Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng ứng dụng các chiến lược Marketing nhằm phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

I. Giới thiệu chung về Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Năm 1988: Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng( nay là chính phủ) về việc thành lập các NH chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ngân hàng hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ NHNN: tất cả các chi nhánh NHNN huyện, Phòng tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp trung ương được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ tín dụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, Vụ kế toán và một số đơn vị.

Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam.

Ngày 22/12/1992, Thống đốc NHNN có Quyết định số 603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội và Sở giao dịch II tại Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch 3 tại Văn phòng miền Trung) và 43 chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh, thành phố. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh.

Ngày 30/7/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc NHNN chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam, trên cơ sở đó, Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam cụ thể hóa bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông nghiệp ngày 16/08/1994 xác định: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực tiếp kinh doanh. Đây thực sự là bước ngoặt về tổ chức bộ máy của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam ( NHNo& PTNT VN) sau này.

Ngày 31/08/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/TTg thành lập Ngân hàng phục vụ người nghèo theo đề xuất kiến nghị- được Chính phủ, NHNN ủng hộ, dư luận rất hoan nghênh- của Ngân hàng Nông nghiệp.

Ngân hàng Phục vụ Người nghèo – thực chất là bộ phận tác nghiệp của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển mạnh. Tới tháng 09/2017, dư nợ đã lên tới 6.694 tỷ, có uy tín cả trong và ngoài nước, được các Tổ chức quốc tế đánh giá cao và đặc biệt được mọi tầng lớn nhân dân ủng hộ, quý trọng. Chính vì những kết quả như vậy, ngày 04/10/2017, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 131/2017/QĐ-TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở Ngân hàng Phục vụ Người nghèo – Từ 01/01/2018 Ngân hàng Phục vụ Người nghèo đã chuyển thành Ngân hàng Chính sách xã hội. Ngân hàng Nông nghiệp chính là người đề xuất thành lập, thực hiện và bảo trợ Ngân hàng phục vụ người nghèo tiền thân của Ngân hàng chính sách xã hội – Đây là một niềm tự hào to lớn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Ngày 15/11/2011, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo& PTNT VN- Agribank).

NHNo& PTNT VN hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của NHNN Việt Nam.

Trong năm 2013, NHNo& PTNT VN đã tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, xử lý nợ tồn đọng cũ và quản lý chặt chẽ hơn công tác thẩm định, xét duyệt các khoản cho vay mới, tiến hành các biện pháp phù hợp để giảm nợ thấp quá hạn.

Tháng 2 năm 2014 Chủ tịch Quản trị ban hành Quyết định số 234/HĐQT-08 về quy định quản lý điều hành hoạt động kinh doanh ngoại hối trong hệ thống NHNo& PTNT VN. Tập trung thanh toán quốc tế về Sở Giao dịch NHNo& PTNT VN (Sở giao dịch được thành lập thay thế Sở giao dịch kinh doanh hối đoái, Sở giao dịch là đấu mối vốn cả nội và ngoại tệ của toàn hệ thống). Tất cả các chi nhánh đều nối mạng SWIFT trực tiếp với Sở giao dịch. Các chi nhánh tỉnh thành phố đều được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại.

Năm 2015 cùng với việc mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, NHNo& PTNT VN tích cực mở rộng quan hệ quốc tế và kinh doanh đối ngoại, nhân được sự tài trợ của các tố chức tài chính tín dụng quốc tế như WB, ADB, IFAD, ngân hàng tái thiết Đức… đổi mới công nghệ, đào tạo nhân viên, tiếp nhận và triển khai có hiệu quả 50 dự án nước ngoài với tổng số vốn trên 1300 triệu USD chủ yếu đầu tư vào khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Ngoài hệ thống thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT, NHNo& PTNT VN đã thiết lập được hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử, máy rút tiền tự động ATM trong toàn hệ thống.

Bên cạnh mở rộng kinh doanh trên thị trường trong nước, năm 2017, NHNo& PTNT VN tiếp tục tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế. Đến cuối năm 2017 NHNo& PTNT VN là thành viên của APRACA, CICA và ABA, trong đó Tổng Giám đốc NHNo& PTNT VN là thành viên chính thức Ban điều hành của APRACA và CICA.

Năm 2018 NHNo& PTNT VN đã đạt được những thành tích đặc biệt xuất sắc trong thời kỳ đổi mới, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp- nông thôn, Chủ tịch nước đã ký quyết định số 226/2018/QD/CTN ngày 07/05/2018 phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho NHNo& PTNT VN. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Tính đến năm 2019, sau 4 năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu giai đoạn 2016-2025, NHNo& PTNT VN đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tình hình tài chính đã được lành mạnh hơn qua việc cơ cấu lại nợ và tăng vốn điều lệ, xử lý trên 90% nợ tồn động. Mô hình tổ chức từng bước được hoàn thiện nhằm tăng cường năng lực quản trị điều hành. Bộ máy lãnh đạo từ trung ương đến chi nhánh được củng cố, hoàn thiện, quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng hơn.

Đến cuối năm 2020, vốn tự có của NHNo& PTNT VN đạt 7.702tỷ VND, tổng tài sản có trên 190 ngàn tỷ, với hơn 2015 chi nhánh trên toàn quốc và 29.492 cán bộ nhân viên (chiếm 40% tổng số cán bộ công nhân viên của toàn hệ thống NH Việt Nam), ứng dụng công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ NH hoàn hảo… Đến nay, tổng số Dự án nước ngoài mà NHNo& PTNT VN tiếp nhận và triển khai là 68 dự án với tổng số vốn 2.486 triệu USD, trong đó giải ngân qua NHNo& PTNT VN là 1,5 tỷ USD. Hiện nay NHNo& PTNT VN đã có quan hệ đại lý với 932 NH đại lý tại 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, là thành viên của nhiều tổ chức, hiệp hội tín dụng có uy tín lớn.

Từ năm 2021 bằng những giải pháp mang tính đột phá và cách làm mới NHNo& PTNT VN thực sự khởi sắc. Đến cuối năm 2022, tổng tài sản đạt 325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220 lần so với ngày đầu thành lập. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.102 tỷ đồng trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu hộ gia đình, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạn doanh nghiệp dư nợ. Tổng nguồn vốn 295.048 tỷ đồng và gần như hoàn toàn là vốn huy động.

Năm 2023 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của NHNo& PTNT VN và cũng là năm có tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng, Chính phủ. Trong chiến lược phát triển của mình, NHNo& PTNT VN sẽ trở thành một Tập đoàn tài chính đa nghành, đa sở hữu, hoạt động đa lĩnh vực. Theo đó, toàn hệ thống xác định những mục tiêu lớn phải ưu tiên, đó là: tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn, luôn là người bạn đồng hành thủy chung tin cậy cuả 10 triệu hộ gia đình; xúc tiến cổ phần hóa các công ty trực thuộc, tiến tới cổ phần hóa NHNo& PTNT VN theo định hướng và lộ trình thích hợp, đẩy mạnh tái cơ cấu NH, giải quyết triệt để vấn đề nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm , nâng cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển thương hiệu- văn hóa NHNo& PTNT VN.

1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của NHNo & PTNT VN

1.3. Các sản phẩm dịch vụ chính Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

1.3.1. Dịch vụ Ngân hàng truyền thống

  • Dịch vụ cho vay

Cho vay cá nhân và hộ gia đình: gồm các hình thức vay đa dạng như: cho vay lưu vụ với nông dân, cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, thực hiện nhu cầu của đời sống với các hộ gia đình, cho người lao động vay đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, cho vay cầm cố giấy tờ có giá hay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ…

Cho vay doanh nghiệp Việt Nam và các pháp nhân nước ngoài đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam vay vốn để thực hiện các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài,…

  • Dịch vụ cung cấp tài khoản

Khách hàng có tài khoản tại NHNo& PTNT VN được hưởng rất nhiều lợi ích:

Đối với khách hàng cá nhân: có thể sử dụng các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt với mạng lưới hơn 2015 chi nhánh trên toàn quốc: nhận tiền do người khác chuyển đến, thanh toán với các công cụ như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu… để thanh toán các dịch vụ khác một cách thuận tiện. Đồng thời có thể sử dụng để cầm cố, đảm bảo vay vốn bằng số dư trên tài khoản, và được tính lãi suất hấp dẫn trên số dư tài khoản. Thông báo và xem số dư tài khoản qua SMS-

Đối với tài khoản doanh nghiệp: khách hàng có thể dễ dàng theo dõi, quản lý vốn lưu động trên tài khoản, các giao dịch phát sinh được NH cung cấp qua sổ phụ hàng ngày hoặc khi doanh nghiệp yêu cầu. Doanh nghiệp có thể thực hiện các hình thức không dùng tiền mặt để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ trong nước và thanh toán quốc tế như séc chuyển khoản, sec, ủy nhiệm chi (thu), chi trả lương cho nhân viên, có thể sử dụng vượt quá số dư trong tài khoản của mình với tiện ích thấu chi tài khoản, được bảo hiểm tiền gửi và tính lãi suất nhập vốn theo định kỳ, thông báo và xem số dư tài khoản qua SMS- banking.

  • Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Là một hình thức huy động vốn. Các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi là những công cụ nợ, ghi nhận khoản nợ của NH đối với khách hàng sở hữu công cụ đó. Tùy theo nhu cầu vốn ngắn hạn hay dài hạn trong từng thời kỳ mà NH sẽ phát hành những loại giấy tờ có giá khác nhau.

