ lực để khắc phục nguyên nhân trên nhằm làm cho các chỉ tiêu này tăng và ổn định hơn trong thời gian tới.

  • b. Hiệu quả sử dụng vốn cố định

Vốn cố định được ứng ra và sau một thời gian tương đối dài mới thu hồi được toàn bộ. Do vậy, việc sử dụng tốt số Vốn cố định hiện có là vấn đề có ý nghĩa kinh tế rất lớn. Để đánh giá được trình độ tổ chức và sử dụng vốn cố định của DN cần sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng Vốn cố định. Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và hiệu quả sử dụng tài sản cố định.

  • Bảng 2.10. Các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn cố định

Dựa vào bảng số liệu trên ta nhận thấy xét một cách tổng thể thì hiệu quả sử dụng vốn cố định Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng là có cả dấu hiệu tốt và không tốt thể hiện qua các hệ số sau:

Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Năm 2024 tăng so với năm 2023 là 4,02 lần. Điều này có nghĩa là trong năm 2024 một đồng vốn cố định trong kỳ tạo ra được nhiều doanh thu thuần hơn năm 2023 là 4,02 đồng. Đến năm 2025, hiệu suất sử dụng vốn cố định giảm xuống do trong năm 2025, doanh thuần giảm 21,06 % trong khi vốn cố định chỉ giảm 10,31% trong năm 2025 đã làm cho hiệu suất sử dụng vốn cố định giảm. Doanh thu thuần giảm do tình hình kinh doanh giảm sút, các mặt hàng đầu thu kỹ thuật số của các thương hiệu Đài Loan, Trung Quốc mà Công ty đang kinh doanh trở nên khó cạnh tranh và khó bán hơn so với các thương hiệu lớn và nổi tiếng khác, trong năm 2025 hầu hết doanh thu đến từ các mặt hàng như camera kỹ thuật số công nghiệp và một số loại camera hồng ngoại thông minh. Vốn cố định của Công ty năm 2025 giảm là do năm 2025 Công ty không có hoạt động mua sắm thêm vốn cố định, thanh lí một số tài sản cố định không cần thiết, thêm vào đó là khấu hao vẫn được trích lập hàng năm đã làm giảm lượng vốn cố định của Công ty thêm 10,31%.

Hàm lượng vốn cố định: Ngược lại với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định thì chỉ tiêu hàm lượng vốn cố định cho biết để thu được một đồng doanh thu thì năm 2024 Công ty chỉ phải bỏ ra 0,04 đồng vốn cố định để đầu tư cho tài sản cố định ít hơn nếu so với năm 2023 phải bỏ ra 0,05 đồng. Doanh thu tăng lên trên một đồng vốn cố định bỏ ra, hay bỏ ra ít hơn để thu được cùng một đồng doanh thu, có thể đánh giá đây là thành tích một phần nào đó mục đích của doanh nghiệp đã đạt được.

Tỷ suất sinh lời vốn cố định: Mặc dù các chỉ tiêu trên đều dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của một doanh nghiệp nhưng thực chất các chỉ tiêu đó chưa đủ để kết luận rằng doanh nghiệp sử dụng vốn cố định đã hiệu quả hay chưa. Hai hệ số hàm lượng vốn cố định và hiệu suất sử dụng tài sản cố định đều được thành lập trên chỉ tiêu doanh thu nhưng doanh thu chưa phải là kết quả cuối cùng, chưa phải là mục tiêu cần đạt được của doanh nghiệp, điều mà các doanh nghiệp quan tâm và cũng là yếu tố cho thấy doanh nghiệp làm ăn lãi hay lỗ chính là lợi nhuận .Vì vậy để có kết quả sát thực nhất về hiệu quả sử dụng vốn cố định của Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng cần phải xem xét chỉ tiêu tỷ suất sinh lời vốn cố định của Công ty bởi đây là chỉ tiêu được xây dựng trên kết quả cuối cùng là lợi nhuận. Căn cứ vào các số liệu ở Bảng 2.10 ta thấy do lợi nhuận ròng thu được của Công ty trong 3 năm phân tích luôn bị giảm dẫn đến tỷ suất sinh lời vốn cố định của Công ty trong 3 năm đang có xu hướng giảm xuống nhưng không đều. Với một đồng vốn cố định bỏ ra thì Công ty thu được 1,55 đồng lợi nhuận trong năm 2023, 1,61 đồng lợi nhuận năm 2024 và 1,08 đồng lợi nhuận năm 2025. Vì vậy để nâng cao hệ số tỷ suất sinh lời vốn, đạt được mục tiêu tăng trưởng, Công ty cần phải tối thiểu hoá những khoản chi phí và tối đa hoá thu nhập, gia tăng lợi nhuận trên một đồng vốn bỏ ra.

