Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và một số giải pháp Marketing nhằm phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới. Để tồn tại và phát triển trong xu thế chung đó đòi hỏi các tổ chức kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói riêng phải có chiến lược phát triển phù hợp. Việc phát triển và đa dạng hóa các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt với công nghệ hiện đại, dịch vụ đa năng và liên kết toàn cầu theo thông lệ quốc tế không chỉ đóng vai trò trung gian thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán qua Ngân Hàng- là yêu cầu bức thiết đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Sự ra đời của hình thức trả lương qua tài khoản là một bước đột phá trong tiến trình hiện đại hóa hoạt động thanh toán trong nền kinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam.Với ưu thế về thời gian thanh toán, tính an toàn, hiệu quả, thuận tiện trong sử dụng và phạm vi thanh toán rộng, hiệu quả chung mà cả nền kinh tế tiết kiệm được từ dịch vụ trả lương qua tài khoản là rất lớn. Bằng việc góp phần thay đổi thói quen sử dụng tiền mặt cố hữu trong một bộ phận lớn dân cư, hình thức trả lương qua tài khoản đã và dần thay thế hình thức trả lương truyền thống và trong tương lai sẽ kéo theo việc áp dụng thanh toán không dùng tiền mặt giữa các quan hệ kinh tế khác diễn ra nhanh chóng hơn.
Công tác đẩy mạnh áp dụng phương thức trả lương qua tài khoản Ngân hàng như một phương thức thanh toán lương chủ yếu trong nền kinh tế đã trở thành một trong những biện pháp chiến lược nhằm phát triển nhanh chóng thanh toán không dùng tiền mặt của Chính phủ Việt Nam. Đối với các Ngân hàng thương mại, việc đưa dịch vụ trả lương qua tài khoản trở thành sản phẩm cơ bản đối với đối tượng khách hàng doanh nghiệp là một trong những mục tiêu dài hạn quan trọng của họ trong việc đưa các dịch vụ bán lẻ đa dạng đến tay một lượng khách hàng tiềm năng. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là Ngân hàng quốc doanh hàng đầu Việt Nam, có bề dày lịch sử, kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực Ngân hàng và lợi thế về nguồn vốn lớn. Đây là những nhân tố tạo tiền đề giúp Ngân hàng triển khai cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khỏan của mình một cách thuận lợi hơn và dành ưu thế trên thị trường đầy tiềm năng. Từ năm 2019, Ngân hàng đã quan tâm đầu tư phát triển dịch vụ trả lương qua tài khoản, từ hoàn thiện quy trình cung ứng dịch vụ, đào tạo nhân lực đến đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, hệ thống công nghệ tin học, trang thiết bị hiện đại,… và đến nay đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, dịch vụ trả lương qua tài khoản của Ngân hàng vẫn chưa có một vị trí thích đáng trên thị trường và chưa đạt tỷ lệ tương xứng trong mối tương quan với các loại hình dịch vụ mà Ngân hàng hiện đại cung cấp, điều này do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân quan trọng là công tác Marketing của Ngân hàng trong phát triển dịch vụ còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Việc sử dụng công cụ Marketing chưa mang tính chiến lược, chưa định vị được giá trị của dịch vụ, chưa dự báo chính xác trước được các thay đổi môi trường kinh doanh Ngân hàng, chưa xác định được điểm mạnh, điểm yếu của mình trong môi trường mới, vì vậy, luôn rơi vào thế bị động và kết quả thu được trong phát triển dịch vụ trả lương qua tài khoản còn hạn chế.
Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp Marketing nhằm phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu và làm rõ thêm cơ sở lí luận về ứng dụng Marketing trong chiến lược phát triển dịch vụ của Ngân hàng Thương mại Việt Nam.
- Phân tích và đánh giá thực trạng ứng dụng Marketing trong chiến lược phát triển dịch vụ trả lương tự động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong thời gian qua. Từ đó làm rõ vị thế của Ngân hàng trên thị trường cung ứng dịch vụ trả và nhận lương tự động tại Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp ứng dụng Marketing trong chiến lược phát triển dịch vụ trả lương tự động phù hợp với điều kiện và đặc điểm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu qua về cơ sở lí luận của Marketing Ngân hàng, các vấn đề về việc trả lương qua tài khoản Ngân hàng và Marketing dịch vụ trả lương tự động. Tuy nhiên, các vấn đề này khá rộng lớn nên trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, tôi chỉ tập trung vào nghiên cứu ứng dụng Marketing trong chiến lược phát triển dịch vụ trả lương tự động. Khóa luận dựa trên thực trạng ứng dụng Marketing của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam làm cơ sở từ đó đề xuất các giải pháp Marketing nhằm phát triển dịch vụ trả lương tự động cho Ngân hàng này.
4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Khóa luận được vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Duy vật biện chứng.
- Thống kê, tổng hợp, phân tích và so sánh.
- Bảng, biểu số liệu thực tế để luận chứng.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung khóa luận được chia thành 3 chương:
- Chương I: Giới thiệu chung về marketing trong Ngân hàng và dịch vụ trả và nhận lương tự động.
- Chương II: Thực trạng ứng dụng các chiến lược Marketing nhằm phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
- Chương III: Giải pháp Marketing nhằm phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, phòng Đào tạo, khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế và các phòng ban khác của trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và rèn luyện suốt bốn năm học vừa qua. Đặc biệt, tôi xin vô cùng cảm ơn giáo viên hướng dẫn, ThS.Trần Hồng Ngân đã nhiệt tình, trực tiếp hướng dẫn tôi. Ngoài ra, tôi cũng gửi lời cảm ơn tới thư viện trường ĐH Ngoại Thương, thư viện quốc gia, Trung tâm thẻ Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, bạn bè và người thân đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MARKETING TRONG NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ TRẢ VÀ NHẬN LƯƠNG TỰ ĐỘNG
I. Tổng quan về Marketing trong lĩnh vực Ngân hàng
1.1 Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại
Theo luật các tổ chức tín dụng số 07/2012/QHX, tại Việt nam, các Ngân hàng (NH) là các tổ chức tín dụng được thành lập để kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh có liên quan. Chi tiết như sau:
- Huy động vốn
Ngân hàng huy động vốn dưới các hình thức sau:
a, Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
b, Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc NHNN chấp thuận.
c, Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài.
d, Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng nhà nước (NHNN) dưới hình thức tái cấp vốn.
e, Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.
- Hoạt động tín dụng
Ngân hàng cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN.
- Các hình thức vay
Ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau đây:
a, Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
b, Cho vay trung hạn, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
- Xét duyệt cho vay, kiểm tra và xử lý
a, Ngân hàng được quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án kinh doanh khả thi, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay; có quyền chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khác hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng.
b, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng vay, tài sản của người bảo lãnh trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh để thu hồi nợ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng và người bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
c, Ngân hàng được miễn, giảm lãi suất cho vay, phí ngân hàng; gia hạn nợ; mua bán nợ theo quy định của NHNN.
- Bảo lãnh
a, Ngân hàng bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác cho các tổ chức tín dụng, cá nhân theo quy định của NHNN.
b, Ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế được thực hiện bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác mà người nhận bảo lãnh là tổ chức cá nhân nước ngoài theo quy định của NHNN.
- Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
a, Ngân hàng được cấp tín dụng dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định pháp luật hiện hành. Người chủ sở hữu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác phải chuyển giao ngay mọi quyền, lợi ích hợp pháp phát sinh từ các giấy tờ đó cho Ngân hàng.
b, Ngân hàng được cấp tín dụng dưới hình thức cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác theo quy định pháp luật hiện hành. Ngân hàng được thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp phát sinh trong trường hợp chủ sở hữu các giấy tờ đó không thực hiện đầy đủ những cam kết trong hợp đồng tín dụng.
c, Ngân hàng được tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác theo quy định pháp luật hiện hành.
d, Ngân hàng có thể được Ngân hàng Nhà nước tái chiết khấu và cho vay trên cơ sở cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đã được chiết khấu theo quy định pháp luật hiện hành.
- Công ty cho thuê tài chính
Ngân hàng phải thành lập Công ty cho thuê tài chính khi hoạt động cho thuê tài chính.
- Tài khoản tiền gửi của Ngân hàng
a, Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại NHNN (Sở giao dịch hoặc chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố) nơi Ngân hàng đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN;
b, Chi nhánh của Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố, nơi đặt trụ sở của sở giao dịch, chi nhánh. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
c, Ngân hàng mở tài khoản cho khác hàng trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
a, Ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
- Cung ứng các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khác hàng.
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép .
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
b, Ngân hàng tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước. Tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
- Các hoạt động khác
Ngân hàng thực hiện các hoạt động khác sau đây:
a, Dùng Vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp và của các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật.
b, Góp vốn với tổ chức tín dụng nước ngoài để thành lập tổ chức tín dụng liên doanh tại Việt Nam theo quy định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.
c, Tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của NHNN.
d, Kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế khi được NHNN cho phép.
đ, Được quyền uỷ thác, nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đông uỷ thác và đại lý.
e,Cung ứng dịch vụ bảo hiểm; được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
g, Cung ứng các dịch vụ:
- Tư vấn tài chính và tiền tệ trực tiếp cho khách hàng hoặc qua các công ty trực thuộc được thành lập theo quy định của pháp luật
- Bảo quản tài sản có giá trị và các giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, nhận cầm cố và các dịch vụ khác theo quy định của luật pháp.
h, Thành lập các công ty trực thuộc để thực hiện các hoạt động kinh doanh có liên quan tới hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật
1.2. Marketing trong Ngân hàng Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
1.2.1. Khái niệm về Marketing trong Ngân hàng
Marketing phát triển từ cổ điển đến hiện đại, từ các lĩnh vực thương mại và mở rộng sang các lĩnh vực khác. Đến nay, Marketing chuyên sâu đã và đang được áp dụng rộng rãi vào tất cả các lĩnh vực khác nhau từ kinh tế-chính trị đến văn hóa- xã hội và được chia thành hai loại: Marketing mậu dịch và phi mậu dịch.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Chính vì vậy Marketing trong Ngân hàng (trong khoá luận xin được gọi tắt là: Marketing Ngân hàng) là một bộ phận của Marketing dịch vụ. Kể từ đầu thế kỷ XX, hoạt động Marketing mới bắt đầu được giới thiệu vào lĩnh vực NH và việc ứng dụng Marketing của các NHTM trên thế giới đã trở nên phổ biến hơn cùng với quá trình tự do hóa thị trường cung cấp dịch vụ tài chính từ những năm giữa thập niên 70 của thế kỷ XX nhằm nâng cao sức mạnh cạnh tranh và khả năng tồn tại trong môi trường ngày càng nhiều biến động.
Hiện nay, có khá nhiều quan niệm khác nhau về Marketing NH, do vậy việc đưa ra một khái niệm chuẩn xác về Marketing NH là điều không dễ dàng. Vì vậy, việc nghiên cứu các quan niệm khác nhau về Marketing NH sẽ góp phần làm rõ bản chất và nội dung của nó, giúp việc sử dụng Marketing có hiệu quả cao hơn trong hoạt động kinh doanh NH. Dưới đây là một số quan điểm tiêu biểu:
- Marketing Ngân hàng là phương pháp quản trị tổng hợp dựa trên cơ sở nhận thức về môi trường kinh doanh, những hành động của NH nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự biến động của môi trường. Trên cơ sở đó mà thực hiện các mục tiêu của NH.
- Marketing Ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của NH nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận.
- Marketing Ngân hàng là trạng thái tinh thần của khách hàng mà NH phải thỏa mãn hay là việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng trên cơ sở đó NH đạt được mục tiêu lợi nhuận tối ưu.
- Marketing Ngân hàng là toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý của một NH, từ việc phát hiện ra nhu cầu của các nhóm khách hàng đã chọn và thỏa mãn nhu cầu của họ bằng hệ thống các chính sách, biện pháp nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận như dự kiến. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
- Marketing Ngân hàng là một tập hợp các hành động khác nhau của chủ NH nhằm hướng mọi nguồn lực hiện có của NH vào việc phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó thực hiện các mục tiêu của NH.
- Marketing Ngân hàng là một chức năng của hoạt động quản trị nhằm hướng dòng chảy sản phẩm dịch vụ NH phục vụ những nhóm khách hàng đã chọn của NH.
Như vậy do việc nghiên cứu, khai thác Marketing trong lĩnh vực kinh doanh NH ở những góc độ và thời gian khác nhau nên đã xuất hiện những quan niệm khác nhau về Marketing NH, song đều có sự thống nhất về những vấn đề cơ bản của Marketing NH. Đó là:
Việc sử dụng marketing vào lĩnh vực NH phải dựa trên những nguyên tắc, nội dung và phương châm của Marketing hiện đại.
Quá trình Marketing NH thể hiện sự thống nhất cao độ giữa nhận thức và hành động của nhà quản trị NH về thị trường, nhu cầu khách hàng, khả năng, năng lực của NH. Do vậy, NH cần phải định hướng hoạt động của các bộ phận và toàn thể đội ngũ nhân viên NH vào việc tạo dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng- yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của NH.
Nhiệm vụ then chốt của Marketing NH là xác định được nhu cầu, mong muốn của khách hàng và cách thức đáp ứng nó một cách hiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh.
Bản chất của Marketing NH là một quá trình nhận thức đầy đủ các yếu tố môi trường vĩ mô, vi mô trên cơ sở đó đưa ra các chính sách, biện pháp để thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng ở thị trường mục tiêu và nhằm đạt được các mục tiêu của NH.
1.2.2. Vai trò của Marketing Ngân hàng Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Ngày nay các định chế ngân hàng hoạt động trong sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh và cuộc chiến giành giật thị trường diễn ra ngày càng khốc liệt cả ở trong nước và ngoài nước. Điều đó đòi hỏi các ngân hàng phải lựa chọn lại cấu trúc và điều chỉnh cách thức hoạt động cho phù hợp với môi trường, nâng cao khả năng khám phá cơ hội kinh doanh và vị thế cạnh tranh. Điều này chỉ được thực hiện tốt một khi có các giải pháp marketing năng động, đúng hướng.
Marketing trở nên thiết yếu đối với mọi loại hình ngân hàng trong nền kinh tế thị trường. Vai trò của Marketing được thể hiện ở các nội dung sau:
- Marketing Ngân hàng tham gia vào việc giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của hoạt động kinh doanh Ngân hàng
Hoạt động của các NH gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế và trở thành bộ phận quan trọng trong cơ chế vận hành nền kinh tế của mỗi quốc gia. Giống như các doanh nghiệp các NH cũng phải lựa chọn và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của hoạt động kinh doanh với sự hỗ trợ đặc biệt của Marketing.
NH phải xác định được loại sản phẩm, dịch vụ mà NH cần cung ứng ra thị trường. Bộ phận Marketing sẽ giúp chủ NH giải quyết những vấn đề này thông qua các hoạt động như tổ chức thu thập thông tin thị trường, nghiên cứu hành vi tiêu dùng, cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ và việc lựa chọn NH của khách hàng. Nghiên cứu xác định nhu cầu của sản phẩm dịch vụ NH của khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp cùng xu thế thay đổi của chúng, nghiên cứu chủng loại sản phẩm dịch vụ mà các định chế tài chính khác đang cung ứng trên thị trường… Đó là những căn cứ quan trọng để nhà quản trị NH quyết định loại sản phẩm dịch vụ cung ứng ra thị trường, ở cả thị trường hiện tại và tương lai.
Đây là những vấn đề kinh tế quan trọng, vì nó quyết định phương thức hoạt động, kết quả hoạt động, khả năng cạnh tranh cùng vị thế của mỗi NH trên thị trường.
Đồng thời NH phải tổ chức tốt quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ và hoàn thiện mối quan hệ trao đổi giữa khách hàng và NH trên thị trường. Quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ NH với sự tham gia đồng thời của ba yếu tố cơ sở vật chất, kĩ thuật công nghệ, đội ngũ nhân viên trực tiếp và khách hàng.
Marketing NH đã góp phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ tạo uy tín, hình ảnh, tăng sức cạnh tranh của NH. Thực tế cho thấy các nhà kinh doanh NH đã sử dụng Marketing trong tổ chức cung ứng sản phẩm dịch vụ một cách năng động, sáng tạo theo những hướng không giống nhau để đạt được hiệu quả tối ưu nhất.
Để góp phần tham gia vào việc giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của hoạt động kinh doanh NH, NH phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ với lợi ích giữa khách hàng, nhân viên, và chủ NH. Bộ phận Marketing giúp nhà quản trị NH giải quyết tốt các mối quan hệ trên thông qua các hoạt động như: tham gia xây dựng và điều hành chính sách lãi suất, phí, kích thích hấp dẫn phù hợp với từng đối tượng khách hàng, khuyến khích nhân viên phát huy sáng kiến cải tiến những hoạt động thủ tục nghiệp vụ nhằm cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích, lợi ích trong sử dụng sản phẩm dịch vụ NH.
Các mối quan hệ trên nếu được giải quyết tốt không chỉ là động lực thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động và kết quả hoạt động của NH lẫn khách hàng, mà nó còn trở thành công cụ để duy trì và phát triển mối quan hệ giữa NH và khách hàng.