  • Dịch vụ chiết khấu chứng từ

Nếu khách hàng cần có tiền ngay để đầu tư vào một dự án khác khi những chứng từ có giá (chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, công trái, hối phiếu…) chưa đến hạn thanh toán, Agribank có thể thực hiện chiết khấu chứng từ với tỷ lệ chiết khẩu cao nhất và mức chi phí linh hoạt, hấp dẫn nhất tùy theo từng hồ sơ cụ thể. Có hai loại chiết khấu chủ yếu:

  • Chiết khẩu chứng từ có giá: Agribank mua đứt những chứng từ như: kỳ phiếu, sổ tiết kiệm, do Agribank phát hành.
  • Chiết khấu hối phiếu thương mại.
  • Dịch vụ tiết kiệm

Agribank huy động tiền gửi bằng đồng VNĐ với lãi suất hấp dẫn, thủ tục nhanh gọn, đơn giản thuận tiện. Gồm các hình thức như: tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, gửi góp, tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo thời gian gửi hay lũy tiến của số dư tiền gửi, tiết kiệm bằng vàng hay tiết kiệm bằng VNĐ đảm bảo giá trị theo vàng.

1.3.2. Dịch vụ Ngân hàng hiện đại

  • Dịch vụ bảo lãnh

Các loại bảo lãnh: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, thực hiện hợp đồng, bảo lãnh bảo hành, bảo dưỡng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng …

  • Dịch vụ thuê mua tài chính

Nhằm hỗ trợ các khách hàng đang thiếu vốn nhưng lại có nhu cầu đầu tư trung, dài hạn để đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh, Agribank cung cấp dịch vụ thuê tài chính mà qua đó, khách hàng có thể thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác mà không cần phải tài sản thế chấp, sau đó chỉ cần thanh toán dần tiền thuê trong suốt thời hạn đã được thỏa thuận phù hợp với kế hoạch đầu tư của từng khách hàng. Ngoài ra, khi khách hàng muốn mua tài sản nhưng lại thiếu vốn lưu động thì Agribank sẵn sàng mua lại tài sản đó rồi cho thuê lại, hết thời hạn thuê, khách hàng có thể mua lại với giá thấp hơn đồng thời cho phép khách hàng toàn quyền quyết định trong việc lựa chọn thiết bị, nhà cung cấp, giá cả, mẫu mã, chủng loại phù hợp với nhu cầu của mình. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

  • Dịch vụ thanh toán quốc tế

Thông qua Agribank, khách hàng có thể thanh toán các hợp đồng xuất- nhập khẩu một cách nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và tiết kiệm thời gian.

Thanh toán hàng xuất khẩu:

  • Dịch vụ chuyển tiền.
  • Thư tín dụng (L/C) xuất khẩu.
  • Dịch vụ nhờ

Thanh toán hàng nhập khẩu.

  • Thanh toán nhờ
  • Thư tín dụng.
  • Dịch vụ chi trả Western
  • Thanh toán biên giới với Trung Quốc bằng đồng CNY, VND,
  • Thanh toán biên giới với Campuchia bằng đồng USD,

Nghiệp vụ chuyển tiền

Với mạng lưới gần 2015 chi nhánh trên toàn quốc, Agribank thực hiện việc chi trả dịch vụ kiều hối qua 2 hình thức: chuyển tiền qua tài khoản hoặc chứng minh thư và qua Western Union. Ngoài ra Agribank sẵn sàng cung cấp dịch vụ chuyển tiền ra nước ngoài giúp khách hàng có thể chuyển tiền đến bất cứ NH nào ở nước ngoài một cách nhanh chóng và an toàn thông qua hệ thống chuyển tiền quốc tế SWIFT. Việc chuyển tiền được thực hiện theo những mục đích hợp pháp tuân thủ quy định hiện hành của NHNN về quản lý ngoại hối. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

  • Thu đổi ngoại tệ

Agribank nhận mua, bán ngoại tệ của khách hàng cá nhân từ nguồn ngoại tệ mặt, tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm, kiều hối với thủ tục đơn giản, nhanh chóng tại các quầy giao dịch của Agribank.

Cung ứng các nghiệp vụ giao dịch hối đối phục vụ nhu cầu thanh toán quốc tế cũng như cung cấp các công cụ giao dịch ngoại hối giúp khách hàng phòng ngừa biến động tỷ giá, nhận ký hợp đồng đại lý thu đổi ngoại tệ với các tổ chức được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước.

  • Giao dịch hối đoái giao ngay đối với khách hàng là cá nhân và tổ chức kinh tế.
  • Giao dịch hối đoái kỳ hạn đối với khách hàng là các tổ chức kinh tế.

Dịch vụ bao thanh toán trong nước

Khách hàng là các tổ chức kinh tế muốn phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng có nguồn vốn hạn chế, khi bán hàng với phương thức thanh toán trả chậm nếu sử dụng dịch vụ bao thanh toán trong nước của Agribank sẽ nhận được tiền ứng trước bằng VNĐ tới 80% giá trị khoản phải thu giúp khách hàng tăng cường khả năng quay vòng vốn, tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc quản lý sổ sách và thu hồi các khoản phải thu, đồng thời tránh được rủi ro tín dụng thông qua việc thẩm định thường xuyên và chuyên nghiệp của Agribank.

  • Dịch vụ thẻ

Bắt đầu tham gia vào thị trường thẻ năm 2018, đến nay dịch vụ thẻ của Agribank đã được triển khai trên khắp 64 tỉnh, thành phố với hơn 1200 điểm chấp nhận thanh toán (ATM/ POS) rộng khắp trên toàn quốc. Với các thẻ ghi nợ nội địa Success, thẻ quốc tế Visa, và Master card đã mang đến cho khách hàng rất nhiều lợi ích sử dụng như: thực hiện các giao dịch tự động tại các máy ATM của Agribank trên toàn quốc, đồng thời có thẻ thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ của Agribank…

  • Dịch vụ Mobile Banking

Agribank đã triển khai các sản phẩm dịch vụ Mobile Banking áp dụng cho tất cả các mạng điện thoại di động tại Việt Nam: Vinaphone, Viettel, E- Mobile( EVN Telecom), Sfone,… đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ:

  • SMS
  • VNTopUp- dịch vụ nạp tiền cho điện thoại di động.
  • ATransfer- dịch vụ chuyển khoản.

1.3.3. Kinh doanh chứng khoán Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Công ty trách nhiệm hữu hạn Chứng khoán Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam Agribank Securities Co.,Ltd (Agriseco) được thành lập nhằm nâng cấp hoạt động kinh doanh chứng trái phiếu, đẩy mạnh kinh doanh cổ phiếu, chuyển trọng tâm từ các doanh nghiệp sang các nhà đầu tư nhỏ lẻ.

Cung cấp các dịch vụ:

  • Đối với các doanh nghiệp: tư vấn cổ phần hóa, tư vấn niêm yết, bảo lãnh phát hành, tư vấn tái cơ cấu tài chính, quản lý cổ đông…
  • Đối với các nhà đầu tư được hưởng các dịch vụ như: môi giới chứng khoán, lưu ký chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, cầm cố chứng khoán, mua bán chứng khoán có kỳ hạn…

1.3.4. Kinh doanh mỹ nghệ.

Thành lập Công ty kinh doanh Mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý Agribank- AJC với các dịch vụ:

  • Sản xuất, kinh doanh vàng miếng 3 chữ
  • Sản xuất, chế tác, kinh doanh, xuất nhập khẩu vàng bạc, đá quý, hàng trang sức, hàng mỹ nghệ…
  • Dịch vụ cho thuê két sắt, bảo quản, giữ hộ vàng bạc đá quý, giấy tờ có giá…
  • Dịch vụ cho vay, cầm đồ chứng từ có giá và vàng.
  • Đào tạo thợ kim hoàn, thợ chế tác, kiểm định vàng bạc đá quý.

1.3.5. Dịch vụ du lịch

Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông thôn Việt Nam hiện có Công ty kinh doanh về du lịch- thương mại và dịch vụ có trụ sở chính đặt tại Thành Phố Vũng Tàu. Các loại hình kinh doanh gồm có:

  • Kinh doanh khách sạn và nhà hàng.
  • Kinh doanh du lịch lữ hành và vận chuyển.

Các dịch vụ khác:

  • Dịch vụ
  • Dịch vụ đưa đón khách tại sân
  • Tư vấn dịch vụ đầu tư du lịch và tuyên truyền quảng cáo cho các lĩnh vực về hoạt động kinh doanh du lịch và các dịch vụ hoạt động ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
  • Liên doanh, liên kết với các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước về các hoạt động thương mại, đầu tư và các loại hình hoạt động trên.
  • Các dịch vụ khác.

1.3.6. Dịch vụ in thương mại

Công ty in thương mại và dịch vụ NH được thành lập chuyên cung cấp dịch vụ:

  • In ấn văn hóa phẩm, sách báo, tạp chí, tem nhãn, bao bì hàng hóa, các sản phẩm đặc biệt, giấy tờ có giá có đặc tính an toàn cao và chống giả…
  • Nhập khẩu, kinh doanh vật tư, thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng NH, thiết bị in.
  • Đại lý phát hành các sản phẩm ..

II. Thực trạng hoạt động Marketing cho sản phẩm dịch vụ trả và nhận lương tự động của Agribank Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

2.1 Phương thức cung cấp dịch vụ

Ngân hàng cung ứng dịch vụ sẽ trả tiền cho nhân viên theo danh sách nhân viên do doanh nghiệp cung cấp với các hình thức:

Trả trực tiếp: Agribank sẽ chi trả lương trực tiếp bằng tiền mặt cho các nhân viên tại doanh nghiệp. Tiền lương được hoàn toàn bảo mật và được để riêng trong từng phong bì nếu khách hàng có yêu cầu.

Trả qua tài khoản: Nhân viên doanh nghiệp sẽ được trả lương, thưởng qua các tài khoản cá nhân theo danh sách nhân viên được cung cấp. Nhân viên của doanh nghiệp có thể mở tài khoản cá nhân tại Agribank hoặc tại các ngân hàng khác.