Qua quá trình phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng có thể đi đến kết luận: Trong 3 năm 2023, 2024 và 2025 vốn cố định của Công ty đã được sử dụng một cách chưa có hiệu quả. Vấn đề đặt ra là phải tìm ra những thiếu sót và đưa ra các giải pháp để khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty nói chung và hiệu quả sử dụng vốn cố định nói riêng.

Hiệu suất sử dụng Tài sản cố định trong kỳ

  • Biểu đồ 2.1. Hiệu suất sử dụng Tài sản cố định

Nhìn chung, hiệu suất sử dụng Tài sản cố định của công ty trong 3 năm qua luôn có biến động và hiện tại có khuynh hướng giảm. Năm 2023, một đồng tài sản cố định tạo ra 14,61 đồng doanh thu thuần. Năm 2024 doanh thu thuần giảm từ 10.415 triệu đồng xuống còn 8.015 triệu đồng (giảm 23,04%) trong khi tốc độ tăng của nguyên giá Tài sản cố định tăng 1,57% nên hiệu suất sử dụng của Tài sản cố định giảm so với năm 2023, xuống còn 11,07 lần. Sang năm 2025, hiệu suất sử dụng của Tài sản cố định cũng vẫn giảm so với năm trước chỉ còn 9,02 lần, một đồng vốn đầu tư tại công ty chỉ còn đem lại 9,02 đồng doanh thu thuần.

Sở dĩ sức sản xuất của Tài sản cố định giảm từ năm 2023 đến năm 2025 nguyên nhân là do doanh thu thuần hàng năm giảm mạnh: Có thể nói thị trường các sản phẩm kỹ thuật số đang ngày một phát triển cao hơn, không chỉ nối nên những hãng điện tử nổi tiếng như Sony, Samsung,…mà còn xuất hiện xu hướng mới là việc mua sắm tại các trung tâm điện máy đã khiến cho không ít các của hiệu kinh doanh truyền thống bị ảnh hưởng. Thêm vào đó trong năm 2025 Công ty có thực hiện thanh lý một số tài sản cố định không cần thiết, tuy nhiên tốc độ giảm của Tài sản cố định không đáng kể.

Hệ số hao mòn Tài sản cố định

  • Biểu đồ 2.2. Hệ số hao mòn và mức hao phí Tài sản cố định

Qua bảng trên ta có thể thấy Tài sản cố định tại Công ty đang bị hao mòn lỹ kế nhiều hơn qua mỗi năm. Năm 2023, Tài sản cố định bị hao mòn lũy kế 0,48 lần; sang đến năm 2024 và 2024 hệ số này giảm cuống thấp hơn khi Tài sản cố định bị hao mòn thêm 0,59 lần năm 2024 và 0,72 lần năm 2025. Chỉ tiêu này, một mặt phản ánh mức độ hao mòn của Tài sản cố định trong DN. Nhìn vào thực tế tình hình kinh doanh của Công ty khi mà doanh đang đi xuống thì chứng tỏ TCSĐ đang không được sử dụng có hiệu quả, Công ty chưa khai thác được hết năng lực của Tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh.

  • Mức hao phí Tài sản cố định

Mức hao phí của Tài sản cố định có xu hướng tăng lên qua từng năm. Từ năm 2023 đến năm 2024, mức hao phí Tài sản cố định tăng lên từ 0,07 lần năm 2023 lên 0,09 lần năm 2024 (tăng 0,02 lần). Và sang năm 2025 mức hao phí tiếp tục tăng lên 0,02 lần khi đạt mức 0,11 lần. Các số liệu này cho thấy để có 1 đồng doanh thu thuần Công ty phải bỏ ra nhiều đồng Tài sản cố định hơn so với những năm trước đó. Tuy vậy có thể thấy mức hao phí của Công ty khá thấp (thấp hơn 1 rất nhiều), phù hợp với một đơn vị chuyên kinh doanh, bán hàng hóa khi mà tài sản cố định thường chỉ được đầu tư dùng phục vụ cho công tác bảo quản, bốc dỡ và vận chuyển.