- Marketing trở thành cầu nối gắn kết hoạt động Ngân hàng với thị trường Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Thị trường vừa là đối tượng phục vụ vừa là môi trường hoạt động của NH. Hoạt động của NH với thị trường có mối quan hệ tác động hữu cơ và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau. Do vậy, hiểu được nhu cầu thị trường để gắn chặt chẽ hoạt động của NH với thị trường sẽ làm cho hoạt động của NH có hiệu quả cao. Điều này sẽ được thực hiện tốt thông qua cầu nối Marketing bởi Marketing giúp nhà quản trị NH nhận biết được các yếu tố của thị trường, nhu cầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ và sự biến động của chúng. Mặt khác, Marketing là một công cụ dẫn dắt hướng dòng chảy của tiền vốn khai thác khả năng huy động vốn, phân chia vốn theo nhu cầu của thị trường một cách hợp lý. Nhờ Marketing mà nhà quản trị NH có thể phối kết hợp và định hướng được các hoạt động của tất cả các bộ phận và toàn thể nhân viên NH vào việc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
- Marketing góp phần tạo vị thế cạnh tranh của Ngân hàng
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Marketing NH là tạo vị thế cạnh tranh trên thị trường. Quá trình tạo lập vị thế cạnh tranh của NH có liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra những sản phẩm dịch vụ khác biệt và chỉ rõ lợi thế cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ ở thị trường mục tiêu đồng thời phải làm cho khách hàng thấy được lợi ích thực tế từ những sản phẩm dịch vụ NH phụ thuộc khá lớn vào khả năng trình độ Marketing của mỗi NH. Nó đòi hỏi bộ phận Marketing phải nhận thức đầy đủ cả về khả năng của NH, các kỹ thuật được sử dụng, cũng như nhu cầu cụ thể của thị trường mục tiêu.
- Để tạo được vị thế cạnh tranh, bộ phận Marketing NH thường tập trung giải quyết ba vấn đề lớn:
Phải tạo được tính độc đáo của sản phẩm dịch vụ. Tính độc đáo phải mang lại lợi thế của sự khác biệt, hoặc trong nhận thức của khách hàng. Lợi thế của sự khác biệt không nhất thiết phải được tạo ra trên toàn bộ quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ, hoặc trọn vẹn một kỹ thuật Marketing, mà có thể chỉ ở một vài yếu tố, thậm chí ở một khía cạnh liên quan cũng mang lại sự độc đáo.
Phải làm rõ được tầm quan trọng của sự khác biệt đối với khách hàng. Nếu chỉ tạo ra sự khác biệt không thôi thì vấn đề là chưa đủ để tạo ra lợi thế cạnh tranh của Điều hết sức quan trọng là sự khác biệt đó phải có tầm quan trọng đối với khách hàng, phải có giá trị thực tế đối với họ và được họ coi trọng thực sự. Thực tế cho thấy, một sự khác biệt của NH nếu không được khách hàng coi trọng thì bộ phận Marketing phải giải thích bằng mọi cách, kể cả việc điều chỉnh để lợi thế về sự khác biệt thực sự có ý nghĩa đối với khách hàng. Mặt khác, bộ phận này phải làm rõ lợi thế về sự khác biệt của khách hàng thông qua chiến dịch tuyên truyền, quảng cáo.
Khả năng duy trì lợi thế về sự khác biệt của NH. Sự khác biệt phải được NH tiếp tục duy trì, đồng thời phải có hệ thống biện pháp để chống lại sự sao chép của đối thủ cạnh tranh. Có như vậy, lợi thế mới được duy trì.
Thông qua việc chỉ rõ và duy trì lợi thế của sự khác biệt, Marketing giúp NH phát triển và ngày càng nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường.
1.2.3. Các đặc trưng cơ bản của hoạt động Marketing Ngân hàng Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
- Marketing Ngân hàng là loại hình Marketing dịch vụ tài chính
Các ngành dịch vụ rất đa dạng và phong phú, thuộc nhiều loại hình khác nhau như dịch vụ phi thương mại bao gồm: bệnh viện, trường học, cảnh sát, các tổ chức từ thiện… và dịch vụ thuộc lĩnh vực thương mại như hàng không, bảo hiểm, khách sạn, ngân hàng…
Dịch vụ bao gồm nhiều loại hình hoạt động, do vậy cũng có nhiều cách hiểu. Theo Philip Kotler: “dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến chuyển quyền sở hữu”. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất như máy bay, thuê phòng khách sạn, gửi tiền, vay tiền, chuyển tiền ở NH, nhờ NH tư vấn…
Do vậy việc nghiên cứu các đặc điểm của dịch vụ sẽ là căn cứ để tổ chức tốt quá trình Marketing NH. Đặc điểm dịch vụ NH sẽ ảnh hưởng khá lớn đến cách thức sử dụng kỹ thuật Marketing. Sản phẩm dịch vụ NH có đặc điểm khác biệt, đó là tính vô hình, tính không phân chia, không ổn định, không lưu trữ và khó xác định chất lượng. Những đặc điểm này đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc quản lý dịch vụ, đặc biệt là tổ chức hoạt động Marketing của NH.
Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ NH đã dẫn đến việc khách hàng không nhìn thấy, không thể nắm giữ được, đặc biệt là khó khăn trong đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua.
Để giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ NH, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản phẩm dịch vụ. Đó là: địa điểm giao dịch, mức độ trang thiết bị kỹ thuật công nghệ, trình độ cán bộ quản lý, trình độ chuyên môn văn hóa, nghệ thuật ứng xử, khả năng giao dịch của nhân viên NH. Đặc biệt là các mối quan hệ cá nhân, uy tín và hình ảnh của NH.
Về phía Ngân hàng, để củng cố niềm tin của khách hàng họ đã nâng cao nghệ thuật sử dụng các kỹ thuật Marketing như tăng tính hữu hình của sản phẩm dịch vụ. Cung ứng thông qua việc đưa ra hình ảnh biểu tượng khi quảng cáo, nội dung quảng cáo không chỉ mô tả dịch vụ cung ứng mà còn tạo cho khách hàng đặc biệt chú ý đến những lợi ích mà sản phẩm dịch vụ đem lại. Đồng thời Marketing phải cung cấp đầy đủ những thông tin cần thiết cho khách hàng về hiệu quả hoạt động của NH, trình độ kỹ thuật công nghệ và đội ngũ nhân viên. Đặc biệt các NH thường tạo bầu không khí làm việc tốt với điều kiện làm việc thuận tiện, tăng tinh thần trách nhiệm của nhân viên trong phục vụ khách hàng. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Tính không tách rời của sản phẩm dịch vụ NH được thể hiện trong quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ của NH. Thực tế cho thấy quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ NH thường là những quy trình hoặc kinh nghiệm, và quá trình cung ứng dịch vụ diễn ra đồng thời với quá trình tiêu thụ. Chính điều này đã làm cho sản phẩm dịch vụ NH không có khả năng lưu trữ. Lý do này đòi hỏi NH phải có hệ thống, phương pháp phục vụ nhanh với nhiều quầy địa điểm giao dịch. Mỗi quầy phải giải quyết đầy đủ, kịp thời nhu cầu của khách hàng đồng thời phải luôn luôn được hoàn thiện để phù hợp với sự đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng.
Tính dễ bị sao chép: sản phẩm dịch vụ NH rất dễ bị sao chép. Hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ NH còn có một đặc điểm có liên quan chặt chẽ đến hoạt động Marketing, đó là trách nhiệm liên đới và dòng thông tin hai chiều giữa khách hàng và Trách nhiệm liên đới là trách nhiệm không thành văn bản của NH trong quản lý tiền của khách hàng và trong nội dung tư vấn dành cho khách hàng nhưng vẫn đòi hỏi NH và khách hàng phải có trách nhiệm với nhau trong các giao dịch. Dòng thông tin hai chiều đòi hỏi các NH và khách hàng đều phải cung cấp cho nhau những thông tin cần thiết, đầy đủ chính xác, đây sẽ là căn cứ để quyết định các giao dịch và là cơ sở của lòng tin để duy trì mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và NH.
- Marketing Ngân hàng không chỉ là Marketing hướng ngoại mà còn là Marketing hướng nội
Thực tế cho thấy rằng so với Marketing các lĩnh vực khác, Marketing NH phức tạp hơn nhiều bởi tính đa dạng, nhạy cảm của hoạt động NH, đặc biệt là quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ NH có sự tham gia đồng thời của cả cơ sở vật chất, khách hàng và nhân viên NH. Nhân viên NH là yếu tố quan trọng trong quá trình cung ứng, chuyển giao sản phẩm dịch vụ NH. Họ giữ vai trò quyết định cả về số lượng, kết cấu chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng và cả mối quan hệ giữa khách hàng với NH. Chính họ đã tạo nên tính khác biệt hóa, tính cách của hàng hóa, sản phẩm dịch vụ NH, tăng giá trị thực tế của sản phẩm dịch vụ cung ứng, khả năng thu hút khách hàng và vị thế cạnh tranh của NH. Những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn thể nhân viên NH theo định hướng phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn được gọi là Marketing hướng nội.