Chi qua thẻ: Agribank phát hành cho mỗi nhân viên của doanh nghiệp 01 thẻ thanh toán Agribank để rút tiền 24/24 tại các máy rút tiền tự động ATM. Với thẻ thanh toán Agribank, khách hàng còn có thể sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ tại những điểm chấp nhận thẻ.

Sơ đồ 2:Quy trình cung ứng dịch vụ trả và nhận lương tự động tại Agribank

2.2. Định vị dịch vụ trong môi trường marketing và trên thị trường cung ứng dịch vụ Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

  • 2.2.1. Nghiên cứu môi trường kinh tế

Kinh tế Việt Nam không ngừng khởi sắc trong suốt thời gian qua. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ năm 2018 đến 2023 luôn tăng với tỉ lệ năm sau hơn năm trước. Tốc độ tăng trưởng GDP luôn ở mức đáng nể với mức trung bình giai đoạn 2018- 2022 đạt 8,4%, tỷ lệ tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt 30% GDP. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2024 tuy vẫn thấp hơn tốc độ tăng 6,18% của năm 2023, nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch. Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm mà kinh tế nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng dương tương đối cao như trên là một thành công lớn.

Đẩy mạnh hợp tác, quan hệ với tất cả các quốc gia trên thế giới, mở rộng thông thương, hội nhập kinh tế toàn cầu là động lực to lớn thúc đẩy gia tăng hoạt động giao dịch tiền tệ, hoạt động thanh toán cũng phát triển đa dạng về cả hình thức, khối lượng giao dịch, và đối tượng giao dịch. Thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng quen thuộc hơn đối với người dân Việt Nam. Theo cổng thông tin điện tử chính phủ (chinhphu.vn) tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán của cả nước giảm liên tục từ mức 23,7% năm 2016 xuống 14,6% năm 2023 và năm 2024 vẫn duy trì được xu hướng tích cực này.

Sơ đồ 3 :Tỷ lệ tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán

Theo Báo cáo từ các Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong năm 2022, cả nước có 58.916 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới. Nếu chỉ tính về số doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh, từ số lượng khoảng 31.000 doanh nghiệp vào năm 2015, thì số lượng hiện nay đã tăng lên 15 lần trong 9 năm. Với hơn 83 ngàn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới trong năm 2024, con số doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh đến 12/2024 đạt 460 ngàn doanh nghiệp. Đây là một tốc độ tăng trưởng hết sức ấn tượng.

Sơ đồ 4: Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới các năm gần đây

Kết quả của việc nghiên cứu, phân tích các số liệu kinh tế khả quan sẽ trở thành cơ sở giúp Agribank tìm hướng đi thích hợp cho dịch vụ của mình. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

2.2.2. Nghiên cứu môi trường chính trị, pháp luật

Việt Nam là một đất nước có môi trường chính trị ổn định. Đây là yếu tố quan trọng, là tiền đề tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế nói chung và ngành NH nói riêng. Hệ thống pháp luật Việt Nam tuy chưa thật hoàn thiện nhưng Chính Phủ và Quốc hội đang nỗ lực hoàn chỉnh dần nhằm đáp ứng công cuộc cải cách kinh tế, hội nhập quốc tế. Tương lai về một nền kinh tế với hệ thống luật pháp và quản lý Nhà Nước phù hợp với những yêu cầu của ngành tài chính, NH là hoàn toàn có thể tin tưởng và hi vọng. Việc đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, xoá bỏ các chính sách bảo hộ sản xuất trong nước sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển cho các NHTM, tuy nhiên điều này đồng nghĩa với việc thị trường sẽ có thêm sự gia nhập của các NH nước ngoài. Như vậy, cơ hội và thách thức cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi với tất cả các NHTM Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

Thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng quen thuộc hơn đối với người dân Việt Nam, Ngày 29/12/2021 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 291/2021/QĐ-TTg liên quan đến Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2020. Có thể coi đây là một mốc quan trọng, một bước đột phá trong tiến trình hiện đại hoá hoạt động thanh toán trong nền kinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam. Việc duy trì phương thức thanh toán tiền mặt sẽ là trở ngại lớn, kĩm hãm đáng kể tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Quyết định số 291/2021/QĐ-TTg của Thủ tướng đưa ra vào lúc này thực sự đúng thời điểm, nó không chỉ đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nền kinh tế trong tương lai gần mà còn đáp ứng đúng tâm tư và nguyện vọng của người dân. Để đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt thì biện pháp cấp thiết đầu tiên là thực hiện trả lương qua tài khoản mà giai đoạn đầu của Đề án trả lương qua tài khoản là thực hiện trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Do đây là đối tượng tiên phong làm hình mẫu cho xã hội hình thành thói quen sử dụng tài khoản ngân hàng để giao dịch thanh toán trên cơ sở công nghệ mới tiên tiến, đặt nền móng thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Trên tinh thần đó, ngày 24/8/2022 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị 20/2022/CT- TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Chỉ thị 20). Đây thực sự không phải là vấn đề mới bởi vì trong những năm vừa qua cũng đã có rất nhiều các tổ chức kinh tế – xã hội và các doanh nghiệp thực hiện thanh toán lương cho người lao động qua tài khoản nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí đồng thời cũng mang lại sự an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều tổ chức, doanh nghiệp khác nhau vì những lý do nào đó chưa thể thực hiện được. Việc trả lương qua tài khoản giúp tăng cường hiệu quả của việc việc áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần hạn chế các giao dịch bất hợp pháp, tăng cường sự quản lý nhà nước đối với các chi tiêu tài chính từ ngân sách và vốn nhà nước, triển khai thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí cũng như Nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Bên cạnh đó Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực từ ngày 1/1/2024, song đến ngày 1/7 vừa qua, các khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công mới bắt đầu bị tính thuế sau 6 tháng được miễn. Riêng các loại thu nhập từ chuyển nhượng vốn, đầu tư cổ phiếu, nhượng quyền thương mại… tiếp tục được miễn thuế đến hết năm. Dự kiến, có khoảng 15 triệu người sẽ phải đăng ký cấp mã số thuế theo Luật Thuế thu nhập cá nhân mới. Trong số này có khoảng 11-11,5 triệu người làm công ăn lương, số còn lại là các cá nhân đầu tư, chuyển nhượng vốn.Vì vậy trả lương qua tài khoản sẽ là phương thức mang lại hiệu quả lâu dài cho Nhà nước trong việc quản lý thu nhập của người dân, có mức tính thuế thu nhập cá nhân hợp lý, tạo nên sự công bằng cho mỗi công dân nói riêng và cho toàn xã hội nói chung. Trước thực tế này các ngân hàng thương mại phải tự mình nâng cao khả năng cung ứng các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt như: áp dụng các công nghệ mới, hiện đại hơn vào thanh toán; phát triển nhiều hơn các điểm thanh toán không dùng tiền mặt như máy ATM, POS…; hay các ngân hàng thương mại có thể thực hiện các biện pháp hỗ trợ khác nhau nhằm thu hút thêm khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt…

2.2.3. Nghiên cứu môi trường xã hội

Việt Nam là một thị trường hấp dẫn với 87 triệu dân, cơ cấu dân số trẻ với mức thu nhập bình quân đầu người luôn tăng trong giai đoạn qua, năm 2023 đạt là tín hiệu khả quan đối với tất cả các đơn vị kinh doanh trong và ngoài nước. Tuy nhiên, mức sống của thành thị và nông thôn còn cách biệt khá xa, ước tính trung bình một hộ dân thành thị tiêu dùng nhiều hơn hộ nông thôn khoảng 75%, trong khi đó dòng tiền tiêu dùng chủ yếu là thanh toán nhỏ lẻ đã gây nên khó khăn nhất định trong việc triển khai hệ thống thanh toán thông qua thẻ NH. Tuy nhiên trên thực tế thói quen chi tiêu của dân cư cũng đang có nhiều biến đổi. Nắm rõ được lợi thế và khó khăn của yếu tố này nên trong chiến lược phát triển dịch vụ trả lương tự động của mình Agribank sẽ tập trung hướng tới việc gia tăng giá trị dịch vụ cho sản phẩm thẻ nhằm thu hút khách hàng. Đặc biệt là người hưởng lương – đối tượng sử dụng thẻ có thu nhập ổn định.

2.2.4. Xác định thị trường mục tiêu

  • Thị trường được chia thành 4 phân đoạn riêng biệt:

Thị trường mục tiêu 1: từ khi mới bắt đầu triển khai dịch vụ trả lương qua tài khoản, Agribank tập trung vào 5 thành phố lớn: Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ. Đây không chỉ là các trung tâm kinh tế mũi nhọn của đất nước, nơi tập trung nhiều dự án, khu công nghiệp phát triển, đồng thời là khu vực có số lượng lớn dân cư với mức thu nhập, chi tiêu hàng tháng cao nhất so với các tỉnh khác. Vì vậy, tập trung phát triển dịch vụ trả lương qua tài khoản tại khu vực này sẽ thu hút được đối tượng khách hàng lớn và đa dạng.

Thị trường mục tiêu 2: Trên cơ sở khai thác thành công thị trường mục tiêu 1, Agribank tiếp tục mở rộng triển khai tại các tỉnh thành trong cả nước. Với ưu thế về mạng lưới rộng khắp toàn quốc, lượng khách hàng truyền thống ổn định, Agribank đã triển khai dịch vụ trả lương tự động tại tất cả các chi nhánh, phòng giao dịch nhằm hướng tới mọi đối tượng khách hàng. Ngoài ra các đối tượng doanh nghiệp có số lượng nhân viên quy mô lớn, trung bình khá, cơ quan nhà nước, cán bộ hưu trí và khu công nghiệp là bộ phận khách hàng đầy tiềm năng đối với việc Agribank trong việc mở rộng thị trường.

Thị trường tiềm năng: đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt của Chính Phủ, Agribank đã hướng tới đối tượng khách hàng hưởng lương Ngân sách Nhà Nước, bảo hiểm xã hội,… Các doanh nghiệp nước ngoài.