Sức sinh lời của tài sản cố định

  • Biểu đồ 2.3. Sức sinh lời của TCSĐ

Trong năm 2023, cứ 1 đồng Tài sản cố định thì Công ty thu được 2,11 đồng lợi nhuận, đến năm 2024 chỉ thu được 1,77 đồng lợi nhuận, giảm 0,34 đồng so với năm 2023.

Đến năm 2025, sức sinh lời của Tài sản cố định tiếp tục giảm xuống còn 1,61 lần, tức là cứ 1 đồng Tài sản cố định thì Công ty chỉ thu được 1,61 đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là dấu hiệu không tốt cho Công ty, cho thấy trong những năm này Công ty đã khai thác công suất máy móc thiết bị chưa tốt. Lợi nhuận sau thuế hàng năm luôn bị giảm do kinh doanh kém đi, các khoản chi phí hoạt động lớn. Nhìn chung, Sức sinh lời của Tài sản cố định có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Điều này cũng có nghĩa là hiệu quả của việc sử dụng tài sản này cũng có xu hướng giảm. Đây là dấu hiệu không tốt cho công ty, cho thấy trong những năm này Công ty đã khai thác công suất Tài sản cố định chưa thực sự tốt. Do đó, đã làm cho tốc độ tăng của lợi nhuận luôn thấp hơn rất nhiều so tốc độ tăng của nguyên giá Tài sản cố định. Mặc dù giảm như vậy nhưng có thể thấy, sức sinh lời của Tài sản cố định luôn > 1 chứng tỏ Công ty việc khai thác khác lợi ích từ Tài sản cố định vẫn được đảm bảo và trong phạm vị kiểm soát được.

Hiệu quả sử dụng vốn theo nguồn hình thành

  • a. Hiệu quả sử dụng vốn vay

Do Công ty không đi vay và nợ ngắn hạn lẫn dài hạn mà chủ yếu chiếm dụng vốn của khách hàng và người bán để quay vòng vốn vay. Cho nên Công ty không phải chịu áp lực trả nợ từ phía ngân hàng và các tổ chức tài chính khác.

Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu

  • Bảng 2.11.Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Qua bảng trên ta dễ thấy tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đang có xu hướng giảm qua từng năm. Cụ thể:

Năm 2024 tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 9,47%, giảm so với năm 2023 là 4,25%, tức là cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu được đầu tư thì Công ty thu được 9,47 đồng lợi nhuận, ít hơn năm 2023 4,25 đồng lợi nhuận sau thuế. Sang năm 2025, tỷ suất này tiếp tục giảm xuống còn 6,22% (giảm 3,25%). Nguyên nhân của việc giảm tỷ suất sinh lời là do trong năm 2024 lợi nhuận ròng giảm 33,08% so với năm 2023 và năm 2025 giảm 39,86% so với năm 2024 còn vốn chủ sở hữu chỉ giảm xuống với tốc độ giảm là 3,09% năm 2024 và giảm 8,44% năm 2025 nên đã làm tỷ suất giảm trong 2 năm này. Lợi nhuận ròng giảm do tình hình kinh doanh giảm sút, doanh thu giảm, trong khi các khoản chi phí như chi phí quản lý kinh doanh vẫn còn rất cao. Đặc biệt trong năm 2024, mặc dù doanh thu đã giảm 21,75% nhưng khoản chi phí quản lý kinh doanh vẫn tăng thêm 15,00 cho thấy Công ty quản lý chi phí không tốt dẫn tới làm giảm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu giảm do Công ty trích lập, chia lợi nhuận cho các cổ đông nhiều hơn số lợi nhuận thu được hàng năm đã làm cho khoản lợi nhuận để lại bị giảm sút làm cho vốn chủ sở hữu giảm.