Như vậy Marketing hướng nội chỉ rõ các nhà kinh doanh NH phải tập trung vào việc đào tạo để sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực hiện có của NH thông qua chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Theo quan điểm này, nhân viên NH là khách hàng của nhà kinh doanh NH. Những công việc mà nhân viên phải thực hiện chính là những sản phẩm mà nhà kinh doanh NH cần bán cho họ. Điều này đòi hỏi nhà kinh doanh NH phải nắm được nhu cầu mong muốn của nhân viên và phải tạo đầy đủ điều kiện thuận lợi để họ thực hiện tốt công việc của họ. Thực hiện Marketing đối nội, hiện nay các chủ NH đều tập trung vào việc đào tạo nâng cao trình độ toàn diện cho nhân viên NH đặc biệt là phổ cập kiến thức Marketing cho toàn thể cán bộ nhân viên NH và coi đây là kiến thức kinh doanh tối thiểu bắt buộc, thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ theo hướng đa năng. Đồng thời các NH còn đưa ra những cơ chế chính sách về tiền lương, tiền thưởng, chế độ đãi ngộ để khuyến khích nhân viên tích cực làm việc, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, sắp xếp bố trí hợp lí đội ngũ nhân viên, đặc biệt là nhân viên trực tiếp phục vụ khách hàng, tăng cường giáo dục truyền thống xây dựng phong cách văn hóa riêng của NH mình, văn hóa kinh doanh NH.
Từ đây có thể thấy rằng, để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng và đạt được các mục tiêu của NH thì hoạt động Marketing NH không chỉ hướng vào khách hàng mà những nhà lãnh đạo NH còn phải hướng vào nhân viên của mình để họ chăm sóc, phục vụ khách hàng được tốt nhất. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
- Marketing Ngân hàng thuộc loại hình Marketing quan hệ
Marketing quan hệ đòi hỏi bộ phận Marketing phải xây dựng được những mối quan hệ bền lâu, tin tưởng lẫn nhau và cùng có lợi cho cả khách hàng và NH bằng việc luôn giữ đúng những cam kết, cung cấp cho nhau những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao với giá cả hợp lý tăng cường các mối quan hệ về kinh tế, kỹ thuật nâng cao sự tin tưởng giúp đỡ cùng phát triển. Thực tế cho thấy, trong hoạt động NH có khá nhiều mối quan hệ đan xen, phức tạp. Do vậy, đòi hỏi bộ phận Marketing phải hiểu được các mối quan hệ nhất là quan hệ giữa khách hàng với NH và sự tác động qua lại giữa chúng để có các biện pháp khai thác, kết hợp hài hòa nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của khách hàng vào NH.
Marketing quan hệ đặt ra cho bộ phận Marketing cần tập trung mọi nguồn lực vào việc hoàn thiện mối quan hệ trao đổi giữa khách hàng và NH, đặc biệt là duy trì khách hàng hiện tại, đồng thời có biện pháp để thu hút khách hàng mới.
Việc NH quan tâm tới lực lượng khách hàng nào sẽ liên quan chặt chẽ tới định hướng hoạt động và quyết định việc cung ứng sản phẩm dịch vụ trong tương lai của NH.
Marketing quan hệ còn nhấn mạnh chất lượng sản phẩm dịch vụ của NH phục thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng phụ thuộc nhiều hơn vào mối quan hệ giữa các cá nhân của các bên tham gia. Để quản lý tốt và phát triển các mối quan hệ, bộ phận Marketing NH phải tiến hành phân loại các mối quan hệ theo mức độ quan trọng khác nhau. Những mối quan hệ quan trọng cần giao cho cán bộ có năng lực phụ trách, theo dõi diễn biến và có biện pháp để duy trì và phát triển cho phù hợp với chiến lược kinh doanh của NH. Đồng thời NH phải có kế hoạch để phát triển các mối quan hệ mới dài hạn cùng với các mục tiêu chiến lược. Như vậy, Marketing quan hệ sẽ giảm bớt thời gian cho thực hiên các nghiệp vụ kinh doanh của NH, nhất là chuyển trạng thái của các giao dịch từ chỗ đang được thương lượng nhanh chóng chuyển sang được thực hiện các cam kết giữa các bên.
Kết quả mà Marketing quan hệ đưa lại cho NH là đảm bảo cho hoạt động của NH được xây dựng trên cơ sở của các mối quan hệ kinh doanh tốt. Đó là, sự hiểu biết, tin tưởng, sự phụ thuộc lẫn nhau và sự hỗ trợ nhau cùng phát triển bền vững.
II. Marketing Dịch vụ trả và nhận lương tự động Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
2.1 Dịch vụ trả và nhận lương tự động và các chủ thể tham gia trong quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ
2.1.1. Giới thiệu dịch vụ trả và nhân lương tự động
Dịch vụ trả và nhân lương tự động hay còn được gọi là dịch vụ trả lương qua tài khoản là dịch vụ kết hợp giữa dịch vụ chuyển khoản tự động và dịch vụ thẻ giao dịch. Sử dụng dịch vụ này, dựa trên bảng lương trả cho cán bộ do khách hàng cung cấp và theo ủy nhiệm chi của khách hàng, NH cung ứng dịch vụ sẽ trích tài khoản của khách hàng để chuyển tiền trả cho cán bộ. Cán bộ làm việc tại doanh nghiệp của khách hàng sẽ được phục vụ bằng những tiện ích chất lượng cao và rất thuận tiện của giao dịch tài khoản và thẻ giao dịch tự động.
Dịch vụ chuyển khoản tự động là một nghiệp vụ thanh toán rất quan trọng, giúp khách hàng nhận được tiền vào tài khoản trong thời gian ngắn nhất. Chuyển khoản còn giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí như kiểm đếm và vận chuyển tiền. Đối với các trường hợp thanh toán giá trị không lớn lắm thì đây là một trong những dịch vụ phổ thông của ngân hàng. Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ này để thanh toán chuyển khoản hàng tháng nhân danh chủ tài khoản đối với nhiều loại tiện ích như thanh toán tiền lương, tiền mua bán hàng hóa, tiền điện, nước, điện thoại…dịch vụ này tiết kiệm thời gian cho khách hàng, làm giảm lượng tiền mặt trong giao dịch.
Thẻ NH là công cụ thanh toán do NH phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp tại các địa điểm chấp nhận thẻ. Như vậy, thẻ NH thực chất là thể hiện sự cam kết của NH đảm bảo thanh toán những khoản tiền do chủ thẻ sử dụng bằng tiền của NH cho chủ thẻ vay hoặc tiền của chính chủ thẻ gửi tại NH. Ngày nay, thẻ NH đã trở thành công cụ thanh toán phổ biến và có giá trị quan trọng trong các công cụ thanh toán tại các nước phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng.
2.1.2. Các chủ thể tham gia trong quá trình cung ứng, hỗ trợ cho dịch vụ trả và nhận lương tự động
- Chủ thể trực tiếp
Ngân hàng/ tổ chức cung ứng dịch vụ: là ngân hàng được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản ,mở tài khoản cho doanh nghiệp có nhu cầu trả lương cho công nhân .Ngân hàng cung ứng dịch vụ chịu trách nhiệm ký kết “Hợp đồng Ủy thác trả lương” giữa Doanh nghiệp và ngân hàng cung ứng dịch vụ, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, mở tài khoản doanh nghiệp, mở tài khoản cá nhân, phát hành thẻ ATM cho cán bộ công nhân viên (CBCNV) của doanh nghiệp tại ngân hàng cung ứng. Theo đó ngân hàng sẽ được hưởng phí cung ứng dịch vụ và CBCNV của doanh nghiệp sẽ được trả lương và các khoản thu nhập khác qua phương thức chuyển khoản từ tài khoản của doanh nghiệp đến tài khoản của CBCNV.
Đối tượng có nhu cầu sử dụng dịch vụ: là mọi doanh nghiệp, tổ chức, văn phòng đại diện có tư cách pháp nhân trong nước và nước ngoài có nhu cầu chi trả lương và các khoản thu nhập khác cho CBNV thông qua dịch vụ “Ủy thác trả lương”.