2.3. Chiến lược marketing mix cho dịch vụ trả và nhận lương tự động Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

2.3.1. Chiến lược sản phẩm

Cơ cấu sản phẩm của dịch vụ” gồm ba thành phần: Dịch vụ trung tâm, dịch vụ bổ sung và sản phẩm vật chất.

  • Dịch vụ trung tâm

Chức năng cơ bản của dịch vụ trả và nhận lương tự động là đáp ứng nhu cầu chi lương cho nhân viên hoặc chi hoa hồng cho các đại lý. Phát hiện ra nhu cầu cấp thiết của khách hàng, Agribank đã cung ứng dịch vụ này vào năm 2019. Để cung cấp dịch vụ đến với khách hàng tốt nhất Agribank đã đơn giản hóa các thủ tục cung ứng cũng như khiếu nại nhằm giúp cho khách hàng tiết kiệm thời gian, công sức mà vẫn đạt được hiệu quả như ý. Bên cạnh đó Agribank cũng chú trọng vào công tác hướng dẫn và tư vấn giúp cho khách hàng hiểu rõ về cách thức NH cung ứng dịch vụ, giải đáp các vướng mắc của doanh nghiệp cũng như người hưởng lương như: khả năng rút tiền lương và thực hiện giao dịch qua ATM, thủ tục giải quyết nếu phát sinh sự cố, thông tin tài khoản cá nhân và trách nhiệm bảo mật…

  • Dịch vụ bổ sung Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Mục đích của khách hàng khi sử dụng bất kì một dịch vụ nào cũng là tối đa hóa lợi ích của mình vì vậy bên cạch giá trị chủ yếu mà khách hàng mong đợi được NH thỏa mãn thì NH cũng cần hoàn thiện sản phẩm cốt lõi. Bằng cách phát triển dịch vụ bổ sung, NH sẽ tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, nhằm tăng nhanh giá trị trong kinh doanh đồng thời, dễ dàng hơn cho việc phân phối, giao nhận dịch vụ. Thấy được tiềm năng phát triển nhiều dịch vụ bán lẻ có thể đóng vai trò như các dịch vụ bổ sung, Agribank đã đầu tư đáng kể vào các dịch vụ này, vừa đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ của NH vừa làm cho sản phẩm cơ bản hấp dẫn hơn dưới mắt khách hàng từ đó củng cố quyết định sử dụng dịch vụ trả lương tự động của Agribank.

Sản phẩm thẻ: đóng vai trò rất quan trọng đối với dịch vụ trả lương tự động vì về bản chất mỗi người hưởng lương đều có 1 tài khoản để NH chuyển lương vào theo định kì trả lương, nhưng nếu không có thẻ ATM thì việc rút lương đối với người hưởng lương khá bất tiện do phải đến chi nhánh của Agribank để rút. Nhưng khi có thẻ ATM thì địa điểm rút lương tăng lên nhiều lần, có thể qua mạng lưới ATM và mạng lưới chi nhánh vì vậy tăng tiện ích cho người hưởng lương. Đáp ứng nhu cầu sử dụng của số lượng người hưởng lương ngày càng tăng Agribank liên tục cho ra đời các sản phẩm thẻ mới:

A, Thẻ ghi nợ nội địa Success: là sản phẩm chủ lực của Agribank, được thiết kế đơn giản, với các tính năng đa dạng phù hợp với phần lớn đối tượng khách hàng như: rút tiền mặt, thanh toán mua hàng hoá dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thẻ, đổi pin, in sao kê rút gọn, vấn tin số dư tài khoản, tra cứu thông tin tài khoản, thông tin NH (tỷ giá, lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, …)…

B, Thẻ tín dụng nội địa: là thẻ có một hạn mức tín dụng nhất định dùng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc ứng tiền mặt tại các ĐVCNT trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Hiện tại, thẻ tín dụng nội địa gồm ba hạng: hạng thẻ vàng, bạc và chuẩn. Với mỗi hạng thẻ Agribank lại cung cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng khác nhau.

C, Thẻ quốc tế: Thẻ quốc tế mang thương hiệu Visa của Agribank được chia thành 2 hạng thẻ là hạng chuẩn (Classic) và hạng vàng (Gold), đối với thẻ tín dụng quốc tế còn có thêm hạng thẻ bạch kim (Platium). Với mỗi hạng thẻ lại có một hạn mức tín dụng khác nhau.

Dịch vụ Mobile Banking: Cùng với sự phát triển của các mạng điện thoại, điện thoại di động được hầu hết mọi người trong xã hội sử dụng ,và là phương tiện liên lạc không thể thiếu được trong cuộc sống ngày nay. Vì vậy Agribank đã nhanh chóng khai thác yếu tố này khi phát triển dịch vụ mobile banking. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Với phương châm “Cả Ngân hàng trong tay bạn”, Agribank đã triển khai các sản phẩm dịch vụ Mobile Banking áp dụng cho tất cả các mạng điện thoại di động tại Việt nam: VinaPhone, Viettel, E-Mobile (EVN Telecom), Sfone,… đem lại nhiều tiện ích nhất cho khách hàng. Khách hàng của Agribank có thể sử dụng các dịch vụ sau:

  • SMS
  • VnTopUp – Dịch vụ nạp tiền cho ĐTDĐ.
  • ATransfer – Dịch vụ chuyển khoản.
  • VnMart – Dịch vụ Ví điện tử.
  • APayBill – Dịch vụ Thanh toán Hóa đơn.
  • Sản phẩm vật chất

NH đã không ngừng đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và dễ dàng, thuận tiện. Số lượng máy ATM được trang bị trên phạm vi toàn quốc không ngừng ra tăng. Tính đến cuối năm 2024, hơn 1.700 máy ATM đã được NH trang bị trên khắp các tỉnh thành, quận huyện, tăng 43.1% so với năm 2023. Không những thế, NH đã đưa ra dịch vụ chấp nhận thanh toán qua POS/EDC tại trên 2.200 chi nhánh và phòng giao dịch rộng khắp toàn quốc của NH và liên tục phát triển, mở rộng mạng lưới EDC/POS tại các ĐVCNT nhằm tạo sự thuận tiện hơn nữa cho các chủ thẻ. NHNo& PTNT VN đã trang bị hệ thống phần mềm quản lý thẻ mới. Đây là hệ thống quản lý thẻ đa năng, có thể thực hiện kết nối với các tổ chức thẻ quốc tế và phát triển đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ thẻ. Mặt khác, hệ thống còn hỗ trợ quản lý khách hàng trung thành, tính điểm thưởng cho khách hàng,…

2.3.2. Chiến lược giá cả Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Đối với dịch vụ trả và nhận lương tự động thì Agribank có 2 nguồn thu chủ yếu là phí dịch vụ đối với đối tượng là các DN ký hợp đồng ủy thác trả lường và phí sử dụng thẻ đối với CBCNV có nhu cầu rút tiền, giao dịch qua ATM. Có một chính sách giá hợp lí để thu hút khách hàng hướng vào tiêu dùng dịch vụ của DN, khai thác triệt để khách hàng hiện tại, mở rộng khách hàng tiềm năng, giữ vững vị thế của DN trên thị trường cung ứng dịch vụ là mối quan tâm của hầu hết các nhà kinh doanh. NHNo& PTNT VN đã nghiên cứu và đưa ra biểu phí dịch vụ phù hợp với từng đối tượng khách hàng và mặt bằng chung trên thị trường.

  • Phí dịch vụ các doanh nghiệp phải chịu khi sử dụng dịch vụ trả và nhận lương tự động của Agribank: Phí dịch vụ của Agribank có sự thay đổi theo các năm:
  • 2019 – 2022: 2500 đồng/ 1 lần/ 1 tài khoản
  • 2022: 3000 đồng/ 1 lần/ 1 tài khoản
  • 2023 đến nay: 3300 đồng/ 1 lần/ 1 tài khoản

Thời gian đầu khi mới cung ứng dịch vụ, NH thường gặp khó khăn trong việc thu hút khách hàng tiêu thụ dịch vụ mới, vì vậy Agribank duy trì một mức giá thấp kết hợp với các ưu đãi. Khi đã có thị phần tương đối thì Agribank duy trì mức giá đủ hấp dẫn, kết hợp với chất lượng thuyết phục cùng với thành phần khác nhau của Marketing-mix khác để xây dựng uy tín của dịch vụ trong lòng khách hàng hiện tại và tương lai, củng cố vị thế của NH và mở rộng tiêu thụ.

  • CBCNV phải chịu phí sử dụng thẻ theo biểu phí sau:
  • Bảng 1: Biểu phí sử dụng thẻ tại NHNo& PTNT VN hiện nay (VNĐ).

 2.3.3. Chiến dịch xúc tiến hỗn hợp

Việc sử dụng chiến lược xúc tiến hỗn hợp nhằm tăng hiệu quả hoạt động Marketing cho dịch vụ trả lương tư động của NHNo& PTNT VN còn khá khiêm tốn. Đây cũng là một điều dễ hiểu vì không chỉ NHNo& PTNT VN nói riêng mà toàn bộ các NHTM nói chung mới trong giai đoạn đầu của quá trình nhận thức đúng đắn về vai trò của Marketing Ngân hàng trong việc phát triển hoạt động kinh doanh, cũng như mới bắt đầu có sự quan tâm, đầu tư thích đáng vào hoạt động này. Tuy chậm chân hơn các NHTM cổ phần khác, nhưng chiến dịch xúc tiến hỗn hợp của Agribank đã có những dấu mốc đáng ghi nhận.