Tỷ số ROE có xu hướng giảm cho ta thấy Công ty đang kinh doanh kém hiệu quả dần đi, doanh thu giảm, lợi nhuận giảm. Thêm vào đó ta dễ dàng nhận thấy Công ty không đi vay mà chủ yếu dùng vốn chủ sở hữu và vốn chiếm dụng từ khách hàng, người bán để hoạt động kinh doanh. Điều này cho thấy Công ty còn chưa cân đối hài hòa giữa vốn đầu tư của chủ sở hữu và vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn phục vụ cho mục đích mở rộng quy mô kinh doanh. Mặc dù ROE đang giảm đi nhưng có thể thấy Công ty vẫn đang có lợi nhuận từ việc đầu tư bằng vốn chủ sở hữu.

2.3.2. Ứng dụng phương pháp phân tích Dupont để phân tích hiệu quả sử dụng vốn

  • Ứng dụng phương pháp phân tích Dupont chung cho tổng vốn (ROA)

ROA=Tỷ suất sinh lời trên doanh thu ×Số vòng quay tài sản

Muốn lý giải diễn biến quá khứ của ROA của công ty, hay dự báo giá trị tương lai của ROA phải cẩn thận lưu ý đến tổ hợp lợi nhuận ròng, doanh thu và tổng tài sản của công ty. Đi phân tích cụ thể sau đây sẽ giúp ta hiểu rõ lý do.

  • Bảng 2.12. Phân tích ROA theo mô hình Dupont

Năm 2023-2024: ROA giảm từ 9,64% năm 2023 xuống chỉ còn 5,52% vào năm 2024. Năm 2024, do tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) và số vòng quay tổng tài sản giảm đã kéo theo hậu quả là với 100 đồng tài sản đầu tư tại công ty chỉ đem lại 5,52 đồng lợi nhuận. Năm 2024, cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ ảnh hưởng đến nền kinh tế trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam, nền kinh tế sa sút, làm phát cao, chi tiêu giảm nên sự ảnh hưởng của nó lên Công ty Cổ phần thương mại và DCKT Việt Dũng là điều khó tránh khỏi. Mặc dù khả năng quản lý chi phí của công ty đã có sự hiệu quả tuy nhiên khoản chi phí này vẫn còn cao gây ảnh hưởng đến lợi nhuận đã làm ROS giảm 0,98% khiến cho hiệu quả sinh lời trên tổng tài sản giảm 0,83%, mặt khác cũng trong năm 2024, khả năng quản lý tài sản của Công ty cũng giảm, tốc độ quay vòng vốn của tài sản giảm 0,44 vòng khiến cho ROA giảm 3,29%. Tác động tổng hợp của cả ROS giảm và số vòng quay tổng tài sản giảm khiến cho hiệu quả sinh lời tài sản của Công ty giảm mạnh với mức giảm 4,12% hay 100 đồng tài sản năm 2024 đã tạo ra ít hơn năm 2023 là 4,12 đồng lợi nhuận.

Năm 2025, tình hình kinh tế hiện tại vẫn được cho là chưa có sự chuyển biến nhiều, tình hình kinh doanh của Công ty vẫn đi xuống. Trước sức ép của nền kinh tế khó khăn cộng với sức ép lớn từ các thương hiệu nổi tiếng khác trên thế giới ồ ạt tấn công vào thị trường Việt Nam đã ảnh hưởng mạnh tới doanh thu của các nhãn hàng khác trong nước và một số hãng giá rẻ đến từ Đài Loan, Trung Quốc – những hãng điện tử mà Công ty đang kinh doanh. ROS tiếp tục giảm từ 6,57% xuống còn 5%, tác động của ROS giảm khiến cho ROA giảm 1,41%, hay 100 đồng tài sản doanh nghiệp đầu tư đã tạo ra ít hơn năm 2024 là 1,41 đồng lợi nhuận. Tuy nhiên, tình hình quản lý tài sản của Công ty đã tỏ ra có hiệu quả hơn trước khi số vòng quay tổng tài sản tăng từ 0,84 lần lên 0,90 lần, điều này đã tác động làm ROS tăng 0,39%, lúc này 100 đồng tài sản bỏ ra, thu được nhiều đồng doanh thu thuần hơn. Tác động đối nghịch của ROS và số vòng quay tổng tài sản khiến cho hiệu quả đầu tư vào tài sản giảm 1,02% so với năm 2024.