- Các chủ thể trung gian Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp ký kết hợp đồng ủy thác trả lương với ngân hàng cung ứng dịch vụ: là những người được hưởng lương và các khoản thu nhập khác theo hợp đồng lao động ký kết với doanh nghiệp nơi mình công tác. Khoản lương và thu nhập sẽ được chuyển vào tài khoản của CBCNV khi đến hạn và có thể theo dõi, rút tiền mặt hoặc chi tiêu trực tiếp qua thẻ ATM.
Ngân hàng phát hành thẻ (NHPHT)/ tổ chức phát hành thẻ (TCPHT): là NH, tổ chức được NHNN cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ, cấp thẻ cho chủ thẻ là cá nhân, tổ chức sử dụng thẻ. NHPHT chịu trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ. Đồng thời thực hiện việc thanh toán cuối cùng với chủ thẻ. CBCNV có thể mở thẻ ATM ở ngân hàng mà doanh nghiệp ký hợp đồng hoặc mở thẻ ATM ở 1 ngân hàng khác vẫn có thể nhận lương từ tài khoản của doanh nghiệp mình ở ngân hàng cung ứng dịch vụ trả lương qua tài khoản.
Ngân hàng thanh toán thẻ (NHTTT)/ tổ chức thanh toán thẻ (TCTTT): là NH, tổ chức chấp nhận các giao dịch thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng hàng hoá, dịch vụ trên địa bàn từ đó CBCNV dễ dàng thanh toán hóa đơn hàng hóa dịch vụ mà mình tiêu dùng. NHTTT đóng vai trò trung gian giao dịch thẻ, được các NHPHT uỷ quyền hoặc là thành viên của một tổ chức thẻ.
Đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT): là tổ chức hoặc cá nhân cung cấp hàng hoá, dịch vụ chấp nhận thẻ là phương tiện thanh toán theo hợp đồng cung cấp ký kết với NHTTT. ĐVCNT sử dụng các thiết bị chuyên dùng POS (EFTPOS- Electric Fund Transfer at Point of Sale- Máy quẹt thẻ để thanh toán khi mua hàng) hay EDC (Elictric Data Capture- Thiết bị đọc dữ liệu, thẻ điện tử) để thực hiện giao dịch thẻ. Việc chấp nhận thẻ làm phương tiện thanh toán sẽ giúp cho CBCNV dễ dàng sử dụng tiền trên tài khoản phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình. Ngân hàng càng có mạng lưới ATM, POS càng rộng thì càng thuận tiện cho CBCNV rút tiền lương hoặc dễ dàng sử dụng tiền trên tài khoản phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình.
2.2. Vai trò của dịch vụ trả và nhận lương tự động
2.2.1. Đối với nền kinh tế- xã hội
Nâng cao vai trò hệ thống NH, giảm tiền mặt trong lưu thông: Từ những lợi ích thiết thực của việc trả lương qua tài khoản đem lại cho các tổ chức và cá nhân sử dụng dịch vụ thông qua thanh toán thẻ là một phương tiện thanh toán văn minh, hiện đại. Dịch vụ trả lương qua tài khoản đã tạo điều kiện cho việc thanh toán tiền lương một cách an toàn, nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm thời gian. Tài khoản tiền lương của người hưởng lương tạo cho các NH khả năng huy động vốn chỉ với lãi suất không kì hạn, đó là nguồn vốn trong thanh toán. Đặc biệt, thanh toán qua thẻ giúp giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm chi phí vận chuyển, kiểm, đếm và chi phí phát hành tiền cho nền kinh tế. Qua đó, tạo lập được niềm tin của dân chúng vào hoạt động của hệ thống NH. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Tăng khối lượng chu chuyển thanh toán trong nền kinh tế: hầu hết các giao dịch của người hưởng lương qua thẻ trong phạm vi quốc gia hay toàn cầu đều được thực hiện qua hệ thống máy móc, thiết bị điện tử và thanh toán trực tuyến, do vậy, tốc độ chu chuyển, thanh toán nhanh hơn nhiều so với các phương tiện thanh toán khác như: tiền mặt, séc, uỷ nhiệm chi… Do vậy, dịch vụ trả lương qua tài khoản góp phần giúp kiểm soát khối lượng giao dịch thanh toán của 1 bộ phận lớn dân cư và của nền kinh tế.
Thực hiện chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước: Thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt giúp phát triển, nâng cao hiệu quả sủ dụng nguồn vốn trong nền kinh tế, đồng thời tăng cường sự quản lý nhà nước đối với các chi tiêu tài chính từ ngân sách và vốn nhà nước đi đôi với thực hành tiết kiệm phòng chống tham nhũng trên cơ sỏ minh bạch hóa một phần chi tiêu ngân sách và thu nhập cá nhân.Việc người hưởng lương sử dụng thẻ để thanh toán sẽ giúp cho NH dễ dàng kiểm soát các giao dịch trên thị trường, góp phần tăng tính minh bạch cho nền kinh tế, tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước trong điều tiết nền kinh tế và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Việc các doanh nghiệp trả lương CBCNV qua tài khoản ngân hàng đã tạo thói quen sử dụng tài khoản ngân hàng để giao dịch thanh toán. Đồng thời đã tạo cú hích quan trọng thúc đẩy các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (TCCUDVTT) đầu tư cơ sở hạ tầng và thị trường thẻ Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và tiện ích thanh toán đi kèm thẻ, qua đó người dân đã từng bước tiếp cận với công nghệ thanh toán hiện đại và làm quen với một số tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt của thẻ.
2.2.2. Đối với Ngân hàng
Lợi ích lớn nhất mà các Ngân hàng thu được là số dư tiền gửi trên tài khoản khi người hưởng lương chưa sử dụng đến.NHTM chỉ phải trả lãi suất không kì hạn và có thể sử dụng số dư tiền gửi đó để cho vay và đầu tư. Mặc dù tỷ lệ sử dụng để cho vay và đầu tư thì không lớn trong tổng sô dư tiền gửi bình quân của các tài khoản chi trả lương nhưng số dư bình quân sẽ rất lớn. Nói cách khác việc phát triển dịch vụ trả lương tự động giúp NH đa dạng hoá hình thức hoạt động và phân tán rủi ro, tăng khả năng huy động vốn bằng cách thu hút được lượng tiền nhàn rỗi với lãi suất thấp. Đây là nguồn huy động vốn ổn định và an toàn giúp NH chủ động về vốn trong hoạt động kinh doanh mà không cần phải lao vào cuộc đua tăng lãi suất nhằm huy động vốn tiền gửi.
Cơ hội đầu tư phát triển kinh doanh dịch vụ thu hút khách hàng của các TCCUDV được mở rộng.Việc mở tài khoản và chi trả lương qua tài khoản cho khách hàng chủ yếu là nhằm mục dích mở rộng mạng lưới khách hàng và tạo thói quen sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng từ đó làm cơ sở phát triển dịch vụ thanh toán đa tiện ích không dùng tiền mặt để đa dạng hóa các loại hình dịch vụ kinh doanh ,từng bước gia tăng thu nhập trong tương lai.
Để tồn tại và phát triển, NH thường xuyên đổi mới trong phong cách phục vụ và tăng tính tiện ích sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của khách hàng. Dịch vụ trả lương tự động ra đời làm đa dạng hơn các loại hình dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, tạo cơ hội cho NH phát triển các dịch vụ kèm như: dịch vụ cung ứng thẻ, chuyển tiền, mobile banking… Bên cạnh đó, NH còn có cơ hội cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng và hưởng doanh thu từ phí dịch vụ mà không phải chịu thêm những rủi ro tín dụng.
Số lượng thẻ ATM của các đối tượng hưởng lương qua tài khoản chiếm tỷ lệ không nhỏ trên tổng số chủ thẻ ATM, bên cạnh đó số lượng doanh nghiệp chuyển từ phương thức trả lương trực tiếp qua phương thức trả lương qua hệ thống ngân hàng ngày một gia tăng. Điều này là cơ hội lớn đối với ngân hàng không chỉ phát triển dịch vụ trả lương tự động mà còn đặc biệt hỗ trợ cho dịch vụ cung ứng thẻ, một thị trường NH bán lẻ tiềm năng đối với ngành Ngân hàng.
2.2.3. Ðối với chủ thể sử dụng dịch vụ Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
- Các Doanh nghiệp
Tiết kiệm thời gian: Thanh toán lương cho cán bộ công nhân viên nhanh chóng, an toàn, chính xác. Áp dụng việc trả lương qua tài khoản khiến khối lượng công việc của bộ phận tài vụ- tiền lương đã giảm hẳn so với việc trả lương trực tiếp cho CBCNV. Các khâu kiểm đếm, lập danh sách trả lương… được giảm bớt. Gia tăng hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực cho chính doanh nghiệp, tiết kiệm chi phí trong chi trả lương đồng nghĩa với việc nâng cao sức mạnh cạnh tranh.