Agribank đã có sự chú trọng hơn đến hoạt động quảng cáo, coi đó là một kênh dẫn thông tin hữu hiệu về dịch vụ trả lương tự động đến với khách hàng, đồng thời góp phần khẳng định thương hiệu và uy tín của mình. Tên tuổi của Agribank cũng như hình ảnh sản phẩm thẻ Success đã và đang được quảng cáo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng như: truyền hình, hệ thống xe bus, báo, các ấn phẩm, tờ rơi, tờ gấp được thiết kế theo mẫu thống nhất,… góp phần xây dựng niềm tin của người hưởng lương khi sử dụng sản phẩm thẻ của Agribank. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Ngoài ra Agribank còn nhận tài trợ cho rất nhiều hoạt động văn hoá- xã hội như: tài trợ chính thức cho Agribank Cup với chi phí lên đến 4 tỷ VNĐ cho mỗi lần tổ chức từ năm 2019 đến nay, NHNo& PTNT VN cũng là nhà tài trợ kim cương cho Hội Nghị Thượng Đỉnh Phụ Nữ toàn cầu diễn ra tại Hà Nội từ ngày 5- 7/6/2023,… hay tài trợ cho các game show đang rất thu hút khách xem truyền hình như game show “Mã số bí mật” của đài truyền hình Hà Nội, qua đó Agribank mong muốn đưa thương hiệu AGRIBANK toả sáng và gần gũi hơn với đông đảo khách hàng và công chúng, tăng sức cạnh tranh cho các sản phẩm – dịch vụ của AGRIBANK để tiếp tục phát triển bền vững trên con đường hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.

Thời điểm quảng cáo cũng được Agribank chú trọng vào những ngày lễ, tết ngày kỷ niệm thành lập ngân hàng hay khai trương chi nhánh mới. Việc tập trung quảng cáo vào những khoảng thời gian này đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của khách hàng.

Ngoài ra nắm bắt tâm lý người tiêu dùng, bao giờ cũng rất quan tâm tới những đợt khuyến mãi, Agribank đã áp dụng các chương trình khuyến mại làm thẻ trên toàn quốc tại tất cả các chi nhánh một cách thưòng xuyên. Chương trình gần đây nhất là đợt khuyến mại nhân dịp kỷ niệm 21 năm thành lập được diễn ra từ 1/3/ – 15/4/2024 theo đó tất cả các đối tượng khách hàng được miễn 100% phí phát hành thẻ, thậm chí đối với các đơn vị chấp nhận thẻ cũng được miễn phí 100% phí chiết khấu đại lý khi tham gia vào mạng lưới của Agribank. Chương trình này không chỉ thu hút sự quan tâm của CBCNV – những người được trả lương qua tài khoản nói riêng mà của các khách hàng sử dụng thẻ của Agribank nói chung.

Bên cạnh đó, trung tâm thẻ thực hiện hỗ trợ khách hàng trực tiếp qua điện thoại 24/24h, truy cập tìm địa điểm máy ATM, POS qua tin nhắn. Dịch vụ nhắn tin 997 hỗ trợ khách hàng tìm địa điểm đặt máy ATM, POS đã được triển khai tại tất cả các mạng di động: Viettel, Vinaphone, Mobiphone, EVN telecom, Sfone. Nhờ sự hỗ trợ từ phía Agribank mà CBCNV không còn khó khăn trong việc tìm kiếm nơi rút tiền, nhận biết các địa điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ để thuận tiện cho chi tiêu cá nhân. Tại chi nhánh, cán bộ làm nghiệp vụ thẻ đã phối hợp với các phòng ban liên quan tiếp cận khách hàng truyền thống, khách hàng có quan hệ tín dụng, thanh toán để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ thẻ cho khách hàng và vận động các đơn vị chi trả lương qua tài khoản thẻ.

Như vậy hoạt động tiếp thị, thông tin tuyên truyền quảng bá dịch vụ trả lương và các dịch vụ bổ sung tiện ích cho khách hàng như dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…cũng như việc khẳng định uy tín, xây dựng giá trị thương hiệu của Agribank đã có bước phát triển, tạo được một số điểm nhấn quan trọng, tuy nhiên vẫn có một số hạn chế như: nội dung quảng cáo chưa thực sự ấn tượng, chưa thể hiện tính sinh động, hấp dẫn của sản phẩm thẻ, hoạt động khuyến mại chưa được đông đảo dân chúng biết tới, hiệu quả của công tác xúc tiến hỗn hợp chưa được đánh giá cụ thể nhằm rút kinh nghiệm và đưa ra những biện pháp khắc phục thích đáng. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

2.3.4. Nhân tố con người

Trong những năm gần đây, NHNo& PTNT VN luôn chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tương xứng với các NH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Cụ thể hoá chiến lược phát triển nguồn nhân lực của mình, Ban Lãnh đạo Agribank đã phê duyệt kế hoạch đào tạo cho từng năm. Công tác đào tạo cũng có nhiều tiến bộ đáng kể. Thay vì bao sân cho các chi nhánh và đơn vị thành viên trong công tác đào tạo, Ban lãnh đạo Agribank đã phân cấp công tác đào tạo đến từng cấp. Trung tâm đào tạo Agribank tập trung đào tạo những chương trình nghiệp vụ mới, chương trình chuyên sâu và chương trình mà đơn vị cấp dưới chưa có khả năng thực hiện như đào tạo cho cán bộ lãnh đạo các cấp, chuyên sâu cho cán bộ nghiệp vụ, kiến thức NH cho nhân viên đã tốt nghiệp đại học các ngành khác được tuyển dụng làm việc tại Agribank,… Với mỗi chuyên đề đào tạo, trung tâm đào tạo Agribank đều chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi trình Ban lãnh đạo phê duyệt, từ công tác tiếp cận đánh giá đối tác, thẩm định chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo trình tài liệu, nội dung chương trình đến việc lập kế hoạch, quản lý đào tạo, triển khai thực hiện và đánh giá hiệu quả đào tạo thực tế….

2.3.5. Hoạt động liên kết, hợp tác

Xu hướng liên kết, hợp tác giữa các NH, giúp cho nhiều NH vượt qua những hạn chế về vốn đầu tư, công nghệ, và trang thiết bị phục vụ cho hệ thống thanh toán. Nhận thức được việc liên kết, hợp tác với các tổ chức phát hành và thanh toán thẻ là một yếu tố không thể thiếu, góp phần quan trọng trong việc gia tăng tiện lợi cho khách hàng sử dụng dịch vụ của NH từ đó củng cố lòng tin của khách hàng vào sự không ngừng hoàn thiện mình của Agribank đồng thời phát triển hoạt động kinh doanh của chính Agribank trên nhiều mặt. Điều này không chỉ đơn thuần là bước phát triển tất yếu mà qua đó NHNo& PTNT VN khẳng định phương châm hoạt động không ngừng gia tăng giá trị dịch vụ, tiện ích thẻ cho khách hàng, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh và khẳng định vị thế của NH mình trên thị trường . Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

  • Là thành viên của banknetvn và kết nối với Smartlink

Banknet là tên viết tắt của Công ty Cổ phần Chuyển mạch Tài chính Quốc gia Việt Nam được thành lập ngày 09/07/2019 với sự tham gia góp vốn của 8 cổ đông sáng lập, trong đó NHNo& PTNT VN là một trong số những cổ đông góp vốn lớn nhất. Trải qua khá nhiều thăng trầm, 3 năm sau, hệ thống chuyển mạnh Banknetvn mới chính thức đi vào hoạt động vào ngày 21/4/2022. Hệ thống chuyển mạch Banknet hoạt động thành công đã giúp 12 NH thành viên kết nối liên thông các mạng thanh toán thẻ ATM, khai thác và chia sẻ tiện ích của các hệ thống với nhau, tạo điều kiện gia tăng tiện ích cho khách hàng sử dụng thẻ, bởi thay vì phải tốn công sức tìm kiếm chiếc ATM của NHPHT, khách hàng có thể sử dụng thanh toán thẻ tại bất kỳ điểm ATM nào có logo Banknetvn. Chỉ tính đến hết 31/12/2022, có 3.490 món giao dịch diễn ra trên hệ thống của Banknet, với số tiền là 3.600 triệu đồng. Giao dịch bình quân đạt 116 triệu đồng/ ngày, phí NHNo& PTNT VN được hưởng là 7 triệu đồng.

Ngày 23/5/2023 dưới sự chỉ đạo của NHNN Việt Nam, Banknetvn chính thức kết nối với Smartlink hình thành hệ thống Smartlink- Banknet, theo đó trong giai đoạn I sẽ thực hiện kết nối liên thông 80% số máy ATM của các NHTM trên toàn quốc. Tính đến cuối quý III năm 2023 quá trình này đã hoàn thành với mạng lưới thanh toán gồm 42 NH thành viên, tống số máy ATM đạt 4.500 máy, số lượng thẻ phát hành khoảng 9.2 triệu thẻ chiếm 80% thị phần thẻ thanh toán trong cả nước. Trong giai đoạn II, Smartlink- Banknet thực hiện kết nối liên thông hệ thống POS cho các NH thành viên và hợp tác cung cấp các dịch vụ giá trị gia tăng khác. Hiện nay, hệ thống thanh toán này đang được vận hành chính thức với dung lượng xử lý lên đến 2 triệu giao dịch/ ngày đã gớp phần mở rộng, nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán, chu chuyển vốn của nền kinh tế. Số thành viên tham gia Smartlink- Banknet đã lên đến 83 NH, lượng giao dịch trung bình từ 35.000- 45.000 món/ ngày, khối lượng vốn luân chuyển khoảng 35.000 tỷ đồng/ ngày và tiếp tục gia tăng.