Tóm lại, qua phân tích Dupont ở trên có thể nhận thấy rằng khả năng sinh lời tài sản của công ty có xu hướng giảm khá nhanh qua các năm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả hai nhân tố là ROS và số vòng quay tổng tài sản. Nguyên nhân ảnh hưởng đến hai yếu tố trên có thể giải thích do ảnh hưởng của cả yếu tố khách quan và nội tại bên trong doanh nghiệp, cụ thể : Do tình trạng kinh tế bất ổn, sự canh tranh mạnh mẽ đến từ các đối thủ mạnh, giá hàng hóa nhập vào có xu hướng tăng do chi phí vận chuyển quốc tế tăng, doanh thu giảm cộng với các khoản chi phí quản lý cao đã làm cho lợi nhuận ròng giảm đã tác động tiêu cực tới các chỉ tiêu sinh lời, chỉ tiêu quản lý của Công ty trong những năm qua.

  • Ứng dụng phương pháp phân tích Dupont để phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo nguồn hình thành (ROE)

Để bóc tách chi tiết hơn những yếu tố tác động lên chỉ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) của công ty, khóa luận sẽ nghiên cứu theo mô hình Dupont. ROE sẽ được phân tích trên 3 yếu tố: Đòn bẩy tài chính, vòng quay tổng tài sản, và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.

  • Bảng 2.13. Phân tích ROE theo mô hình Dupont

ROE của công ty trong thời gian gần đây luôn giảm đi. Mặc dù vậy, việc phân tích theo mô hình Dupont lại cho thấy đang có sự thay đổi trong 2 yếu tố cấu thành ROE khiến ROE có xu hướng giảm dần qua các năm, điều này là do ảnh hưởng của 2 nhân tố trong mô hình Dupont, cụ thể:

Trước hết là ảnh hưởng của chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đến ROE, có thể nhận thấy rằng ROA có xu hướng giảm khá nhanh, điều này dẫn đến ảnh hưởng mạnh đến ROE qua các năm. Trong cả 2 năm 2024 và 2025, ROA đều có tác động làm giảm khả năng sinh lời của ROE. Do tình hình kinh doanh các mặt hàng kỹ thuật số không còn được phát triển như trước, khách hàng ngày càng có xu hướng đi vào các trung tâm điện máy, trung tâm mua sắm để tìm mua các sản phẩm điện tử khiến cho tình hình kinh doanh tại cửa hàng của Công ty không mấy khả quan, đồng thời trong năm các đối tác, khách hàng của Công ty như Banmai School, Tập đoàn Thép không gỉ Tiến Đạt, Sơn Hà,…không có nhu cầu lắp đặt thêm các hệ thống camera quan sát, một phần do tình hình kinh doanh chung không tốt, các đối tác không có nhu cầu mở rộng quy mô nên chưa có nhu cầu lắp đặt, chính vì điều này đã làm cho doanh thu bị giảm xuống trong khi các khoản chi phí cố định như lương nhân viên, chi phí quản lý,.. vẫn phải được chi trả hàng năm đã khiến cho lợi nhuận của Công ty luôn trong trạng thái giảm, giảm mạnh hơn doanh thu, lợi nhuận năm sau lại thấp hơn năm trước, ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng sinh lời của vốn, tài sản. Tác động của ROA giảm làm ROE năm 2024 giảm thêm 7,07%, Năm 2025 do ROA giảm nhẹ đã tác động làm giảm khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu là 1,40%, hay 100 đồng vốn chủ sở hữu năm 2025 đã tạo ra ít đồng lợi nhuận hơn so với năm 2024. Về mặt lý thuyết khi khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu giảm sẽ kéo theo uy tín của doanh nghiệp giảm.

Thứ hai là ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên ROE. Có thể thấy rằng, Công ty Cổ phần thương mại và Dịch vụ kỹ thuật Việt Dũng đã sử dụng đòn bẩy tài chính hạn chế dần thể hiện qua chỉ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu giảm từ 1,42 năm 2023 xuống còn 1,38 lần năm 2025, với tác động giảm của đòn bẩy tài chính khiến cho ROE giảm đi trong năm 2025 là 1,85%. Điều này cho đã đưa đến một nhận xét, Công ty đang theo đuổi chiến lược thận trọng, chủ yếu sử dụng vốn chủ sở hữu để hoạt động sản xuất kinh doanh. Phần lớn các khoản nợ của công ty là chiếm dụng vốn từ khách hàng và người bán để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động.