Doanh nghiệp có thể mở rộng mạng lưới kinh doanh, phân phối sản phẩm.
Bảo mật thông tin về lương và thu nhập của nhân viên.
Giảm thiểu rủi ro do không phải chi trả tiền lương bằng tiền mặt: Những rủi ro của việc trả lương trực tiếp như rủi ro trong quá trình vận chuyển một số tiền lớn từ ngân hàng về cơ quan để trả lương và việc trả lương chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định nên rất dễ sai sót.
Giảm bớt lượng tiền mặt tồn quỹ, hạn chế rủi ro mất mát.
- Cán bộ công nhân viên
Tiền lương trong tài khoản liên tục sinh lời.
An toàn, tiện lợi trong chi tiêu: CBCNV giảm bớt các thủ tục khi được trả lương như ký nhận, kiểm đếm, dễ dàng rút lương qua thẻ ATM, giảm bớt rủi ro tiền giả, tiền rách,…Các ngân hàng với hệ thống máy rút tiền tự động, cùng với việc chấp nhận các giao dịch thẻ như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng hàng hoá, dịch vụ khiến CBCNV không cần phải mang theo nhiều tiền mặt mà chỉ cần sử dụng sản phẩm thẻ- một “ví tiền” hết sức an toàn, gọn nhẹ,dễ dàng trong thanh toán, khi mua sắm hàng hoá, dịch vụ. CBCNV sẽ nhanh chóng rút được tiền phục vụ tiêu dung tại chỗ nếu việc chi tiêu phải sử dụng tiền mặt, không mất thời gian kiểm đếm khi chi trả hoặc trực tiếp thanh toán bằng thẻ nếu nơi cung ứng hàng hóa dịch vụ chấp nhận thanh toán bằng thẻ.
Được hưởng nhiều dịch vụ gia tăng đi kèm: Hiện nay các Ngân hàng không ngừng đầu tư giải pháp công nghệ hiện đại để cung cấp thêm nhiều tiện ích mới như dịch vụ SMS banking với chức năng thông báo biến động số dư tài khoản, chuyển khoản, nạp tiền điện thoại di động, thanh toán tiền điện, nước…, dịch vụ Internet banking, home banking, Mobile banking.Qua đó CBCNV có thể mua sắm qua mạng, đặt vé máy bay, tour du lịch, thấu chi tài khoản…
2.3. Hoạt động marketing đối với dịch vụ trả và nhận lương tự động Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
2.3.1. Nghiên cứu môi trường kinh doanh của Ngân hàng
- Môi trường vĩ mô
- Môi trường chính trị, pháp luật
Hoạt động kinh doanh dịch vụ trả lương qua tài khoản NH là hoạt động kinh doanh mới được hình thành tại Việt Nam, chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật và các cơ quan chức năng của Chính phủ, do vậy, sự thay đổi các quy trình của pháp luật về hoạt động NH như: cho phép thành lập NH nước ngoài, luật NH,… sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của dịch vụ NH. Do vậy, nghiên cứu cần phải nắm bắt kịp thời những thay đổi, dự báo được xu hướng thay đổi để đưa ra quyết định chính xác, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho NH.
- Môi trường kinh tế
Là việc nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, thanh toán và chi tiêu của doanh nghiệp và nhân viên. Môi trường kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhu cầu và cách thức sử dụng dịch vụ của khách hàng, mặt khác, môi trường kinh tế vừa tạo cho NH những cơ hội kinh doanh, đồng thời cũng tạo ra những thách thức mà NH cần phải có chính sách phù hợp để vượt qua. Vì vậy, nghiên cứu thị trường để phát triển dịch vụ là việc xác định được những thay đổi, biến động của môi trường kinh tế, đòi hỏi hoạt động Marketing phải đưa ra các hình thức khác nhau để thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ của NH. Nghiên cứu về môi trường kinh tế dựa trên các chỉ tiêu chủ yếu sau: thu nhập, tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc dân, tỷ lệ lạm phát, sự ổn định về kinh tế, chính sách đầu tư, tiết kiệm của Chính phủ.
- Môi trường văn hóa, xã hội
Dịch vụ trả lương tự động là dịch vụ được hình thành trên nền tảng công nghệ hiện đại, tồn tại và phát triển đồng bộ với sự phát triển chung của xã hội. Nghiên cứu môi trường văn hoá, xã hội để nắm bắt được thói quen, tập quán và trình độ dân trí,… nhằm giúp cho bộ phận Marketing đưa ra quyết định, chính sách phù hợp với đặc điểm văn hoá từng khu vực, từng đối tượng doanh nghiệp trong cả nước. Các chỉ tiêu chủ yếu khi nghiên cứu môi trường văn hoá, xã hội để phát triển dịch vụ bao gồm: các loại hình doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, phong tục, tập quán tiêu dùng…
- Nghiên cứu môi trường công nghệ Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Sự phát triển của khoa học công nghệ có ý nghĩa quan trọng đến sự tồn tại và phát triển dịch vụ NH. Để cung ứng ra thị trường những sản phẩm đa dạng và tiện ích cao, đòi hỏi nền tảng công nghệ phải hiện đại, thường xuyên phải thay đổi phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Khi nghiên cứu đầu tư, đổi mới công nghệ, NH cần phải xác định: mô hình hoạt động kinh doanh cho dịch vụ, vốn đầu tư và khả năng thích ứng giữa hệ thống hiện tại và hệ thống mới,… để quyết định lựa chọn công nghệ phù hợp nhất.
- Môi trường vi mô
- Nghiên cứu các yếu tố nội lực của NH để phát triển dịch vụ
Dịch vụ trả lương tự động là dịch vụ mới mẻ đòi hỏi phát triển dựa trên nền tảng khoa học công nghệ hiện đại. Vì vậy, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các NH phải đầu tư vào công nghệ, thiết bị (máy ATM, phần mềm quản lý thẻ,…). Bên cạnh đó, nguồn nhân lực và hệ thống mạng lưới phân phối dịch vụ cũng khá quan trọng. Do đó, đòi hỏi công tác Marketing phải phát huy hiệu quả trong việc khai thác sức mạnh của những nguồn lực hiện có bằng chính sách, biện pháp Marketing nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Đối với NH, phát triển dịch vụ trả lương qua tài khoản là cơ sở gia tăng đối tượng và số lượng khách hàng cũng như các dịch vụ gia tăng đi kèm. Tuy nhiên, để phát triển các dịch vụ gia tăng này đòi hỏi phải có sự đầu tư tương đối lớn về vốn, công nghệ, nhân lực, đặc biệt là phải có một chiến lược phát triển dài hạn.
- Nghiên cứu về đối thủ cạnh tranh
Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh giúp NH đem đến cho khách hàng của mình những tiện ích vượt trội, các NH đã ra sức tung ra các sản phẩm thẻ đa dạng, tiện ích; các dịch vụ bổ sung hấp dẫn. Do vậy, để tồn tại và phát triển đòi hỏi bộ phận Marketing phải tiến hành tìm hiểu, phân tích chiến lược Marketing của từng đối thủ cạnh tranh, chỉ rõ đối thủ cạnh tranh trực tiếp và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn với NH. Trên cơ sở đó NH sẽ chủ động trong xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược cạnh tranh một cách năng động, hiệu quả hơn. Các thông tin cần khai thác về đối thủ cạnh tranh gồm:
- Chiến lược Marketing mà đối thủ đang áp dụng.
- Danh tiếng.
- Hình ảnh.
- Tình trạng, chính sách bên
- Việc quản lý các hoạt động kinh doanh: sản phẩm, phí, lãi suất, giao dịch, chất lượng, chăm sóc khách hàng.
- Xác định thị phần cung ứng dịch vụ trả lương tự động.
- Thị phần thẻ nắm giữ.
- Thị phần về ĐVCNT.
- Thị phần về thiết bị ATM/
- Thị phần về dịch vụ giá trị gia tăng.…
- Nghiên cứu nhu cầu của khách hàng Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Khách hàng là nhân tố quyết định đến tồn tại và phát triển của NH nói chung và dịch vụ trả lương tự động nói riêng. Do vậy khi nghiên cứu về nhu cầu của khách hàng đối với dịch vụ, NH cần phải tiến hành phân loại khách hàng để lựa chọn thị trường mục tiêu, đẩy mạnh công tác khách hàng trong toàn thể cán bộ nhân viên NH, nhận thức rõ vai trò của công tác khách hàng trong việc cung cấp dịch vụ và coi nó là công cụ quan trọng để tăng cường mối quan hệ giữa khách hàng và NH. Bên cạnh đó, NH cần phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu khách hàng để từ đó NH đưa ra các chính sách, biện pháp Marketing phù hợp, đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh khác.