  • Liên kết với tổ chức thẻ quốc tế Visa và MasterCard

NHNo& PTNT VN chính thức kết nối thanh toán thẻ với tổ chức thẻ quốc tế Visa vào ngày 27/11/2022, MasterCard vào 28/03/2023. Theo đó tất cả các thẻ thanh toán mang thương hiệu Visa sẽ được chấp nhận thanh toán tại hơn 20.000 điểm chấp nhận thẻ trong nước và 25 triệu ĐVCNT trên thế giới, rút/ ứng tiền mặt và các dịch vụ khác tại 4.800 máy ATM mang thương hiệu Visa trong nước và hơn 1 triệu máy ATM mang thương hiệu Visa tại hơn 150 quốc gia trên toàn thế giới. Tính đến hết 31/12/2022 giao dịch thẻ Visa qua NHNo& PTNT VN đạt 1.763 món, tổng số tiền giao dịch là 3.677 triệu đồng, giao dịch bình quân 97 triệu đồng/ ngày, phí dịch vụ Agribank được hưởng là 9 triệu đồng. Đối với chủ thẻ MasterCard thì có thể sử dụng thẻ ở trên 14 triệu điểm thanh toán trên khắp thế giới. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Đây là bước khởi đầu của NHNo& PTNT VN trong triển khai một loạt các dự án lớn về hiện đại hoá công nghệ NH, tăng cường hợp tác, liên kết, hội nhập quốc tế, một mặt nâng cao chất lượng dịch vụ, tiện ích cho khách hàng sử dụng thẻ, mặt khác khẳng định vị thế, và năng lực cạnh tranh của mình trong hội nhập kinh tế quốc tế.

  • Hợp tác cùng VNPay trong việc cung ứng dịch vụ ngân hàng điện tử

Công ty Cổ phần Giải pháp Thanh toán Việt Nam – VNPAY chính thức được thành lập vào tháng 3 năm 2022. VNPAY tự hào là một doanh nghiệp đã kết nối thành công tới 5 đối tác viễn thông (VinaPhone, MobiFone, Viettel, S-Fone và EVNTelecom). Hiện nay VNPAY đang tích cực mở rộng mạng lưới kết nối đến hệ thống doanh nghiệp và được sự đồng tình ủng hộ từ phía các doanh nghiệp kinh doanh trên Internet cũng như từ phía khách hàng tham gia thanh toán trực tuyến sử dụng Ví điện tử VnMart. Theo Quyết định số 675/QĐ-NHNN ngày 30 tháng 03 năm 2024 của thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc cho phép VNPAY thực hiện thí điểm cung ứng dịch vụ thanh toán Ví điện tử VnMart. Dịch vụ này đánh dấu một bước tiến mới trong công tác đa dạng hóa các dịch vụ của VNPAY, đồng thời góp phần củng cố hơn nữa mối quan hê hợp tác lâu dài, chặt chẽ, hiệu quả giữa VNPAY và các Ngân hàng đối tác, đặc biệt là Agribank.

  • 15/01/2023: Agribank- Vinaphone- VNPAY khai trương dịch vụ nạp tiền vào tài khoản di động trả trước (VnTopup) và dịch vụ SMSBanking.
  • 18/04/2023: Khai trương dịch vụ VnTopup với Agribank và EVN-
  • 8/06/2024: Tại Hà nội, Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam Agribank và Công ty Cổ phần Giải pháp Thanh toán Việt Nam- VNPAY chính thức khai trương dịch vụ thanh toán hoá đơn qua tin nhắn (APayBill) và dịch vụ ví điện tử VnMart. Đây là hai dịch vụ hoàn toàn mới trên thị trường, do Agribank và VNPAY tiên phong phát triển và cung cấp nhằm mang lại cho khách hàng của hai bên những dịch vụ thanh toán tiện ích, không dùng tiền mặt.

Hợp tác và liên kết đã góp phần giúp Agribank khắc phục phần nào hạn chế về cơ sở hạ tầng, từ đó nâng cao khả năng cung ứng các phương thức thanh toán đa dạng, tiện lợi về mặt địa lý cũng như kinh tế cho những người hưởng lương- đối tượng sử dụng thẻ với tần suất lớn cũng như những đối tượng sử dụng thẻ của Agribank nói chung.

III. Đánh giá chung về môi trường cạnh tranh và vị thế của Agribank trong thị trường cung ứng dịch vụ trả và nhận lương tự động Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

3.1 Thực trạng khả năng cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản

3.1.1. Tổng quan thị trường cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản

Việc trả lương qua tài khoản ở nước ta đã được xúc tiến trong những năm gần đây tại một số địa bàn, cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên việc triển khai chưa được đồng bộ, rộng khắp. Phạm vi phát hành và sử dụng thẻ còn hạn chế, mới chủ yếu tập trung ở một số tỉnh, thành phố lớn, đối tượng sử dụng thẻ chủ yếu tập trung vào tầng lớp đang làm việc trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng, cán bộ của công ty liên doanh nước ngoài, văn phòng đại diện nước ngoài có thu nhập cao và công nhân lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và mới đây là đối tượng hưởng lương từ NSNN theo Chỉ thị 20/2022/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Những đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước cũng là lực lượng cần đi đầu trong tiến trình thực hiện việc trả lương qua tài khoản để làm mẫu cho các đối tượng các thành phần kinh tế trong xã hội hưởng ứng làm theo. Nhìn chung, kết quả triển khai dịch vụ trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương ngân sách nhà nước trên toàn quốc đã có nhiều chuyển biến tích cực theo tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, cụ thể theo số liệu thống kê của NHNN VN: Số đơn vị hưởng lương từ ngân sách nhà nước đã thực hiện trả lương qua tài khoản đến hết tháng 6/2024 đạt 26.635 đơn vị, tăng hơn 2 lần so với 6 tháng đầu năm 2023, tăng 5.073 đơn vị (đạt tốc độ tăng 23,5%) so với cuối năm 2023; số người được trả lương qua tài khoản đến cuối tháng 6/2024 đạt 1.315.779, tăng hơn 2 lần so với 6 tháng đầu năm 2023, tăng thêm 183.337 người (đạt tốc độ tăng 16%) so với cuối năm 2023.

Sự phát triển của thị trường thẻ với hơn 40 NHTM Việt Nam phát hành trên 100 sản phẩm thẻ đa dạng, phong phú và có nhiều tính năng, tiện ích mới, cùng với sự giúp đỡ từ phía nhà nưóc trong việc triển khai chỉ thị 20 và sự gia tăng của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài trong nền kinh tế Việt Nam là 1 số yếu tố cơ bản tạo thuận lợi trong việc phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ trả lương qua tài khoản tại các NHTM.

Trong khi xu hướng chung trên toàn cầu là cắt giảm việc làm do chưa hết khó khăn về kinh tế thì VN lại “đi ngược”, với 65% số DN tư nhân đã tăng số lượng nhân viên trong năm 2024. Năm nay, 60% số DN sẽ tiếp tục mở rộng nguồn nhân lực và 67% số DN có kế hoạch tăng lương cho nhân viên. Các DN ở những nền kinh tế càng tăng trưởng càng phải gánh chịu sự sụt giảm lớn nhất về nhân lực còn Việt Nam là một trong các nền kinh tế đang phát triển lại tuyển thêm khá nhiều nhân công: 54%.

Chính sách từ phía nhà nước và xu hướng từ thị trường nguồn nhân lực đã mở ra cơ hội cho các NH cung ứng dịch vụ trả lương vốn nhằm mục đích mở rộng mạng lưới khách hàng làm cơ sở phát triển dịch vụ thanh toán đa tiện ích không dùng tiền mặt để đa dạng hóa các loại hình dịch vụ kinh doanh, từng bước gia tăng thu nhập trong tương lai.

3.1.2. Khả năng cung ứng mạng lưới rút lương và thanh toán qua thẻ đối với đối tượng nhận lương qua tài khoản Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Việc gia tăng số lượng máy ATM và điểm chấp nhận thẻ (POS) cũng là một trong những tiện ích quan trọng để dịch vụ trả lương qua tài khoản trở nên hấp dẫn hơn.

  • Hệ thống máy ATM phục vụ hoạt động rút lương của CBCNV

Việc lĩnh lương tiện lợi nhất dựa trên dịch vụ ngân hàng hiện đại và công nghệ hiện đại đó là rút tiền tại máy rút tiền tự động ATM. Nếu không có máy ATM và không rút được tiền qua máy ATM thì việc trả lương qua tài khoản tại NH lại gây thêm rắc rối cho người hưởng lương.Vì vậy để tạo thuận lợi cho người hưởng lương có nhu cầu rút tiền mặt chi tiêu thì kênh giao dịch tự động này được các NH quan tâm chú trọng phát triển, mạng lưới ATM được mở rộng đặc biệt là tại các khu vực trường học, bệnh viện, các cơ quan lớn, siêu thị… nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch 24/24 của khách hàng. Nếu như năm 2018, mỗi NH chỉ có vài chục máy, thì đến năm 2023 số lượng ATM trên thị trường đã lên đến 7.051 máy được lắp đặt tại hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước. Tính đến cuối 6/2024, các TCCUDVTT đã tăng cường đầu tư, nâng số máy giao dịch tự động (ATM) lên 8.900 máy, so với 31/12/2023 tăng 1.230 máy (tăng 16%).

Sơ đồ 5: Số lượng ATM trang bị qua các năm

Các TCCUDVTT đã đầu tư lắp đặt thêm cơ sở hạ tầng trên toàn quốc, tính đến cuối 6/2024, các TCCUDVTT đã tăng cường đầu tư, nâng số máy giao dịch tự động (ATM) lên 8.900 máy, so với 31/12/2023 tăng 1.230 máy (tăng 16%).

Ngoài ra các TCCUDVTT còn cố gắng đầu tư lắp đặt máy camera theo dõi tại ATM, duy trì nhật ký (cả điện tử và giấy) về hoạt động của máy, có điều hòa nhiệt độ lắp đặt tại các cabin, có hệ thống giám sát ATM, máy POS từ xa, lắp các thiết bị chống ăn cắp dữ liệu thẻ tại các ATM để kịp thời phát hiện và cảnh báo về các trục trặc, sự cố trong vận hành máy.