Ứng dụng phương pháp phân tích Dupont để phân tích hiệu quả sử dụng vốn theo tốc độ luân chuyển

  • a) Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động thông qua mô hình Dupont

Để phân tích tỷ suất sinh lời của vốn lưu động có thể xác định thông qua mô hình sau:

  • Tỷ suất sinh lời vốn lưu động = ROS × Vòng quay vốn lưu động

Qua công thức trên có thể thấy 2 nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời vốn lưu động là tỷ suất sinh lời trên doanh thu và vòng quay vốn lưu động, như vậy muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động thì cần nâng cao hai tỷ số trên.

  • Bảng 2.14. Ảnh hưởng của ROS và vòng quay vốn lưu động lên tỷ suất sinh lời vốn lưu động

Năm 2023-2024: Tỷ suất sinh lời của vốn lưu động giảm 4,56% từ 10,28% năm 2023 xuống chỉ còn 5,71% năm 2024. Năm 2024, do ROS và vòng quay vốn lưu động giảm làm cho với 100 đồng vốn lưu động đầu tư tại Công ty chỉ đem lại 5,71 đồng lợi nhuận. Năm 2024, hàng tồn kho của Công ty tăng lên khá nhanh, chủ yếu là hàng hóa nhập về theo các đơn hàng đã ký kết tại các kỳ trước cũng như các đơn hàng mới phục vụ cho hoạt động kinh doanh nhưng do tác động của nền kinh tế, tác động của sự phát triển khoa học kỹ thuật. Thật vậy, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự ra đời nhanh chóng của các sản phẩm đầu thu kỹ thuật số và camera quan sát thông minh, vòng đời của các sản phẩm trở nên ngắn hơn khiến cho người tiêu dùng giảm động lực mua sắm do lo sợ sự lỗi thời của sản phẩm diễn ra nhanh chóng bởi vậy người tiêu dùng sẽ cân nhắc kỹ lưỡng hơn khi thực hiện chi tiêu cho các mặt hàng này. Điều này đã tác động làm doanh thu, lợi nhuận kiếm được của Công ty không cao. Tác động tổng hợp của việc ROS giảm 0,98% và số vòng quay vốn lưu động giảm 0,49 lần khiến cho tỷ suất sinh lời vốn lưu động của Công ty giảm 4,56% hay 100 đồng vốn lưu động năm 2024 đã tạo ra ít hơn năm 2023 là 4,56 đồng lợi nhuận sau thuế.

Năm 2025, tình hình kinh doanh vẫn đi xuống, để tránh tồn kho quá nhiều, Công ty đã giảm nhập thêm hàng hóa để tiết kiệm chi phí, điều này được phản ảnh rõ nét qua số vòng quay vốn lưu động của Công ty đã có chuyển biến tích cực khi tăng thêm 0,07 lần, nhờ đó mà tỷ suất sinh lời vốn lưu động dưới sự tác động của số vòng quay vốn lưu động đã tăng thêm 0,45%. Ngược lại với tác động của số vòng quay vốn lưu động là tác động giảm của ROS tới tỷ suất sinh lời vốn lưu động. Tác động của ROS giảm xuống làm cho tỷ suất sinh lời vốn lưu động giảm 1,47%, hay 100 đồng vốn lưu động doanh nghiệp đầu tư đã tạo ra ít hơn năm 2024 là 1,47 đồng lợi nhuận. Trước tác động giảm mạnh hơn từ phía ROS so với tác động tăng của số vòng quay vốn lưu động, về tổng thể vẫn làm cho tỷ suất sinh lời vốn lưu động của Công ty năm 2025 giảm 1,02%, tức là với 100 đồng vốn lưu động bỏ ra đầu tư năm 2025 tạo ra lợi nhuận ít hơn năm 2024 là 1,02 đồng.

Tóm lại, qua phân tích Dupont có thể thấy khả năng sinh lời vốn lưu động của công ty có xu hướng giảm qua các năm, điều này bị ảnh hưởng bởi cả hai nhân tố là ROS và số vòng quay vốn lưu động.