2.3.2. Phân đoạn thị trường, xác định thị trường mục tiêu và chiến lược marketing
- Xác định các đoạn thị trường mục tiêu cho dịch vụ trả lương tự động
Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, các NH tiến hành phân đoạn thị trường. Việc phân đoạn thị trường và xác định thị trường mục tiêu giúp cho NH xác định rõ nhu cầu khác nhau của khách hàng. Đây chính là việc phân loại khách hàng theo một số tiêu chí nhất định thành những nhóm riêng biệt và nghiên cứu xem khách hàng trong mỗi nhóm đó có nhu cầu gì, có phù hợp với khả năng đáp ứng của NH hay không, từ đó ra các quyết định phù hợp. Hiện nay, các NH phân ra thành những nhóm khách hàng cụ thể như sau:
Nhóm khách hàng hiện tại: là đối tượng khách hàng đang có quan hệ với NH, đã và đang sử dụng của NH. Đối với đối tượng khách hàng này, cần phải cung cấp thêm nhiều tiện ích, giá trị gia tăng để duy trì và giữ chân họ.
Nhóm khách hàng tiềm năng: đây là nhóm đối tượng khách hàng chưa có quan hệ với NH, cần phải sử dụng Marketing hiệu quả để lôi kéo khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của NH mình.
Nhóm đối tượng khách hàng có thu nhập cao, có tín nhiệm với NH. Đối tượng khách hàng này, cần phải hoàn thiện các tính năng, tiện ích nhằm đem lại cho họ sự thuận tiện, an toàn và hiệu quả.
- Chiến lược marketing
Sau khi nghiên cứu, phân tích thị trường, phân tích môi trường kinh doanh của NH, các NH phải xác định mục tiêu chiến lược và tiến hành xây dựng chiến lược Marketing, cụ thể:
- Chiến lược sản phẩm dịch vụ Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Hình thức dịch vụ: trong thị trường cạnh tranh như hiện nay, NH cần tạo ra sản phẩm dịch vụ khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Có thể nói về bản chất, các NH đều cung cấp các dịch vụ cho khách hàng không khác nhau nên muốn chiếm thị phần của NH khác phải tạo nên sự khác biệt riêng. Hình thức phải gây ấn tượng với người tiêu dùng, để bất kỳ ai nhìn thấy đều dễ dàng nhận ra.
Chất lượng dịch vụ: NH muốn cạnh tranh với đối thủ phải nâng cao chất lượng dịch vụ và tối đa hoá tiện ích, lợi ích cho khách hàng. Sự tiện lợi này thể hiện qua việc BCNV của doanh nghiệp được trả lương nhanh chóng, chính xác, khả năng CBCNV rút tiền mặt 24/24h tại các máy ATM hoặc thẻ được chấp nhận thanh toán trên toàn quốc và trên thế giới, luôn được hỗ trợ trong các trường hợp khẩn cấp thông qua gọi điện qua đường dây nóng 24/24h của NH. Ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện với khách hàng, tránh để khách hàng phải chờ đợi, gây sự khó chịu. Ngoài ra, NH sẽ có các dịch vụ sao kê thông báo tình hình hàng tháng để khách hàng biết chính xác và quản lý việc trả lương của mình. Điều này giúp doanh nghiệp quản lý nhân viên, điều chỉnh chính sách lương và bổng lộc được dễ dàng và hiệu quả hơn, nắm được chi phí nhân công để ra những quyết định liên quan đến công việc kinh doanh.
- Chiến lược giá cả
Trong cơ chế thị trường, mục tiêu tối thượng của các nhà quản trị NH là: “tối đa hoá lợi nhuận”, còn mục tiêu tối thượng của khách hàng là: “tối đa hoá lợi ích tiêu dùng”. Các quan hệ trái chiều này liên tục phát triển từ ngẫu nhiên đến tất nhiên và tạo ra trạng thái cân bằng cung-cầu cho thị trường về dịch vụ. Do vậy, thước đo các lợi ích tối đa trên là giá cả của dịch vụ mà NH cung cấp.
Định giá là công việc quan trọng trong việc xây dựng chiến lược Marketing hỗn hợp của NH. Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động Marketing mà còn ảnh hưởng đến thu nhập và hoạt động khác của NH. Vì vậy, xây dựng chính sách giá phải dựa vào một số căn cứ sau:
Lợi nhuận: nếu như NH đặt mục tiêu hàng đầu thu được lợi nhuận trong thời gian ngắn hạn sẽ đặt ra mức giá cao đối với khách hàng. Tuy nhiên, nếu như mới thâm nhập thị trường, mục tiêu đầu tiên của NH là thu hút khách hàng nên ban đầu sẽ đưa ra mức giá thấp để cạnh tranh.
Chi phí: là nguồn lực mà NH phải bỏ ra để duy trì sự hoạt động và cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. NH phải tính các khoản chi phí như: chi phí lương, chi phí quản lý, chi phí đầu tư hệ thống, chi phí khấu hao, chi phí vốn,… Khi tạo thẻ ATM cho CBCNV để họ rút tiền từ tài khoản lương của mình, NH cung ứng dịch vụ đóng vai trò là NHPHT và NHTTT, NH phải nộp một khoản phí và lệ phí với Hiệp hội thẻ như: phí hội viên, phí trao đổi dữ liệu,… Đây chính là những khoản phí cố định mà NH phải trả.
Rủi ro trong NH: rủi ro thực chất là các khoản chi phí tiềm ẩn. Khi rủi ro phát sinh, nó trở thành các khoản chi phí thực mà NH phải bù đắp trong quá trình hoạt động. Do vậy, định giá cho dịch vụ trả lương tự động NH phải tính đến yếu tố rủi ro. Đối với hợp đồng có rủi ro cao, NH thường phải định một mức giá cao hơn và ngược lại.
Giá cả của đối thủ cạnh tranh: NH cần phải xem xét giá cả của đối thủ cạnh tranh từ đó có chiến lược về giá cho phù hợp. NH phải tính đến yếu tố này khi xác định giá dịch vụ vì giá là nhân tố ảnh hưởng lớn tới năng lực cạnh tranh của Nếu mức giá thấp hơn so với các NH khác thì khả năng thu hút khách hàng cao hơn. Tuy nhiên, nếu giá cao trong khi chất lượng không có gì nổi trội, sự hấp dẫn của sản phẩm dịch vụ tiện ích lại ít và thấp hơn chắc chắn sẽ có nhiều khách hàng chuyển sang sử dụng dịch vụ của NH khác có giá trị cạnh tranh hơn.
- Chiến lược phân phối Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Xây dựng chiến lược sản phẩm tốt, chiến lược giá hợp lý vẫn chưa đủ đảm bảo cho sự thành công trong kinh doanh của NH mà đòi hỏi phải hoạch định chiến lược phân phối phù hợp để khiến khách hàng sử dụng dịch vụ dễ dàng và thuận tiện nhất từ đó phục vụ tốt nhất mục đích sử dụng dịch vụ của khách hàng. Đây chính là điều kiện quan trọng để phát huy hiệu quả cao nhất hai chiến lược trên. Như vậy, xác định hệ thống kênh phân phối hợp lý là vấn đề vô cùng quan trọng nhưng lại rất phức tạp vì nó liên quan đến nhiều mặt hoạt động Marketing và ảnh hưởng lớn đến hoạt động cũng như kết quả hoạt động Marketing của NH.
Kênh phân phối qua chi nhánh: Chi nhánh là kênh phân phối truyền thống mà NH thường áp dụng. Việc cung ứng dịch vụ của NH chủ yếu thực hiện bằng công việc của đội ngũ nhân viên NH. Sử dụng kênh phân phối này đòi hỏi phải có đội ngũ nhân viên đông và khách hàng phải đến giao dịch trực tiếp tại quầy giao dịch của chi nhánh.
Kênh phân phối qua website NH: Đây là kênh phân phối hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động NH. Sử dụng hệ thống này, khách hàng không cần phải đến trực tiếp NH mà chỉ cần sử dụng máy tính cá nhân nối mạng Internet để giao dịch với So với các giao dịch thông thường, giao dịch NH trên mạng có nhiều ưu điểm như độ chính xác cao, tiết kiệm thời gian do các lệnh được thực hiện tự động trên mạng, tránh sự trùng lặp công việc. Như vậy, NH qua Internet khắc phục được những hạn chế về mặt không gian và thời gian.
Kênh phân phối qua đại lý: NH có thể khai thác những đại lý, nhất là những đại lý có khách hàng tương tự như khách hàng mục tiêu của mình để xây dựng kênh phân phối tập trung thông qua việc hình thành các đối tác chiến lược và các chương trình hợp tác.