3.1.2.2. Thanh toán bằng thẻ qua thiết bị chấp nhận thẻ- POS

Để phục vụ cho hoạt động thanh toán của người hưởng lương, mạng lưới ĐVCNT cũng được mở rộng. Đến 31/12/2022 số lượng POS đạt 18.320 máy, t8/2023 đã đạt 24.703 máy tăng 12,4 % so với năm 2022, số máy chấp nhận thẻ (POS) lên 26.183 máy, tăng 1.271 máy (tăng 5%) đây là những dấu hiệu đáng mừng cho khách hàng khi sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên, với số lượng cửa hàng, siêu thị, khách sạn ngày một gia tăng thì số lượng POS sẽ vẫn tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới để đáp ứng được hầu hết nhu cầu sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ của khách hàng.

3.1.2.3. Các NHTM triển khai liên kết mạng lưới ATM, POS nhằm nâng cao khả năng thanh toán, rút tiền cho khách hàng

Đối với các giao dịch liên mạng Smartlink-Banknet, các TCCUDVTT luôn nỗ lực hết sức để hạn chế các trục trặc có thể xảy ra với khách hàng trong quá trình sử dụng thẻ và luôn cố gắng đảm bảo thời gian tra soát, khiếu nại chuẩn nhằm giải quyết tra soát cho khách hàng trong thời gian sớm nhất. Thời gian xử lý tra soát giữa liên minh Smartlink-Banknet trước đây là 30 ngày nay đã giảm còn 20 ngày làm việc theo quy trình nghiệp vụ tra soát liên mạng Smartlink- Banknetvn. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn có nhiều khó khăn mà các NHTM phải khắc phục như: Năng lực đầu tư cơ sở hạ tầng ATM và POS của các TCCUDVTT còn hạn chế do chưa bù đắp đủ chi phí để tái đầu tư nâng cấp hệ thống, việc liên kết các hệ thống ATM liên mạng diễn ra còn khá chậm nên chưa phát huy hết các tiện ích cho người rút lương. Một số trục trặc kỹ thuật vẫn còn xảy ra do mất điện, nghẽn đường truyền nên các TCCUDVTT không chủ động được. Số lượng ATM còn hạn chế, chưa tương ứng với số lượng thẻ ATM đã phát hành; việc lắp đặt máy ATM có nơi còn chưa hợp lý (có nơi tập trung quá nhiều máy của cùng một ngân hàng hoặc của các ngân hàng, chưa có sự điều chỉnh sau khi Banknetvn và Smartlink đã kết nối). Việc kết nối thanh toán qua POS/ EDC vẫn còn hạn chế. Hệ thống ATM của nhiều ngân hàng thành viên chưa thật thông suốt, đôi khi xảy ra trục trặc kỹ thuật (phát sinh lỗi giao dịch), việc xử lý các sự cố chưa kịp thời, thời gian xử lý khiếu nại thực tế mặc dù đã rút ngắn hơn so với quy định nhưng vẫn còn tương đối lâu .

3.1.3. Khả năng cung ứng dịch vụ thẻ cho người hưởng lương

Nhìn chung theo thống kê của các ngân hàng đối tượng nhận lương qua tài khoản chiếm 1 tỷ lệ tương đối lớn trong số lượng khách hàng sử dụng thẻ của các NH. Vietinbank ước tính hiện có trên 2,7 triệu chủ thẻ ATM, trong đó, khoảng 30% nằm trong đối tượng trả lương qua tài khoản (khoảng 600.000 chủ thẻ). Theo thống kê của Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), trong số trên 300.000 khách hàng thẻ của ngân hàng thì có trên 40% là để nhận lương qua tài khoản. Kết quả điều tra, thăm dò của Techcombank cho thấy, các đơn vị, doanh nghiệp đều đánh giá cao tiện ích của dịch vụ này. Điều này cho thấy tầm quan trọng của dịch vụ thẻ đối với sự phát triển của dịch vụ trả lương qua tài khoản nói riêng và sự phát triển của các NH nói chung. Vì vậy các NH đều có sự quan tâm đáng kể tới dịch vụ thẻ của mình.

Đa dạng hóa sản phẩm thẻ là lựa chọn hàng đầu được các NHTM đầu tư nhằm nâng cao năng lực cung ứng dịch vụ và thu hút các đơn vị lựa chọn trả lương cho CBCNV qua tài khoản. Chủ yếu người hưởng lương lựa chọn thẻ nội địa vì phù hợp với tiêu dùng trong nước, tuy nhiên đối với các đối tượng thường xuyên đi công tác nước ngoài hoặc có nhu cầu chuyển tiền ra nước ngoài thì có thể lực chọn thẻ quốc tế. Số lượng thẻ của các NH tăng đều qua các năm. Đến cuối năm 2023, tổng số thẻ phát hành đạt gần 15 triệu thẻ, tăng gấp khoảng 60 lần số lượng thẻ phát hành năm 2018. Trong tổng số các loại thẻ do các tổ chức trong nước phát hành, thẻ nội địa vẫn chiếm đa số, với tỉ lệ 94% (trong đó thẻ ghi nợ nội địa chiếm 92.21%, còn lại là thẻ ghi nợ nội địa), thẻ quốc tế chiếm 6% (trong đó thẻ tín dụng quốc tế khoảng 2.33%, thẻ ghi nợ quốc tế chiếm 3.67%). Trong 40 tổ chức phát hành thẻ, chỉ có 18 NHPHT quốc tế, các tổ chức còn lại chỉ tập trung phát triển thẻ nội địa.

Bảng 2: Tình hình phát hành thẻ của một số NHTM Việt Nam (đến T6/2023). Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

STT Ngân hàng Số lượng thẻ nội địa (chiếc) Số lượng thẻ quốc tế (chiếc)
01 Ngoại Thương Việt Nam 2,779,537.00 204,545.00
02 Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1,622,475.00
03 Đầu tư và phát triển Việt Nam 1,450,000.00
04 Đông Á 2,071,000.00
05 Công Thương Việt Nam 684,257.00 3,009.00
06 Sài Gòn Thương tín 215,755.00 83,971.00
07 Á Châu 80,448.00 274,153.00
08 Quốc Tế 269,843.00 8,963.00
09 Sài Gòn Công Thương 160,000.00
10 Xuất nhập khẩu Việt Nam 27,156.00 5,380.00
11 Kỹ thương 351,293.00 77,351.00
12 Ngoài quốc doanh 30,256.00 4,797.00

(Nguồn: Báo cáo 6 tháng đầu năm 2023 – Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam)

Tuy nhiên công tác chăm sóc khách hàng đôi khi thực hiện chưa được tốt nên khách hàng còn phàn nàn về chất lượng dịch vụ; việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện mặc dù đã giảm đáng kể về số lượng cũng như thời gian xử lý nhưng nhiều lúc vẫn chưa kịp thời và thoả đáng. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

3.1.4. Phát triển tiện ích mới cho khách hàng

Ngoài việc nâng cao các tiện ích đã triển khai trước đây như: rút tiền, chuyển khoản, truy vấn thông tin, dịch vụ thấu chi tài khoản, thanh toán hóa đơn v.v…, các TCCUDVTT đã không ngừng đầu tư giải pháp công nghệ hiện đại, để cung cấp thêm nhiều tiện ích mới như: dịch vụ SMS banking với chức năng thông báo biến động số dư tài khoản, chuyển khoản, nạp tiền điện thoại di động VnTopup; dịch vụ Internet banking, Home banking, Mobile banking cũng được các ngân hàng triển khai mở rộng. Nhờ đó, khách hàng có thể thực hiện mua sắm hàng hoá, dịch vụ qua mạng, đặt vé máy bay, tour du lịch (Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam); vay tiền qua dịch vụ thấu chi với mức tối đa tới 30 triệu đồng, đáp ứng nhu cầu vay tiền đơn giản, nhanh chóng của cán bộ, công chức; dịch vụ gửi rút tiền nhiều nơi giúp khách hàng có thể rút tiền và gửi tiền tại tất cả 2.200 chi nhánh và phòng giao dịch (Ngân hàng NNo & PTNT); thực hiện chuyển khoản trên mạng internet (Ngân hàng Á Châu); triển khai dịch vụ EDC không dây, triển khai thí điểm dịch vụ Kios Banking (kết nối thông qua ATM, truy cập internet để lấy các thông tin, chuyển khoản, truy vấn số dư tài khoản), triển khai dịch vụ MOTO banking (thanh toán hóa đơn dịch vụ cho khách hàng thông qua mail, fax, điện thoại v.v…), triển khai AutoBank (Ngân hàng Công Thương Việt Nam) v.v… Mặc dù Các dịch vụ thanh toán trực tuyến mới chỉ dừng ở quy mô nhỏ hẹp, chưa triển khai trên diện rộng nhưng Đó là sự nỗ lực lớn của các TCCUDVTT trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế cũng như của ngành Ngân hàng

Chủ động hợp tác với các đơn vị cung ứng dịch vụ sinh hoạt thường kỳ như: công ty điện, nước, điện thoại,…để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trả tiền dịch vụ bằng thẻ và các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khác. Chủ động phối hợp với các đơn vị cung ứng dịch vụ (nhà hàng, siêu thị, công ty bán lẻ…) để phát triển các điểm chấp nhận thẻ (POS); phát triển các tiện ích thanh toán thuận lợi gắn với việc nhận lương qua tài khoản bên cạnh dịch vụ thẻ qua ATM.

3.1.5. Dịch vụ khách hàng Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Khi tiến hành triển khai dịch vụ trả lương qua tài khoản, các TCCUDVTT đã tổ chức bộ phận trực 24/24h với nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra tức thời tình trạng toàn bộ hệ thống ATM để phát hiện, xử lý sự cố sớm, kịp thời; đồng thời theo dõi đảm bảo tiếp quỹ ngay khi ATM hết tiền. Bên cạnh đó, đường dây điện thoại nóng hỗ trợ khách hàng của các TCCUDVTT là một trong những kênh tiếp nhận kịp thời các ý kiến, thắc mắc của khách hàng giúp cho việc tra soát, xử lý các khiếu kiện được tốt hơn. Các TCCUDVTT đã quan tâm công tác đào tạo và bố trí cán bộ thường trực từ hội sở chính đến tất cả các chi nhánh trên toàn hệ thống phục vụ cho việc cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản.