  • b) Phân tích hiệu quả sử dụng vốn cố định thông qua mô hình Dupont

Cũng giống như chỉ tiêu Tỷ suất sinh lời vốn lưu động, tỷ suất sinh lời vốn cố định cũng có thể được xác định thông qua mô hình sau:

Tỷ suất sinh lời vốn cố định = ROS × Vòng quay vốn cố định

  • Bảng 2.15. Ảnh hưởng của ROS và vòng quay vốn cố định lên tỷ suất sinh lời vốn cố định

Trước hết có thể thấy tỷ suất sinh lời vốn cố định của Công ty rất cao, là một công ty kinh doanh thương mại, do đó việc đầu tư vào vốn cố định của Công ty thường không lớn, chủ yếu đầu tư vào một số tài sản cố định phục vụ cho mục đích chuyên chở và bảo quản. Tuy nhiên nhìn bảo bảng 2.15 ta thấy tỷ suất sinh lời vốn cố định của Công ty đang giảm nhưng không đều qua 3 năm phân tích, được chia làm 2 giai đoạn với sự thay đổi khác nhau. Cụ thể như sau:

Giai đoạn năm 2023 đến năm 2024 là giai đoạn tăng của tỷ suất sinh lời vốn cố định khi tăng từ 154,82% lên 161,01%. Dựa theo mô hình phân tích Dupont thì sự thay đổi của tỷ suất sinh lời vốn cố định chịu sự tác động của hai yếu tố đó là vòng quay vốn cố định và tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS). Ta thấy năm 2024, ROS giảm từ 7,55% xuống còn 6,57% (giảm 0,98% so với năm 2024). Dưới sự tác động của ROS đã làm cho tỷ suất sinh lời vốn cố định giảm 24,15%. Do vậy sự thay đổi theo chiều hướng tăng lên của tỷ suất sinh lời vốn cố định chịu sự ảnh hưởng từ chỉ tiêu còn lại, đó là vòng quay vốn cố định, khi từ năm 2023 đến năm 2024, vòng quay vốn cố định tăng từ 20,50 lần lên 24,52 lần (tăng 4,02 lần). Vòng quay vốn cố định tăng làm cho tỷ suất sinh lời vốn cố định tăng thêm 30,34%. Trước tác động tổng hợp từ 2 chỉ tiêu trên, tỷ suất sinh lời vốn cố định năm 2024 của Công ty đã tăng thêm 6,19%. Nguyên nhân xuất phát từ việc trong năm 2024 mặc dù tình hình kinh doanh kém đi, lợi nhuận sau thuế giảm tuy nhiên do Công ty không có hoạt động đầu tư mua thêm tài sản cố định trong khi tài sản cố định vẫn tiếp tục được trích khấu hao, một số tài san khác được thanh lý do không có nhu cầu sử dụng đã làm cho khoản mục vốn cố định giảm xuống nhanh hơn so với lợi nhuận đã khiến cho tỷ suất sinh lời vốn cố định vẫn tăng.

Giai đoạn năm 2024 đến năm 2025 là giai đoạn giảm nhanh của tỷ suất sinh lời vốn cố định. Tỷ suất sinh lời vốn cố định chỉ sau một năm đã giảm đi 53,05% đã cho thấy tình hình lợi nhuận cũng như khả năng tạo ra lợi nhuận từ vốn cố định đang giảm mạnh. Nguyên nhân xuất phát từ tình trạng giảm nhanh của số vòng quay vốn cố định cũng như tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS). Trong năm 2025, ROS giảm thêm 1,57% đã tác động làm tỷ suất sinh lời vốn cố định giảm 33,75%. Tác động của vòng quay vốn cố định giảm 2,94 lần cũng khiến cho tỷ suất sinh lời vốn cố định giảm 19,30%.

Tóm lại, qua mô hình phân tích Dupont có thể thấy rằng tỷ suất sinh lời vốn cố định chịu ảnh hướng lớn từ hai chỉ tiêu là vòng quay vốn cố định và tỷ suất sinh lời trên doanh thu. Nhưng khi nhìn vào sâu hơn có thể thấy chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ doanh thu cũng như lợi nhuận của Công ty. Hay nói cách khác sự ảnh hưởng này xuất phát từ chính kết quả hoạt động sản xuất của Công ty. Bất cứ sự thay đổi nào của kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng tác động mạnh tới tỷ suất sinh lời nói chung và tỷ suất sinh lời vốn cố định nói riêng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty kỹ thuật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty kỹ thuật

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x