- Chiến lược xúc tiến hỗn hợp
Hoạt động xúc tiến hỗn hợp bao gồm một tập hợp các hoạt động kích thích việc sử dụng sản phẩm dịch vụ mới, đồng thời làm tăng mức độ trung thành của khách hàng hiện tại, thu hút khách hàng tương lai, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ, tăng uy tín, hình ảnh của NH trên thị trường. Hoạt động xúc tiến hỗn hợp trong chiến lược Marketing đã mang lại nhiều cơ hội cho hoạt động kinh doanh dịch vụ, hơn thế hoạt động này càng trở nên quan trọng và không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh NH hiện đại.
2.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
- Yếu tố kinh tế
Hiệu quả kinh doanh và chi phí của doanh nghiệp là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến quyết định sử dụng dịch vụ trả lương qua tài khoản NH, thông thường những doanh nghiệp với số lượng CBCNV đông với mức thu nhập mỗi cá nhân khác nhau, nhu cầu chi tiêu của CBCNV đa dạng, chi phí trả lương trực tiếp lớn và gây nhiều bất tiện cho doanh nghiệp thì khả năng tiêu dùng dịch vụ trả lương tự động càng nhiều. Việc sử dụng dịch vụ sẽ thuận tiện cho việc quản lý công việc trả lương của doanh nghiệp, còn về phần CBCNV thì sẽ dễ dàng cất giữ các khoản thu nhập, thanh toán các hóa đơn và những chi tiêu phát sinh trong cuộc sống.
- Yếu tố luật pháp
Ngày 29/12/2021 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 291/2021/QĐ-TTg liên quan đến Đề án thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2020. Có thể coi đây là một mốc quan trọng, một bước đột phá trong tiến trình hiện đại hoá hoạt động thanh toán trong nền kinh tế thị trường non trẻ của Việt Nam. Quyết định số 291/2021/QĐ-TTg không chỉ đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nền kinh tế trong tương lai mà còn đáp ứng đúng tâm tư và nguyện vọng của người dân.
Việc trả lương qua tài khoản ở nước ta đã được xúc tiến trong những năm gần đây tại một số địa bàn, cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, việc triển khai chưa được đồng bộ, rộng khắp, đặc biệt với những đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, đây cũng là lực lượng cần đi đầu trong tiến trình thực hiện việc trả lương qua tài khoản để làm mẫu cho các đối tượng và các thành phần kinh tế trong xã hội hưởng ứng làm theo. Mặt khác, việc trả lương qua tài khoản cũng nhằm phát triển và mở rộng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, hỗ trợ tích cực cho sự tăng trưởng kinh tế, góp phần chống tham nhũng, lãng phí. Hơn nữa, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin hiện nay, việc trả lương qua tài khoản là khả thi ở những địa bàn thành phố, thị xã nơi đã lắp đặt nhiều máy giao dịch tự động (ATM) và máy chấp nhận thanh toán bằng thẻ (POS). Chính vì vậy, ngày 24/8/2022 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 20/2022/CT-TTg về việc trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Trả lương qua tài khoản không chỉ cần được thực hiện trong khu vực hành chính công mà cần phải thực hiện trong tất cả các thành phần kinh tế khác nhau của nền kinh tế. Đây thực sự không phải là vấn đề mới bởi vì trong những năm vừa qua cũng đã có rất nhiều các tổ chức kinh tế – xã hội và các doanh nghiệp thực hiện thanh toán lương cho người lao động qua tài khoản nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí đồng thời cũng mang lại sự an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều tổ chức, doanh nghiệp khác nhau vì nhiều lý do chưa thể thực hiện được. Thêm vào nữa trả lương qua tài khoản sẽ là phương thức hiệu quả nhất vừa cắt giảm được chi phí cho doanh nghiệp lại vừa mang lại hiệu quả lâu dài cho Nhà nước trong việc quản lý thu nhập của người dân, có mức tính thuế thu nhập cá nhân hợp lý, tạo nên sự công bằng cho mỗi công dân nói riêng và cho toàn xã hội nói chung.
- Thói quen trong thanh toán Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
Thói quen ưa thích tiền mặt và tiêu tiền mặt của người dân Việt Nam đã hình thành từ nhiều năm, do đó thay đổi thói quen này không dễ gì đạt được trong một sớm một chiều.
Tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt của cán bộ công chức và người dân nói chung còn rất phổ biến, muốn nhận lương bằng tiền mặt, sợ rủi ro dẫn tới mất tiền do chưa hiểu rõ về công nghệ, chưa quen với việc sử dụng ATM và các thiết bị thanh toán khác, sợ có ít ATM rồi những bất lợi do trục trặc kỹ thuật đi kèm. Thực tế mặt bằng lương của đại bộ phận cán bộ công chức còn chưa cao, nên sau khi tiền được trả vào tài khoản thì lại phải rút ngay phục vụ cho tiêu dùng. Ngoài ra, nhiều đơn vị yêu cầu đặt máy ATM tại trụ sở đơn vị của mình đã gây khó khăn cho các NHTM trong việc đáp ứng các yêu cầu đó. Các chủ thẻ cá nhân chưa có thói quen sử dụng thẻ để thanh toán hàng hoá, dịch vụ qua POS, do đó doanh số thanh toán qua POS còn thấp, điều này ảnh hưởng đến việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.
- Tiện ích của dịch vụ
Đối với các tổ chức uỷ thác cho ngân hàng trả lương qua tài khoản thì đã tiết kiệm được nhân lực và thời gian trong việc chi trả lương, giảm bớt lượng tiền mặt tồn quỹ từ đó hạn chế được rủi ro mất mát; đối với người lĩnh tiền lương qua tài khoản thông qua việc rút tiền từ ATM được tiếp cận công nghệ mới văn minh, hiện đại, chủ động hơn trong việc chi tiêu khi tiền lương đã được chuyển vào tài khoản; cán bộ đi công tác ở tỉnh, thành phố khác có thể giảm bớt việc phải mang tiền mặt nhiều theo người, tiền lương khi chưa rút còn được hưởng lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, ngoài ra người hưởng lương còn được hưởng các dịch vụ thanh toán tiện ích khác như chuyển tiền, thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, dùng thẻ để mua sắm hàng hoá, dịch vụ khi các điểm chấp nhận thẻ (POS) phát triển.
- Hạ tầng công nghệ
Những cải tiến công nghệ đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh của NH, nó đã mang đến những thay đổi kì diệu của nghiệp vụ kinh doanh NH như chuyển tiền nhanh, máy gửi- rút tiền tự động ATM (Automatic Teller Machine), card điện tử, phone-banking, mobile-banking, internet-banking… Việc lựa chọn giao dịch và mở thẻ đối với NH nào còn tùy thuộc rất lớn vào kỹ thuật mà NH sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin, nguồn điện cung cấp, truyền thông và hệ thống thanh toán điện tử của các NHTM cũng còn không ít những hạn chế; số lượng ATM, POS cũng chưa nhiều để đáp ứng thuận lợi cho người sử dụng. Việc tìm địa điểm đặt máy ATM còn nhiều khó khăn; các dịch vụ tiện ích đi kèm thẻ chưa phát triển. Vấn đề bảo đảm an toàn cho máy ATM hoàn toàn do trách nhiệm từ phía các NHTM, chưa có sự hỗ trợ tích cực về an ninh của các cơ quan hữu quan đóng trên địa bàn. Các NHTM còn cạnh tranh khách hàng và thị phần với nhau bằng cách miễn phí, trong khi các đơn vị cung ứng dịch vụ là các đại lý chấp nhận thẻ thì lại thu thêm phí sử dụng thẻ trong việc khách hàng dùng thẻ để thanh toán hàng hoá, dịch vụ v.v…
Như vậy chương I đã đề cập đến phần cơ sở lí luận cơ bản của Marketing Ngân hàng, Marketing dịch vụ trả lương tự động, một số vấn đề về việc trả lương qua tài khoản, và vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt đi sâu phân tích tầm quan trọng của việc phát triển thị phần trong môi trường vĩ mô và vi mô, việc ứng dụng Marketing trong chiến lược phát triển dịch vụ trả lương qua tài khoản là một xu hướng tất yếu của kinh doanh dịch vụ Ngân hàng hiện đại, chỉ rõ các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ, đồng thời đưa ra những nội dung cần thiết mà các Ngân hàng thương mại cần phải thực hiện khi áp dụng Marketing trong chiến lược phát triển thị trường dịch vụ trả lương tự động của mình. Đây là cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng ứng dụng Marketing trong chiến lược phát triển dịch vụ trả lương tự động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam ở chương II. Khóa luận: Phát triển dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng dịch vụ trả và nhận lương tự động Agribank