Đối với các giao dịch liên mạng Smartlink-Banknet, các TCCUDVTT luôn nỗ lực hết sức để hạn chế các trục trặc có thể xảy ra, tuy nhiên khi xử lý thực tế nhiều ngân hàng thành viên giải quyết chậm, gây hiểu lầm cho khách hàng sử dụng về hệ thống của thành viên khác, ngoài ra công tác tuyên truyền về hoạt động này của các TCCUDVTT chưa được đầy đủ, chưa thông báo cho khách hàng biết để có thể linh hoạt giao dịch ở máy ATM thuộc các ngân hàng khác cùng tham gia liên minh hoặc đã được kết nối, đồng thời thông báo về thời gian quy định về tra soát dẫn tới nhiều khách hàng rất bức xúc khi phải chờ đợi giải quyết.

3.2. Phân tích vị thế của NHNo& PTNT VN trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ trả và nhận lương tự động tại Việt Nam

Sự phát triển dịch vụ thẻ đã làm tiền đề cho sự phát triển của dịch vụ trả và nhận lương tự động. Dịch vụ mang lại nhiều tiện ích cho người sử dụng cũng như NH cung ứng được NHNo & PTNT cung cấp trên thị trường từ năm 2019, mặc dù cơ sở hạ tầng vẫn cần đầu tư nhiều để nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ và cần chú trọng hơn nữa vào hoạt động marketing, Agribank cũng đã từng bước giành được thị phần đáng kể trên thị trường và xây dựng uy tín về chất lượng của dịch vụ đối với các khách hàng doanh nghiệp hiện tại, tạo tầm ảnh hưởng đối với khách hàng tiềm năng trong tương lai. Số lượng khách hàng liên tục gia tăng giúp cho NH có nguồn thu nhập đáng kể đến từ việc cung ứng dịch vụ trả lương cũng như các dịch vụ tiện ích kèm theo đồng thời có được số dư tiền gửi trên tài khoản khi người hưởng lương chưa sử dụng đến để cho vay và đầu tư mà chỉ phải trả lãi suất không kỳ hạn. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Sơ đồ 6: Doanh thu dịch vụ trả và nhận lương tự động tại NHNNo&PTNT VN

Đạt được kết quả ấn tượng như trên trước hết là có sự vào cuộc về chính sách và chủ trương của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước về Đề án thanh toán không dùng tiền mặt và đặc biệt được cụ thể hóa tại Chỉ thị 20 quy định về việc các cơ quan Hành chính sự nghiệp phải thực hiện trả lương qua tài khoản NH. Theo đó NHNo& PTNT VN là NH duy nhất dành quyền ưu tiên trong việc thực hiện việc chi trả lương qua thẻ ATM cho các đối tượng hưởng lương hưu và bảo hiểm xã hội từ Ngân sách Nhà nước. Mặt khác lợi thế về nền tảng phát triển lâu đời và đội ngũ khách hàng truyền thống hùng hậu và đặc biệt là cơ sở hạ tầng, kỹ thuật hiện đại phục vụ cho việc trả lương qua thẻ, dùng tiền lương chi tiêu trực tiếp qua thẻ đã góp phần tích cực giúp NHNo& PTNT VN triển khai, thâm nhập thị trường nhanh chóng và đạt được hiệu quả đáng khích lệ.

Để trả lương vào tài khoản hàng tháng là điều dễ làm đối với các NHTM nhưng làm thế nào để người hưởng lương nhận thấy được tiện ích và sự thuận tiện của chính dịch vụ mà doanh nghiệp sử dụng, sẵn sàng tham gia tiêu dùng dịch vụ bổ sung để gia tăng giá trị sử dụng tài khoản lương của mình là một vấn đề khó khăn đối với NH cung ứng dịch vụ.Việc rút lương hoặc tham gia giao dịch qua thẻ ATM đòi hỏi NH cung ứng dịch vụ phải phát triển mạng lưới ATM, POS một cách khoa học và hiệu quả nhất đối với khách hàng của mình. Công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế đòi hỏi các NH phải đầu tư chi phí rất lớn vì hầu hết các vật tư phục vụ cho nghiệp vụ thẻ vẫn có mức thuế nhập khẩu rất cao, thủ tục đấu thầu mua sắm các thiết bị công nghệ phức tạp còn rất khó khăn. Điểm mạnh của NHNo& PTNT VN so với các NHTM khác là NHNo& PTNT VN có quy mô vốn lớn, là NH quốc doanh nên vẫn được Chính phủ dành cho sự ưu ái nhất định. Chính vì vậy, công tác trang bị hệ thống mạng lưới ATM/ POS hỗ trợ cho việc phát triển dịch vụ thẻ của NHNo& PTNT VN có phần thuận lợi hơn các NHTM khác, đặc biệt là các NHTM quy mô nhỏ.

Bảng 3 : Số lượng ATM và POS của một số NHTM Việt Nam (đến T6/2023)

STT Tên Ngân Hàng (NH) Số lượng máy ATM Số lượng POS
31/12/07 06/08 Tổng 31/12/07 06/08 Tổng
1 NH Ngoại Thương VN 1890 1090 + 200 5500 5930 +430
2 NH Đầu tư và Phát triển VN 682 815 +133 425 780 +355
3 NH Công Thương VN 492 742 +250 1305 1597 +292
4 NH No & PTNT 602 802 +200 203 203
5 NH Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long 82 82 0 0
6 NH TMCP Đông Á 667 794 +127 753 822 +69
7 NH Sài Gòn Thương Tín 212 350 +138 1773 1752 -21
8 NH TMCP Ngoài quốc doanh 157 225 +68 0
9 NH TMCP Á Châu 134 174 +40 7050 7060 +10
10 NH TMCP Quân Đội 91 125 34 452 633 +181
11 NH Kỹ Thương VN 165 230 +65 1804 1839 +35
12 NH Sài Gòn công thương 63 73 +10 199 257 +58
13 NH TMCP Quốc Tế 62 82 +20 1274 1900 +626
14 NH Xuất Nhập Khẩu VN 30 55 +25 774 1389 +615
15 NH TMCP Nhà Hà Nội 45 47 +2 84 100 +16
16 NH TMCP An Bình 15 15 300 300
17 NH TMCP Sài Gòn 19 32 +13 0 0
18 NH TMCP Phương Nam 10 15 +5 50 50
19 NH TMCP Nam Việt 6 8 +2 57 115 +58
20 NH Miền Tây 10 21 +11
21 NH HSBC 26 70 +44 3 3
22 NH Indovina 15 25 +10
23 NH Shinhan Vina 7 7
Tổng 5482 5879 +1397 22021 24730 +2724

( Nguồn: Báo cáo 6 tháng đầu năm 2023 của các NHTM về thực trạng và năng lực cung cấp dịch vụ trả lương qua tài khoản.) Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

Tuy nhiên, chính sách đặt các địa điểm máy ATM của NHNo& PTNT VN lại có đôi chút khác biệt với các NHTM khác. Dễ thấy, mật độ máy ATM của các NH khác như Vietcombank, Techcombank, Đông Á Bank…ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng…dày đặc hơn mật độ máy ATM của NHNo &PTNT VN. Tuy nhiên, điều này không thể hiện số lượng máy ATM của Agribank thấp hơn đối thủ. Vì ATM của NHNo& PTNT VN được phân bố đồng đều, trải khắp các tỉnh thành trên cả nước, không chỉ phục vụ tại nơi dân cư đông đúc, có nhu cầu cao như các thành phố lớn, mà còn đáp ứng nhu cầu sử dụng của dân cư tại các tỉnh, thành khác trên toàn quốc. Đây là ưu điểm của Agribank so với NH khác trong việc nhắm đến 1 lượng doanh nghiệp, đơn vị hành chính không nhỏ tại các tỉnh thành khác sẽ sớm áp dụng trả lương qua tài khoản.

Như vậy, đến nay tổng số ATM của NHNo& PTNT VN đang chiếm 16% tổng số máy hiện có trên thị trường, xếp thứ 3 về số lượng ATM trên toàn Việt Nam chỉ sau NH Ngoại Thương VN (Vietcombank) và NH Đầu tư & Phát triển (BIDV). Đây là một vị trí khá cao trên thị trường mà không phải NH nào cũng dễ dàng có được. Tuy nhiên, sự phát triển của dịch vụ trả lương qua tài khoản vẫn chưa thực sự tương xứng với quy mô, tầm cỡ và bề dầy lịch sử của Agribank. Có thể trong tương lai, với sự chú trọng hơn vào phát triển chất lượng mạng lưới ATM và các dịch vụ bổ sung tiện ích cho khách hàng, đa dạng hóa chức năng của thẻ ATM, tiếp tục duy trì thị phần về thẻ nội địa, thẻ quốc tế, Agribank có thể thu hút thêm nhiều loại hình doanh nghiệp đến với dịch vụ và vươn lên thành NH hàng đầu trên thị trường cung ứng dịch vụ trả lương tự động tại Việt Nam

Trong chương II, khóa luận đã đi tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của NHNo& PTNT VN, phân tích thực trạng ứng dụng Marketing vào dịch vụ trả lương tự động tại NHNo& PTNT VN cùng với kết quả đạt được trong giai đoạn qua cũng như những hạn chế, tồn tại cần phải khắc phục. Đồng thời đánh giá khái quát về môi trường cạnh tranh và xác định vị thế của NHNo& PTNT VN trên thị trường cung ứng dịch vụ trả và nhận lương tự động. Đây cơ sở thực tiễn để đề xuất giải pháp trong chương III. Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x